Trái tim và chữ thập

  • Bởi Billy
    29/03/2009
    0 phản hồi
    Từ khóa: 

    Bonđy Utx thò tay với lấy cái chai. Bonđy mà đã muốn cái gì thì thường là bao giờ cũng giành được… nhưng câu chuyện này không phải nói về Bonđy. Anh ta rót rượu lần thứ ba vào cốc của mình, lần này nhiều hơn hai lần trước gần một đốt ngón tay. Bonđy đang được hỏi ý kiến cho nên cũng đáng được hưởng thù lao bằng một chầu rượu.

    - Tớ ấy à, ở địa vị cậu, tớ sẽ muốn làm vua, – Bonđy nói, giọng quả quyết đến nỗi bao súng lục kêu cót két và đinh thúc ngựa ở giày vang lanh canh.

    Oép Ygơ hất chiếc mũ Xtetxơn rộng vành ra đằng sau và một lần nữa lại vò mớ tóc vàng như rơm. Làm như vậy xem chừng không ăn thua gì, Oép bèn noi gương anh chàng Bonđy lanh lợi và lại uống.

    - Nếu một anh chàng mà lấy hoàng hậu thì không phải vì thế mà hắn ta trở thành một quân hai “nhép”, – Oép nói, có ý tóm tắt những nỗi hậm hực trong lòng.

    - Tất nhiên rồi, – Bonđy tỏ vẻ thông cảm; anh ta lúc nào cũng khát và thành thật mong muốn bày tỏ lòng tôn trọng của mình đối với tôn ti trât tự của các con bài. – Về lí mà nói, cậu là vua. Ở địa vị cậu, tớ sẽ đòi chia lại bài. Đây là người ta tự ý bắt cậu phải nhận lấy bài của cậu. Này Oép Ygơ, để tớ bảo cho cậu biết cậu là gì…

    - Tớ là gì? – Oép vội hỏi, cặp mắt màu lam nhạt thoáng một ánh hi vọng.

    - Cậu là hoàng tế.

    - Này, ăn nói cho thận trọng, – Oép bảo. – Tớ có bao giờ chửi cậu đâu nào.

    - Đây là một tước hiệu, – Bonđy giải thích, – được dùng trong lối đánh bài gọi là “xa lích”, nhưng có danh hiệu đó chẳng ăn gì đâu, tớ nói cho cậu biết. Đó là một nhãn hiệu người ta dùng ở Châu Âu cho một vài loại súc vật. Giả dụ như cậu, hay tớ, hay một quận công Hà Lan nào đó lấy một công chúa con vua. Thế nhé, rồi bỗng một hôm, cô vợ bé nhỏ của chúng ta trở thành hoàng hậu. Cậu tưởng tớ với cậu sẽ trở thành vua đấy hẳn? Đừng hòng! Ngày làm lễ đăng quang, chúng ta phải diễu hành sau đám tuỳ tùng của Hoàng hậu, trước thái giám thứ chín của phòng đợi của nữ hoàng. Chúng ta sẽ chẳng được tích sự gì hết, ngoài cái việc đóng vai phụ trên các bức ảnh và chịu trách nhiệm về hoàng thái tử ra đời. Ông bạn già ơi, ván bài như thế là không thật rồi. Vâng ạ, thưa ngài Oép, ngài là một vị hoàng tế. Và tớ, ở địa vị cậu, tớ sẽ tuyên bố, một thời kì không có vua hay một cuộc bãi công, hay một habeas corpus[1], hay bất cứ một cái gì đại loại như thế. Và rồi tớ nhất định sẽ làm vua dù cho có phải chơi bài gian cũng làm.

    Bonđy nốc cạn cốc rượu một cách dứt khoát, chắc hẳn để xác định thêm thái độ của anh ta làm một Oarích mới.

    Oép trịnh trọng nói:

    - Này Bonđy, cậu và tớ, chúng ta đã chăn bò với nhau hàng mấy năm nay rồi, đã cùng nhau phi ngựa trên cùng các nẻo đường kể từ khi rời khỏi trường. Chỉ có cậu là tớ mới tâm sự những chuyện riêng tư của tớ thôi. Khi tớ cưới Xanta Măc Alixtơ thì cậu chăn bò ở trại Nôpalitô, và tớ là “sếp”. Còn bây giờ thì tớ là cái gì? Đại khái cũng chẳng khác gì một cái nút trên một sợi dây thừng buộc ngựa.

    - Khi lão Măc Alixtơ là vua bò bê ở mạn này của bang Têchxớt thì cậu là một tay khá, chắc chắn là như thế rồi, – Bonđy tuyên bố với một giọng ngọt ngào quỷ quyệt. – Ở trại, cậu quyền hành cũng gần ngang với lão ấy.

    - Quả có thế, – Oép tán thành. – Cho đến một hôm lão nhận ra tớ định quăng thòng lọng vào cổ Xanta. Thế là lão tống cổ tớ ra xa tít tận cuối cánh đồng cỏ, thật xa nhà lão. Và khi lão chết, mọi người bèn gọi Xanta là “bà hoàng bê bò”. Tớ thì tớ chỉ là “sếp” các đàn bò thôi. Còn cô ta chỉ huy mọi công việc, tay hòm chìa khoá. Thậm chí tớ cũng không có quyền bán một miếng bít tết cho một đám khách du lịch nữa. Xanta là nữ hoàng còn tớ là ông – chẳng – là – cái – gì – hết.

    - Tớ bảo cậu rồi, phải tay tớ ấy à, tớ sẽ làm vua, – Bonđy Utx nhắc lại, anh ta tỏ ra cực kì bảo hoàng. – Khi một người đàn ông lấy một nữ hoàng thì không có lí do gì anh ta lại không lên cao bằng vợ mình, ngay dù cho có phải đi qua mọi thủ tục cần thiết như bò ở chỗ chúng ta ấy, cậu cũng biết đấy; lúc đầu còn sống nguyên, rồi bị lột da, rồi đem hầm, bỏ vào hộp, thành một hộp thịt hầm chính cống. Oép này, có nhiều người lấy làm kì cục tại sao cậu lại không phải là ông chủ của cái trại Nôpalitô. Tất nhiên, tớ chẳng có ý kiến gì về Ygơ phu nhân cả: cô ta là một phụ nữ tuyệt vời nhất từ sông Riô Granđê đến 14 tháng Bảy. Nhưng dẫu sao thì một người đàn ông bao giờ cũng phải làm chủ cái trại của mình.

    Khuôn mặt nhẵn nhụi vì rám nắng của Oép Ygơ đượm một vẻ buồn buồn đau khổ. Với vẻ mặt tiu nghỉu, mái tóc vàng bù xù và cặp mắt màu lam ngây thơ, có thể so sánh anh ta với một chú học trò bị một chú học trò khác khoẻ hơn, đoạt mất ngôi bá chủ. Nhưng vóc người cao lớn, thân hình nhanh nhẹn, gân guốc cũng như hai khẩu súng ngắn lủng lẳng ở thắt lưng khiến cho người ta không thể nào so sánh như vậy được.

    - Này Bonđy, cậu gọi tớ là cái gì ấy nhỉ? – Anh ta hỏi. – Cúng tế kiểu gì vậy?

    - Hoàng tế, – Bondy chữa lại. – Hoàng tế chứ không phải cúng tế. Một thứ bí danh, áp dụng cho một ván bài “xì” dở ẹt, đại khái như là đáng lẽ có năm quân liền nhau lại lọt một quân vớ vẩn vào giữa thành ra hỏng bét ấy mà…

    Oép thở dài và nhặt lấy dây quai bao khẩu súng trường đã rơi xuống đất.

    - Hôm nay tớ trở về trại, – anh nói, vẻ mập mờ khó hiểu. – Tớ phải sửa soạn cho đem một đàn bò đi Xan Antôniô sáng mai.

    - Để tớ tiễn cậu tới Hồ khô, – Bonđy nói. – Tớ cắm trại ở Xan Macốt, ở đấy người ta đang lựa những con bò hai tuổi.

    Hai anh bạn lên ngựa, rời khỏi nhà ga xe lửa bé nhỏ, nơi họ gặp nhau ngày hôm đó để uống cho đỡ cơn khát buổi sáng.

    Tới Hồ khô, nơi chia tay nhau, họ dừng lại hút một điếu thuốc lá tạm biệt. Họ đã rong ruổi trên lưng ngựa trọn một tiếng đồng hồ. Trong sự im lặng hoàn toàn ngoài tiếng vó ngựa nện trên thảm cỏ, tiếng cành cây “saparan” quệt vào bàn đạp bằng gỗ. Ở Têchxớt, người ta ít khi chuyện trò liên tục: có thể xen một kilômét, một bữa ăn và một vụ ám sát vào giữa hai câu nói mà không hề có hại gì cho luận điểm của người nói. Vì thế cho nên Oép không phải xin lỗi khi anh ta quyết định “tái bút” thêm vào những lời lẽ anh ta đã nói cách đây bốn kilômét.

    - Bonđy, chắc cậu cũng còn nhớ, có một thời Xanta đâu có kiêu kì như bây giờ. Cậu hẳn chưa quên cái thời ông lão Măc Alixtơ ra sức ngăn cách Xanta và tớ, và cô ta mỗi lần muốn gặp tớ lại gửi cho tớ một ám hiệu, cậu nhớ chứ? Lão Măc Alixtơ cam đoan với tớ là nếu thấy tớ lảng vảng gần nhà lão trong tầm súng, lão sẽ biến tớ thành cái muôi thủng. Cậu còn nhớ ám hiệu cô ta dùng để báo tin cho tớ không, Bonđy? Một trái tim có dấu chữ thập ở giữa ấy mà.

    - Nhớ chứ, sao tớ lại không nhớ! – anh chàng Bonđy vui tính kêu lên một cách say sưa. – Đồ chó rừng ăn vụng đường! Sao tớ lại không nhớ! Nhưng ông bạn con lừa sừng dài ơi, tất cả các tay chăn bò ở trại này, đứa nào mà không biết các kí hiệu bí hiểm ấy cơ chứ. Họ gọi đó là “bao tử và ống xương chân”. Người ta trông thấy các kí hiệu đó khắp nơi, trên các thứ hàng từ trại gửi tới các bãi chăn. Cái thì vẽ bằng than trên các bao bột mì, cái thì vẽ bằng bút chì trên các tờ báo. Có lần chính tớ trông thấy vẽ bằng phấn trên lưng một tay đầu bếp mới mà lão Măc gửi đến cho chúng tớ, tớ mà nói sai, quỷ bóp cổ tớ!

    - Bố của Xanta, – Oép chậm rãi giải thích, – đã bắt con gái phải hứa là không được viết thư cho tớ, dù là một chữ nhỏ. Cho nên cô ta đã tìm ra cái trò trái tim và chữ thập đó. Mỗi lần muốn gặp tớ để tâm tình ấy mà, cô ta lại tìm cách vẽ cái ám hiệu lên một thứ gì đấy mà chắc chắn tớ sẽ phải trông thấy. Và trông thấy một cái là tớ phi ngựa nước đại tới trang trại ngay đêm hôm đó. Chúng tớ gặp nhau trong nhà kho lợp rơm sau tàu ngựa ấy mà.

    - Biết rồi, – Bonđy dài mồm nói, – nhưng mọi người đều đã giả tảng không hay biết gì hết. Ai nấy đều ủng hộ cậu. Mọi người đều biết tại sao cậu cứ giữ khư khư cái lọ sơn ấy ở bãi chăn. Và khi trông thấy cái bao tử với hai khúc xương ống đó vẽ trên các kiện hàng từ trại gửi tới là họ biết ngay con ngựa Pintô của cậu đêm ấy sẽ lại không được xơi cỏ mà phải xơi hàng chục dặm đường. Cậu còn nhớ Xcơri không, cái anh bạn đồng nghiệp có học thức của chúng ta, cái anh bạn đồng nghiệp có học thức của chúng ta, một gã sinh viên gì đó sau trở thành tay dạy ngựa chỉ vì cứ đặt chân xuống đất là hắn lại uống rượu nhiều quá ấy mà? Ấy, khi Xcơri trông thấy cái ám hiệu của bồ câu mái gọi bò câu đực đó trên bao tải, hắn đã vung tay như thế này này mà bảo rằng: “Anh bạn Li Ăngđrê của chúng ta đêm này lại uống sữa Lexpôn rồi!”

    - Lần cuối cùng Xanta gửi ám hiệu cho tớ, – Oép nói, – là vào cái ngày cô ta ốm. Vừa tới bãi chăn, tớ trông thấy ngay và đêm ấy, con Pintô đã phóng nước đại suốt mười hai dặm đường. Nhưng tớ không thấy cô ta ở nhà kho. Tớ bèn xông đến nhà và gặp luôn lão Măc Alixtơ ở cửa. Lão bảo: “Nếu đêm nay anh muốn đến đây để ăn một phát đạn thì lần này anh bạn nhầm to rồi. Tôi vừa sai một tay chăn bò người Mehicô đi tìm anh. Xanta muốn gặp anh. Vào trong buồng nó kia và khi nào chuyện trò xong, anh lại gặp tôi”.

    Xanta nằm trên giường. Tuy ốm nặng nhưng cô ta vẫn cố mỉm cười với tớ và thế là hai chúng tớ nắm lấy tay nhau, tớ ngồi xuống bên cạnh giường, người bẩn thỉu đầy bụi đất, với cái quần thúc ngựa và đinh thúc ngựa ở ủng.

    Xanta thì thào:

    “- Em nghe thấy tiếng ngựa anh phi trên cỏ đã mấy tiếng đồng hồ rồi. Em tin chắc thế nào anh cũng đến. Anh trông thấy ám hiệu của chúng ta chứ?

    “- Vừa đến bãi chăn anh trông thấy ngay”.

    “- Em vẽ lên bao khoai tây và hành. Chúng bao giờ cũng đi với nhau, – Xanta nói giọng yếu ớt, – bao giờ cũng đi với nhau trong cuộc đời”…

    “- Đúng thế, – tớ nói, – nhất là trong món thịt hầm”.

    “- Không phải, em muốn nói là trái tim và chữ thập kia – Xanta nói, – Ám hiệu của chúng ta có nghĩa là tình yêu và đau khổ, nó có nghĩa là thế”.

    Tối hôm đó còn có cả ông bác sĩ già Mơxgrôvơ, ông lão lúc nào cũng phe phẩy chiếc quạt giả bằng lá cọ và một cốc uytxki thật. Được một lát thì Xanta ngủ thiếp đi. Ông bác sĩ già sờ trán cô rồi bảo tớ: “ Về mặt thoái nhiệt tán thì anh cũng không đến nỗi tồi lắm. Nhưng bây giờ anh liệu mà chuồn thì hơn. Theo sự chẩn bệnh của tôi, không nên dùng anh ở liều cao và liên tục. Cô bé tỉnh dậy sẽ khỏi thôi”.

    Lúc đi ra, tớ lại gặp lão Măc Alixtơ ở sân. Tớ bảo: “Cô ấy ngủ rồi. Và bây giờ ông có thể tiến hành cái trò bắn bia được rồi đấy. Ông cứ thông thả không phải vội. Tôi đã để khẩu súng ngắn của tôi treo ở yên ngựa rồi”.

    Ông già Măc bật cười, bảo tôi “ Nhồi chì vào người tay “sếp” chăn bò cừ khôi nhất vùng Têchxớt này ấy à? Không, như thế không phải là chính sách kinh tế khôn ngoan. Tôi không chắc sẽ tìm được ai giỏi bằng. Oép, theo ý tôi, chỉ với tư cách chàng rể, anh mới là một cái bia hạng nhất. Quả thật anh không phải là con người mà tôi quan niệm là thành viên của gia đình tôi. Nhưng anh có thể làm việc ở trại Nôpalitô này bao lâu cũng được miễn là anh đồng ý chỉ chạy vòng quanh nhà tôi những vòng thật rộng. Không bao giờ xâm phạm tới chu vi trang trại này. Thôi, lên gác mà nghỉ một lát. Sau đó ta sẽ nói chuyện thêm một chút”.

    Bonđy Utx ấn sụp cái mũ xuống rồi bỏ bàn chân đang gác lên cổ ngựa xuống, tra chân vào bàn đạp. Oép cầm ngắn dây cương lại và con ngựa Pintô của anh vùng vằng, nhấp nhổm muốn phóng đi. Hai người trịnh trọng bắt tay nhau, theo phong tục miền Tây.

    Oép nói:

    - Tạm biệt Bonđy. Tớ rất vui lòng được gặp và trò chuyện với cậu.

    Cả hai con ngựa sải vó cùng một lúc, mỗi con một phía, tiếng vó ngựa phá tan im lặng của đồng cỏ cùng với tiếng phần phật của một bầy gà gô thình lình cất cánh. Chạy được khoảng một trăm mét, Bonđy ghìm ngựa lại trên đỉnh một cái gò, hú lên một tiếng dài. Anh ta lảo đảo trên yên; giá thử đứng dưới đất, có lẽ anh ta đã ngã nhào rồi. Nhưng ngồi trên ngựa, anh ta giữ thăng bằng cực giỏi, không sợ uytxki và coi thường sức hút của trái đất.

    Nghe thấy tiếng hú, Oép ngồi trên yên quay người lại.

    - Ở địa vị cậu, – anh chàng Bonđy láu lỉnh hét lên, – tớ sẽ làm vua!

    Sáng hôm sau, hồi tám giờ, Bớt Tơnơ xuống ngựa ở trước cổng trang trại rồi đi về phía nhà ở, tiếng đinh thúc ngựa kêu lách cách. Bớt có nhiệm vụ đưa đoàn bò đi Xan Antôniô ngay sáng nay. Ygơ phu nhân đang tưới bụi hoa dạ hương lan trồng trong một cái hũ bằng đất nung đỏ đặt ở ngoài hiên.

    “Vua” Măc Alixtơ đã để lại cho con gái phần lớn tính cách cương nghị của mình, quyết tâm và tính táo bạo vui vẻ, lòng tự tin bướng bỉnh, tính tự phụ của một ông vua ngự trị trên một đám thần dân có sừng, có móng. Nhanh và mạnh, đó là nhịp điệu và âm điệu ưa thích của Măc Alixtơ. Chuyển sang cung Eva, nhịp điệu và âm điệu đó đã tồn tại trong con người Xanta. Về thể chất, cô giống người mẹ đã bị gọi về nơi tiên cảnh giữa những cánh đồng cỏ của thiên đàng từ lâu rồi, trước khi trang trại xuềnh xoàng thời buổi đầu đã được nâng lên thành cung điện vương giả, nhờ có loài bò. Xanta có dáng người thanh mảnh nhưng cứng cáp của mẹ; cũng như cái vẻ dịu dàng và trầm tĩnh, nó làm dịu bớt ánh mắt nghiệm nghị, oai vệ và vẻ mặt lãnh đạm kiểu vua chúa mà cô đã thừa hưởng của ông bố.

    Ở phía cuối hành lang, Oép đang trao nhiệm vụ cho hai ba người giám thị đến nhận công việc.

    - Chào ông, – Bớt nói vắn tắt. – Hôm nay phải trao bò cho ai ở ngoài tỉnh, cho ông Babơ như thường lệ chứ?

    Từ trước đến nay câu trả lời đó luôn thuộc thẩm quyền của nữ hoàng. Trong lĩnh vực công việc mua bán, liên hệ với các nhà băng, cô ta là người cầm lái vững chắc và tài ba. Cô ta đã trao cho chồng chức vụ thống soái các đàn bò. Thời ông già Măc Alixtơ còn sống, Xanta giữ chức trách “thư kí của nhà vua”; từ khi lên ngôi đến giờ, cô đã đảm đương công việc của bố để lại với một tính liên tục khôn ngoan và có lãi. Nhưng không để cho nữ hoàng kịp trả lời, ông hoàng tế đã lên tiếng, giọng bình tĩnh và cương quyết.

    - Đưa đến Dimmơmen và Nexbit. Tôi đã nói với Dimmơmen hôm nọ rồi.

    Bớt xoay người trên đôi gót ủng cao kiểu Mêhicô và định đi ra. Bỗng Xanta gọi:

    - Khoan đã!

    Cô nhìn chằm chặp vào chồng, cặp mắt mầu xám mở to vì ngạc nhiên. Cô cau mày hỏi:

    - Oép, thế này là thế nào? Em chưa hề giao dịch với Dimmơmen và Nexbit bao giờ. Năm năm nay, không có một con bò nào của trại này lại không bán cho Babơ. Em không hề có ý muốn cũng như không hề có dự kiến không tín nhiệm ông ta nữa, Bớt, anh hãy đem bò trao cho Babơ, – cô hướng về Bớt Tơnơ kết luận một cách dứt khoát.

    Bớt ngắm nhìn cái bình nước treo giữa hàng hiên và giữ thái độ hoàn toàn vô tư, đổi chân đứng, miệng nhai một chiếc lá.

    - Tôi muốn chỗ bò này được trao cho Dimmơmen và Nexbit, – Oép nói, cặp mắt xanh của anh loé lên một ánh sáng lạnh.

    - Thôi, đừng đùa nữa! – Xanta nóng nảy gắt. – Bớt, anh đi ngay cho được việc, nếu anh muốn tới máng nước Litơn Em vào xế trưa. Bảo với Babơ rằng chúng tôi còn một lô bò loại một, một tháng nữa sẽ có thể trao cho ông ấy.

    Bớt liếc trộm nhìn Oép và mắt hai người gặp nhau. Mắt của Bớt có vẻ như muốn nói: “Xin lỗi!” và Oép tưởng chừng như còn thoáng thấy cả một vẻ thương hại nữa. Oép nghiến răng nói:

    - Anh sẽ trao chỗ bò này cho…

    - Cho Babơ, – Xanta sẵng giọng nói luôn. – Thôi đủ rồi. Bớt, anh còn có gì cần hỏi nữa không?

    - Thưa bà, không ạ, – Bớt đáp.

    Nhưng trước khi đi, anh ta còn nấn ná lại một chút, vừa đủ thì giờ cho một con bò vẫy đuôi ba cái. Vì đàn ông vốn dĩ vẫn là đàn ông với nhau; và ngay bọn Philixtin cũng phải đỏ mặt vì xấu hổ khi họ bắt Xamxơn bằng những cách mà ai cũng biết[2].

    - Anh đã nghe thấy bà chủ nói rồi đấy! – Oép nói, giọng giễu cợt.

    Rồi anh cúi đầu trước vợ, ngả chiếc mũ Xtetxơn rộng vành lia một vòng như quét sàn nhà.

    - Oép, – Xanta nói có vẻ trách móc, – Hôm nay anh thật là ngớ ngẩn.

    - Tâu bệ hạ, chẳng phải tôi là thằng thằng hề của bệ hạ đó sao? – Oép nói, lần này giọng nghiêm nghị và chua chát. – Bệ hạ còn mong muốn gì khác? – Rồi anh nói thêm một cách gay gắt. – Xanta, tôi nói cho cô biết trước khi lấy nữ hoàng bê bò, tôi là một thằng đàn ông. Còn bây giờ tôi là cái gì? Là trò cười cho các bãi chăn. Được lắm, tôi sẽ trở lại làm đàn ông cho cô coi.

    Xanta chăm chú nhìn chồng. Cô bình tĩnh bảo:

    - Oép, anh đừng có nghĩ lẩn thẩn. Có chuyện gì mà anh phải xấu hổ đâu nào. Có bao giờ em dám tự cho phép mình nhận xét về công việc của anh đảm nhiệm đâu? Về phần công việc giao dịch mua bán, em thông thạo hơn anh nhiều, em đã trông nom công việc từ hồi còn bố em. Thôi nào, anh phải biết điều một chút chứ!

    - Các vương quốc, – Oép nói, – tôi không thiết đâu, nếu như tôi không ngồi trong xe long mã. Tôi chăn bò còn cô đội vương miện. Được thôi. Làm tổng thủ tướng đế quốc bò vẫn còn vẫn còn là hơn làm con tốt đen trong bộ bài ngũ tử. Được, được. Trại là của cô, và thịt bít tết sẽ được trao cho Babơ.

    Nói xong, Oép đi thẳng vào trong nhà. Một lát sau, vác trên vai cuộn chăn mà anh chỉ mang theo khi đi xa, chiếc áo mưa, và chiếc dây chão bằng da dài nhất, anh đi ngang qua sân, lại chỗ con ngựa của anh buộc ở hàng rào rồi thong thả buộc “đồ lề” lên yên. Xanta, mặt hơi tái đi, đi theo sau. Oép nhẹ nhàng nhảy lên ngựa, gương mặt nghiêm nghị, nhẵn nhụi, có vẻ thản nhiên, chỉ thấy ánh mắt đanh lại với một vẻ kiên quyết. Anh lạnh lùng bảo Xanta:

    - Có một đàn bò cái kèm theo bê con về phía máng nước Honđô trên sông Phriô, nên cho đánh ra xa rừng thì hơn. Sói đã giết mất ba con bê rồi đấy. Tôi quên chưa ra lệnh cho anh em chăn bò. Cô chỉ cần bảo Xim một tiếng.

    - Oép, anh định bỏ em đấy à? – cô bình tĩnh hỏi.

    - Tôi sẽ trở lại thành một thằng đàn ông, – anh đáp.

    - Chúc anh thành công trong ý định đáng khen ấy, – cô nói, giọng bỗng lạnh băng.

    Rồi cô quay gót, đi thẳng vào trong nhà.

    Oép Ygơ đi về hướng đông nam. Khi anh tới chân trời, thì ở trại Nôpalitô người ta cũng quên hẳn anh chẳng khác gì anh đã biến mất trong không khí. Và ngày lại ngày, dẫn đầu là ngày Chủ nhật, hình thành những đội ngũ từng tuần, và tuần lại tuần dẫn đầu là vầng trăng rằm, tập hợp lại thành những đại đội tháng trương những lá cờ trên ghi dòng chữ Temfus fugit[3]; và đoàn xe các tháng chuyển bánh chạy tới bãi tập mênh mông của các năm. Nhưng Oép Ygơ không bao giờ đặt chân lại trên cơ ngơi của nữ hoàng của anh nữa.

    Một hôm, một gã tên là Bathơlômin, nuôi cừu ở Riô Grandê, đi qua trước trại Nôpalitô, bỗng thấy bụng đói cồn cào. Ex consuetudine, chẳng bao lâu anh ta đã ngồi vào bàn trước một bữa ăn thịnh soạn ở cái vương quốc hiếu khách này. Thế là anh ta trò chuyện thao thao như nước chảy, tưởng đâu như chiếc gậy thần của Arôn đã điểm vào người anh ta vậy. Ấy, cái anh chàng chăn cừu bao giờ cũng vậy, mỗi khi trời cho anh ta có một cử toạ không có len quanh tai, anh ta ba hoa:

    - Thưa bà Ygơ, hôm nọ tôi có gặp một người ở trại Xêcô thuộc quận Hiđangô, người đó cùng họ với bà, anh ta là Oép Ygơ. Anh ta vừa được nhận vào làm “sếp” chăn bò của trại. Một anh chàng cao lớn, tóc vàng, lầm lì ít nói. Có lẽ anh ta có họ hàng gì đó với bà chăng?

    - Vâng, – Xanta thân mật trả lời, – đúng ra là chồng tôi. Trại Xêcô đã làm một việc có lợi đấy, ông Ygơ là một trong những người chăn bò giỏi nhất của miền Tây này.

    Hiếm khi một nền quân chủ bị xáo lộn vì mất hoàng đế. Nữ hoàng Xanta đã phong cho bề tôi trung thành của mình tên là Ramxay chức mayordomo[4] của trại. Ông già này xưa kia là một trong những chư hầu thân cận nhất của cha cô. Và trên bãi cỏ mênh mông như biển của trại Nôpalitô, có những ngày gió vịnh thổi làm cỏ uốn lượn như sóng, hầu như không có một tí gợn nào cho thấy có chuyện gì xảy ra.

    Từ nhiều năm nay, trại Nôpalitô nuôi thí nghiệm một giống bò Ănglê, loại bò này nhìn giống bò sừng dài của miền Têchxớt với con mắt khinh bỉ của kẻ bề trên. Thí nghiệm tỏ ra đáng hài lòng nên người ta đã dành những bãi cỏ đặc biệt cho loại bò “thuần giống” này, tiếng tăm của chúng đã lan ra khắp miền Têchxớt. Các trại khác bừng tỉnh, giụi mắt và bắt đầu nhìn giống bò “sừng dài” với con mắt chê bai.

    Vì thế cho nên, một ngày kia, một chàng kị sĩ trai trẻ, da rám nắng, dáng vẻ thờ ơ, điệu bộ uể oải, người đầy súng lục, khăn lụa quàng cổ, đi theo có ba anh chăn bò người Mêhicô, tới trại Nôpalitô và trao cho nữ hoàng trại này bức thư sau đây, viết theo giọng giao dịch kinh doanh:

    “Kính gửi bà Ygơ, trại Nôpalitô.

    Thưa bà,

    Những người chủ trại Xêcô đã trao cho tôi nhiệm vụ tới đề nghị bà để lại cho một trăm con bò cái giống Xơxếch, loại hai và ba tuổi. Nếu bà đồng ý nhượng, trân trọng đề nghị bà trao đàn bò đó cho người mang thư này. Khi nhận được hàng, chúng tôi gửi ngay “séc” thanh toán tới bà.

    Kính thư

    Oépxtơ Ygơ

    Quản lí trại Xêcô”

    Buôn bán vẫn cứ là buôn bán, dù cho là buôn bán trong một vương quốc.

    Ngay tối hôm đó, một trăm con bò cái thượng đẳng đã được bắt giữ lại trên đồng cỏ, rồi lùa vào tàu để ở đó cho đến sáng hôm sau sẽ lên đường.

    Khi màn đêm đã trùm kín lâu đài nữ hoàng trong bóng tối và im lặng thì Xanta Ygơ… Hà, bạn nghĩ cô ta sẽ làm gì nào? Cô ta lăn ra giường, ôm bức thư khô khan đó vào lòng và rơi lệ, thì thầm nhắc đến cái tên mà lòng kiêu hãnh đã từ lâu gạt khỏi đôi môi cô chăng? Hay là cô sẽ lạnh lùng như một nhà buôn, xếp bức thư đó vào hồ sơ, không hề mất đi một li trong thái độ đường bệ vương giả không gì lay chuyển nổi của mình?

    Bạn có giỏi cứ thử đoán xem. Vương vị là thiêng liêng và không nên vén cái màn che phủ nó. Tôi chỉ được phép tiết lộ với bạn có thế này thôi: lúc nửa đêm, Xanta mặc một thứ “áo quần lao động” màu nâu, nhẹ nhàng lẻn ra khỏi nhà, không một tiếng động, rồi dừng lại một lát bên một gốc cây. Đồng cỏ chìm ngập trong bóng tối mờ ánh trăng của màu da cam nhạt, đây đó điểm những búp sương mù nhẹ. Con chim bách thanh đậu trên cành lá như đứng trước giá nhạc của mình, lảnh lót hót một bài tình ca; không khí ngát hương của muôn hoa; một bầy thỏ rừng con nhảy nhót trong sân. Xanta hướng về phía Đông Nam, gửi ba cái hôn gió vào không trung.

    Rồi cô nhanh nhẹn đi về phía lò rèn, cách đó khoảng năm chục bước, vào trong lò rồi bắt tay ngay vào việc. Việc gì? Suỵt! Bạn chỉ cần biết rằng than trong lò rực cháy, cái đe khẽ vang tiếng lanh canh, chắc khi thần Ái tình rèn mũi tên của mình nó cũng vang lên như thế.

    Chẳng bao lâu Xanta đi ra, một tay cầm một vật hình thù kì lạ, tay kia xách một chiếc bễ lò nhỏ vẫn mang đi mang lại được giống như loại lò người ta vẫn dùng để nung sắt đánh dấu bò. Cô nhanh nhẹn đi về phía tàu quây bò Xơxếch quý tốc đang nằm nghỉ dưới ánh trăng; cô mở cửa, nhẹ nhàng lẻn vào. Tất cả những con bò ở đây đều lông đỏ, trừ một con lông trắng tinh trông như một thảm len màu sữa trải ở giữa đàn bò.

    Xanta cầm lấy một vật khoác trên vai mà lúc nãy chúng ta chưa trông thấy: một cái dây thòng lọng. Cô cầm cái vòng thòng lọng bên tay phải, tay trái cầm chỗ dây cuộn lại rồi len lỏi đi vào giữa đàn bò.

    Khi đến đúng tầm con bò trắng, cô quăng thòng lọng, nhưng sợi dây trượt trên sừng con vật, rớt xuống đất. Quăng lần thứ hai, cô may mắn hơn; hai chân trước bị trói chặt, con vật nặng nề ngã uỵch xuống. Xanta chồm tới như một con báo, nhưng con bò Iô có bộ lông trắng như sữa giãy giụa như một con rết, hất tung Xanta như một cọng que rồi vùng thoát ra được.

    Cả đàn bò thức giấc vì cuộc xung đột, lồng lên chạy vòng quanh trong khu nhốt bò như cả một khối to lù lù, sống động và nhốn nháo. Xanta lần này nhằm thật kĩ và quăng thòng lọng. Con bò cái trắng lại ngã khuỵu xuống và nó chưa kịp vùng dậy, Xânt đã buộc chặt đầu dây thừng vào cọc rào rồi, dây chão bằng da sống trong tay, cô lao vào con vật.

    Không đầy một phút, con bò đã bị trói chặt chân (tuy chưa phá được kỉ lục thế giới). Xanta thở hồng hộc, tựa lưng vào hàng rào, lấy lại hơi thở, rồi chạy tới chỗ cái bễ lò nhỏ và quay lại với một miếng sắt nung đỏ hình thù kì dị.

    Tiếng rống phản đối của con vật khi miếng sắt làm cháy xém bộ lông trắng của nó. – Xanta tự hỏi – liệu có đập vào màng tai các thần dân của cô đang say sưa giấc nồng không? Không, không thấy ai động cựa gì hết và Xanta chạy như bay về lâu đài của mình trong sự im lặng hoàn toàn yên ắng. Về tới nơi, cô lăn lên giường, khóc nức nở, tựa hồ như các nữ hoàng cũng có một trái tim giống hệt các bà vợ bình thường của các anh chàng chăn bò và có vẻ như, cuối cùng, cô đã sẵn sàng trao vương trượng lại cho tất cả các hoàng tế trên đời này nếu như từ vùng đồi núi xa xăm, họ hạ cố trở về.

    Tảng sáng người kị sĩ trẻ tuổi, súng đeo đầy mình, điệu bộ ngang tàng, cùng đám “vaqueros” của anh ta lên đường, thúc đàn bò “Xơxếch vương giả” băng qua các cánh đồng cỏ bao la. Luôn luôn dừng lại cho bò ăn và uống, họ phải mất sáu ngày mới vượt được ba mươi sáu dặm để tới trại Ranchô Xêcô.

    Tới nơi thì trời chập tối; tuy nhiên, ông “quản lí” vẫn có thì giờ kịp xem xét và đếm đàn bò.

    Sáng hôm sau, lúc tám giờ, một kị sĩ từ trong rừng rậm lao ra, xuất hiện gần trại Nôpalitô. Anh ta xuống ngựa và mặc dầu rõ ràng là hai chân cứng đờ vì mỏi mệt, anh vẫn rảo bước đi về phía hoàng cung, tiếng đinh thúc ngựa kêu loảng xoảng. Con ngựa của anh ta, mình đầy bọt, thở phì một hơi dài, rồi đứng nguyên tại chỗ, người hơi lắc lư, đầu rũ xuống, mắt nhắm lại.

    Nhưng xin các bạn chớ mất thời giờ thương xót con Bensađa, con ngựa sắc hồng, mình đầy vệt mồ hôi. Ngày nay, trên cánh đồng cỏ của trại Nôpalitô, nhà vô địch “việt dã dai sức” này vẫn còn sống một cuộc đời nhàn rỗi và vẻ vang và chưa bao giờ một con tuấn mã lại được cưng chiều đến như thế.

    Người kị sĩ vấp vào bậc thềm khi đẩy cánh cửa. Ngay lúc đó, hai cánh tay mát dịu choàng lấy cổ anh ta, một giọng nói vừa vương giả vừa đầy tình người kêu lên:

    - Oép! Ôi! Anh Oép!

    - Anh đã cư xử như một tên khốn kiếp, – Oép Ygơ nói.

    - Suỵt! – Xanta nói. – Thế anh đã trông thấy chứ?

    - Anh đã trông thấy, – Oép nói.

    Có trời biết họ nói cái gì. Có lẽ bạn sẽ đoán ra được vì đầu óc mẫn tuệ của các bạn đã lĩnh hội được đầy đủ các tiền đề và khai đề của câu chuyện này.

    - Em cứ đội vương miện, – Oép nói, – và hãy quên tất cả, nếu có thể được… Anh đã hành động như một con chó rừng mạt hạng…

    - Suỵt! – Xanta nhắc lại, đặt ngón tay lên môi ông hoàng… đế. – Ở đây không có nữ hoàng. Anh có biết em là ai không? Là Xanta Ygơ, đệ nhất phu nhân của một vương quốc. Anh theo em vào đây.

    Cô kéo chồng vào buồng ở gác hai. Giữa buồng, Oép trông thấy một chiếc nôi, trong đó một chú bé đỏ hỏn, khoẻ mạnh, lanh lợi đang bi ba bi bô, hát theo kiểu của nó một điệu hát chào mừng cuộc sống.

    - Ở đây không có nữ hoàng, – Xanta nhắc lại. – Hãy nhìn đức vua kia. Nó có đôi mắt của anh đấy, anh thấy không. Xin Đức ông hãy quỳ xuống chào hoàng thượng đi!

    Nhưng người ta bỗng nghe thấy tiếng đinh thúc ngựa loảng xoảng ngoài hàng hiên và Bớt Tơnơ xuất hiện. Con mắt lơ đãng như không nhìn ai, giọng lạnh băng, anh ta nhắc lại câu hỏi thường lệ, vẫn câu hỏi đó mà, một ngày nọ đáng ghi nhớ, anh ta đã nêu lên, cách đây chừng một năm:

    - Chào! Tôi vừa tới. Phải đưa chúng đến chỗ Babơ hay là…

    Vừa lúc đó, anh ta trông thấy Oép và sững lại, miệng há hốc.

    - Ba-ba-ba-ba! – Nhà vua nằm trong nôi vừa kêu vừa đấm vào không khí.

    - Bớt, anh vừa nghe thấy ông chủ nói đấy, – Oép Ygơ nói, như anh đã nói cách đây một năm, nhưng lần này thì lại nở một nụ cười hết sức cởi mở.

    Có thế thôi. Chỉ xin nói thêm rằng ông già Quin người chủ trại Panchô Xêcô, khi đi thăm đàn bò “Xơxếch vương giả” mua của Xanta Ygơ đã hỏi người quản lí mới của ông ta.

    - Kí hiệu của trại Nôpalitô là gì nhỉ, Uynxơn?

    - X gạch Y, – Uynxơn nói.

    - Tôi cũng nhớ là như thế, – Quin nói. – Nhưng nhìn con bò cái trắng kia kìa: nó mang một kí hiệu khác, một trái tim trong có hình chữ thập. Kí hiệu gì thế nhỉ?

    Hết

    Ngô Vĩnh Viễn dịch
    ______________________

    Chú thích

    [1] Tên một đạo luật nổi tiếng ở Anh (1679) bảo đảm quyền tự do cá nhân của người công dân Anh.

    [2] Theo thần thoại, sức mạnh của Xamxơn là ở mái tóc; về sau, Xamxơn bị Đalila, một cô gái đẹp ru ngủ cho thợ cạo cắt mất mái tóc để kẻ thù là quân Philixtin bắt sống.

    [3] Thời gian trôi nhanh.

    [4] Người quản lí.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi