Nhà Báo Tài Ba Phạm Xuân Ẩn (1927-2006)

  • Bởi Bien-Tap
    27/03/2009
    0 phản hồi

    Tác giả Lê Tùng Minh

    Phạm Xuân Ẩn (PXA) sinh vào năm 1927 tại Biên Hòa, trong một gia đình viên chức hạng trung. PXA bước vào nhà trường Tiểu học từ năm 1934, và khi anh tốt nghiệp Tiểu học đúng vào năm 1939. Vào thuở tuổi 13 (1927-1939) PXA đã có ý thức về “nỗi nhục mất nước” của dân tộc mình. Bởi vậy, từ khi bước vào bậc Trung học, PXA đã cố công sưu tầm những bài viết của Nguyễn An Ninh, đã đăng trong các tờ báo “Tiếng Chuông Rè”, Anh thường nói với bạn học rằng: “Lớn lên tôi phải viết báo như ông Nguyễn An Ninh”.

    Năm 1943, PXA đã đậu bằng Thành Chung. Nhưng, vì hoàn cảnh gia đình và tình hình thời cuộc (Nhật đã đưa quân vào chiếm Đông Dương, Chiến tranh thế giới lần thứ 2 đã tràn đến Việt Nam), nên PXA không thể tiếp tục học lên Ban Tú Tài. Năm 1944, PXA vừa tròn 18 tuổi, anh đã xin được việc làm “sửa chữa bản in” ở một nhà in “Minh Châu” trên đường Sabourain (Saigon).

    Trong thời gian làm việc tại nhà in Minh Châu (1944-1945) PXA đã được chú Ba Mạnh, người thợ xếp chữ của nhà in, đưa vào tổ chức Mặt Trận Việt Minh (Theo hồ sơ lý lịch của PXA, khi học lớp Tình Báo Nam Bộ, khóa 3, niên khóa 1951-1952)

    Cách Mạng Tháng 8-1945 bùng nổ, PXA được Mặt Trận Việt Minh Đặc Khu Sàigòn - Gia Định giao trách nhiệm tham gia vào Ban Lãnh Đạo Học Sinh Sinh Viên Sàigòn-Gia Định, Khi quân Pháp theo chân quân đồng minh Anh - Ấn tái chiếm Sàigòn (23-9-1945) PXA có nhiệm vụ ở lại bám trụ, tham gia lãnh đạo Phong Trào Học Sinh-Sinh Viên Chống Pháp. Chính PXA là một trong số cốt cán lãnh đạo Phong Trào Học Sinh Trần Văn Ơn (1950).

    Cuối năm 1950, do yêu cầu đào tạo Cán Bộ Tình Báo Chiến Lược, và hai tiêu chuẩn hang đầu là: Một, cán bộ đã được thử thách trong phong trào đấu tranh chống Pháp ở trong lòng địch, hay là trong chiến đấu ngoài mặt trận đối địch với giặc Pháp. Hai, phải có trình độ Trung Học, sử dụng được tiếng Pháp hoặc tiếng Anh. PXA có đủ 2 tiêu chuẩn hàng đầu đó. Đặc biệt, PXA còn sử dụng được 2 ngôn ngữ Pháp và Anh. Vì vậy, PXA đã được Khoa Mật Vụ Đặc Khu Sàigòn - Gia Định tuyển chọn, và đưa vào chiến khu Đồng Tháp để dự khóa đào tạo Cán Bộ Tình Báo Chiến Lược, do Ban Tình Báo Nam Bộ tổ chức và Cục Tình Báo Trung ương huấn luyện. Khi khóa học kết thúc (6-1952), cũng là lúc PXA được kết nạp vào Đảng CSVN, mang bí danh Hai Trung. Sau đó, PXA được đưa về chiến khu U-Minh để dự lớp “đào tạo phóng viên cấp tốc” trong vòng 3 tháng do Nhà báo - Giám đốc Sở Thông Tin Nam bộ - Lưu Quý Kỳ, trực tiếp huấn luyện. (Theo hồ sơ đã dẫn).

    Từ nay, cuộc đời của chàng trai trí thức Phạm Xuân Ẩn (24 tuổi) đã bước sang một giai đoạn đặc biệt của người chiến sĩ vô danh.

    Đầu năm 1953, PXA được đưa về Sàigòn hoạt động tình báo theo hệ thống đơn tuyến, thuộc mạng lưới Điệp Báo D.36, do Thiếu tướng Hoàng Đạo - Trưởng Ban Quân Báo Nam Bộ, trực tiếp chỉ đạo. Về mặt công khai hợp pháp, PXA là phóng viên thời sự của nhật báo Đuốc Nhà Nam do ông Trần Tấn Quốc làm chủ bút. (Tờ Đuốc Nhà Nam có khuynh hướng ủng hộ cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Minh). Trong thời gian làm phóng viên thời sự cho nhật báo Đuốc Nhà Nam, PXA lấy bút danh là Trần Long Ẩn.

    Sau tháng 7-1954. PXA được Cục Tình Báo Trung Ương, do Lê Đức Thọ chỉ đạo, bí mật đưa sang Đông Đức, để dự lớp huấn luyện Tình Báo Quốc Tế, do Sở Mật Vụ Liên Xô (KGB) tổ chức và huấn luyện cho khối XHCN. Khóa học kéo dài một năm, vừa học lý thuyết vừa thực hành. Năm 1956, sau khi hoàn thành khóa học đặc biệt này, PXA trở về Sàigòn qua con đường Paris – Phnompenh - Sàigòn (Theo hồ sơ của Cục Phản Gián trung ương).

    Năm 1956 là năm nền Đệ Nhất VNCH ra đời do ông Ngô Đình Diện làm Tổng thống, cũng là năm quân Pháp rút khỏi Việt Nam. Và từ đó là sự bành trướng thế lực của Mỹ. Do đó, trước đây đối tượng điều tra chính của Tình báo CSVN là Pháp, bây giờ đối tượng điều tra chính là Mỹ. Cho nên, nhiệm vụ đầu tiên của Tình Báo CSVN nói chung, Tình Báo Viên PXA (tức Hai Trung, tức Năm An, tức Z.21) là phải điều tra Hệ thống tổ chức, nội dung hoạt động và nhân sự của các tổ chức của Mỹ đã có mặt ở Nam phần Việt Nam, như USOM (United States Operations Mission – Đoàn Công tác Hoa kỳ) ), MAAG (Military Assistance Advisory Group - Đội Cố Vấn Viện Trợ Quân Sự), MACV (Military Assistance Command Vietnam - Bộ Chỉ huy Yểm trợ Quân sự cho Việt Nam) …

    Nhận thấy được sở trường của PXA là, thông qua môi trường báo chí để hoạt động tình báo, thì đạt được hiệu quả cao, Vì vậy, Cục Tình Báo Trung ương CSVN, đã đề nghị với Lê Đức Thọ - Trưởng Ban Tổ Chức trung ương Đảng, trực tiếp chỉ đạo Tình báo Chiến lược, cho PXA đi tu nghiệp về ngành báo chí ở Mỹ, từ 1957 đến 1959. Cái khó là làm sao xin được học bổng của chánh phủ Hoa kỳ cấp cho ngành báo chí của chính quyền VNCH (?) - Nghĩa là tạo điều kiện hợp pháp lâu dài cho PXA – “Người của VNCH nhận học bổng của đồng minh Hoa kỳ, để trở về đóng góp cho sự phát triển ngành báo chí quốc gia!” Và nhờ sự vận động của những nhà báo ủng hộ Việt Minh nằm trong Ban Chấp Hành Hội Ký Giả Nam phần của chế độ VNCH, nên Bộ Ngoại giao VNCH đã đồng ý cho PXA nhận học bổng của chính phủ Hoa Kỳ đi tu nghiệp 2 năm (1957-1959) về ngành báo chí, tại trường Đại học California. Chính lần đi tu nghiệp ngành báo chí ở Hoa kỳ trong hai năm 1957-1959, đã dọn đường cho PXA đi vào làng báo quốc tế, cũng có nghĩa là mở rộng đường cho PXA hoạt động tình báo.

    Trong hai năm tu nghiệp ở Mỹ, PXA không chỉ có học tập, mà còn kết hợp việc học tập với công tác điều tra tình báo, trên cơ sở nghiên cứu những tài liệu đăng công khai trên các tờ báo lớn của Mỹ, như Washington Post, New York Times… cùng với việc sưu tầm tài liệu tồn trữ trong các thư viện Đại học, để Tìm hiểu Âm mưu Chiến lược của Mỹ đối với miền Nam Việt Nam. Theo kết quả điều tra, nghiên cứu của PXA, “đã góp phần quan trọng, làm sang tỏ “Âm mưu Chiền lược của Mỹ đối với miền Nam Việt Nam” trong giai đoạn 1961-1965” (Theo sự đánh giá của Nguyễn Văn Linh, TBT Ban Chấp Hành TW Đảng CSVN khóa VI, nhận xéi một trong những thành tích của PXA, khi đề bạt PXA lên Thiếu tướng, tháng 12-1989 – Xem hồ sơ đề bạt cấp tướng của Ban Tổ chức TW, năm 1989-1990).

    Đầu năm 1960, PXA trở về Sàigòn, với tư cách là phóng viên của Hãng Thông Tấn Reuters (Anh quốc), đồng thời là công tác viên của nhiều hãng thông tấn nước ngoài khác. Nhưng, sự thật đó, chỉ là cái vỏ bên ngoài của một điệp viên cộng sản mà thôi. Nhiệm vụ chính, quan trọng nhất của PXA là bằng mọi cách “nắm bắt cho được Âm Mưu và Kế Hoạch thực hiện Chiến lược Chiến tranh của Mỹ ở Miền Nam Việt Nam, trong giai đoạn 1961-1965”.

    Ngày 28-1-1961, tổng thống Mỹ John F. Kennedy (1961-1963) đã thông qua “Chiến lược Chiến tranh Đặc biệt”, và quyết định thí nghiệm chiến lược mới đó tại chiến trường Nam Việt Nam. Phương thức tiến hành “Chiến tranh Đặc biệt” là dùng quân lực VNCH trực tiếp giao chiến với các lực lượng vũ trang của Việt Cộng, do Mỹ tổ chức, trang bị, huấn luyện và chỉ huy. Để giành thắng lợi trong cuộc “Chiến tranh Đặc biệt”, ngày 4-5-1961, tổng thống Kennedy quyết định tăng viện trợ gấp đôi về mặt quân sự cho chính quyền Ngô Đình Diệm; đồng thời gợi ý sẽ đưa quân đội Mỹ sang tham chiến ở chiến trường Nam Việt Nam. Tiếp theo, ngày 7-5-1961, Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ đã họp phiên đặc biệt, để xem xét việc sử dụng phương tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ tại Việt Nam, để bảo đảm điều kiện tốt nhất cho quân đội Mỹ, và nếu cần thiết sẽ có sự tham chiến của quân đội các nước trong khối SEATO! Và đến ngày 13-6-1961 Thông Cáo Chung Lyndon B. Johnson – Ngô Đình Diệm ra đời, coi như hoàn tất công việc chuẩn bị tiến hành “Chiến tranh Đặc biệt” [Thông Cáo Chung này có mấy điểm chính như sau: Tăng viện trợ kinh tế và quân sự; phát triển các lực lượng chính quy của quân lực VNCH; tăng cố cấn quân sự Mỹ và kêu gọi sự giúp đỡ của các nước trong khối SEATO; tăng cường công tác bình định nông thôn...]

    PXA đã thu thập tin tức bằng cả hai nguồn: Nguồn tin công khai của các hãng thông tấn nước ngoài, đặc biệt là của Hoa Kỳ, và nguồn tin bí mật, khai thác sự tiết lộ từ các quan chức của Ngũ Giác Đài, của C.I.A… Và “Z.21 đã hoàn thành kịp thời và xuất bản về tập tài liệu “âm mưu và kế hoạch thực hiện chiến tranh đặc biệt: của Mỹ ở Nam Việt Nam” (Z.21 là bí số của PXA – Theo đánh giá của Cục Tình Báo Trung ương, trong cuộc họp tổng kết thành tích Tình Báo trong chiến tranh “chống Mỹ cứu nước”, Hànội, tháng 12-1978).

    Trong thời 1961-1963, PXA còn có nhiệm vụ thâm nhập vào Sở Mật Vụ do Bác sĩ Trần Kim Tuyến là Giám đốc (Lúc này, Sở Mật Vụ núp dưới nhãn hiệu “Sở Nghiên Cứu Chính Trị Xã Hội - Phủ Tổng Thống). Bằng cách nào PXA đã quen thân với Bác sĩ Trần Kim Tuyến? Không ai biết chính xác cả, bởi vì cả TKT và PXA đếu giữ đúng nguyên tắc “Sống để bụng, chết mang theo”! Chỉ biết có một điều là PXA và TKT thỉnh thoảng có gặp nhau ở nhà hàng quốc tế Continental trên đường Catinat (sau này đổi tên là Tự Do), hoặc gặp nhau tại nhà hàng sang trọng nào đó trong Chợ lớn… Hầu như rất ít thấy PXA vào gặp TKT tại Sở Mật Vụ. (Theo tiết lộ của ông Trần Văn Hải, tức Hải con hay Hải nhí, là Trưởng phòng Phản gián - Sở Mật Vụ). Nhờ sự liên hệ đặc biệt đó với TKT, nên PXA mới thu thập được nhiều tin nội bộ của Phủ Tổng Thống trong những năm 1961-1963, so với bất cứ một điệp viên nào của Cộng Sản Bắc Việt cài vào Nam Việt Nam.

    [Trong thời tổng thống Ngô Đình Diệm cầm quyền, những điệp viên của Cộng Sản Bắc Việt cài vào gồm có một số nhân vật chính như sau: Vũ Ngọc Nhạ leo đến chức cố vấn cho ông Diệm, và sau này cố vấn cả cho ông Thiệu. Huỳnh Văn Trọng nguyên là nhân viên của Tình Báo Pháp (2è Bureau). Vào thời ông Ngô Đình Diệm, Huỳnh Văn Trọng làm Đổng lý Văn phòng Bộ trưởng Nội vụ Huỳnh Văn Nhiệm. Sau này làm cố vấn chính trị cho tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Lê Hữu Thúy, tổ trưởng Tổ Tình Báo Chiến Lược A.25 hoạt động tại Nam Việt Nam. Thúy đã từng làm chủ nhiệm tờ báo SINH LỰC do dân biểu Võ Văn Trường đỡ đầu, và làm việc dưới trướng của Mai Hữu Xuân (Giám đốc An Ninh Quốc Gia). Và sau này Thúy chui vào ngành phản gián thuộc quyền của Tướng Đỗ Mậu…]

    Chính PXA đã là người báo cáo trước tiên cho Hà nội biết chuyện ông Ngô Đình Diệm “không muốn để cho quân đội Mỹ và khối SEATO trực tiếp tham chiến ở Nam Việt Nam”. Do được tin này, ông Hồ Chí Minh mới chỉ thị mật cho Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch MTDTGPMNVN, phải tìm mọi cách bắt tay với tổng thống Ngô Đình Diệm và ông Cố vấn Ngô Đình Nhu, nhằm “cắt đứt quan hệ ngoại giao với Mỹ, và hai miền Việt Nam sẽ tiến hành hiệp thương hòa bình thống nhất nước nhà” (Theo tiết lộ của ông Trần Bửu Kiếm, Ủy viên đối ngoại của MTDTGPMNVN). Điệp viên của Mỹ nằm vùng trong Ủy Ban Trung Ương MTDTGPMNVN đã báo cáo tin này về Trung tâm C.I.A ở tiểu bang Maryland (Hoa Kỳ).

    Hơn 30 năm sau (1963-1995) khi viết Hồi Ký, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Robert S. McNamara đã xác nhận như sau: “Hồi đầu mùa hè năm đó, chúng tôi đã nhận được báo cáo cho biết Diệm, thông qua em mình là Nhu, đã bí mật thiết lập quan hệ với Hà nội … một vài quan chức còn lại ở Washington thấy đây là một cơ hội loại bỏ chính quyền Diệm. Cuối ngày hôm đó (24-8-1963), nước Mỹ đã sắp đặt cho một cuộc đảo chánh quân sự, mà theo tôi đây là một trong những quyết định thực sự cứng rắn liên quan đến Việt Nam trong thời kỳ các chính quyền Kennedy và Johnson.” (Theo “IN RETROSPECT - The Tragedy and Lessons of Vietnam” của Robert S. McNamara, Time Book New York, 1995, các trang 51-53).

    Từ cuối tháng 10-1963, PXA cũng đã nhận được tin Tổng thống Kennedy ra lệnh cho Henry Cabot Lodge - Đại sứ Mỹ ở Nam Việt Nam, tiến hành đảo chánh Diệm - Nhu. PXA đã điện báo (qua Vô Tuyến Điện) về Cục Tình Báo Trung Ương (Hà nội) ngắn gọn như sau: “Chiều 29-10-1963 stop. Tại Nhà Trắng ở Washington, có một cuộc họp đặc biệt stop. Tổng thống Kennedy quyết định cho tiến hành đảo chánh Diệm-Nhu bằng quân sự stop. Có tin gì mới, cáo cáo sau stop.” (Theo Hồ Sơ Báo cáo của Z.21 - Tuyệt Mật - Lưu trữ tại Cục Tình báo Trung ương, Ký hiệu: BC/Z.231-1963. Không thể tiết lộ nguồn tin). Đáng lý ra, tập đoàn Hồ Chí Minh - Lê Duẩn phải nhân cơ hội này hỗ trợ cho anh em tổng thống Ngô Đình Diệm thoát khỏi cuộc đảo chánh 1-11-1963, lật lại “thế cờ Nam - Bắc cùng bắt tay chống Mỹ”. Nhưng, họ vẫn án binh bất động, lấy lý do chưa đến thời cơ, mà chỉ ra lệnh cho Bộ Chỉ Huy Các Lực Lượng Vũ Trang Miền Nam (Việt Cộng) chỉ chuẩn bị “lấn đất giành dân, mở rộng vùng giải phóng, tạo thời cơ Tổng Nổi Dậy trong vài năm tới” (Theo Công điện ĐB của Bộ Chính Trị gửi cho Trung Ương Cục Miền Nam, ngày 30-10-1963) Những hoạt động vũ trang của Việt Cộng trong năm 1964 trên chiến trường miền Nam và trong nội thành Sàigòn, đã minh chứng ý đồ của Hà nội.

    Trong những năm 1963-1965, PXA đã phát huy sở trường viết báo của ông, để tạo thế đứng vững chắc cho công tác tình báo, ngay tại thủ đô Sàigòn. PXA đã làm cho giới báo chí tại Sàigòn cũng như quốc tế, chú ý đến Phạm Xuân Ẩn qua nhiều bài viết, đăng trên các báo như: The New York Herald Tribune, The Christian Science Monitor… Nhà báo PXA gây được uy tín và có sự tín nhiệm của đồng nghiệp là do chính tinh thần trách nhiệm cao đối với độc giả: Đưa tin nhanh, kịp thời và xác thực. Bình luận xác đáng và có giá trị tham khảo lâu dài… Nhưng, quan trọng hơn hết là PXA biết hành xử thân tình trong quan hệ với đồng nghiệp, tự tin nhưng không kiêu căng ngạo mạn, tự trọng nhưng không tự ty ích kỷ… Cho nên PXA đã được nhiều đồng nghiệp mến mộ. Chính tư cách nghề nghiệp và nhân phẩm đó, là cái vỏ bọc tốt nhất cho nhà tình báo PXA, tồn tại công khai ngay trước mặt đối phương suốt gần 20 năm mà không bị lộ.

    Tài năng và tư cách làm báo của PXA đã được Ban lãnh đạo báo TIME (Mỹ quốc) lưu ý, nên khi PXA đầu quân, làm phóng viên thường trú tại Nam Việt Nam cho báo Time (cuối 1964), là ông được trọng dụng ngay. Nhận làm phóng viên thường trú cho báo Time, không đơn thuần là tiền lương cao, có danh vọng trong giới báo chí quốc tế; mà còn là nhiệm vụ tiếp cận với giới truyền thông uy tín và quan trọng nhất của Hoa Kỳ, để phục vụ cho nghề nghiệp tình báo của PXA.

    Ở Sàigòn, trong những năm 1956-1964 và về sau này, báo chí đã được Đảng CSVN coi là một mặt trận đấu tranh rất quan trọng. Vì thế, tập đoàn Lê Duẩn-Lê Đức Thọ, trước khi rút ra Hà nội, họ đã cài nhiều cán bộ báo chí nằm vùng trong một số tờ báo có tiếng như: Tiếng Chuông của Đinh Văn Khai (Kỹ sư Nguyễn Văn Hiếu lấy bút hiệu Khai Minh, chuyên viết Xã Luận, và khi MTDTGPMNVN thành lập, 20-12-1960, ông được bầu làm Tổng Thư Ký). Báo Ánh Sáng của bà Lữ Khê, do ông Thanh Sanh làm Tổng Thư Ký (Mai Thế Đồng, Ủy viên Xứ đoàn TNCQ Nam bộ đã nằm vùng trong BBT báo Ánh Sáng. Chính Mai Thế Đồng là một trong những người “tranh luận chủ nghĩa Cộng Sản - Chủ nghĩa Quốc gia với ông Nguyễn Trân, tỉnh trưởng Định Tường). Báo Đuốc nhà Nam của Nam Đình, báo Đôc Lập của Hoàng Châu, báo Điện Tín của Hồng Sơn Đông v.v…

    Nhà báo PXA tuy có quan hệ mật thiết vế mặt trao đổi tin tức, đôi khi cũng viết bài ký bút danh khác,theo yêu cầu của các tờ báo đó, và với khả năng quan sát của nhà tình báo, PXA cũng thấy cái dấu ấn nằm vùng của họ, nhưng PXA luôn kín miệng giữ an toàn cho họ. Ngược lại họ vẫn cảnh giác với PXA, vì trong mắt họ, PXA là “CIA dấu mặt” (?).

    Không rõ bằng cách nào, thông qua mạng lưới điệp báo nào mà PXA đã lấy được Kế Hoạch Hành Quân 34A - kế hoạch bí mật xâm nhập Bắc Việt của lực lượng Biệt Kích do CIA huấn luyện và chỉ huy (?) Theo Hồ Sơ Báo Cáo Tối Mật của Z.21, lưu trữ tại Cục Tình Báo trung ương (Hà nội) cho biết vắn tắt như sau:

    Ngày 20-11-1963, tại cuộc họp ở Honolulu, tổng thống Johnson đã thông qua “kế hoạch về các hoạt động bí mật chống lại Bắc Việt Nam của các lực lượng Nam Việt Nam được CIA hậu thuẫn” Kế hoạch này được gọi là kế hoạch hành quân 34A. Và tháng 1-1964, Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ đã cho phép CIA giúp đỡ chính quyền Sàigòn thực hiện kế hoạch 34A bao gồm hai loại hình hoạt động: 1/-Tàu thuyền và máy bay thả điệp viên người Việt có trang bị máy Vô Tuyến Điện, xuống các vùng trọng yếu của miền Bắc, để phá hoại và thu thập tin tức tình báo. 2/- Tàu tuần tra tốc độ cao do người Việt hoặc người nước ngoài, do CIA tuyển dụng, tiến hành tập kích vào bờ biển và đánh phá căn cứ trên các đảo của miền Bắc. Loại hình thứ hai này còn có mật danh là DESOTO)

    Chính nhờ PXA lấy được kế hoạch hành quân 34A của Mỹ, nên Đảng và Chánh phủ Cộng sản miền Bắc mới kịp thời đối phó và làm thất bại hầu hết các vụ xâm nhập Bắc Việt của Biệt Kích do CIA chỉ đạo. Đây chỉ là một trong những thành tích xuất sắc của Z21.

    Sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ (8-1964), PXA nhận được một tin vô cùng quan trọng: Đó là “quyết định leo thang” (The Decision to Escalate), tiến hành Chiến tranh Phá hoại miền Bắc của tổng thống Johnson, cả việc đưa lục quân Mỹ vào Nam Việt Nam, nâng tổng số quân Mỹ từ 23.000 lên đến 175.000 quân. Và tổng thống Johnson cũng đã quyết định: Bắt đầu vào đầu tháng 3 năm 1965, không quân Mỹ sẽ thường xuyên oanh tạc miền Bắc Việt Nam. Z21 tức tốc điện khẩn, trực tiếp cho văn phòng Tổng Bí Thư Lê Duẩn, thơ điện S.O.S.

    Nhờ nhận được tin trước khi Mỹ hành động, nên Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Đội Cộng Sản Bắc Việt mới kịp thời bố trí Ba tầng Phòng không (không quân canh giữ tầng cao nhất, pháo binh và hỏa tiễn phòng vệ tầng trung, bộ binh cùng dân quân du kích, võ trang đại liên, tiểu liên và súng trường canh phòng tầng thấp nhất) để chống lại Chiến tranh Phá hoại của Mỹ.

    Tin điệp báo của Z21 thật là chính xác: Ngày 2 tháng 3 năm 1965, hơn 100 phản lực cơ của Mỹ, đã được phóng từ các tàu sân bay của Hoa kỳ ở biển Nam Trung Hoa, và từ các căn cứ không quân ở Nam Việt Nam, bay ra oanh tạc các kho vũ khí của Bắc Việt - mở đầu cái gọi là Chiến dịch “Sấm Rền” (Rolling Thunder).

    Suốt trong thời kỳ Hoa Kỳ tiến hành Chiến Tranh Phá Hoại Bắc Việt (3/1965 đến 5/1967), có thể nói: Trong số điệp báo của Cộng Sản Bắc Việt hoạt động tại Nam Việt Nam, thì tin tức của Z21 cung cấp, về việc tiến hành Chiến tranh Phá hoại miền Bắc của Mỹ, là “kịp thời và chính xác nhất, có giá trị chiến lược như: Tình hình mâu thuẫn đối kháng giữa phe Bồ Câu và phái Diều Hâu trong Quốc Hội Hoa Kỳ và Chính quyền Johnson về chiến tranh Việt Nam, sau sự thất bại của các cuộc oanh tạc miền Bắc trong năm 1966. Và việc Chính quyền Johnson thông qua Ba Lan và Nga tìm cách đi đêm, đàm phán Hòa Bình với miền Bắc, đã bị tiết lộ, làm cho phái Diều Hâu Mỹ bất mãn, làm cho các đồng minh tham chiến ở Nam Việt Nam nản lòng” (Theo Hồ sơ đề bạt thăng cấp Thiếu tướng của PXA, đã dẫn).

    Mặt khác, trong những năm 1964-1966, ở Sàigòn PXA đã trực tiếp đối diện với với một tình hình, như ông Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert S. McNamara ta thán rằng: “We’re in hell of a mess… I did not know how to solve it.” (Chúng ta đang ở trong một mớ bòng bong… Tôi không biết làm sao thoát ra được) (Hồi Ký đã dẫn, trang 188). Thật vậy, từ tháng 1-1964 đến tháng 3-1966, tại Thủ đô VNCH đa xảy ra biết bao nhiêu biến cố chính trị và quân sự, xuất phát từ sự tranh giành quyền lực giữa các phe nhóm quân phiệt trong quân lực VNCH, như:

    - Biến cố ngày 30-1-1964 – Đó là cuộc chính biến lật đổ Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng (thành lập trong cuộc đảo chính 1-11-1963), do các tướng Nguyễn Khánh - Trần Thiện Khiêm lãnh đạo. Tướng Nguyễn Khánh lật đổ tướng Dương Văn Minh, giành lấy chức Chủ tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng (coi như Quốc trưởng?)

    - Biến cố ngày 13-9-1964 – do tướng Dương Văn Đức lãnh đạo, để lật đổ tướng Nguyễn Khánh, nhưng đã thất bại nhanh chóng, tạo cơ hội cho tướng Nguyễn Khánh nắm cả 3 ghế quyền lực cao nhất: Chủ tịch Hội Đồng Quân Lực, Thủ tướng chánh phủ và Tổng trưởng Quốc phòng. Nhưng, do áp lực của Mỹ, Nguyễn Khánh bắt buộc phải thành lập chánh phủ dân sự vào ngày 1-11-1964, với giáo sư Trần Văn Hương làm Thủ tướng, và ông Phan Khắc Sửu làm Quốc trưởng.

    - Biến cố ngày 19-2-1965 – do thiếu tướng Lâm Văn Phát và Đại tá Phạm Ngọc Thảo lãnh đạo, với mục đích là dùng áp lực quân sự bắt tướng Nguyễn Khánh, lập lại Ban Lãnh Đạo mới của Hội Đồng Quân Lực, cải tổ chính phủ dân sự, nhưng không thành công. Các tướng Nguyễn Chánh Thi, Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Văn Thiệu, đã cùng hợp sức lập lại trật tự. Và Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu được nắm giữ chức Chủ tịch Hội Đồng Quân Lực. Về Chính phủ thì HĐQL đã đưa Bác sĩ Phan Huy Quát lên làm Thủ tướng thay giáo sư Trần Văn Hương.

    - Biến cố 19-6-1965 – do tướng Nguyển Văn Thiệu đứng đầu, mệnh danh “theo yêu cầu của thủ tướng Phan Huy Quát” để giải tán chính phủ dân sự, và thành lập Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia do tướng Nguyễn Văn Thiệu làm chủ tịch (tương đương Quốc trưởng), Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ làm chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp (tương đương Thủ tướng), và Thiếu tướng Nguyễn Hữu Có làm Tổng ủy viên chiến tranh (tương đương Tổng trưởng Quốc phòng)…

    - Biến cố ngày 9-3-1966 – Đây là từ cuộc chỉnh lý nội bộ giữa Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia (Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Hữu Có, Cao Văn Viên) với Trung tướng Tư lệnh Vùng I Nguyễn Chánh Thi, đến vụ Phật giáo miền Trung xuống đường ủng hộ Nguyễn Chánh Thi, đòi phục chức cho tướng Tư lệnh Vùng I (?) Cuối cùng, các cuộc biểu tình của Phật giáo miền Trung cũng bị giải tán bằng bạo lực, và Nguyễn Chánh Thi phải “đi nước ngoài để chữa bệnh” (!)

    Đối diện với 5 biến cố tranh giành quyền lực của nhóm tướng (Khánh, Khiêm, Minh, Đôn, Đính, Đức, Thiệu, Kỳ, Thi …), trong vòng 27 tháng (1/1964 – 3/1966), nhà tình báo PXA không chỉ có nhiệm vụ thu thập tin tức để thông tin đơn, mà còn có nhiệm vụ tổng hợp, phân tích, nhận định và đề xuất phương sách “Lợi dụng sự khủng hoảng chính trị và quân sự của chính quyền Thiệu-Kỳ, Quân Giải Phóong nên tiến hành tấn công như thế nào để giành thắng lợi hoàn toàn?” PXA đã đề xuất phương sách đó một cách cụ thể như sau:

    “1/- Lợi dụng tinh thần chủ hòa của phe bồ câu ở Mỹ, phối hợp với Phong trào phản chiến của Thanh niên – Sinh viên Mỹ, đẩy mạnh chiến dịch tấn công Hòa Bình trên mặt trận ngoại giao, tìm đủ cách để tổng thống Johnson quyết định rút quân, chấm dứt sự tham chiến tại Nam Việt Nam.

    “2/- Khi nào còn quân lực của Mỹ chủ chiến tại Nam Việt Nam, ta chưa nên tiến hành tổng tấn công chiếm lấy thành phố bằng quân sự, mà chỉ nên: Dùng lực lượng vũ trang mở rộng vùng giải phóng áp sát thành phố tạo thanh thế bao vây khắp miền Nam. Đồng thời dùng lực lượng chính trị kết hợp vũ trang, thường xuyên quấy rối làm cho kẻ ăn không ngon ngủ không yên, cùng xây dựng và củng cố “Nhóm Giải phóng” trong các nội thành, chờ thời cơ Tổng Tấn Công!

    “3/- Chuẩn bị sẵn lực lượng quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa thông tin, y tế…chờ thời cơ Mỹ vừa rút ra khỏi chiến trường, ta liền Tổng Tấn Công Giải Phóng Miền Nam, theo chiến thuật đánh nhanh, đánh mạnh, thắng gọn và vững chắc!” (Theo Hồ sơ “Báo Cáo Tối Mật của Z21”, đã dẩn, tập năm 1966).

    Cuộc Tổng Tấn Công và Nổi Dậy vào Tết Mậu Thân (1968) là sự bất ngờ hoàn toàn và ngoài ý muốn của điệp viên Z21. Nhưng, anh cũng trụ tại Sàigòn, với tư cách công khai là Phóng Viên của báo Time (Mỹ) để theo dỏi sự diễn biến của chiến sự, đồng thời tìm cách nắm bắt cho được Kế hoạch phản công của quân lực Hoa Kỳ (?) để báo cáo kịp thời cho Trung ương.

    Thật khác xa tầm nhìn chiến lược của Trung tá Tình Báo PXA, Nghị quyết của BCT TW Đảng LĐVN (12-1967) đã nhận định (chủ quan) như sau: “Chúng ta đang đứng trước triển vọng và thời cơ chiến lược lớn. Đế quốc Mỹ đang ở trong tình thế tiến thoái lưỡng nan về chiến lược.”… “Vì thế, chúng ta phải quyết tâm chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định!” (Theo Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương lần thứ 14 của BDHTW Đảng khóa Ba, tháng 1-1964). Cho nên tập đoàn lãnh đạo Cộng sản Bắc Việt đã hối hả mở cuộc Tổng Tấn Công và Nổi Dậy đúng vào Tết Mậu Thân (đúng ngày mồng Một Tết, tức 31-1-1968). Trong đợt I, từ 31-1-1968 đến 25-2-1968, VNCH vì bị tấn công bất ngờ nên bị thiệt hại trầm trọng. Nhưng, đối với Mỹ thì không bất ngờ, vì CIA đã nhận được tin trước đó không lâu, còn chờ xác minh, nên chưa thông báo cho VNCH. Vả lại, tướng William C. Westmoreland, Tư lệnh quân lực Mỹ ở Nam Việt Nam (1964-1968) muốn thực hiện chiến thuật “Dụ địch vào bẫy” để tiêu diệt tối đa sinh lực Vìệt Cộng trong hai đợt tấn công tới, rồi sau đó càn quét bình định, chiếm lại toàn bộ vùng nông thôn mà Việt Cộng đã chiếm trong những năm 1960-1968 (?)

    PXA đã được một nhân viên CIA ở Sàigòn tiết lộ cho biết tin mật vô cùng quan trọng này, nhưng quá chậm, vì khi nhận được tin là vào chiều ngày 4-5-1968, thì sáng ngày 5-5-1968, Việt Cộng đã mở đợt II (từ 5-5-1968 đến 12-5-1968). Trong đợt Hai này, Việt Cộng đã bị tiêu hao sinh lực rất nặng. PXA thực sự lúng túng: Không biết có nên báo cáo tin mật đã nhận được vào ngày 4-5-1968 hay không? Suy đi nghĩ lại, PXA quyết định không báo cáo tin đó, mà chỉ điện báo cho Trung ương rằng: “Kẻ thù đã hồi sức và đang chuẩn bị phản công ta trên toàn mặt trận!” (Theo bản “kiểm thảo ưu khuyết điểm trong quá trình công tác của PXA”, tại lớp chỉnh huấn của Cán Bộ Trung-Cao cấp Đảng, ở trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc, Hà nội 1976-1978).

    Từ sau đợt Ba của cuộc Tổng Tấn Công và Nổi Dậy (từ 17-8-1968 đến 30-9-1968), sinh lực của Việt Cộng coi như đã bị tiêu diệt về căn bản. Sau đó, trong năm 1969, liên quân Mỹ-VNCH đã bình định gần như toàn bộ nông thôn miền Nam. Các cơ quan đầu não của Việt Cộng từ Huyện, Tỉnh đến Miền (Cục R) đều phải chạy ẩn trú trên lãnh thổ Campuchia, trong các khu rừng của các tỉnh dọc theo biên giới, từ Stungtreng đến Tàkeo. Từ 1960 đến 1967, chưa bao giờ Việt Cộng bị thất bại nghiêm trọng như vậy.

    Thấy sự thất bại thảm hại của phe ta như vậy, PXA rất đau lòng, đồng thời cũng bất mãn với Trung ương Đảng - tập đoàn lãnh đạo mà từ cuộc kháng chiến chống Pháp đến nay, PXA không bao giờ nghi ngờ sự sáng suốt của những vị lãnh đạo đó. Bởi vậy, thực tế thảm bại của năm Mậu Thân, trong thâm tâm của PXA bắt đầu nghi vấn: “Sự thật, các vị lãnh đạo tối cao của Đảng có thật sự thông minh và sáng suốt như lời truyền tụng hay không? Hay đó chỉ là một sự sùng bái mù quáng?” PXA nói một cách hối tiếc với người đồng chí tâm giao rằng: “Nếu Trung ương chịu khó để tâm nghiên cứu đề xuất của tôi thì tình thế năm Mậu Thân chắc chắn là phát triển theo chiều thắng lợi, không phải hy sinh hàng triệu chiến sĩ và đồng bào như vậy!” (Tâm sự của PXA với người bạn Đại tá, người Nam bộ (xin giấu tên), cùng học lớp chỉnh huấn, tại Hà nội, trong thời gian 1976-1978).

    Từ khi trở thành phóng viên chính thức của báo Time (Mỹ) PXA đã có quan hệ mật thiết với Tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Sàigòn, và PXA có giao tình đặc biệt với một nhân bật trọng yếu tên là Thomas Polgar. Thomas Polgar là trùm CIA tại Việt Nam. Cái “công ty” của Polgar - biệt danh của CIA, trụ ngay tại khách sạn DUC, trên đường Phan Đình Phùng. Trong “Công Ty” trá hình này có một Phân Tích Gia trẻ tuổi tên là Frank Snepp, cũng rất thân với PXA. Thỉnh thoảng Phóng Viên Báo Time PA cũng đến khách sạn DUC để “tán gẫu” với những người bạn Mỹ. Nếu để ý thì câu chuyện họ chung quanh vài bàn ăn sang trọng kiểu Mỹ, thì chỉ nghe họ bàn về kinh tế, chẳng hạn như “Kinh tế của Nam Việt Nam sẽ tốt đẹp hơn, nếu không có vụ tăng giá dầu lửa!” Hoặc giả chỉ nghe họ bàn về “những trò lắt léo chính trị của chánh phủ Sàigòn.” Tuyệt nhiên, ai cũng tránh bàn về thời cuộc, về tương lai của chiến tranh! Nhưng, người ngoài cuộc làm sao hiểu được “mật ngữ tình báo” của họ? Chắc chắn, từ Thomas Polgar và Frank Snepp, PXA cũng thu thập được nhiều tin quan trọng! Nguồn tin Bộ trưởng Quốc Phòng Robert S. McNamara ra đi vì bất hòa với tổng thống Johnson (2-1968) và Ledo lên thay, là do Frank Snepp tiết lộ cho PXA biết trước khi báo chí Mỹ đưa tin (Tâm sự của PXA với người bạn Đại tá cùng học chỉnh huấn, đã dẫn).

    Dù rằng đã đánh bại Việt Cộng trên chiến trường Nam Việt Nam, nhưng bị làn sóng tuyên truyền độc hại của một số hãng thông tấn và báo chí thân Cộng, ở ngay trong nước Mỹ, cộng với Phong trào Phản chiến của Thanh niên Sinh viên Mỹ, cho nên trong ngày lễ nhậm chức Tổng Thống thứ 37 (20-1-1969), Richard M. Nixon đã thừa nhận rằng: “Nước Mỹ đang bị khủng hoảng về tinh thần, đang bị chia rẽ về chính trị, do bởi hậu quả của cuộc chiến tranh Việt Nam… Do đó tôi đã có kế hoạch chấm dứt chiến tranh Việt Nam!” (Theo Washington Post, 21-1-1969).

    Khi nghe tổng thống Nixon tuyên bố rằng ông “đã có kế hoạch chấm dứt chiến tranh Việt Nam”, Bộ Chính Trị trung ương Đảng LĐVN, tức khắc ra lệnh cho Cục Tình Báo Chiến Lược “phải tìm cách lấy cho được Kế Hoạch Chấm Dứt Chiến Tranh Việt Nam (X) của Nixon, trước khi Mỹ bắt đầu thực hiện kế hoạch X ở miền Nam Việt Nam!”

    Thế là Z21 lại bắt đầu vào cuộc chiến thầm lặng, nhưng đầy khó khăn và nguy hiểm muôn vàn, bởi vì trận tuyến của PXA là từ Tòa Bạch Ốc đến Ngũ Giác Đài ở tại thủ đô Washington DC của Hoa Kỳ. Cho dù, không phải chính Z21 tự thân làm đạo chích, lẻn vào trong các cứ điểm đó để đánh cắp tài liệu, nhưng phải thông qua mạng lưới Mật Vụ mà PXA đã dày công tổ chức và xây dựng từ chục năm qua. Z21 đã đầu tư bao nhiêu công sức và tiêu phí hết bao nhiêu tiền của tổ chức vào đó? Nếu không khéo thì chỉ một trận này là hết sạch (!?) Trong lĩnh cực tình báo, có khi giả là thật, mà tưởng thật lại là giả. Do đó, nói rằng Z21 nhờ có mạng lưới Mật Vụ ở trong Nhà Trắng hay Lầu Năn Góc cũng được, mà nói PXA nhờ có quan hệ mật thiết với một số nhân vật trọng yếu của CIA, nên thu thập được nhiều tin tức mà người khác không có được. Hoặc nói PXA nhờ có tài điều tra - nghiên cứu - tổng hợp - phân tích, nên mới rút ra được nhiều tin quan trọng cũng đúng. Cho nên, cứ xem kết quả thu được của PXA mà đánh giá tài năng của ông là đúng nhất.

    Bằng cách nào PXA lấy được “Kế Hoạch Chấm Dứt Chiến Tranh của Nixon”? Không ai biết được chính xác, mà chỉ biết rằng: Trước khi Nixon cho thực hiện “kế hoạch chấm dứt chiến tranh Việt Nam”, thì Z21 đã cung cấp đầy đủ nội dung của kế hoạch đó cho Bộ Chính Trị trung ương Đảng LĐVN. Nhờ vậy, nên Cộng sản Bắc Việt mới có đối sách kịp thời chuẩn bị đối phó…

    Trong vòng 3 tháng (từ tháng 2 đến tháng 4-1969), với tinh thần làm việc không ngừng, điều tra liên tục, thu thập mọi nguồn tin, phân tích - đối chiếu nhiều tư liệu khác nhau… Cuối cùng, PXA đã có trong tay: Nội dung căn bản cái gọi là “kế hoạch chấm dứt chiến tranh Việt Nam” của Nixon.

    Theo bản tường trình của Z21, gửi cho Cục Tình Báo Chiến Lược (Hà nội), cho biết rằng:

    “Muốn hiểu thực chất “Kế Hoạch Chấm Dứt Chiến Tranh Việt Nam” của Nixon, trước hết phải biết “Học thuyết Nixon”.

    Học thuyết Nixon đề ra Ba nguyên tắc: Một là “tập thể tham gia”. Hai là “Sức mạnh của Mỹ”. Ba là “Sẵn sàng thương lượng”. Theo Nixon, thực hiện ba nguyên tắc này là nhằm đạt những mục tiêu sau đây: Giảm bớt các “cam kết quốc tế” của Hoa Kỳ; đòi hỏi các đồng minh “chia sẻ trách nhiệm” với Hoa Kỳ, cùng chống lại sự bành trướng của Cộng Sản trên toàn thế giới; chiến tranh chống Cộng ở quốc gia nào thì người của quốc gia đó tiến hành là chính; trong tiến trình chiến tranh chống Cộng, nếu cần thiết chúng ta chấp nhận thương lượng với đối phương nhằm chiến thắng trong hòa bình.

    Học thuyết Nixon đem áp dụng vào Việt Nan được gọi là chiến lược “Việt Nam Hóa Chiến Tranh”(The Vietnamization War), cũng có nghĩa là điều chỉnh chủ trương “phi Mỹ hóa chiến tranh” của Johnson. Thực hiện “Việt Nam hóa Chiến Tranh” thực chất là để quân Mỹ rút chân ra khỏi cuộc chiến ở miền Nam, và giao trách nhiệm xương máu đó cho quân lực VNCH, theo chính sách “dùng người Việt tàn sát người Việt”. Mỹ chỉ còn trách nhiệm viện trợ và cố vấn cho đồng minh VNCH mà thôi.

    Nixon dự tính thực hiện kế hoạch “Việt Nam Hóa Chiến Tranh’ trong Ba Giai Đoạn như sau:

    - Giai đoạn I: từ tháng 6-1969 đến tháng 6-1970, tăng cường sức mạnh cho quân lực VNCH để đủ khả năng đối với quân chủ lực của Việt Cộng, ra sức bình định nông thôn nhằm kiểm soát cho được những vùng đông dân quan trọng nhất, để quân đội Mỹ có thể rút một bộ phận, đưa trở về nước!

    - Giai đoạn II: Từ tháng 6-1970 đến tháng 6-1971, kiểm soát hết những vùng đông dân ở nông thôn Nam Việt Nam, và quân lực VNCH đã đủ khả năng đảm nhiệm tác chiến trên bộ, thay thế cho đại bộ phận quân Mỹ rút về nước.

    - Giai đoạn III: Từ tháng 6-1971 đến tháng 6-1972, hoàn thành căn bản về việc thực hiện thắng lợi chiến lược “Việt Nam Hóa Chiến Tranh”, đẩy Việt Cộng ra khỏi Nam Việt Nam, quân Mỹ còn lại rút hết về nước.” (Theo Hồ Sơ Báo Cáo Tối Mật của Z21, đã dẫn).

    Để thực hiện “Việt Nam Hóa Chiến Tranh”, đầu năm 1969, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Ledo đã yêu cầu Quốc Hội Mỹ tăng thêm 450 triệu USD (bổ sung vào số 1.100 triệu USD đã duyệt) để hiện đại hóa quân lực VNCH. Nhờ vậy, nên đến đầu năm 1970, quân lực VNCH đã tăng thêm 36 Tiểu đoàn Pháo binh và xe tăng, xe thiết giáp; 4 phi đoàn gồm 150 máy bay các loại, 308 tàu thuyền hải quân làm nhiệm vụ cơ động ở ven biển, trên sông. Một hệ thống gồm 20 trung tâm huấn luyện binh lính-hạ sĩ quan và 25 trường đào tạo sĩ quan các binh chủng đã được xây dựng hoàn chỉnh. Hàng ngàn sĩ quan chỉ huy, sĩ quan kỹ thuật đã được đưa đi đào tạo ở nước ngoài, chủ yếu là ở Mỹ. Tình hình trên đây đều được Z21 báo cáo kịp thời cho Cục tỉnh báo trung ương liệu định.

    Sự thật, trong năm 1969, Mỹ không cần thực hiện “Việt Nam Hóa Chiền Tranh”, thì Việt Công cũng đã mất hết những vùng nông thôn đông dân quan trọng nhất (như đã trình bày ở trên). Điều đó, chứng tỏ Mỹ không thấy hết thực trạng thất bại của Việt Cộng, mà chỉ nghe báo về việc Bắc Việt cứ dồn dập đưa quân đội và vũ trang vào Nam, để tiến hành đánh cho “Mỹ cút, ngụy nhào”! Rõ ràmg, Việt Cộng đã thua Mỹ trên chiến trường, nhưng họ đã thắng Mỹ trên mặt trận tuyên truyền, ngay cả trên nước Mỹ.

    Bởi thế, chính quyền Nixon mới xúc tiến gấp việc thương lượng với cộng sản Bắc Việt. Tuy nhiên, lúc đầu Nixon muốn ép Cộng sản Bắc Việt chịu ở vào thế yếu. Cụ thể như: Ngày 14-6-1969, Nixon đưa đề nghị 8 điểm, trong đó có mấy điểm quan trọng như sau: Bắc Việt với Mỹ cùng rút quân ra khỏi Nam Việt Nam. Duy trì chính quyền VNCH. Chống việc thành lập Chính Phủ Liên Hiệp ở Nam Việt Nam…. Và trong cuộc họp riêng trưởng đoàn đàm phán giữa Mỹ và Bắc Việt, trong tháng 8-1969, Kissinger đe dọa rằng:” Nếu đến ngày 1-11-1969 mà không đạt được tiến bộ nào thì Mỹ sẽ tính đến thực hiện những biện pháp có hậu quả nghiêm trọng.”

    Nhưng, tập đoàn lãnh đạo trung ương Đảng LĐVN đã nhận được tin tức do PXA cung cấp, rằng: “Nixon đang cố gắng tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân Mỹ, để được thắng trong cuộc bầu cử Tổng Thống khóa 1971-1974, nên Nixon phải tìm cách “chấm dứt chiến tranh bằng mọi giá! Hơn nữa Nixon đang bị áp lực của Quốc Hội Mỹ đòi rút quân Mỹ ra khỏi chiến tranh Viêt Nam!” Do đó, Cộng sản Bắc Việt kiên quyết không chấp nhận đề nghị của Nixon, họ cũng không sợ lời đe dọa của Kissinger.

    Trong thời gian 1970-1973, nhiệm vụ quan trọng nhất của PXA là theo sát “âm mưu và thủ đoạn thương lượng hòa bình” và “chiến thuật rút quân” của chính quyền Nixon (?)

    Để hoàn thành nhiệm vụ quan trọng này, ngoài việc điều tra, tổng hợp tin tức từ nhiều nguồn, PXA cò phải dùng phương sách mua bán tin tức với CIA. Lẽ đương nhiên, muốn dùng phương sách con dao hai lưỡi này, PXA phải được sự cho phép của cấp trên! Cấp trên đơn tuyến của PXA vẫn là Sáu Búa (tức Lê Đức Thọ), nhưng do yêu cầu của chiến trường, nên phải có người lãnh đạo trực tiếp để kịp thời chỉ đạo, và giải quyết những yêu cầu của PXA. Do đó, Sáu Hồng (tức Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục) là người lãnh đạo đơn tuyến, trực tiếp tại chiến trường của Z21 (Theo tiết lộ của Đại tá Ba Nguyên, tức Trần Ngọc Thuận, nguyên phụ tá Tình Báo của Sáu Hồng, Sàigòn 1976).

    Trong môi trường tình báo quốc tế, việc mua bán tin tức là chuyện xảy ra “như cơm bữa”, không có gì phải ngạc nhiên. Vấn đề là giá trị của tin tức, chính xác đến mức độ nào, có giá trị nhất thời hay lâu dài, có tính chất quyết định cho đại cuộc hay tiểu cuộc?

    Trong thời gian này Z21 đã bán cho CIA những tin tức gì? Không có ai biết được! Nhưng, căn cứ theo những báo cáo của CIA ở Sàigòn gửi về cho Ngũ Giác Đài ở Washington DC. Thì các nhà nghiên cứu có thể đoán ra. Đó là tin tức về số lượng quân đội, phương tiện chiến tranh, lương thực… của miền Bắc đưa vào Nam, theo đường mòn Hồ Chí Minh. Đó là kế hoạch giải phóng những vùng nông thôn trù phú của Nam Bộ của Việt Cộng, để giành thế mạnh trên bàn hòa đàm với Mỹ. v.v… Những tin tức mà PXA được phép bán cho CIA, thật ra chỉ co ½, hay nhiều nhất là 2/3 sự thật mà thôi – Nói chung là cường điệu: Ít nói thành nhiều. Yếu thành mạnh. Thắng nhỏ cho là thắng lớn…! Vì thế, CIA ở Sàigòn mới có báo cáo sai lệch như sau: “Quân cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục tăng cường lực lượng chủ lực, bằng cả việc xâm nhập vào từ miền Bắc và tuyển mộ ở ngay địa phương… Cộng sản có thể tiếp tục giữ vững được sức mạnh tổng hợp của họ trong những năm tiếp theo.” (Theo CIA Memorandum SC… “The Situation in Vietnam. An Analyse and Estimate” pp. 1-2, CIA 80-82).

    [Trong thực tế, sau năm 1968, chủ lực quân của Việt Cộng trên chiến trường Miền Nam, gồm có 4 sư đoàn (mật danh là Công trường: Công trường 1, Công trường 5, Công trường 7 và Công trường 9), đã bị tiêu diệt sinh lực gần hết, chỉ còn lại 1/10 quân số và một số cán bộ khung mà thôi. Do đó, trong những năm 1970-1973, Cộng sản Bắc Việt cố vơ vét tân binh, hạ đến tuổi 16-17, huấn luyện trong vòng 3 tháng là đưa ngay vào Nam, để lấp vào con số đã bị tiêu diệt, xây dựng lại 4 sư đoàn, như cũ về số lượng nhưng về chất lượng chiến đấu thì kém xa trước 1969. Và Việt Cộng đã lấy chiến trường Campuchia làm nơi rèn luyện tác chiến cho tân binh trước khi cho xâm nhập về chiến trường miền Nam. Còn việc tuyển dụng tân binh tại chỗ thì không bằng 1/100 số quân của miền Bắc đưa vào!].

    Trái lại, PXA mua được nhiều tin quan trọng, trong đó cũng có tin giả, nhưng nhờ thu thập được nhiều nguồn tin để đối chiếu, đánh giá lại, nên tin của Z21 báo cáo cho cấp trên, hầu hết là chính xác.

    Dưới đây là 2 thí dụ điển hình:

    - Tin thứ nhất: Về cuộc hành quân tổng lực của Mỹ phối hợp với VNCH trên lãnh thổ Campuchia, nhằm mục đích: “Hủy diệt các cơ quan đầu não của Việt Cộng, phá hoại cơ sở hậu phương, tiêu hao phần lớn sinh lực chiến đấu và đẩy lực lượng vũ trang còn lại của Việt Cộng ra khỏi Campuchia, rút sang Lào, để diệt trừ mầm họa cho VNCH sau khi Mỹ rút quân về nước!”

    Z21 đã nhận được hung tin này từ giữa tháng 1-1970, nhưng chưa biết chính xác ngày tháng bắt đầu của cuộc hành quân tổng lực (?) Trước hết, Z21 báo ngay cái tin “dự mưu” này, để cho Cục R chuẩn bị đối phó. Sau đó, Z21 liền tiến hành điều tra từ Bộ Chỉ Huy MACV (Mỹ) đến Bộ Tổng Tham Mưu (VNCH), đến sự điều binh của các quân khu (đặc biệt quân khu Thủ đô và quân khu 3) … Nhờ có mạng lưới mật vụ trải rộng và sâu đến các đầu não của quân lực Hoa Kỳ và quân lực VNCH, nên trong tháng 3-1971, Z21 đã xác định và báo cáo về cấp trên như sau: “Cuộc hành quân tổng lực trên đất K của kiên quân Mỹ-Việt sẽ bắt vào ngày 29-4-1970, với 5 vạn quân Mỹ và 5 vạn quân ngụy!” Nhờ có tin tình báo chính xác và biết trước nên các cơ quan đầu não của Việt Cộng như Trung ương Cục, MTDTGP, Bộ Chỉ Huy Quân Sự Miền, Ban An Ninh, Ban Binh Vận, Ban Tuyên Huấn, Ban Kinh Tài v.v… đều di tản vô trong rừng sâu, tránh được các mũi “Tìm Diệt” của liên quân Mỹ-Việt. Và các lực lượng vũ trang của Việt Cộng mới kịp thời phân tán nhỏ, để đánh du kích chiến, ở khắp các mặt trận… Kết quả, sau hai tháng “Tìm Diệt”, liên quân Mỹ-Việt phải rút về, để lại hậu quả hoàn toàn có lợi cho Việt Cộng, vì Việt Cộng đã giúp cho Khờ Me Đỏ giải phóng hoàn toàn được 5 tỉnh: Ratanakiri, Stungtreng, Kratié, Mondunkiri và Prêtvihia! Đồng thời giải phóng phần lớn 6 tỉnh khác là: Kongpongcham, Preyveng, Soairiêng, Tàkeo, Cằngdan và Cambốt, gổm có tổng số hơn 3 triệu dân. Thành ra “hậu phương ngoài biên giới” của Việt Cộng càng được mở rộng thêm; “an toàn khu” và cơ sở hậu cần của Việt Cộng trên đất Campuchia càng được củng cố.

    - Tin thứ nhì: Về ba cuộc hành quân quy mô của liên quân Mỹ-Việt trên mặt trận Hành Lang Chiến Lược của ba nước Đông Dương - Cuộc hành quân “Lam Sơn 719” đánh ra Đường số 9 Nam Lào – Cuộc hành quân “Toàn Thắng 01/71” đánh qua Congpongcham-Kratié (Đông Bắc Campuchia) – Cuộc hành quân “Quang Trung 4” đánh thẳng vào vùng Ba Biên Giới (Tây Nguyên).

    Cuối tháng 1-1971, PXA đã nhận được tin khẩn: Vào ngày 2-2-1971, sẽ có cuộc họp mật giữa tổng thống Nixon với các nhân vật có tầm chiến lược là: Kissinger, (Bộ trưởng Ngoại giao), Ledo (Bộ trưởng Quốc phòng) và Moorer (Tham mưu trưởng liên quân), để xét duyệt kế hoạch các cuộc hành quân “Lam Sơn 719”, “Toàn Thắng 01/71” và “Quang Trung 4”. Và theo kế hoạch đã được Nixon chấp thuận thì cuộc hành quân “Lam Sơn 719” là cuộc hành quân lớn nhất, với lực lượng 55.000 quân (40.000 quân Việt, 15.000 quân Mỹ).

    Z21 đã báo cáo khẩn lên cấp trên, nhưng về thời gian bắt đầu của mỗi cuộc hành quân đã làm cho Z21 đau đầu. Không thể chỉ trông mong vào “kẻ bán tin” Z21 phải tự mình tiến hành theo dõi và điều tra tận gốc… Do đó, đến ngày 4-2-1971 (đúng ngày liên quân Mỹ-Việt bắt đầu cuộc hành quân “Toàn Thắng 01/71”), Z21 đã biết: Bộ Chỉ Huy Hành Quân Mỹ-Việt đã bắt điều động binh từ ngày 3-2-1971, và đến ngày 8-2-1971, cuộc hành quân “Lam Sơn 719” sẽ bắt đầu. Nghĩa là PXA biết trước được 3 ngày. Và ngày 6-2-1971 Bộ Chính Trị Cộng Sản Bắc Việt đã nhận được tin khẩn cấp! Và ngày 7-2-1971, Bộ Chính Trị Đảng Bắc Việt liền họp khẩn với Bộ Chính Trị Đảng Lào, cùng quyết định Kế hoạch “phản công”… Đến ngày 23-3-1971 cuộc hành quân “Lam Sơn 719” kết thúc. Thắng bại như thế nào lịch sử chiến tranh Việt Nam đã ghi rõ ràng.

    Cuộc hành quân “Toàn Thắng 01/71” bắt đầu vào ngày 4-2-1971, và kết thúc vào ngày 31-5-1971. Cuộc hành quân “Quang Trung 4” mở đầu vào ngày 26-2-1971 và chấm dứt vào ngày 16-4-1971. Trong thời gian diễn tiến của cuộc hành quân Quang Trung 4”, có thể nói là Việt Cộng đã chủ động được phần lớn, vì Z21 đã cung cấp tin tình báo hơn nửa tháng trước.

    Chiến công thầm lặng của điệp viên Z21 trong việc bảo tồn lực lượng giải phóng, đồng thời tiêu hao sinh lực Mỹ-VNCH của Việt Cộng trong những năm 1970-1971, thật là không nhỏ! Do đó, cuối năm 1973, PXA được thăng vượt cấp từ Trung tá lên Đại tá (không qua cấp Thượng tá) (Theo Hồ sơ thăng cấp của PXA, lưu trữ tại Phòng Điệp báo của Cục Tình báo trung ương).

    Trong những năm 1970-1973, Z21 còn thu thập được những “Tin Chiến Lược” rất quan trọng, góp phần quyết định cho sự thắng lợi vào 30-4-1975 của Cộng Sản Việt Nam. Đó là:

    1- Tin về “chiến thuật rút quân nhỏ giọt” của Nixon.

    Đầu năm 1970, PXA nhận được tin tổng thống Nixon đã quyết định rút quân Mỹ về nước, nhưng theo “chiến thuật nhỏ giọt” để có thời gian “Hiện Đại Hóa Quân Lực VNCH”, đủ khả năng tự lực chống cộng hữu hiệu, thì quân Mỹ sẽ rút hết (?) Và theo dự định của ông Laird – Bộ trưởng quốc phòng Mỹ, thì sẽ rút 400.000 quân trong vòng 42 tháng bắt đầu từ tháng 1-1970 đến tháng 6-1973 (?) Và, để lại tại Nam Việt Nam một lực lượng là 200.000 quân, làm nhiệm vụ hỗ trợ cho quân lực VNCH.

    Sau khi kiểm tra nhiều nguồn tin, PXA báo cáo lên cấp trên như sau: “Tin rút quân nhỏ giọt là chính xác 100%, còn thời hạn rút quân có thể co giãn, nhưng con số 400.000 là phải rút hết trước tháng 6-1973!” (Theo Hồ sơ Báo cáo Tuyệt Mật của Z21, đã dẫn).

    Nhờ nhận được Tin Chiến Lược này mà tập đoàn lãnh đạo Cộng sản Bắc Việt mới hoạch định khá chính xác “Chiến Lược mai phục” chờ Mỹ rút hết 400.000 quân, sẽ phản công giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam” Cụ thể: Trong 42 tháng Mỹ rút quân nhỏ giọt, thì Trung ương cục miền Nam phải cho cán bộ thâm nhập về những vùng giải phóng trước 1968, nay đã bị VNCH chiếm lại để xây dựng cơ sở Đảng và quần chúng, chờ đợi quân giải phóng về. Trong thời gian đó, Cộng sản Bắc Việt ráo riết đưa tân binh vào Nam, mà thực chất là đưa vào Campuchia để thực tập chiến đấu và xây dựng quân chủ lực, đợi thời cơ tràn về Nam Việt Nam. Thực tế lịch sử đã chứng minh “Chiến Lược Mai Phục” của Cộng sản Bắc Việt đã thành công.

    2- Tin Chiến Lược về ”âm mưu và thủ đoạn thương lượng hòa bình” của chính quyền Nixon.

    Đầu tháng 5-1971, PXA nhận được tin: Henry Kissinger sẽ bí mật sang Trung Quốc trong tháng 6-1971, để tiếp xúc với Thủ tướng Chu Ân Lai, đặng chuẩn bị cho chuyến sang thăm Chủ tịch Mao Trạch Đông của tổng thống Nixon, vào đầu năm 1972. Trong chuyến đi này, Nixon sẽ đề nghị Mao Trạch Đông làm áp lực bắt ép Bắc Việt Nam phải chấp nhận “chấm dứt chiến tranh theo yêu cầu của Mỹ”. Và nếu, Bắc Việt chịu tuân theo áp lực của Trung Quốc thì Mỹ sẽ “rút hết các lực lượng và cơ sở quân sự của Mỹ ra khỏi Đài Loan” (?) Sau khi xác minh và đánh giá nguồn tin này, có thể chính xác đến 8/10 PXA liền khẩn báo lên cấp trên. Kèm theo báo cáo, PXA đã nhận định rằng: “Trong thời gian hòa đàm với Ta ở Paris, nhất là sau chuyến đi Trung Quốc của Nixon (có thể vào tháng 2-1971) Mỹ sẽ mở rộng chiến tranh ở cả hai miền Nam,Bắc, đồng thời làm khó Ta trên bàn thương lượng! Đề nghị: Trung ương cần có đối sách “phản công chiến lược” trên cả hai mặt trận, tại chiến trường và trên bàn thương lượng!” (Theo Hồ sơ Báo cáo Tối mật, đã dẫn).

    Tin trên đây của Z21 có thể nói là chính xác 100%. Lịch sử đã ghi nhận: Ngày 21-2-1972, Nixon đến Trung Quốc và cùng Mao Trạch Đông đưa ra cái gọi là “Thông Cáo Chung Thượng Hải”- và nội dung chính của Thông Cáo này đúng như tin của PXA đã báo cáo lên cấp trên! Còn đề nghị “phản công chiến lược” của PXA cũng đã được thể hiện bằng “cuộc tấn công chiến lược trên toàn miền Nam” bắt đầu từ ngày 30-3-1972 của Việt Cộng. (Tham khảo thêm “VIETNAM A Historry” của Stanley Karnow, Bengun Bookss, New York, 1983, các trang 652-653).

    Sau ngày 27 tháng 1 năm 1973 – ngày các Bộ trưởng Ngoại giao của Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, Việt Nam Cộng Hòa và Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, cùng ký tên vào bản “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”. Đến cuối tháng 3-1973, toàn bộ số quân viễn chinh còn lại của Hoa kỳ và một số quân của các nước chư hầu, đều rút hết về nước. Ngày 29-3-1973, Bộ Chỉ Huy Quân Sự Mỹ ở Sàigon đã làm lễ hạ cờ, là đơn vị cuối cùng của Hoa Kỳ rút khỏi Nam Việt Nam.

    Từ nay, PXA đã được cấp trên giao cho một trọng trách mới. Đó là trọng trách: Theo dõi và báo cái kịp thời về việc “Mỹ và chính quyền Sàigòn có thi hành đúng những điều khoản đã ghi trong Hiệp Định 27-1 hay không? Và chính sách của Mỹ đối với chính quyền Sàigòn sau khi ký hiệp định như thế nào? Đặc biệt chú ý đến mạng lưới tinh báo của CIA cài lại ở Việt Nam!”

    Như vậy, phạm vi đặc vụ và đối tượng trinh thám của Z21 đã mở rộng hơn trước! Tuy nhiên, do cái thế hợp pháp và chính uy tín của nhà báo có tầm cỡ quốc tế, nên PXA vẫn không gặp trở ngại nhiều trong hoạt động tình báo! Về “những người bạn CIA” thì vẫn không có gì thay đổi; nhưng đối với “những người bạn ở số 3 Bạch Đằng” (tức Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo của VNCH, do tướng Nguyễn Khắc Bình cấm đầu) thì Z21 phải tìm cách “kết nghĩa bằng hữu” với một số nhân vật quan trọng, có khả năng trở thành “nguồn tin có giá trị nhất” (như ông Nguyễn Phát Lộc, hàm Đại tá đặc trách Kế Hoạch của Phủ Đặc Ủy, như ông Nguyễn Thúy, hàm Trung tá, Trưởng Ban R tức Ban Nghiên Cứu của Phủ Đặc Ủy…)

    Đúng vào ngày ký Hiệp Định Paris (27-1-1973), PXA đã nhận được tin từ “số 3 Bạch Đằng”, cho biết về quan hệ căng thẳng giữa Nguyễn Văn Thiệu và Nixon, nên PXA đã báo cáo lên cấp trên như sau: “Khi Nguyễn Văn Thiệu không chịu ký bản văn thứ nhất của thỏa hiệp Paris, Nixon đã tức giận nói với Kissinger rằng: “Sự tàn nhẫn chẳng là gì hết. Ông hãy đi gặp tên chó đẻ ấy xem nó có chịu theo không?”

    [Khi đọc đến cách nói kiểu cao bồi (tên chó đẻ) của Nixon, tôi không tin là thật, nên quyết tìm cho ra sự thật. Khi đọc cuốn “Crue Avril 1975 –La Chute De Saigon” của Olivier Todd, Éditions Robert Laffont S.A Paris, 1987, nơi trang 44, có ghi lại nguyên văn câu nói của Nixon, tôi mới tin là PXA không có bịa đặt]

    Ngay cuối tháng 1-1973, Z21 đã nhận được tin: “Tổng thống Nixon dự định viện trợ 3 tỷ 250 triệu dollars US cho Bắc Việt để tái kiến thiết sau chiến tranh.” Z21 liền báo cáo lên cấp trên, kèm theo ý kiến nhận xét như sau: “Nếu tin này là thật thì chắc chắn Mỹ sẽ buộc Ta chấp nhận điều gì đó có lợi cho Mỹ”

    Quả thật, ngày 1-2-1973 Thủ tướng Phạm Văn Đồng có nhận được thư của tổng thống Nixon, trong thư Nixon hứa sẽ viện trợ cho Bắc Việt 3 tỷ 250 triệu Mỹ kim. Đến ngày 10-2-1973, Ngoại trưởng Kissinger đã tới Hà nội và nhắc lại lời hứa viện trợ của Nixon (?) Và lời nhận xét của Z21 hoàn toàn chính xác. (Theo Hồ sơ Báo cáo Tối Mật của Z21, đã dẫn).

    Cũng trong thời gian Nixon viết thư cho Phạm Văn Đồng hứa hẹn viện trợ cho Bắc Việt, PXA cũng được tin Nixon đã viết thư hứa hẹn với Nguyễn Văn Thiệu như sau: “Ông có thể tuyệt đối yên tâm rằng chúng tôi sẽ tiếp tục cung cấp cho chính phủ của ông sự yểm trợ đầy đủ nhất, kể cả sự viện trợ kinh tế lâu dài và sự giúp đỡ quân sự phù hợp với các qui định của cuộc ngừng bắn… Ông có sự bảo đảm tuyệt đối của tôi là nếu Hà nội không tôn trọng đầy đủ các điều khoản của thỏa hiệp này, tôi sẽ trả đũa mau lẹ và nghiêm khắc,” PXA đã nhận xét rằng: “Nixon chỉ muốn làm cho Thiệu an tâm, chớ trong thực tế Nixon không thể hành động theo ý muốn của ông ta. Mỹ đã xuống thang rồi thì không thể nào leo thang trở lại được. Chắc chắn là như vậy!” (Báo cáo đã dẫn). Và thực tế lịch sử đã chứng minh rõ ràng: Trong hai năm 1973-1974, Cộng Sản Bắc việt đã tăng cường lực lượng chiến đấu trên chiến trường Nam Việt Nam, và tiến hành Lấn Đất Giành Dân kiên tục, không nghiêm chỉnh chấp hành các điều khoản đã quy định trong Hiệp Định 27-1-1973! Nhưng, chính quyền Nixon đã làm gì để ngăn chặn thảm họa Cộng sản cho VNCH (?) Ngay khi Trung Cộng, được sự “đồng tình” của Hà nội, đã đưa hạm đội đến đánh chiếm Trường Sa của VNCH (10-1-1974) thì tổng thống Nixon lại ra lệnh cho Hạm Đội Mỹ ở Thái Bình Dương phải tránh xa khu vực Trường Sa (!)

    Đầu tháng 8-1974, PXA nhận được MẬT LỆNH bán ”tin thất thiệt” cho CIA(?) Đó là tin về “cuộc họp đặc biệt bí mật của Lê Duẩn với một số tướng lãnh đạo Quân ủy Trung ương, tại thị xã Đồ Sơn (Hải phòng) vào ngày 21-7-1974, để bàn Kế Hoạch Giải Phóng Hoàn Toàn Miền Nam Việt Nam trong năm 1975!” Nhưng phải biến thành tin: “Kế hoạch Giải Phóng Miền Nam chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn I, trong năm 1975, cố gắng tập trung toàn lực để giải phóng hoàn toàn vùng lãnh thổ từ vĩ tuyến 13 trở ra, nghĩa là bao gồm các tỉnh Pleiku, Kongtum, Quảng Ngãi, Quảng Nam và Bình - Trị - Thiên. Giai đoạn II, trong hai năm 1976-1977, phải dốc toàn lực của cả nước để giải phóng hoàn toàn vùng lãnh thổ từ vĩ tuyến 13 đến mũi Cà mau!”

    “Tin Thất Thiệt” này đã đến tay CIA (Mỹ) và Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo (VNCH), đã tạo nên sự “chủ quan khinh địch” về thời gian giải phóng miền Nam (1 năm thành 3 năm) của Cộng sản Bắc Việt, để cho các tướng lãnh Mỹ-Việt thấy không cần phải vội vã bố trí phòng ngự lại trên chiến trường Nam Việt Nam (!)

    PXA đã thành công trong đặc vụ bán TIN THẤT THIỆT.

    Và vào đầu tháng 12-1974, PXA nhận được tin: Tổng thống Thiệu đã họp với các Tư lệnh Quân khu, có sự tham dự của các cố vấn Mỹ. Trong cuộc họp này các tướng lãnh VNCH và các cố vấn Mỹ đã nhất trí rằng: “Năm 1975, Cộng sản Bắc Việt có thể mở những trận tấn công với quy mô lớn hơn trong năm 1974, nhưng không có khả năng như Tết Mậu Thân 1968. Do đó, không thể hoàn thành mưu đồ giải phóng hoàn toàn vùng lãnh thổ từ vĩ tuyến 13 trở ra được. Mặt khác, cần phải cảnh giác Việt Cộng có thể xuất kỳ bất ý đánh chiếm Tây Ninh, để dùng làm Thủ đô của Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Cho nên, không thay đổi thế bố trí lực lượng mạnh ở hai đầu là Trị-Thiên (quân khu I) và miền Đông Nam Bộ (quân khu III). Còn ở Quân khu II thì chỉ tập trung lực lượng phòng thủ chính là Bắc Tây Nguyên (Pleiku-Kongtum)…” (Theo Báo Cáo của Z21, đã dẫn)

    Nhờ biết được tin quan trọng này, Công sản Bắc Việt đã đổi hướng tấn công vào chỗ phòng thủ yếu nhất của quân lực VNCH ở Nam Tây Nguyên – Thị xã Buôn-Ma-Thuột. Đây là mục tiêu chính trong chiến dịch Tây Nguyên (từ ngày 1-3-1975 đến 25-3-1975). Phối hợp với chiến dịch Tây Nguyên, Quân khu Trị-Thiên và Quân khu V của Việt Cộng, được sự yểm trợ của quân đội Bắc Việt, cũng mở chiến dịch Xuân-Hè đánh chiếm vùng lãnh thổ quân khu I của VNCH. Thế mới biết: Tin tức tình báo không chính xác thật là vô cùng nguy hiểm, hậu quả không thể lường được.

    Trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, trong khi quân lực VNCH đang tăng cường phòng thủ Tây Ninh, thì Việt Cộng lại tấn công chiếm lấy các quận lỵ Dầu Tiếng, Chơn Thành và giải phóng tỉnh Bình Long, để mở thông đường 13 – 14 từ Nam Tây Nguyên đến Miền Đông Nam Bộ, chuẩn bị bàn đạp tiến đánh thẳng vô thủ đô Sàigòn. Đây là một bất ngờ đối với các “bộ óc tham mưu” của Mỹ-VNCH (?)

    Sau khi quân Bắc Việt đã chiếm được thị xã Phước Long (6-1-1975) PXA nhận được tin: Trong một phiên họp đặc biệt tại Dinh Độc Lập, tổng thống Thiệu tuyên bố rằng: “Quân lực của chúng ta khó có thể thu hồi lại thị xã Phước Long!” Tập đoàn Lê Duẩn ở Hà nội đã nhận được tin này, sau cuộc họp đặc biệt đó, chỉ sau có 6 tiếng đồng hồ! Cộng sản Bắc Việt đã lợi dụng tinh thần thất bại chủ nghĩa của Nguyễn Văn Thiệu, để mở rộng thế tấn công bao vây Sàigòn. Trong lúc đó, PXA lại nhận được tin: Hoàng Đức Nhã có lời khuyên ông Thiệu là “nên trực tiếp nói chuyện với Chính Phủ lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam” (?) Nhưng, ông Thiệu không muốn, vì ông cả tin vào lời hứa của Nixon (!)

    Chính trong thời gian thủ đô Sàigòn sắp sửa đối diện thật sự với chiến tranh khốc liệt, thí nhà báo Phạm Xuân Ẩn, và hai người bạn của ông, đã được nhà báo Olivier Todd (Pháp) đề cập đến như một nhân vật rất ư là “nhàn hạ”, như sau:

    “Đối diện với khách sạn Continental, những ký giả mà Sàigòn quen gọi là Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ đang quây quần bên ly cà phê hảo hạng tại nhà hành Givral: Ông Vượng duyên dáng, Phạm Xuân Ẩn khả kính, và Cao Giao với chòm râu dê… Ẩn là ký giả duy nhất của Việt Nam lãnh lương Mỹ của tạp chí Time, biết rất nhiều tin tức và được kính nể! Ba Chàng Ngự Lâm trao đổi tin chiến sự.

    Cao Giao nói:

    - Người bà con của một người bạn đang làm việc cho đồn điền Michelin nói rằng, quân Bắc Việt có chiến xa, loại T-72 và TY-54.

    Ẩn tỏ ra nghi ngờ:

    - Tôi nghĩ rằng Cộng quân đang chuẩn bị đánh vào Tây Ninh.” (Sách đã dẫn, các trang 06-20).

    Ai biết đâu, trong đầu của PXA đang tính toán việc đánh lạc hướng nhận định của Bộ Chỉ Huy liên quân Mỹ-VNCH (?)

    Khi phi công Nguyễn Thành Trung lái máy bay F-5E ném bom xuống Dinh Độc Lập (8-4-1975). Ngày hôm sau (9-4-1975) quân đoàn IV của Bắc Việt xua quân tấn công thị xã Xuân Lộc, thì PXA đoán biết là: “Chiến dịch Giải Phóng Sàigòn sắp mở màn!” PXA đã quyết định cấp tốc đưa vợ con sang cư trú ở Hoa kỳ. Chính quyết định này đã tạo sự nghi ngờ của Cục Phản Gián cộng sản đối với Z21 (!?). Rõ ràng, các đồng chí cộng sản của PXA đâu hiểu thấu lòng trung thành của ông đối với Đảng. Sở dĩ PXA đưa vợ con sang sống ở Mỹ, là để tạo điều kiện hợp pháp cho việc hoạt động tình báo của ông ngay sào huyệt của “tên đế quốc đầu sỏ” của thế giới tư bản.

    Sàigòn đang đối diện với sự sụp đổ của một chế độ chính trị đã bị ‘siêu cường đàn anh” bỏ rơi giữa cơn giông bão. Thật vậy, trước năm 1975, nếu Mỹ viện trợ cho VNCH là 1 tỷ 500 ngàn Mỹ kim, thì giờ đây chỉ viện trợ 700 triệu Mỹ kim. Nỗi đau cũng là sự bạc nhược về ý chí tự cường của tổng thống Thiệu đã thể hiện ở câu nói bất hủ này: “Ngày trước với 1 tỷ rưởi Mỹ kim, chúng ta giữ được 4 quân khu. Vậy có 700 triệu Mỹ kim ta chỉ giữ được quân khu III và IV.” Tại nhà hàng Givral, Cao Giao hỏi PXA rằng: “Chúng ta phải tính sao khi ông Thiệu đã bỏ 2 quân khu cho Cộng sản?” PXA cười nói tự nhiên rằng: “Chúng ta về đóng đô ở Cần Thơ…Tây Đô gạo trắng nước trong mà!” Nhưng, trong lòng PXA đang có một nỗi lo: “Khi Sàigòn mất thì một số bạn bè quốc gia của mình sẽ ra sao? Có cách nào giúp họ khỏi bị bắt đây?” (Tâm sự của PXA với người bạn Đại tá cùng học chỉnh huấn, đã dẫn).

    Trong khi đó, PXA nhận đươc điện khẩn của cấp trên là “phải điều tra thật chính xác: Vì sao nhiều chiến hạm của Mỹ, từ hải phận Nhật Bản, từ Manila và từ Vịnh Subic… đang di chuyển về hướng bờ bể Việt Nam?” Điều đó chứng tỏ Hà nội đang lo Mỹ trở lại giúp VNCH, chơi đòn “Hồi Mã Thương” như khi vào đợt 2 năm 1968. Nhưng, khi PXA báo cáo rằng: “Các chiến hạm Mỹ đang tiến về biển Việt Nam là để làm nhiệm vụ sơ tán người Mỹ và một số người Việt có dính líu với Mỹ, khi đường hàng không bị cắt đứt!” PXA còn báo cáo là đã nhận được tin là: “Ngày 18 tháng Tư 1975, tổng thống Mỹ Gerald Ford sẽ ra lệnh di tản toàn bộ người Mỹ ra khỏi Việt Nam!”

    Tình thế của VNCH càng bi đát, khi Ủy Ban Quân Lực của Thượng Nghị Viện Hoa Kỳ đã bác bỏ ngân sách viện trợ quân sự bổ sung cho VNCH (16-4-1975). “Nội các chiến đấu” của Nguyễn Bá Cẩn vừa tổ chức ra mắt quốc dân đồng bào (14-4-1975) đã phải ôm hậu quả quá nặng nề. Nhưng nội các NBC cũng chỉ “chiến đấu” được 8 ngày thì cũng từ chức theo sự ra đi đầy nước mắt của ông Nguyễn Văn Thiệu (21-4-1975). Tình hình chính trị của VNCH bước sang ngày 22-4-1975 coi như một người già yếu đang thoi thóp, cầu sống ngáy nào hay ngày đó. Vậy ma Đai tướng Dương Văn Minh còn yêu cầu ông giáo già Trần Văn Hương phải giao chức tổng thống lại cho ông ta (26-4-1975).

    Buổi sáng ngày 27-4-1975, tại nhà hàng Givral, nhiều nhà báo quốc tế đã tiếp xúc với PXA. Họ cùng nêu một câu hỏi cho nhà báo tài ba này rằng: “Tại sao Minh Cồ đã thấy đường hầm không có ánh sang mà cứ lao vào, có khác gì con thiêu thân?” PXA mỉm cười và trả lời rất lịch sự với các bạn nhà báo rằng: “Thật ra, tôi không biết gì hơn các bạn đâu! Nhưng, tôi nghĩ ông Minh Cồ muốn làm một việc có ý nghĩa nhất, trong cuộc đời của một vị tướng đã hết thời!” Ẩn số trong lời giải đáp của PXA cũng thật có ý nghĩa đối với “lá bài Dương Văn Minh”, nhằm đảm bảo cho Sàigòn tránh được sự tàn phá nặng nề của bom đạn.

    Trong ba ngày cuối cùng của thủ đô Việt Nam Cộng Hòa (28, 29 và 30-4-1975), việc “thay chủ đổi ngôi” trong cái màn “múa rối chính trị” của “gánh hát Dương Văn Minh - Vũ Văn Mẫu”, đã không còn là nỗi bận tâm của PXA nữa, bởi vì “bản nhạc giao hưởng đầu hàng và tiếp quản”, giữa chánh quyền Dương Văn Minh và Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời CHMNVN, đã được sắp xếp xong về căn bản rồi! Nỗi bận tâm của PXA trong những ngày hỗn loạn này là tìm cách “giúp một số bạn bè quốc gia thoát ra khỏi Sàogòn” trước khi quân cộng sản vào.

    Trong số bạn bè quốc gia đã được PXA tận tình giúp đỡ, có Bác Sĩ Trần Kim Tuyến, nguyên Giám đốc Sở Mật Vụ của Đệ nhất VNCH.

    Trường hợp ông Tuyến thật vô cùng nguy hiểm. Cho dù, Bác sĩ Tuyến đã mất chức từ hơn mười năm nay (1963-1975), và đã từng vào tù của nhà nước VNCH. Tuy nhiên, chắc chắn cộng sản vẫn không tha cho ông. Chính PXA đã khuyên ông Tuyến là phải đi khỏi Sàigòn trước khi Việt Cộng chiếm Nam Việt Nam. Nhưng, đến ngày 28-4-1975, ông Tuyến vẫn chưa có cách nào để di tản ra nước ngoài. PXA thấy vậy, nên đã khuyên ông Tuyến đừng đi đâu hết, cứ nghỉ tại “Phòng Thường Trú“ của PXA ở khách sạn Continental, để PXA tìm cách cho ông Tuyến, vì ông quen nhiều người của tòa Đại sứ Mỹ, và PXA đã gọi điện thoại nhờ họ giúp “trường hợp sinh tử” này. Bạn bè không phụ lòng của PXA. Khoảng gần 6 giờ tối 29-4-1975, thỉ có điện thoại từ tòa Đại sứ Mỹ gọi cho PXA. Người gọi cho PXA là ông Southerland, ký giả của báo Christian Monitor, báo gấp cho PXA biết rằng: “Hiện còn một chuyến trực thăng chót của tòa đại sứ Mỹ, sẽ đến đón người di tản vào lúc 6 giờ tối nay, tại lầu 7 của cao ốc kế bên trụ sở Văn Hóa Pháp, trên đường Lê Thánh Tôn…” Không chần chờ gì nửa, PXA tức tốc lấy chiếc xe “deux chevaux” của mình, chở Bác sĩ Tuyến, lao nhanh đến cao ốc đó… Đến nơi, người lính Mỹ gác cổng không cho vô, nhưng, PXA nhanh trí, mượn lệnh miệng của Ngài Đại Sứ Martin cho vô. Thế là Bác sĩ Trần Kim Tuyến đã vào được cao ốc, và đã leo lên trực thăng di tản khỏi Sàigòn, đúng 6 giờ 10 phút tối ngày 29-4-1975. Nhìn chiếc trực thăng di tản cuối cùng cất cánh, trong dó có người bạn thâm giao một thời của mình, PXA thở phào, nhẹ nhõm… Nhưng, đó là một trong những “lỗi lầm” mà tổ chức đã kết tội PXA (!)

    Ngày 30-4-1975, là ngày đại thắng của Đảng CSVN, cũng là ngày hoàn thành nhiệm vụ điệp viên một cách xuất sắc của nhà báo tài ba PXA, đúng như lời nhận xét của Jean - Claude Pomonti- phóng viên (đã về hưu) của tờ báo Pháp Le Monde, rằng: “Ông vừa là điệp viên vừa là nhà chiến lược… Ông có mạng lưới liên lạc sâu sát với người Mỹ và có khả năng phân tích tình huống xuất sắc. Họ (Mỹ) chưa bao giờ phát hiện được ông. Ông là một điệp viên hoàn hảo!” (BBC, 21-9-2006). Nhưng, PXA đã sống trong hoàn cảnh đầy bi kịch của số phận Nhị Trùng, như Terrence Smith - Trưởng phòng đại diện tờ báo New York Times ở Việt Nam trong thời gian 1968-1970, người bạn thân của PXA – đã nói: “Ông chịu bi kịch của người phục vụ hai chủ, và cả hai ông chủ đều nghi ngờ, không tin tưởng ông!” (New York Times, 5-2005).

    Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, tổ chức bắt buộc PXA xuất hiện công khai với quân hàm Đại tá. Điều đó cũng có nghĩa là bức tử cuộc đời hoạt động tình báo của PXA.

    Với lý do nào mà Cục Tình Báo Chiến Lược Trung Ương phải quyết định như vậy?

    “Bố Sáu Già” trùm tình báo CSVN (tức Lê Đức Thọ) đã trực tiếp giải thích cho PXA rằng: “Theo lệnh của các đồng chí lãnh đạo tối cao là nên chuyển đồng chí sang công tác trong thời bình. Suốt 15 năm qua, đơn độc chiến đấu trong lòng địch, đồng chí đã lập được nhiều chiến công và cũng hy sinh quá nhiều. Vì thế Đảng cho phép đồng chí nghỉ ngơi và hưởng hạnh phúc gia đình trong thái bình!” Đúng là những “lời ca” tuyệt tác của nghệ thuật tráo trở trong công tác tổ chức của CSVN.

    PXA biết rằng: “Đó chỉ là những lời lẽ che đậy một sự thật phũ phàng đối với những cán bộ tình báo đã bi nghi ngờ, và Đảng không còn tin tưởng nữa!” Nhưng, sự thật phũ phàng và quá cay nghiệt này, khi PXA bị Đảng bắt buộc viết bản Kiểm thảo về việc đưa vợ con sang ở Mỹ trước ngày giải phóng miền Nam. PXA đã nói thật sự suy tư của một Điệp Viên Chiến Lược, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng rằng: “Tôi đưa vợ con sang ở Mỹ, trước hết là xuất phát từ công tác tình báo quốc ngoại lâu dài của Đảng ở ngay trong sào huyệt của chủ nghĩa đế quốc Mỹ! Tôi đã tự tin rằng đảng sẽ giao cho tôi làm nhiệm vụ quan trọng đó, vì tôi đã tạo được chỗ đứng khá vững chắc trong giới truyền thông Hoa Kỳ. Nhưng, nào ngờ, tôi đã hiểu biết quá ấu trĩ về đường lối tình báo quốc ngoại của Đảng?” Và PXA bắt buộc phải vâng lệnh Đảng: Kêu vợ con trở về sống ở Việt Nam.

    Đã lăn lộn trong nghề tình báo mang tầm vóc quốc tế trong vòng 15 năm (1960-1975) không hề bị lộ, đã là một kỳ tích. Với kinh nghiệm và với cái thế công khai “Phóng viên báo Time”, chắc chắn PXA còn làm nên những chiến công cho ngành tình báo của CSVN. Nhưng, PXA lại phải “ngồi chơi xơi nước” trong suốt hơn 30 năm (1975-2006), đóng vai trò một Thiếu tướng Tình báo để làm kiểng cho những cuộc phỏng vấn đầy tính hiếu kỳ của giới truyền thông. Đây chính là nỗi đau buồn về cuối đời của PXA.

    Đặc biệt trong 13 năm đầu, từ năm 1975 đến 1988, PXA không được phép tiếp xúc với bất cứ người nước ngoài nào. Bởi vì PXA đã bị tình nghi là đang làm việc trong mạng lưới nhị trùng của CIA (?) “Tại sao cố tìm cách giúp cho trùm Mật Vụ Trần Kim Tuyến thoát ra nước ngoài? Tại sao không biết gì về số tình báo của Mỹ cài lại ở Việt Nam? Đã nhận nhiệm vụ gì của CIA ở Việt Nam, sau ngày 30-4-1975?”

    Đó là những câu hỏi “đóng dấu phạm tội” cho PXA, mà lúc nào cũng phải kiểm thảo, mỗi khi đi dự lớp chỉnh huấn chính trị tại Hàmội (!)

    Sau Đại Hội Đảng lần thứ VI (1986) mở đầu cho cái gọi là “công cuộc đổi mới”, dưới trào của Nguyễn Văn Linh, PXA mới bắt đầu dễ thở, được tiếp bạn bè ngoại quốc tại tư gia ở cư xá làng báo chí tại Thủ Đức, nhưng vẫn bị sự kiểm soát chặt chẽ của an ninh chính trị. Và cũng từ đó, ông đã sống như một con người cô độc, đêm đêm ngắm cái bóng của mình lởn vởn trên tường, để hoài niệm, để suy tư và ôm hận về sự lầm đường theo chủ nghĩa Cộng sản.

    Ngày 20 tháng 9 năm 2006, PXA đã qua đời tại Bệnh Viện Quân Y 175 ở Sàigòn, trong sự thương tiếc của bạn bè trong ngành truyền thông quốc tế, trong nỗi ngậm ngùi và xót xa của nhiều đồng chí lão niên, đang cùng cảnh ngộ bị vắt chanh bỏ vỏ.
    o0o

    Chúng tôi xin thắp một nến hương cầu siêu cho linh hồn của hai chiến sĩ vô danh - Phạm Ngọc Thảo và Phạm Xuân Ẩn, cho vơi niềm đau khổ ở bên kia thế giới, và cũng để cảnh tỉnh cho những chiến sĩ vô danh, cũng như hữu danh, còn đang phục vụ cho chế độ cộng sản Việt Nam.

    New England – USA (Ngày 20-02-2007)
    Lê Tùng Minh

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi