Hà Sĩ Phu: Chia tay ý thức hệ (1995)

  • Bởi tqvn2004
    05/08/2009
    2 phản hồi

    Im Lặng Nuôi Dưỡng Sự Áp Bức! Kính tặng người cộng sản Việt nam.
    Hà Sĩ Phu

    Lời Mở Đầu

    Kỷ nguyên Văn minh Tin học chẳng đem lại một cuộc canh tân tuyệt vời về thông tin và điều khiển, một thị trường năng động toàn cầu, một trào lưu dân chủ đa nguyên, một chủ nghĩa quốc tế mới nhân bản và khoa học... mà bao trùm lên hết thảy là ánh sáng của một phương pháp tư duy mới tương xứng với thời đại. Nhưng cùng với một nền Nhân văn mới thì một cục diện đấu tranh sinh tồn mới và một phản lực thú hóa mới cũng bắt đầu. Một sự đảo lộn ghê gớm với cả mặt phải, mặt trái. Và từ cả hai mặt đều cần một hệ tư duy mới để ứng xử, để thích nghi. xã hội chẳng may bị lịch sử buộc chặt vào khuôn vàng thước ngọc của quốc giáo, ý thức hệ, thì về lý luận đang đùng trước một cuộc khủng hoảng sinh tử về phương pháp luận, và về thực tiễn đang đứng trước một cuộc đấu tranh về phương pháp ứng xử để tìm lối ra

    Để giữ yên cái ghế thống trị của mình, giới tăng lữ hoặc lãnh tụ của các nước ấy một mặt cố sức trói buộc xã hội ở tình trạng ngu dân bằng phương pháp tư tưởng cũ và nhất là đạo đức cũ dưới bàn tay bảo trợ của bạo lực, nhưng một mặt họ cũng như tất cả mọi người, đang lao như điên vào cuộc "đổi mới" kinh tế và ngoại giao mà thực chất là cuộc đấu tranh sinh tồn để mau chóng thích nghi, để khỏi phải bị gạt ra bên lề dòng chảy. Miệng nói một đằng tay làm một nẻo. Chẳng cần thông minh gì lắm cũng nhận ra rằng "sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, dưới ánh sáng Mác-Lê và tư tưởng Hồ chí Minh, làm kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa" chính là một ví dụ điển hình của cái cục diện xã hội ấy.

    Ở nước ta, hệ tư tưởng Mác xít cũng không khác gì một quốc giáo thực chất chỉ là biến tướng của tư tưởng phong kiến. Nhân dân mang tiếng là người làm chủ xã hội, nhưng không được biết gì về sự thật to lớn ấy; ai nói sự thật ấy là làm lộ bí mật quốc gia. Người dân không có thông tin ắt không hiểu vì sao giữa lúc bộ mặt đất nước đang rạng rỡ chưa từng có, (như vẫn hiện ra trên mọi phương tiện truyền thông nhà nước) thì Ông Cộng sản Ba-Son Nguyễn Hộ, cả nhà và cả đời làm Cộng sản, đã từng sát cánh với các ông Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, lại quyết ly khai Đảng vì đã "chọn nhầm lý tưởng" ; không hiểu vì sao ông Cộng sản trí thức Ba-Lê Nguyễn Khắc Viện, người đã rời nước Pháp hoa lệ để theo cụ Hồ về nước kháng chiến, bỗng dưng lại kêu lên "Hãy bước vào cuộc kháng chiến mới"! Tiếng kêu chìm nghỉm như tiếng sỏi rơi xuống ao tù lạnh tanh.

    Cuộc kháng chiến nào? Mỉa mai thay cho người Cộng sản bảy tám mươi tuổi gần đất xa trời ấy phải chống gậy bước vào "cuộc kháng chiến từ bỏ ý thức hệ". Nhưng khốn thay, ý thức hệ đang trói buộc ta ấy không phải từ trên trời rơi xuống, lúc đầu không do ai áp đặt. Nó là sản phẩm lịch sử của nhân loại trong cơn Khủng hoảng tăng tốc (thế kỷ 18-19) của con tàu Văn Minh. Về lý luận, nó không là gì cả (sẽ phân tích sau), nhưng về thực tiễn nó đã là người mang "thông điệp Giải phóng" của Nhân dân. Hơn thế nó đã luyện khát vọng và sức mạnh của Nhân dân thành chiếc gậy thần của Tôn Ngộ Không, giáng vào mặt bọn vua chúa Tư bản, và dạy cho chúng (cũng là dạy cho cả nhân loại) biết rằng: không thể hướng sức mạnh của nền văn minh mới để phục vụ cho mưu đồ cá nhân, hòng thiết kế ngai vàng mới trên đầu nhân loại! Và dẫu còn điều này điều khác thì vai trò lịch sử ấy của trào lưu Cộng sản mãi mãi vẫn được ghi nhận. Và cùng với hiệp sĩ ấy, nhân dân ta đã có ngày sống đẹp thanh khiết như thần tiên. Và phải nhận rằng Người anh hùng áo vải này đã ôm trong vòng tay của mình cả mấy thế hệ người Việt nam tử tế, rất tử tế, số đông đến hôm nay vẫn còn tử tế và tội nghiệp!. Bi kịch là: sứ giả mang "thông điệp giải phóng" ấy lại lên ngôi báu. Ở ngôi báu ấy anh đã phản lại chính thông điệp này. Trừ một số tồi tệ ma quái ra, nhìn chung sự phản bội lúc đầu không tự ý thức. Bởi tất cả đã được chương trình hóa ở trong cẩm nang, mà chính người viết cẩm nang thì cũng không vượt ra khỏi được sự chương trình hóa của thời đại. Chỉ có cái khát vọng là vượt bay lên phía trước. Theo điều tôi nhận thức được thì bản chất của dòng tư tưởng Mác-Lê về xã hội là dòng tư tưởng Phong kiến phục hưng cộng với ảo tưởng Cộng sản nguyên thủy (hoặc ảo tưởng Nô lệ) trong cơn khủng hoảng tăng tốc của nền Văn minh Công nghiệp.

    Học thuyết Mác-Lê không phải là cái gì cao xa chưa tới mà chỉ là cái hoài vọng đã bị vượt qua, chỉ là biến tướng mới của cái mốt công nghiệp của chủ nghĩa phong kiến đã bị lịch sử vượt qua trước đây nhiều thế kỷ. Nó không phải là thứ cẩm nang dẫn đường đầy tính súc tích huyền bí đến mức hàng thế kỷ sau chưa có ai hiểu đúng, mà chỉ là dự đoán lẩm cẩm không bao giờ có thực trên đời. Một hệ tư tưởng như thế, trong thế giới Văn minh Tin học chẳng cần ai đánh cũng tự tan rã.

    Về mặt hệ tư tưởng mà nói, chủ nghĩa Mác-Lê đang rút chạy ra khỏi đời sống xã hội, Đảng Cộng sản vẫn còn đó, nhưng cái hồn Mác-Lê cứ từng bước rút chạy khỏi Đảng viên của mình. Có hương khói, chiêng trống thanh la gọi hồn cũng không ích gì. Chủ nghĩa Mác-Lê suy tàn, chạy về cố thủ ở vùng còn ít ánh sáng dân chủ, nơi mà tư tưởng phong kiến vẫn cứ sống lai rai trong núi rừng châu Á hết đời nọ sang đời kia. Trong cuộc sống lưu vong này của chủ nghĩa Mác-Lê (vì quê hương của chủ nghĩa ấy không dung nạp nó nữa), nó đã mất tư cách là ngọn cờ để tuyên chiến với cái gọi là Chủ nghĩa Tư bản giẫy chết, mà được dùng như một thuật trị dân, một công cụ để trị dân. Từ một chủ nghĩa Quốc tế nó thu dần về thành một thể chế Quốc gia, mang tính quốc nội là chính. Nó trút bỏ tính mục đích mà nhận lấy làm tính phương tiện

    Chẳng là phương tiện để trị dân, nó chuyển sang làm phương tiện chở những người Vô sản cầm quyền vào cõi Tư bản, phản lại mục đích tự thân ban đầu của nó. Giai cấp cần lao không sớm ý thức được điều này thì sẽ đắm đuối như kẻ bị phụ tình, bơ vơ trước hang hùm nọc rắn của một thế giới cạnh tranh như điên của Tư bản buổi đầu tích lũy, nhất là khi thế hệ người Cộng sản khởi lập không còn nữa. Sự lộn ngược tình thế như vậy mới thực là một cuộc "diễn biến hòa bình" vĩ đại, nó "lật đổ" hết thảy một cách êm đềm. Sự thể của lịch sử đã như thế thì chút lòng thương người của cái chủ nghĩa đạo đức liệu sẽ xoay chuyển được gì, hay chỉ là sự vỗ về, là liều ma túy, là tấm màn che cho cuộc diễn biến hòa bình kia, cho cuộc phụ tình vĩ đại kia được muôn phần êm thấm, và để lại sau nó cả một khoảng trống ghê rợn?... Che đậy điều ấy là bất nhân. Không nhận thức tới nơi, không có phút dừng... để nghe thêm điều khác với báo, với đài..., để sống với cái gì đó xa hơn, lớn hơn cuộc sống cá nhân trước mắt thì người trí thức, cán bộ, đảng viên... chúng ta bây giờ khó có thể tìm cho mình một phép ứng xử đàng hoàng, đẹp đẽ trước cuộc chia tay ý thức hệ lịch sử này.

    Dầu cho bạn chưa hài lòng với lời nói của tôi... Nhưng sự đời, cái gì phải đến cứ đến, bịn rịn nữa cũng không được.Đánh xong giặc Ấn, thánh Gióng phải lên trời, Gióng ở lại Gióng sẽ gây tội ác, và ta sẽ mất thánh Gióng. Tôn Ngộ Không của Ngô Thừa Ấn "nhân bản" hơn Tôn Ngộ Không của Mác, dạy xong bài học cho các vua chúa và thánh thần, Ngộ Không không tiếp tục múa cây thiết bảng để đập vào đầu đàn khỉ của mình ở Hoa quả sơn, để thiết lập ở đấy một thiên đường nhất khoảnh. Tôi, chúng ta, các anh các chị... Chúng ta vẫn sống với nhau hòa thuận. Chỉ cái ý thức hệ của chúng ta chắc chắn phải ra đi, đang ra đi rồi. Đây là cuộc chia tay bi tráng. Bậc anh hùng hãy chọn cái một thứ bi kịch của nhận thức, bi kịch của khát vọng nhân văn, bi kịch trong tự tôn nhân phẩm! Bi kịch trong sự trưởng thành, biểu hiện của trưởng thành, mở đầu cho trưởng thành!

    Trào lưu Cộng sản đã xuất hiện như một tất yếu lịch sử và vô cùng chính đáng, nhưng phải nhận rằng đó chỉ là một nấc thang văn hóa thấp của tiến trình đấu tranh bất tận cho Quyền Con Người muốn tìm lối ra lại phải bắt đầu bằng cái nhìn văn hóa, ở tầm văn hóa cao hơn. Nếu đủ tầm văn hóa, chúng ta sẽ làm cho Ý thức hệ ấy một dấu son để lại. Bằng không, nếu chúng ta không đủ tầm văn hóa, Ý thức hệ sẽ được chia tay trong uất hận, hoặc ngược lại, cứ len lén rút lui khỏi lịch sử không một lời tuyên bố như một kẻ khôn vặt hay một tên đại bịp nào đó ra đi, không trống không kèn, để lại trên non nước này một món nợ. Tôi là người Việt nam, tôi không muốn cái lịch sử Tiên Rồng lắm thông minh và nhiều quằn quại này của chúng ta, giữa vận hội hôm nay lại chọn cách "hóa rồng" lươn lẹo đó.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    "Trào lưu Cộng sản đã xuất hiện như một tất yếu lịch sử và vô cùng chính đáng".

    Chỉ đúng cho nước Nga - một mình nước Nga là đủ. Không cần thiết mà thật ra còn có hại cho VN, TQ hoặc các nước khác. Có 3 yếu tố chính tăng thêm nghị lực và sức mạnh giúp Mỹ thuyết phục các nước đồng minh từ bỏ chủ nghĩa đế quốc thành công:

    1. Cách mạng tháng 10 Nga
    2. Chiến tranh thế giới II làm suy yếu các nước đế quốc
    3. Mỹ trở thành siêu cường thế giới

    Trào lưu cộng sản cũng giúp các nước tư bản hoàn chỉnh chủ nghĩa tư bản .

    Theo bước chân phát triển của nhân loại, triết học đã đồng hành cùng nhân loại trên hai ngàn năm. Ngày nay triết học không còn gì là mới mẻ cả. Mấy trăm năm trước B.C., các triết gia Socrates, Plato,...Aristotle ở phương Tây; Khổng Tử, Trang Tử, Lão Tử ở phương Đông đã đề xướng những tư tưởng, chủ thuyết để đưa con người trong xã hội vào nề nếp trong cư xử, những chính sách quản lý trong bộ máy chính quyền. Có rất nhiều người đã được bảng vàng đề danh trong vườn hoa triết học với những tư tưởng, chủ thuyết do họ tìm ra và khởi xướng.

    Trong tương lai, sẽ còn nhiều người được “đề danh” trong vườn hoa triết học. Một khi đã được “đề danh” thì tên tuổi các triết gia và chủ thuyết của họ vĩnh viễn đồng hành cùng với nhân loại. Có thể ví các triết gia, chủ thuyết, và tư tưởng của họ là những pho sách quý trong thư viện và sẵn sàng rộng mở cho những ai thích đọc sách, nghiên cứu để tìm ra những cái hay, cái đẹp cho mình, cho đời, cho nhân loại. Nhưng sẽ là một sai lầm nghiêm trọng khi có ai đó chọn ra một tư tưởng, chủ thuyết nào đó trong vườn hoa triết học để áp đặt triệt để vào một xã hội.

    Rất tiếc, CNCS đã dựa hoàn toàn vào học thuyết Marx, bổ sung bởi Engel và Lenin để cưỡng bức xây dựng nên một mô hình xã hội. Hậu quả của nó thì nhân loại ai cũng biết; từ những vụ đàn áp ở Đông Âu, nhà tù Gulag ở Liên Xô cũ, CCRĐ ở Việt Nam, Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc và sự diệt chủng của Khmer đỏ tại Campuchia... Ngày nay, nhân loại đã nhìn nhận sự sai lầm của việc áp dụng học thuyết duy nhất qua sự sụp đổ của cả hệ thống cộng sản từ 1989 đến 1991. Những nước cộng sản còn lại muốn tồn tại thì chỉ còn cái tên với hệ thống chính trị là còn mang hơi hướng của cộng sản, còn tất cả đều bị biến thái.

    Phản hồi này đưa ra nhìn nhận về những sai lầm của việc áp dụng duy nhất học thuyết này, mong đóng góp thêm một tiếng nói ở một số khía cạnh để hiểu hơn sự tai hại của điều đó.

    I. Học thuyết Marx duy nhất đúng

    Từ ngàn năm trước đến nay, những bộ óc kiệt xuất của nhân loại đã khai phá và xây dựng những nền tảng kiến thức đóng góp cho sự hiểu biết và phát triển của xã hội loài người trong tất cả các lĩnh vực như khoa học tự nhiên, văn chương, âm nhạc, hội họa, y khoa, quân sự, triết học... Người đi trước, kẻ đi sau đều được nhân loại ưu ái một cách công bằng.

    Nhà bác học Galileo vĩ đại với những nghiên cứu về vũ trụ. Nhà bác học Newton sống mãi với nhân loại với ba định luật về lực và các công trình toán học của ông. Dẫu như thế, trong trái tim nhân loại vẫn có chỗ đứng cho nhà bác học Einstein, dù ông có đi sau hai nhà bác học Galileo và Newton hàng trăm năm. Những nghiên cứu, phát minh của nhà bác học Einstein bổ khuyết cho những gì mà hai nhà bác học Galileo và Newton còn thiếu! Tương tự vậy, Mozart vĩ đại nhưng Beethoven cũng vĩ đại không kém! Van Gogh là một thiên tài hội họa nhưng Claude Monet và Picasso cũng lừng danh thiên hạ trong làng vẽ.

    Triết học cũng không là ngoại lệ. Khổng Tử nổi tiếng nhưng Trang Tử, Lão Tử vẫn cùng song hành tồn tại! Immanuel Kant vĩ đại nhưng Karl Marx vẫn được biết đến! Trước Marx có những triết gia vĩ đại và sau Marx vẫn có nhiều triết gia nổi tiếng. Vậy tại sao CNCS chỉ biết có mỗi Marx, cho rằng chủ nghĩa Marx là duy nhất đúng và áp dụng làm kim chỉ nam để xây dựng xã hội?

    Ngoài ra, triết học không phải là toán học! Đúng hay sai trong triết học là do sự chiêm nghiệm, nhận thức của mỗi con người. Sẽ không bao giờ có sự đồng ý một cách hoàn hảo khi bàn về triết học. Do đó, đem một học thuyết trong triết học áp đặt làm nền tảng cho sự vận động của xã hội là tự bịt mắt mình trước những lỗ hổng của học thuyết đó, khiến xã hội sẽ bị phát triển lệch lạc và đến một giai đoạn khi sự lệch lạc đủ lớn thì cấu trúc xã hội sẽ sụp đổ. Điều này không áp dụng riêng với chủ nghĩa Marx, mà còn đúng với tất cả các chủ thuyết khác, triết gia khác!

    Đạo Khổng được áp dụng làm nền tảng cho các triều đại phong kiến ở Trung Hoa, Việt Nam. Các triều đại phong kiến đó hết thịnh rồi suy, bị diệt vong và bị thay thế bởi triều đại khác. Cái vòng luẩn quẩn đó chưa dừng lại nếu đạo Khổng vẫn được áp dụng như là một học thuyết duy nhất đúng.

    II. Dùng học thuyết Marx để định hướng suy nghĩ cho toàn xã hội
    Ngay sau khi Hoa Kỳ được thành lập, Thomas Jefferson đã viết những bài báo để khẳng định một chân lý là tư duy của con người không thể bị kiểm soát và nhà nước được thành lập nên chỉ để làm sao những tư duy đó đóng góp tích cực nhất cho xã hội cũng như hạn chế nhất những tác hại của nó. Với nền tảng suy nghĩ nhân văn này, nước Mỹ đã được xây dựng để phát triển dân chủ, tự do theo đúng nghĩa của những từ này.

    Sự ép buộc để định hướng suy nghĩ của tất cả mọi người trong xã hội theo một chủ thuyết sẽ gây ra sự phản kháng mà cuối cùng là sự lật đổ chính quyền.

    Lịch sử đã cho chúng ta thấy những gì áp đặt thì luôn tạo ra sự phản kháng. Tại sao Chu Nguyên Chương, vua đầu tiên nhà Minh bên Trung Hoa, lại khởi nghĩa chống lại triều Nguyên? Tại sao người Mỹ chống lại triều đình Anh và lập quốc? Tại sao các dân tộc bị áp bức đã lần lượt lấy lại được tự do, độc lập của họ mà trong đó Việt Nam là một ví dụ hùng hồn? Tất cả đều do hai chữ “áp đặt”! Hệ thống các nước cộng sản đã sai lầm khi áp dụng học thuyết Marx để áp đặt suy nghĩ cho tất cả mọi người về một hình thái xã hội lý tưởng không tưởng, không dựa vào sự phát triển tự nhiên của xã hội (thượng tầng và hạ tầng cơ sở) và tri thức của con người. Những cuộc cách mạng năm 1956 tại Hungary, Ba Lan; 1968 tại Tiệp Khắc, Công đoàn Độc lập Ba Lan, những cuộc trốn chạy của người dân Đông Đức sang Tây Đức qua bức tường Berlin là những bằng chứng về phản kháng lên sự áp đặt. Để quản suy nghĩ của tất cả người dân trong xã hội, chính quyền đã phải xây dựng một lực lượng mật vụ khổng lồ như Stasi Đông Đức, KGB Liên Xô hay Lực lượng An ninh ở Việt Nam với tầng tầng, lớp lớp hệ thống các cấp.

    Việc nuôi hệ thống bảo vệ quyền lợi cho giới cầm quyền này tiêu tốn ngân sách quốc gia khủng khiếp. Cùng với những giới hạn trong phát triển kinh tế xã hội, dần dần ngân sách quốc gia sẽ đi vào khủng hoảng nếu không có nguồn hỗ trợ từ bên ngoài.

    Các nước Đông Âu duy trì được hiện trạng chính quyền toàn trị là do sự có mặt của Hồng quân Liên Xô cùng với những ngân khoản viện trợ khổng lồ. Bản thân Liên Xô, sau hàng chục năm gắng gượng thì đến đầu những năm 1980, cũng không lo nổi cho mình và phải cải tổ, để kệ cho các nước Đông Âu tự lo cho số phận của mình. Sự thiếu hụt nguồn viện trợ tài chính đã khiến cho hệ thống an ninh không kiểm soát được người dân như trước nữa. Quả bong bóng độc tài bị nổ tung. Chỉ trong năm 1989, tất cả các nước XHCN Đông Âu tuyên bố từ bỏ CNCS, đặt ĐCS ra ngoài vòng pháp luật và các lãnh tụ cộng sản bị xét xử và trừng trị theo đúng tội lỗi của họ đã gây ra cho nhân dân họ theo đúng luật pháp do chính các lãnh đạo này đặt ra. Sự áp dụng học thuyết Marx như một chủ thuyết duy nhất đúng của hệ thống các nước XHCN là một sai lầm mà có thể nói “tự đào huyệt chôn mình” chứ không vì các yếu tố từ bên ngoài.

    Học thuyết Marx được áp dụng và đồng hành cùng nhân loại chưa được một thế kỷ. Những gì tốt đẹp về Marx đã được rao giảng đến nhiều nước, nhiều triệu người.

    Tiếc thay, sự thật và kết quả lại không đúng như lời nói. Phúc lợi xã hội ở những nơi có Marx ngự trị quá thấp, quá tệ so với những nơi mà Marx từng xem là đồ rác rưởi. Marx muốn có một “xã hội công nhân” để mọi người được hưởng quyền lợi, phúc lợi xã hội như nhau nhưng có thể ông đã quên rằng “lượng đổi, chất đổi” và những người áp dụng học thuyết của ông cũng quên điều đó. Vì vậy, hệ thống các nước XHCN chỉ có thể lụi tàn chứ không thể phát triển khi chưa có nền tảng kinh tế mạnh.

    Im lặng nuôi dưỡng sự áp bức! Kính tặng những người cộng sản Việt Nam.