Những quyết sách khó khăn: Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi

  • Bởi Bien-Tap
    21/02/2009
    1 phản hồi

    Martin Rama

    Lời tựa

    Trải qua hàng chục năm chiến tranh với cơ sở hạ tầng bị tàn phá nặng nề, hàng triệu người bị chết, bị thương hoặc ly hương, khả năng phục hồi và phát triển kinh tế của Việt Nam dường như là một điều không tưởng. Nhưng giờ đây, Việt Nam đang sắp sửa gia nhập nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình trên thế giới. Thông thường, người ta sẽ hỏi sự việc đó diễn ra như thế nào? Bài nghiên cứu này lựa chọn một cách tiếp cận mới, rộng hơn để trả lời câu hỏi này. Thay vì đề cập đến những chính sách đã được thực hiện, bài viết đi sâu nghiên cứu quá trình các chính sách đó được đưa ra như thế nào. Câu hỏi này còn thú vị hơn nhiều bởi trong quá trình đưa ra các quyết sách đó đã không xảy ra chuyện nhóm này thay thế nhóm kia trong cơ cấu quyền lực.

    Để giải đáp thắc mắc này, bài viết dựa trên hiểu biết sâu sắc của những người từng thực tế tham gia vào các cuộc thử nghiệm kinh tế, thảo luận chủ trương và vận động chính trị, dẫn đến việc thông qua các cải cách cơ bản. Đặc biệt, bài viết này dựa trên nội dung một loạt buổi đàm thoại trực tiếp với cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, một trong những nhà lãnh đạo hàng đầu của Việt Nam. Qua đó, bài viết góp phần làm sáng tỏ câu chuyện bên trong của Đổi mới, một quá trình còn là điều bí ẩn đối với nước ngoài và vẫn khá mơ hồ đối với phần lớn người Việt Nam.

    Nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa về mặt lịch sử. Việc hiểu rõ các cuộc cải cách được khởi động như thế nào có thể đem lại những bài học quí giá cho các quốc gia đang phát triển khác. Các bài học này cũng đặc biệt có giá trị cho bản thân Việt Nam, bởi hai thập kỷ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng đã dẫn đến những thay đổi to lớn về kinh tế và xã hội. Không chỉ đánh giá cao các quy trình ra quyết định đã đưa đất nước thoát nghèo thành công, nghiên cứu này còn đồng thời tìm tòi những giải pháp điều chỉnh cần thiết để có thể đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp.

    Giới thiệu về tuyển tập

    Ủy ban Tăng trưởng và Phát triển do Mike Spence, người được nhận giải thưởng Nô‐ben, sáng lập tháng 4 năm 2006 nhằm giải quyết hai vấn đề. Thứ nhất, tỷ lệ nghèo không thể tự giảm xuống mà không đi kèm với tăng trưởng kinh tế — một nhận xét đã bị các nhà thực hành bỏ qua không nghĩ tới hay đưa vào chiến lược phát triển. Thứ hai, người ta ngày càng nhận thức rõ hơn rằng tri thức về tăng trưởng kinh tế không hoàn toàn rõ ràng như ta vẫn tưởng. Do đó, mục tiêu của Ủy ban là “điểm lại các lý luận và thực tiễn tăng trưởng kinh tế nhằm rút ra các ý nghĩa tác động về mặt chính sách cho các thế hệ hoạch định chính sách hiện nay và trong tương lai.”

    Để tìm hiểu kho tàng tri thức này, Ủy ban đã mời các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách hàng đầu của các nước đang phát triển và các nước công nghiệp hóa tham gia tìm hiểu và thảo luận các vấn đề kinh tế mà Ủy ban thấy thích hợp cho tăng trưởng và phát triển, kể cả các vấn đề còn gây nhiều tranh cãi. Các nghiên cứu chuyên đề này đánh giá kiến thức và nêu bật các nội dung còn nhiều tranh cãi trong các lĩnh vực như chính sách tài khóa và tiền tệ, thay đổi khí hậu, công bằng và phát triển. Thêm vào đó, 25 nghiên cứu quốc gia đã được thực hiện nhằm tìm hiểu các động lực phát triển và thay đổi trong bối cảnh riêng của từng quốc gia.

    Các bài nghiên cứu trong tuyển tập này đã được trình bày và xem xét tại các cuộc hội thảo do Ủy ban tổ chức trong hai năm 2007‐08 ở Washington, D.C., thành phố New York và New Haven, Connecticut. Mỗi nghiên cứu đều nhận được ý kiến nhận xét góp ý của những người tham gia hội thảo, bao gồm các nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách, nhà thực hành phát triển, đại diện của các tổ chức song phương và đa phương, cùng các thành viên của Ủy ban.

    Các bài nghiên cứu này, cùng toàn bộ các bài chuyên khảo và nghiên cứu quốc gia viết cho Ủy ban, đã nhận được sự hỗ trợ của Cơ quan Hợp tác Phát triển Úc (AusAID), Bộ Ngoại giao Hà Lan, Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Thụy Điển (SIDA), Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID), Quỹ William và Flora Hewlett, và Nhóm Ngân hàng Thế giới.

    Tuyển tập này đã được thực hiện dưới sự chỉ đạo chung của Mike Spence và Danny Leipziger, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Ủy ban, và Ban Thư ký của Ủy ban dựa vào bộ phận Mạng Nghiên cứu Giảm nghèo và Quản lý Kinh tế của Ngân hàng Thế giới. Các bài viết trong tuyển tập này chỉ thể hiện quan điểm cá nhân của các tác giả.

    Lời cảm ơn

    Bài viết này được thực hiện theo yêu cầu của Ủy ban cấp cao về Tăng trưởng và Phát triển (“Ủy ban Spence”). Các quan điểm được nêu trong bài là quan điểm của riêng tác giả chứ không phải quan điểm của Ngân hàng Thế giới. Bài viết này có sử dụng tài liệu của Giáo sư Đặng Phong với tên gọi “Thời kỳ phá rào: Đêm trước của Đổi Mới ở Việt Nam”. Chúng tôi xin ghi nhận với sự biết ơn các ý kiến đóng góp của David Dollar, Homis Kharas, Klaus Rohland, Carolyn Turk and Brian Van Arkadie. Trần Thị Ngọc Dung, Lê Minh Phương, Nguyễn Thị Minh Hoà và Lê Bích Vân hỗ trợ dịch thuật và hành chính.

    Những quyết sách khó khăn: Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi

    Dựa trên các cuộc nói chuyện với Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt cùng với Giáo sư Đặng Phong và Đoàn Hồng Quang(*)

    “Khó có thể nói được ai là tổng công trình sư duy nhất của công cuộc đổi mới, vì thực ra không có một tổng sơ đồ được thiết kế ngay từ đầu cho lộ trình đó. Con đường chuyển đổi ở Việt Nam là loại đường mà cứ đi thì mới thành đường.” Giáo sư Đặng Phong, Tháng 6 năm 2007).

    Lời giới thiệu: tìm hiểu quy trình ra quyết định

    Việt Nam có thể được coi là một trong những trường hợp thành công nhất về phát triển kinh tế trong thời gian vừa qua. Tuy nhiên, chỉ trước đó không lâu, đất nước này đã từng bị coi là một trường hợp hết hy vọng. Mấy thập kỷ chiến tranh đã để lại một cơ sở hạ tầng bị phá nát, hàng triệu người chết, bị thương hoặc mất nhà cửa. Cơ chế kế hoạch hóa tập trung ở miền Bắc và sự hiện diện quân sự trên quy mô lớn của nước ngoài ở miền Nam là những nguyên nhân dẫn đến hai nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả và tách biệt. Vào đầu những năm 1990, khi đã có những số liệu thống kê đầu tiên tin cậy được, thì thu nhập theo đầu người của Việt Nam xếp vào hạng thấp nhất thế giới. Chưa đầy 20 năm sau, Việt Nam đã chuẩn bị bước vào hàng ngũ các quốc gia có thu nhập trung bình, và triển vọng trở thành một nước công nghiệp sau một thế hệ không còn là điều không tưởng.

    Trong vòng hai thập kỷ này, Việt Nam đã tránh được vết xe đổ về kinh tế mà các nước Liên xô cũ mắc phải, sự sụt giảm trong thu ngân sách của Chính phủ mà Trung Quốc phải đương đầu trong giai đoạn đầu chuyển đổi, và cuộc khủng hoảng kinh tế tác động mạnh đến khu vực Đông Á vào cuối những năm 1990. Kết quả ấn tượng này đi kèm với tốc độ giảm nghèo thuộc nhóm nhanh nhất được ghi nhận từ trước tới nay. Một số bất ổn về kinh tế vĩ mô trong thời gian gần đây có thể tạo ra một số băn khoăn về thành tựu của Việt Nam, tuy nhiên những bất ổn đó chủ yếu do luồng vốn kỷ lục mà Việt nam thu hút được gây ra. Chắc chắn là những luồng vốn này cho thấy đất nước đang tiến vào một kỷ nguyên mới, đồng thời cũng tạo ra nhiều thách thức cho Chính phủ. Tuy nhiên sẽ là sai lầm khi cho rằng điều đó sẽ đặt dấu chấm hết cho câu chuyện thành công của Việt Nam, vì những khó khăn luôn song hành cùng thành công.

    Kỷ lục tăng trưởng của Trung Quốc thường được xem là cao hơn Việt Nam. Tuy nhiên kể từ đầu những năm 1990, xuất khẩu ở Việt Nam tăng nhanh hơn Trung Quốc. Theo các con số thống kê quốc tế, tỷ lệ nghèo Việt Nam cũng giảm nhanh hơn hay ít nhất cũng với tốc độ tương đương. Đồng thời, mức độ bất bình đẳng ở Việt Nam được duy trì khá ổn định trong khi tỷ lệ này đang tăng đáng kể ở Trung Quốc.

    Câu hỏi ở đây là: tất cả những điều đó diễn ra như thế nào?

    Nhìn bề ngoài, có thể đưa ra ngay câu trả lời. Có rất nhiều nghiên cứu đề cập đến những cải cách chính sách mà Việt Nam đã thực hiện kể từ khi bắt đầu quá trình Đổi mới. Có thể có những ý kiến không thống nhất về mối quan hệ giữa những cải cách đó và các kết quả phát triển được ghi nhận. Ví dụ, một số người có thể cho rằng việc chậm tư nhân hóa, như Việt Nam đã làm, là lý do làm chậm lại tốc độ tăng trưởng và tăng thêm các khoản nợ dự phòng cho Chính phủ, trong khi số khác lại lập luận rằng điều đó giúp ngăn chặn không chỉ sự sụp đổ về kinh tế mà cả sự hình thành nhóm nhỏ với quyền lực chính trị tối cao. Tuy vậy, nhìn chung ít có sự bất đồng trong đánh giá về trình tự các quyết định được đưa ra, kể cả thái độ lưỡng lự đối với việc tư nhân hoá đại trà trong giai đoạn đầu chuyển đổi.

    Nếu đi sâu hơn, thì vấn đề chính không phải là những chính sách nào đã được áp dụng, mà là tại sao các chính sách đó được lựa chọn? Làm sao mà đường lối cải cách lại có thể được duy trì suốt hai thập kỷ? Ngay sau khi thống nhất đất nước, Đại hội Đảng IV đã thể hiện sự nhất trí cao với mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, và mô hình này dường như tỏ ra hơn hẳn với bằng chứng cụ thể là những thế lực “tư bản” mạnh hơn nhiều đã bị đánh bại về quân sự. Lúc này, khả năng tạm thời giữ lại mô hình kinh tế của miền Nam Việt Nam mà một số nhà lãnh đạo Đảng có uy tín đưa ra đã không được tán thành. Ba mươi năm sau, Đại hội Đảng X đã thể hiện sự nhất trí tương tự đối với việc cần thiết phải dựa vào các cơ chế thị trường trong mọi trường hợp có thể được. Khả năng quay trở lại mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung là không thể có. Đến lúc này, nội dung tranh luận đã dần dần chuyển sang nhu cầu “dân chủ hóa”, cùng với lộ trình và các hình thái phù hợp.

    Câu hỏi thực sự là: Việt Nam đã chuyển đổi từ thái cực nhất trí này sang thái cực khác như thế nào? Câu hỏi này còn gây tò mò hơn nữa bởi trong quá trình này không có chuyện nhóm này lật đổ nhóm kia trong cơ cấu quyền lực. Không giống như các nước đang chuyển đổi khác, ở đây không có các cuộc đảo chính nội bộ, không có sự thanh trừng chính trị, không đấu đá công khai… Một số nhà lãnh đạo từng ủng hộ mô hình kế hoạch hóa tập trung trong Đại hội IV sau này lại lãnh đạo công cuộc Đổi mới khởi xướng từ Đại hội Đảng VI.

    Đáng ngạc nhiên không kém là quá trình cải cách này không chịu nhiều ảnh hưởng từ bên ngoài. Các nhà lãnh đạo Việt Nam đã tham khảo cấu trúc và tiến trình thực hiện mô hình xã hội chủ nghĩa kinh điển từ Liên bang Xô viết cũ và Trung Quốc. Đồng thời, chắc chắn họ cũng đã theo dõi sát sao quá trình thực hiện đổi mới ở hai nước này, đôi lúc với những quan ngại. Họ cũng đã tìm hiểu kỹ các bài học thành công từ các nước Đông Á. Tuy nhiên, tiến trình đổi mới của Việt Nam không phải là sự bắt chước rập khuôn hay du nhập bất kỳ mô hình kinh tế có sẵn nào. Các định chế tài chính quốc tế chỉ bắt đầu hoạt động tích cực ở Việt Nam từ đầu những năm 1990. Và Việt Nam đã luôn thận trọng để tránh bị phụ thuộc vào viện trợ, nhằm giữ vững sự tự chủ trong việc hoạch định các chính sách kinh tế.

    Hiện chưa có sẵn những câu trả lời cho câu hỏi đi sâu hơn về bản chất này. Có rất nhiều báo cáo hoặc suy đoán chắp vá về quá trình mà các quyết định kinh tế chủ chốt được đưa ra. Song theo như lập luận dưới đây thì những cách giải thích đó đều khá xa rời thực tế. Một câu trả lời đúng đắn cần phải dựa trên những hiểu biết sâu sắc về nội tình của những người đã thực tế tham gia vào các thử nghiệm kinh tế, thảo luận chủ trương đường lối và vận động chính trị, dẫn đến việc ban hành những cải cách cơ bản.

    Đó cũng chính là phương pháp tiếp cận của bài viết này, được xây dựng dựa trên một loạt những cuộc đối thoại trực tiếp với cố Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt. Những cuộc đối thoại này, chủ yếu được thực hiện trong năm 2007 và những tháng đầu năm 2008 tại TP Hồ Chí Minh và Hà Nội, là những cơ hội quý báu cho nhóm tác giả. Cố Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt đã dành thời gian chia sẻ những thông tin, cách nhìn bên trong về quá trình ra quyết định của Việt Nam. Tài liệu này cũng có thể được coi như kết quả từ các cuộc đối thoại giữa một nhà lãnh đạo với thông tin chiều sâu từ bên trong với những nhà nghiên cứu bên ngoài, kết hợp với những ý kiến đóng góp quan trọng về lịch sử và kinh tế của các đồng nghiệp từ hai phía.

    Xét về phương pháp luận, bài viết này được thực hiện theo tinh thần tìm hiểu lịch sử chính sách hơn là phân tích kinh tế. Lịch sử chính sách là việc tìm hiểu các nguồn gốc hình thành và quá trình phát triển của chính sách, do vậy thường xem xét các quá trình diễn biến trong một khoảng thời gian đáng kể. Lịch sử chính sách coi quá trình hình thành chính sách công có ý nghĩa nhiều hơn là sự thay đổi diễn ra tại một thời điểm cụ thể, giống như được ghi lại bằng một cú bấm máy. Các quyết định cơ bản được đưa ra dựa trên những sự kiện và quá trình diễn ra trước đó. Thông qua khung thời gian này, lịch sử chính sách có thể mang lại những hiểu biết sâu có giá trị giúp làm sáng tỏ các vấn đề đương đại.

    Cũng giống như các ghi chép lịch sử, kết quả của phương pháp này đôi khi bị xem là mang tính một chiều. Không phải tất cả mọi người tham gia vào quá trình đều có cơ hội bày tỏ quan điểm, và có cả những diễn giải mang tính chủ quan. Tuy nhiên, những thông tin chiều sâu mà phương pháp này mang lại có thể khắc phục những hạn chế về phương pháp luận. Câu chuyện nội bộ về Đổi mới chưa được tiết lộ ra ngoài, và do bối cảnh chính trị khi diễn ra các cuộc cải cách nên đa số người Việt Nam vẫn còn thiếu thông tin rõ ràng đầy đủ về quá trình ra các quyết định chủ chốt. Hơn thế nữa, chỉ có rất ít tài liệu để tìm hiểu, khiến cho trải nghiệm cá nhân của những người đóng vai trò chính càng trở nên có giá trị hơn.

    Việc làm này không chỉ có ý nghĩa về mặt lịch sử. Hiểu rõ quá trình đạt được sự đồng thuận trong việc ra quyết định cải cách kinh tế khó khăn có thể sẽ là bài học quý báu cho các quốc gia đang phát triển khác trong hành trình đầy gian khổ của họ để tìm đến sự phồn vinh. Việc xác định được các động cơ dẫn đến sự thay đổi, cũng như những trở ngại trên đường đi, có thể giúp các nước khác định hướng trong dòng xoáy cải cách chính sách. Sự hiểu biết đó cũng có thể có ích cho những người bên ngoài, đặc biệt là cộng đồng các tổ chức phát triển, bởi họ luôn cố gắng tìm cách tác động tới các kết quả chính sách và khuyến khích cải cách nhiều hơn nữa ở Việt Nam, cũng như ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới.

    Việc hiểu rõ các quá trình này đã diễn ra như thế nào cũng sẽ rất hữu ích đối với Việt Nam trong nỗ lực vượt qua những bất ổn kinh tế vĩ mô nảy sinh từ chính thành công của mình và gia nhập hàng ngũ các nước công nghiệp. Tuy nhiều nước đang phát triển đã đạt được vị thế là quốc gia có thu nhập trung bình, song mới chỉ có một vài nước vượt qua được giai đoạn đó. Cần phải có các thể chế kinh tế vững mạnh để đối phó với những cú sốc bất lợi trước mắt và duy trì việc tăng năng suất trong dài hạn. Chính sách tiền tệ cẩn trọng và cơ chế giám sát hiệu quả đối với khu vực tài chính, việc tổ chức thị trường hiệu quả cho các dịch vụ hạ tầng, các chương trình bảo hiểm xã hội phù hợp tạo ra những động lực đúng đắn, việc quản lý chặt chẽ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, cùng một nền hành chính công trong sạch và minh bạch là những điều mà Việt Nam cần để tiếp tục tăng trưởng với tốc độ nhanh chóng, đồng thời giảm thiểu những bất ổn kinh tế vĩ mô do luồng vốn lớn có thể gây ra, đạt mục đích trở thành quốc gia có thu nhập cao.

    Hai thập kỷ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng đã dẫn đến những thay đổi căn bản trong nền kinh tế và xã hội Việt Nam. Mức độ liên kết phụ thuộc lẫn nhau giữa các khu vực kinh tế lớn hơn, đặc biệt là thông qua kênh tài chính, khiến những sai lầm về chính sách có thể kéo theo những chi phí xã hội cao hơn rất nhiều. Ảnh hưởng của sự tích tụ ngày càng lớn, tạo nên sự năng động đáng kể tại các trung tâm kinh tế chính của đất nước, song đồng thời cũng tạo nên sự bất bình đẳng ngày càng tăng giữa các vùng và giữa các hộ gia đình. Mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội cũng thay đổi, với sự bùng nổ về số lượng và thành phần tham gia. Do vậy Chính phủ gặp khó khăn hơn trong việc thu thập thông tin phản hồi về các vấn đề và những mối quan ngại của người dân.

    Các cuộc chuyển đổi cơ bản về kinh tế và xã hội đang tạo ra những thách thức mới cho Việt Nam. Việc thiếu năng lực kỹ thuật đủ mạnh để điều tiết và giám sát hiệu quả các hoạt động đang ngày càng trở nên phức tạp có thể đưa lại một số nguy cơ như phân bổ các nguồn lực không đúng hay thậm chí bị lãng phí trong một cuộc khủng hoảng ngắn hạn. Sự bất bình đẳng đang gia tăng và sự giàu có được phô bày có thể gây nên sự bất bình trong xã hội, đặc biệt nạn tham nhũng tràn lan có thể khiến người ta nghi ngờ tính hợp pháp của những khối tài sản mới tạo dựng được. Cơ chế thu thập và xử lý các yêu cầu của một số nhóm dân cư cụ thể nào đó, dù là rất nhỏ, nếu yếu kém sẽ khiến cho họ lên tiếng bày tỏ sự thất vọng thông qua những kênh trái phép, gây nên tình trạng mất ổn định về chính trị. Những nguy cơ này hiện mới chỉ là giả thuyết, song thực tế đã từng xảy ra ở một số nước trong khu vực có trình độ phát triển tương tự như Việt Nam hiện nay.

    Hiện chưa rõ liệu các quá trình ra quyết định từng thành công trong việc đưa Việt Nam thoát khỏi tình trạng nghèo đói và trở thành một nền kinh tế thị trường vững mạnh có đủ để phát triển những thể chế kinh tế hùng mạnh cần thiết để đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp. Trong khi đánh giá cao những quá trình đó, bài viết này còn tìm kiếm những đề xuất điều chỉnh cần thiết để có thể đưa Việt Nam lên một mức phát triển cao hơn hẳn. Vì thế, việc hiểu rõ các quá trình này đã diễn ra như thế nào có thể là chìa khoá để phát huy những thành công và vượt qua những thách thức cũng như nguy cơ sẽ xuất hiện trên đường.

    Một thập kỷ tìm kiếm giải pháp

    Để hiểu được sự thành công của Đổi mới cần có một phương pháp tiếp cận mang tính lịch sử, nêu bật được quá trình thử nghiệm, thất bại, học hỏi và điều chỉnh, với hy vọng nhìn thấy ánh sáng ở cuối đường hầm.

    Vào thời điểm đất nước thống nhất, chiến thắng về mặt quân sự được xem như là bằng chứng rõ rệt chứng tỏ sự ưu việt của hệ thống kinh tế ở miền Bắc. Cơ chế kế hoạch hóa tập trung quả thực đã rất thích hợp trong thời kỳ đất nước có chiến tranh. Tuy nhiên, thực tế thì các nhà lãnh đạo Đảng thời đó có rất ít kiến thức kinh tế, bởi họ đã dành hết thời gian và nỗ lực cho hai cuộc chiến tranh liên tiếp. Trong mắt họ, mô hình kinh tế của miền Nam trước hết gắn liền với chủ nghĩa thực dân Pháp và sau đó là đế quốc Mỹ, khiến họ chỉ có thể xem nó như là một thứ xấu xa. Do bối cảnh chiến tranh lúc đó, họ đã không có đủ kiến thức về thế giới và quản trị công để điều hành và quản lý đất nước một cách hiệu quả. Và thật không may, chính thắng lợi đã làm giảm nhu cầu lắng nghe và học hỏi.

    Lúc đó, mô hình kế hoạch hóa tập trung kiểu Liên bang Xô viết tỏ ra khá thành công, đã đưa một nước với nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu trở thành cường quốc chinh phục vũ trụ chỉ trong vòng chưa đầy bốn thập kỷ. Một số cán bộ kỹ thuật Việt Nam đã được đào tạo chủ yếu ở các nước thuộc khối Xô viết cũ, những nơi mà viện trợ kinh tế quy mô lớn đã giúp che đậy sự thiếu hụt và kém hiệu quả của một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Sự kết hợp này là nguyên nhân dẫn đến những niềm tin vô điều kiện, những chuẩn mực đã bắt rễ ăn sâu, không thể thay đổi. Trong số đó có các nguyên tắc bất di bất dịch về quyền sở hữu nhà nước, cơ chế kế hoạch hóa tập trung và vai trò lãnh đạo của Đảng.

    Thời kỳ thống nhất đất nước, xét về nhiều mặt, là một thời kỳ đầy khắc nghiệt. Ban lãnh đạo tỏ ra rất quyết đoán. Điều này được thể hiện bằng việc ra quyết định đổi tên Đảng (từ Đảng Lao động sang Đảng Cộng sản) và cả tên nước (từ Dân chủ Cộng hòa sang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa). Đây cũng là thời kỳ thực thi các chương trình học tập cải tạo ồ ạt, một cách nói tránh đi của việc bắt giam hàng loạt những viên chức và sĩ quan của chế độ Sài gòn.

    Thời kỳ thống nhất đất nước còn là thời kỳ của sự tự mãn và duy ý chí xét dưới góc độ phát triển kinh tế. Và nói một cách thực lòng thì tâm trạng phấn khởi này của các nhà lãnh đạo Đảng là điều có thể hiểu được, sau khi đã đưa một đất nước nông nghiệp nghèo đói tới chiến thắng ba trong số năm nước thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

    Đại hội Đảng IV đã diễn ra trong bầu không khí phấn khởi này. Đại hội đã nhất trí cần phải đề ra đường lối phát triển đất nước chung, không phân biệt miền Bắc và miền Nam. Trên thực tế, điều này có nghĩa là người dân miền Nam phải thực hiện mô hình kinh tế của miền Bắc. Các đại biểu tham dự Đại hội Đảng IV tin tưởng rằng đây là quyết định đúng đắn, và quyết định này sẽ cho phép Việt Nam thoát khỏi đói nghèo và vững bước trên con đường đi tới ấm no, hạnh phúc. Theo suy nghĩ của các nhà lãnh đạo Việt Nam lúc đó, thành công về kinh tế không thể là một điều nan giải, nếu so với những gian khổ của chiến tranh.

    Tuy vậy, vài tháng đầu tiên sau ngày giải phóng miền Nam, một nhóm cán bộ Đảng tập hợp lại xung quanh ông Lê Duẩn đề xuất ý kiến nên thử nghiệm mô hình kinh tế của miền Nam, ít nhất là tạm trong một thời gian ngắn, trong khi vẫn duy trì mô hình xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Ông Lê Duẩn, bí danh là anh Ba, là linh hồn của thời kỳ đó. Sinh năm 1907 tại Quảng Trị, ông đã trở thành một trong số những đảng viên đầu tiên của Đông Dương Cộng sản Đảng năm 1930, trở thành Tổng bí thư năm 1960 và giữ vị trí này cho đến khi qua đời năm 1986. Trong kháng chiến chống Pháp, ông là Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ và có uy tín rất cao trong cán bộ đảng viên và nhân dân. Những năm 1950, ông đã có ý không muốn tiến hành cải cách ruộng đất theo kiểu miền Bắc ở đây. Trên tinh thần đó, vào thời điểm đất nước thống nhất, ông đã cho rằng miền Nam có thể là nơi thích hợp thí điểm việc áp dụng cơ chế thị trường. Tuy nhiên, ông đã không thể kiên trì theo đuổi ý tưởng này và quan điểm của ông đã không được đưa ra xem xét thảo luận tại Đại hội Đảng IV.

    Tâm trạng lạc quan lúc đó đã dẫn đến niềm tin tuyệt đối trong Đảng và ông Lê Duẩn rằng Việt Nam sẽ thành công với bất kỳ mô hình nào. Thắng lợi về quân sự đối với nước Mỹ hùng mạnh, tuy phần nào nhờ vào sự hậu thuẫn của các nước xã hội chủ nghĩa khác, đạt được chủ yếu là do đường lối quân sự sáng tạo rất riêng của Việt Nam. Vậy tại sao lại không thể làm được điều đó trong công cuộc phát triển kinh tế? Tuy dựa vào kinh nghiệm của các nước xã hội chủ nghĩa khác, Đại hội Đảng IV là cơ hội để xây dựng một phiên bản mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung của riêng Việt Nam. Phiên bản này là sự cố gắng nhằm nhanh chóng hiện đại hóa nông nghiệp thông qua sản xuất lớn nhờ sử dụng hệ thống thuỷ lợi, phân bón và máy kéo. Việc thực hiện mô hình này cần một quy mô tối thiểu, và cấp huyện đã được lựa chọn. Mô hình kế hoạch hóa tập trung theo phiên bản Việt Nam do đó được biết đến với chủ trương xây dựng “mỗi huyện là một pháo đài”.

    Điều đáng ngạc nhiên là mô hình này cũng chính là đứa con tinh thần của ông Lê Duẩn. Một trong những tuyên bố được trích dẫn nhiều nhất của ông là “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”. Quan điểm “mỗi huyện là một pháo đài” phần nào chịu ảnh hưởng của mô hình Агропромышленный Комплекс, hay liên hiệp công‐nông nghiệp, một mô hình được áp dụng trước tiên ở Liên bang Xô viết cũ, sau đó được nhân rộng ở các nước xã hội chủ nghĩa nhỏ hơn như Bungari và Đông Đức. Ông Lê Duẩn đã đề xuất quan điểm này để đáp ứng quyết tâm của Bộ Chính trị và Trung ương Đảng trong việc xây dựng một mô hình phát triển kinh tế duy nhất cho cả nước. Ông Lê Duẩn đã tỏ ra rất lạc quan về phương pháp tiếp cận mà ông xem là sáng tạo này. Bộ Chính trị đã đồng ý với quan điểm của ông và phương pháp “mỗi huyện là một pháo đài” đã được Đại hội Đảng IV thông qua.

    Mô hình kế hoạch hóa tập trung chẳng bao lâu sau đã tỏ ra thất bại nặng nề. Sản lượng theo kế hoạch dự kiến sẽ tăng lên gấp đôi trong khoảng thời gian từ 1976 đến 1980, song trên thực tế lại tăng chậm hơn là mức tăng dân số. Kế hoạch 5 năm do Đại hội Đảng IV đề ra, vốn được xem như là bước nhảy vọt lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, trên thực tế lại gắn với sự đi xuống của mức sống so với thời kỳ chiến tranh vốn đã rất khó khăn. Sự căng thẳng trong quan hệ với Trung Quốc càng làm cho tình hình tồi tệ hơn, khiến Việt Nam phải gia nhập khối Comecon năm 1978, một quyết định mà Việt Nam đã do dự suốt hai thập kỷ trước đó. Điều này đã dẫn tới giá hàng hóa nhập khẩu tăng mạnh so với thời gian trước đó, khi giá trong nước của hàng hóa được sản xuất tại Liên bang Xô Viết được sử dụng tính cho hàng xuất khẩu sang Việt Nam.

    Mô hình kế hoạch hóa tập trung ngày càng cho thấy rõ là không phù hợp với miền Nam, nơi mà sự thống nhất gắn liền với những thay đổi về cơ bản trong tổ chức hoạt động kinh tế, nhiều hơn là với miền Bắc, nơi không cần phải tiến hành các cải cách tương tự. Các cán bộ miền Nam đã được cử ra Bắc để học tập về mô hình kế hoạch hóa tập trung, song mức giá cả hàng hóa mà họ phải áp đặt với biện pháp hành chính lại hoàn toàn không phù hợp. Công nghiệp và thương mại đình đốn. Tình trạng thiếu lương thực xuất hiện, đẩy Việt Nam gần đến nạn đói trong những năm 1980. Rất nhiều người liều mạng rời bỏ đất nước ra đi. Những người ra đi ấy không chỉ là những người từng có quan hệ mật thiết với chế độ cũ, mà cả những người đã đóng góp vào cuộc đấu tranh giành độc lập. Họ đều mong muốn ra đi bởi đời sống tinh thần và vật chất đều đã vượt quá sức chịu đựng.

    Do đó, sự tín nhiệm của người dân đối với lãnh đạo bị mai một dần, đồng thời, hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế cũng bị giảm sút nghiêm trọng. Suy nghĩ cho rằng Việt Nam đang dần sụp đổ ngày càng phổ biến.

    Ngay tại thành phố Hồ Chí Minh, nằm giữa vùng được xem là “vựa lúa” của Việt Nam, được thiên nhiên ưu đãi và dồi dào nguồn lực, người dân cũng không có đủ gạo để ăn. Xoay xở cho đủ sống là việc làm vô cùng khó khăn đối với tất cả mọi người, và các nhà lãnh đạo địa phương bắt đầu nhận thức được rằng tình hình chẳng bao lâu nữa sẽ vượt quá sức chịu đựng. Ngay trong nội bộ ban lãnh đạo cũng có tâm trạng thất vọng ngày càng tăng khi chứng kiến sự thất bại do không thể đạt được các mục tiêu lý tưởng mà Đại hội Đảng IV đề ra. Cuộc khủng hoảng diễn ra sau đó không còn đơn thuần về mặt kinh tế nữa, mà còn mang tính xã hội và chính trị.

    Mô hình “mỗi huyện là một pháo đài” là một ý tưởng sáng tạo, song rõ ràng không đúng hướng nếu xét từ góc độ kinh tế. Đến cuối đời, ông Lê Duẩn cũng tự thấy sự thất bại của đứa con tinh thần của mình. Tuy nhiên, không phải ông, mà là một nhóm cán bộ lãnh đạo địa phương đã làm thay đổi tình hình. Ban đầu, họ thực hiện điều đó qua những sáng kiến được gọi là “phá rào” với điểm chung là chúng đều được dựa trên các cơ chế thị trường. Các nhà lãnh đạo địa phương khi đưa ra các sáng kiến đó đều hết sức mong muốn tìm kiếm những phương pháp thích hợp và cố gắng để hiểu được vì sao chúng lại hiệu quả. Quá trình này đòi hỏi sự thử nghiệm vượt quá ranh giới mà luật lệ cho phép, đôi khi còn nguy hiểm nữa… Song tất cả các nhà lãnh đạo địa phương này đều có một điểm chung, đó là về mặt chính trị họ đều “được miễn trừ” do những đóng góp của mình trong chiến tranh.

    Đa số các cuộc thử nghiệm “phá rào” diễn ra ở miền Nam. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên, bởi cơ chế thị trường vẫn còn là ký ức nóng hổi ở nơi đó, và máu kinh doanh vẫn còn chảy trong huyết quản. Thêm vào đó, miền Nam cũng đã có một giai đoạn quá độ trước khi tiến hành hợp tác hoá đất đai. Mục đích cuối cùng cũng là thiết lập một mô hình giống như ở miền Bắc, song việc chuyển đổi được chấp nhận là sẽ diễn ra từ từ. Giá lương thực bị ép theo quy định đã làm mất đi động cơ khuyến khích người nông dân gieo trồng và buôn bán, và triển vọng phải vào hợp tác xã, làm ăn tập thể khiến họ không còn thấy phấn khởi về sự thống nhất nữa. Tuy vậy, ít nhất những nền tảng cho hiệu ứng cung vẫn còn hiện hữu.

    Các thử nghiệm “phá rào” trong nông nghiệp chủ yếu là việc giao đất cho nông dân và ký kết hợp đồng mua bán trực tiếp với giá cao hơn giá quy định. Phương pháp này trước đây đã từng được thực hiện ở ngoài Bắc, từ trước khi thống nhất đất nước. Năm 1966, ông Kim Ngọc, Bí thư tỉnh Vĩnh Phúc, đã thử nghiệm chính sách đó. Tuy nhiên, năm 1968, ông Truờng Chinh, Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Bộ Chính trị kiêm Trưởng Ban Tư tưởng đã triệu tập một cuộc họp lãnh đạo Đảng và phát biểu một bài dài phê phán việc làm của Vĩnh Phúc. Ông Kim Ngọc bị chỉ trích nặng nề vì đã ủng hộ việc khoán “chui” và thử nghiệm này buộc phải chấm dứt.

    Tình hình trở nên thuận lợi hơn sau khi đất nước thống nhất, nhất là ở miền Nam, nơi có các điều kiện cung cấp lương thực dễ dàng hơn. Ở những nơi thực hiện cơ chế khoán, đời sống được cải thiện lên trông thấy. Việc làm bị xem là sự chệch hướng nguy hiểm vào cuối những năm 1960 thì mười năm sau đấy bắt đầu được xem là sự “gỡ rối” đầy sáng tạo.

    Có những ví dụ về thử nghiệm “vượt rào” rất gây ấn tượng. Vào cuối những năm 1970, nông dân ở miền Bắc phải rất vất vả lo miếng ăn. Nhiều người dân xã Đoàn Xá đã bỏ nhà ra thành phố Hải Phòng ở gần đó đi ăn xin. Năm 1979, những người còn ở lại xã nói rằng cần phải giao đất cho các hộ gia đình. Đề nghị đó đã được đưa ra biểu quyết và tỷ lệ ủng hộ là 9 trên 1. Tuy nhiên, những người dân Đoàn Xá cũng nhất trí không lưu lại bút tích về quyết định này, thề giữ bí mật và tương trợ nhau nếu cấp trên phát hiện ra việc “khoán chui” này. Kết quả là sản lượng tăng gấp 6 lần và đời sống được cải thiện rõ rệt.

    Tin tức nhanh chóng đến tai lãnh đạo Huyện ủy và một đoàn kiểm tra đã được cử về Đoàn Xá. Phản ứng ban đầu là không phát thẻ Đảng mới cho các đảng viên ở Đoàn Xá. Rồi dần dần, thông tin về cuộc thử nghiệm này lan rộng, và Đoàn Xá trở thành mô hình cho toàn huyện làm theo.

    Đến năm 1980, Bí thư Thành ủy Hải Phòng Bùi Quang Tạo không chỉ cho nhân rộng phương thức khoán trong toàn tỉnh, mà ông còn hứa sẽ vận động Trung ương Đảng cho phép nhân rộng phương thức này trên cả nước. Biết rằng sẽ khó thuyết phục ông Truờng Chinh ủng hộ phương thức khoán, nên trước tiên ông Tạo nói chuyện với ông Lê Duẩn, một người có tiếng là thực tế. Ông Lê Duẩn đã tự mình đi kiểm tra tình hình và tỏ ra rất phấn khởi. Ngay sau đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã về thăm và bày tỏ sự cảm thông với những khó khăn mà người dân nơi đây đang phải đối mặt. Cuối cùng, khi lãnh đạo Hải Phòng trình bày vấn đề này với ông Truờng Chinh, khi đó là Chủ tịch nước, thì ông không tỏ thái độ gì. Lần này thì không ai bị kỷ luật và đến năm 1981 Ban Bí thư Trung ương đã chính thức cho phép áp dụng phương thức khoán trên cả nước.

    Sự linh hoạt cũng được áp dụng trong lĩnh vực công nghiệp, theo đó kế hoạch sản xuất dần được chia thành nhiều cấp độ khác nhau: kế hoạch cấp 1, 2 và 3. Ở kế hoạch cấp càng cao thì các doanh nghiệp nhận được sự tự chủ cao hơn trong việc ra quyết định sản xuất và bán sản phẩm của mình ra thị trường. Một số đột phá đã được diễn ra tại các tổ chức, địa phương và doanh nghiệp. Công việc kinh doanh không chính thức đã được hợp thức hóa, đặc biệt trong thương nghiệp.

    Trong khi đó, thành phố Hồ Chí Minh táo bạo quyết định “phá rào” bằng cách thu mua lúa gạo của nông dân với giá thị trường, mặc dù mức giá này cao gấp 5 lần mức giá do các nhà hoạch định ở Hà Nội đưa ra. Trong một bữa ăn sáng quan trọng do ông Võ Văn Kiệt, lúc đó là Bí thư Thành ủy, triệu tập năm 1979, một ngân hàng thành phố đồng ý cho vay vốn, còn Sở thương nghiệp và Tài chính hứa sẽ đứng ra lo thủ tục. Bà Ba Thi, giám đốc công ty lương thực, được đề nghị đứng đầu đơn vị đi thu mua gạo ở đồng bằng sông Cửu Long. Đơn vị này được biết đến với tên gọi là “tổ buôn lậu gạo”, một biệt danh mà nghe qua đã đủ thấy hoạt động của nó nguy hiểm thế nào. Bà Ba Thi đã bày tỏ với ông Võ Văn Kiệt mối lo ngại có thể bị bắt nếu bà phải ra Hà Nội. Ông Võ Văn Kiệt trả lời rằng ông sẽ lo đem cơm nuôi bà nếu bà bị đi tù. Cuối cùng, thành phố Hồ Chí Minh đã được cung cấp đủ gạo ăn. Bà Ba Thi không những không phải đi tù mà sau đó còn được trao tặng danh hiệu Anh hùng.

    Sau đó là những bước đi mạnh bạo hơn. Năm 1978, sau khi Việt Nam gia nhập Comecon, thành phố Hồ Chí Minh đã gặp nhiều vướng mắc trong hoạt động nhập khẩu. Để giải quyết những vướng mắc này, chính quyền thành phố đã nhờ các thương nhân người Hoa liên lạc với đối tác ở Singapore và Hồng Công để mua chịu một số hàng hóa như thuốc lá, sợi dệt, xăng dầu, và cho họ mua các mặt hàng nông thủy sản ở Việt Nam để xuất khẩu trả nợ. Để tránh sự kiểm soát của hải quan trung ương, hàng hóa đều được trao đổi tại “phao số 0”, không có giấy tờ giao dịch gì cả.

    Sau những bước mở đầu thành công, Ủy ban Nhân dân thành phố cho phép các quận, huyện lập ra các công ty có tên “imex” ở đầu hoặc đuôi để trực tiếp tiến hành các hoạt động ngoại thương. Chỉ một thời gian ngắn sau, các công ty này đã phát triển rất mạnh. Cholimex có 8 nhà máy, một trong số đó lắp ráp hàng điện tử. Các công ty khác có kho lạnh để bảo quản hàng xuất khẩu. Hoạt động của các công ty “imex” nhanh chóng lan sang các địa phương khác, trong đó có các tỉnh phía Bắc. Trước Đổi mới, xuất khẩu của các công ty “imex” này đã vượt xa tổng mức xuất khẩu của Trung ương sang các nước có nền kinh tế thị trường đến 10 lần.

    Để ban lãnh đạo Đảng thông cảm, sau đó là ủng hộ và cuối cùng là nhất trí với các thử nghiệm “phá rào” đòi hỏi các nhà lãnh đạo địa phương chủ trương thử nghiệm phải có một chiến lược khôn khéo. Chiến lược đó chịu ảnh hưởng không nhỏ của lý thuyết chiến tranh do chính ông Lê Duẩn soạn ra để chiến đấu chống lại quân đội Mỹ và quân đội đồng minh miền Nam. Chiến thuật chính là tránh đối đầu trực tiếp với kẻ thù, do lực lượng của đối phương mạnh hơn, mà thay vào đó là từ từ đập tan quyết tâm của đối phương. Theo chủ trương của ông, mục đích không phải là “đánh thắng Mỹ mà là đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ”. Điều này được thực hiện bằng cách chọn các mục tiêu riêng lẻ, đánh lui từng bộ phận, làm kẻ địch nhụt ý chí, và cuối cùng chiến thắng bằng cách tiêu hao sinh lực địch. Trong chiến tranh, phương pháp này rất được ca ngợi ở Việt Nam, chứng tỏ rằng tư duy chiến lược quan trọng hơn sức mạnh gấp nhiều lần.

    Trong số các nhà lãnh đạo địa phương đã lựa chọn phương pháp này để thúc đẩy cải cách kinh tế gồm có ông Võ Văn Kiệt, một người lãnh đạo cao cấp giàu uy tín và một số Bí thư tỉnh uỷ, cùng nhiều giám đốc các doanh nghiệp nhà nước. Dù cố gắng để thúc đẩy sự thay đổi diễn ra trên quy mô rộng hơn, họ vẫn không muốn làm khó cho lãnh đạo Đảng cấp cao. Họ tôn trọng ban lãnh đạo đất nước và không hề muốn lật đổ, mà chỉ muốn ban lãnh đạo thay đổi tư duy và cùng đi đến sự nhất trí mới. Tuy nhiên, họ biết rằng việc làm này không phải là dễ, và ban đầu những thử nghiệm “phá rào” của họ đã bị lãnh đạo cấp cao nghi ngờ. Ví dụ, khi bước xuống sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ trưởng Bộ Ngoại thương thời đó là ông Lê Khắc đã nhận xét rằng ông thấy không khí sặc mùi Nam Tư. Nhận xét đó mang tính răn đe nhiều hơn là lời khen.

    Thời đó, Bộ Chính trị có khoảng 10 uỷ viên, song trên thực tế quyền ra quyết định chỉ tập trung trong tay vài người. Nhóm này bao gồm Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng và Trưởng Ban Tổ chức Trung ương. Đưa vấn đề thử nghiệm “phá rào” ra thảo luận công khai trước cuộc họp có đông đủ các uỷ viên Bộ Chính trị thì cầm chắc là tự chuốc lấy thất bại, bởi ngay cả những người ủng hộ cải cách nhất cũng không dám đối đầu với cả tập thể về vấn đề huý kỵ như thế này. Thay vào đó, các nhà cải cách phá rào xác định từng cơ chế thích hợp cho từng thử nghiệm và hướng tới các thành viên chủ chốt nào của Bộ Chính trị muốn tìm hiểu vấn đề này. Họ tiếp cận riêng từng vị và trình bày trước hết về thử nghiệm đã được chọn lọc.

    Thậm chí, các vị lãnh đạo cũng không được nghe trình bày toàn bộ về các cuộc thử nghiệm, mà chỉ những mặt tốt, nêu bật những khó khăn đang được tháo gỡ, và cách thức để các thử nghiệm “phá rào” này giúp vượt qua khó khăn. Thường thì các nhà lãnh đạo địa phương phải làm cho mọi người cảm thấy họ giống như những người lính cứu hỏa cứu cháy khẩn cấp, chứ không tỏ ra là những nhà cải cách kiên định. Họ cũng cố gắng một cách có hệ thống nhằm tránh thảo luận những “nguyên tắc bất khả xâm phạm” mà Đại hội Đảng IV đề ra. Từng thành viên chủ chốt của Bộ Chính trị thay vào đó được nghe trình bày riêng về việc các xí nghiệp hoạt động tốt, đời sống được cải thiện, và người dân địa phương đồng lòng ủng hộ Đảng.

    Tránh đối đầu là một trong những nguyên tắc cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo nguyên tắc này, nhắc đến sự ủng hộ của người khác cũng là một phần của chiến lược; ví dụ nói với nhà lãnh đạo cấp cao này là một số nhà lãnh đạo chủ chốt khác cũng đã được nghe nói về một thử nghiệm khác tương tự và đã tỏ ra ủng hộ. Các nhà lãnh đạo địa phương thường xuyên xin phép về Hà Nội để có dịp trình bày những việc họ đã làm được và xin phép được thử nghiệm những sáng kiến mới, trên tinh thần của những thử nghiệm đã thành công.

    Khi đã nhận được sự ủng hộ của cả bốn thành viên chủ chốt của Bộ Chính trị rồi thì công cuộc cải cách kinh tế trên quy mô lớn đã sẵn sàng mà không xảy ra các hành động chống đối, thanh trừng hay đảo chính phí công vô ích. Theo những người trong cuộc thì những năm tháng cùng xây dựng sự đồng thuận đối với các cuộc thử nghiệm “phá rào” được gọi là “thời kỳ tươi đẹp”. Một loạt các sự kiện dẫn tới sự đồng thuận mới này được coi là con đường đi ngoạn mục ở từng khúc quanh, giống như con đường từ Phan Rang lên Đà Lạt.

    Cuối cùng, các nhà lãnh đạo địa phương đầy sáng tạo đó, những người lẽ ra bị thổi còi, lại được giao cho trách nhiệm cầm còi và tiếp tục phát huy các thử nghiệm “phá rào” của họ. Họ được mời ra Hà Nội, song không phải để ở tù, mà để gánh vác những trọng trách lớn hơn. Đây cũng là con đường mà ông Võ Văn Kiệt đã đi lên để trở thành trước tiên là Phó Thủ tướng, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, và sau đó là Thủ tướng. Ông Bùi Quang Tạo, Bí thư thành ủy Hải Phòng, người nhân rộng phong trào khoán, được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm

    Ủy ban Kiểm tra trung ương. Ông Đoàn Duy Thành, Chủ tịch UBND TP Hải Phòng được bổ nhiệm Bộ trưởng Thương mại và sau đó là Phó Thủ tướng. Còn ông Nguyễn Văn Chính, Bí thư tỉnh ủy Long An, người áp dụng chính sách khoán theo giá thị trường được bổ nhiệm Bộ trưởng Lương thực, sau đó là Phó Thủ tướng. Đến lúc ấy, các khó khăn kinh tế và thất bại nặng nề của mô hình kế hoạch hóa tập trung đã khiến các nguyên tắc mà Đại hội Đảng IV đề ra không còn là bất khả xâm phạm nữa. Cuối cùng cũng đã đến lúc phải thay đổi.

    Hai thập kỷ cải cách toàn diện

    Chủ trương Đổi mới và công cuộc cải cách kinh tế trên qui mô lớn đã được thông qua trong Đại hội Đảng VI diễn ra năm 1986, chỉ vài tháng sau khi ông Lê Duẩn qua đời sau một thời gian dài bị bệnh nặng. Đến lúc ấy, tư duy chung đã thay đổi, và do đó có thể đạt được sự đồng thuận về sự cấp thiết phải đổi mới. Trong sự đồng thuận này có cả sự nhất trí về việc Đảng cần đánh giá trên tinh thần tự phê những việc đã làm được trong phát triển kinh tế, chịu trách nhiệm về những thất bại, và đề ra biện pháp sửa chữa. Quyết định này là một sự đột phá có ý nghĩa lịch sử. Nó đánh dấu một bước ngoặt từ suy thoái sang hồi phục. Trên hết, nó đánh dấu sự khởi đầu của những thay đổi trong cơ chế quản lý kinh tế chủ chốt—chuyển từ kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường.

    Đại hội Đảng VI phản ánh thành công to lớn của quá trình xây dựng sự đồng thuận. Các cuộc thảo luận không phải lúc nào cũng êm xuôi, và những người tham gia được nhắc nhở thường xuyên về tinh thần đoàn kết trong việc khắc phục những sự bất đồng. Những người chủ trương cấp tiến phải đồng ý chờ đợi, còn những người bảo thủ được thuyết phục tăng tốc cho nhanh hơn. Kết quả là lựa chọn tốc độ chuyển đổi trung bình, kìm bớt những người muốn tiến nhanh và thúc đẩy những người thích đi chậm. Như vậy, cần xem Đổi mới như một quá trình mà động lực thay đổi được xây dựng từ từ theo thời gian và theo kinh nghiệm thu được.

    Một minh hoạ rõ nét về sự căng thẳng lúc ấy được thể hiện trong sự khác biệt về quan điểm đối với các mối quan hệ quốc tế. Một nhóm thì chủ trương cải thiện quan hệ với tất cả các nước, kể cả những kẻ thù cũ. Nhóm khác lại muốn thận trọng hơn, chỉ liên kết với khối xã hội chủ nghĩa, vì lo sợ sẽ làm suy yếu vị thế của Việt Nam và từ đó sẽ sụp đổ. Sự nhất trí đạt được ở đây là làm bạn với tất cả các nước, song không đổi màu. Mục đích được nêu ra là hội nhập quốc tế song không để mất lập trường tư tưởng. Các khẩu hiệu do Đảng đưa ra nhằm nhắc nhở các đảng viên luôn ghi nhớ quyết tâm của Việt Nam là đi theo con đường xã hội chủ nghĩa và cảnh giác với những luận điệu ru ngủ hay làm chệch hướng.

    Cả những người chủ trương tiến nhanh lẫn những người ủng hộ đi chậm đều nhất trí làm theo các nghị quyết của Đảng. Việc phải vận động trong những ranh giới đã được xác lập rõ ràng vừa có những thuận lợi, vừa có nhiều bất cập. Tuy vậy khi nhìn lại và so sánh các nghị quyết được đưa ra theo thời gian, tính cho đến đại hội Đảng X, có thể thấy rõ ràng rằng phương thức này đã cho phép duy trì công cuộc cải cách kinh tế.

    Đại hội Đảng VI còn thể hiện sự chuyển đổi trong cơ chế lãnh đạo, từ cá nhân sang tập thể. Cơ chế lãnh đạo dựa vào cá nhân không phải là hiếm gặp ở các quốc gia Đông Á, dù có phải là nước xã hội chủ nghĩa hay không. Ông Lý Quang Diệu ở Singapore và ông Pắc Chung Hi ở Hàn Quốc là những ví dụ tiêu biểu. Ở Việt Nam, cơ chế lãnh đạo dựa vào cá nhân đã đóng vai trò rất quan trọng trong thời kỳ chiến tranh. Đặc biệt, ông Hồ Chí Minh là người có uy tín rất lớn đối với nhân dân. Tiếp sau đó, từ cuối những năm 1960 cho đến khi lâm trọng bệnh, ông Lê Duẩn cũng đã là nhân vật thống lĩnh trên chính trường Việt Nam. Uy tín của ông có được là nhờ những đóng góp to lớn vào chiến thắng chống Mỹ và giải phóng miền Nam. Tuy nhiên, ví dụ về mô hình xây dựng huyện thành pháo đài cũng cho thấy cơ chế lãnh đạo dựa vào cá nhân có thể dẫn đến những lựa chọn kinh tế sai lầm như thế nào.

    Cơ chế ra quyết định tập trung sau đó đã được thay thế bằng một ban lãnh đạo đất nước vững vàng, song không đề cao vai trò lãnh đạo cá nhân, và có xu hướng cân bằng tỷ lệ giữa các vùng (Bắc, Trung và Nam) trong phân công các vị trí lãnh đạo cấp cao. Không được phép tập trung nhiều chức vụ vào tay một người. Các quy định về nghỉ hưu được thực hiện nghiêm túc, ngay cả khi điều đó có thể dẫn đến việc mất đi những người có trình độ cao. Việc cất nhắc cán bộ Đảng thường thông qua hình thức thử năng lực điều hành và thực hiện ở một địa phương không phải là quê hương của cá nhân đó. Các quyết định không được đưa ra mà không có sự tham vấn và thảo luận trước, đầu tiên là trong nội bộ Đảng, rồi sau đó ngày càng mở rộng ra bên ngoài.

    Từ đó, rất khó có thể tách riêng một cá nhân ra quyết sách. Thay cho cá nhân, ở đó có cả một tập thể, người này chờ người kia. Tập thể là người ra quyết định thay cho việc một nhà lãnh đạo tối cao vạch ra đường lối. Điều này khiến cho việc bàn thảo kỹ càng các vấn đề càng trở nên quan trọng hơn. Do đó, tập thể là nơi có thể huy động mọi nguồn lực tri thức cả từ bên trong lẫn bên ngoài Đảng. Và nỗ lực trước sau như một nhằm tránh phân chia bè phái trong nội bộ Đảng, chờ đợi ý kiến của nhau và đặt đoàn kết nội bộ lên trên chia rẽ.

    Một ví dụ minh hoạ cho phương pháp mới này là quá trình gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Bộ Chính trị giao quyền ra quyết định có trở thành thành viên ASEAN hay không cho Thường vụ Bộ Chính trị. Tuy nhiên, quan điểm về vấn đề này trong nội bộ các thành viên cũng rất khác nhau. Cuộc tranh luận trở nên bất phân thắng bại và cuối cùng phải biểu quyết để tháo gỡ vấn đề. Ba uỷ viên ủng hộ việc gia nhập ASEAN, trong khi một người cương quyết phản đối. Dù vậy, một khi đã biểu quyết thì Đảng thực hiện theo nguyên tắc và quyết định lựa chọn theo đa số. Bằng cách này, quá trình Đổi mới đã được đảm bảo tiếp tục thực hiện.

    Bước tiến đầu tiên, quan trọng trong quá trình này là thay đổi cơ chế định giá gạo. Những bước đi ban đầu theo hướng này đã diễn ra trong bối cảnh của những cuộc thử nghiệm “phá rào”, bắt đầu từ năm 1979. Tuy nhiên, các cuộc thử nghiệm đó diễn ra rải rác ở các vùng. Ở hầu khắp các địa phương trong cả nước, cơ chế bao cấp vẫn được duy trì, dẫn đến việc nguồn cung cấp lương thực bị thiếu hụt và phân phối không hiệu quả.

    Câu chuyện về bước đi ban đầu này cho thấy cách thức mà tập thể đưa ra các quyết định. Có ý kiến cho rằng một chỉ thị của Thủ tướng với mục đích giải phóng thị trường sẽ tạo ra cơ chế tự điều tiết, giống như một cây đũa thần. Thoạt tiên, đề xuất này đã bị chống đối vì người ta lo ngại rằng phát triển dựa trên cơ chế thị trường sẽ đưa đến việc từ bỏ chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng thị trường có trước chủ nghĩa tư bản, vì thế nó không thể bị coi là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản, mà là một sáng tạo tài tình của nhân loại. Cái cách kết hợp mục tiêu thực tiễn với các nguyên tắc sâu rộng hơn ấy khác xa điều mà một nhà cố vấn phương tây có thể nói về cơ chế thị trường. Song trong bối cảnh chính trị của Việt Nam thì đề xuất đó lại chấp nhận được, và chỉ thị đã được Thủ tướng ký ban hành.

    Kết quả đạt được giàu sức thuyết phục đến nỗi chỉ ít lâu sau đó một số thị trường lương thực khác cũng được mở cửa. Ngay cả ở những vùng hay xảy ra thiên tai, tình trạng thiếu hụt lương thực cũng đã giảm dần. Việc xoá bỏ phân phối lương thực là thành công hiện hữu đầu tiên của công cuộc cải cách kinh tế ở Việt Nam. Nó củng cố sự ủng hộ đối với việc từ bỏ cơ chế bao cấp, để hàng hoá và dịch vụ được tự do lưu thông.

    Việc thực hiện các mục tiêu xã hội chủ nghĩa, như đảm bảo quyền bình đẳng, có thể thông qua việc sử dụng các công cụ chính sách khác. Về mặt này, việc sửa đổi chính sách ruộng đất đóng vai trò quan trọng. Trong khoảng thời gian từ 1986 đến 1993, một diện tích lớn đất nông nghiệp đã được chia cho các hộ nông thôn tính theo bình quân đầu người.

    Việc giảm mức độ can thiệp hành chính vào các thị trường lương thực và giao quyền tự quyết hoạt động sản xuất cho nông dân đã dẫn đến kết quả là sản lượng lương thực tăng đột biến. Điều này cũng giúp tăng cao thu nhập cho các hộ gia đình ở nông thôn. Lúc này, chỉ có hơn 1/5 dân số Việt Nam sống ở khu vực thành thị. Trong khi đời sống vẫn tiếp tục ở mức nghèo vào thời điểm đó, song người dân thành phố đã bắt đầu giàu lên. Thứ tự của các hoạt động cải cách đã thúc đẩy được sự tăng trưởng kinh tế ở nông thôn, nơi tình trạng nghèo phổ biến hơn và sâu sắc hơn. Đây là một trong những lý do tại sao tình trạng bất bình đẳng chỉ tăng nhẹ trong suốt quá trình Đổi Mới, trong khi tỷ lệ nghèo giảm nhanh.

    Nếu nói một cách đơn giản thì có thể nêu ba cấu phần chính của quá trình cải cách kinh tế. Trọng tâm của cấu phần thứ nhất, bao gồm giải phóng giá gạo và các loại sản phẩm thiết yếu khác, là nhằm áp dụng các biện pháp khuyến khích mạnh hơn đối với nhà cung cấp hàng hoá và dịch vụ, không phân biệt nhà nước hay tư nhân. Vai trò độc quyền của các công ty thương mại quốc doanh bị xóa bỏ và các rào cản thương mại quốc tế dần dần được tháo gỡ. Sự tham gia của khu vực tư nhân vào nhiều ngành, nhiều lĩnh vực ngày càng tăng và cơ chế hỗ trợ Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được thông qua. Các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) dần dần thoát khỏi sự can thiệp về quản lý hành chính và hoạt động cho vay chính sách được tách ra khỏi chức năng của các ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN). Chi phí đăng ký doanh nghiệp giảm đi đáng kể, trong khi quá trình cổ phần hóa dẫn đến việc giảm dần tài sản của nhà nước trong các doanh nghiệp công. Quá trình này ngày càng tác động nhiều hơn đến các DNNN lớn và do vậy thu hút các nhà đầu tư chiến lược.

    Nhóm thứ hai gồm các biện pháp nhằm nâng cấp các cơ chế giúp Chính phủ ra các quyết định phân bổ ngân sách và nguồn lực. Tăng cường quản lý tài chính công và nâng cao tính minh bạch trong quản lý tài chính công là những biện pháp chính của nỗ lực này. Trách nhiệm quản lý ngân sách cũng đã được chuyển giao cho Quốc hội và Hội đồng Nhân dân, trong đó quyết định về gần một nửa số chi tiêu công nay đã được chuyển giao cho các cấp chính quyền địa phương. Hiện nay, chức năng thực thi quyền sở hữu nhà nước ở các DNNN và NHTMNN đã được chuyển từ các cơ quan chịu trách nhiệm hoạch định và thực hiện chính sách sang một quỹ đầu tư vốn độc lập. Việc quản lý các hoạt động đầu tư công cũng đang được điều chỉnh lại. Nhiệm vụ thiết lập danh mục ưu tiên mà Bộ Kế hoạch và Đầu tư (BKHĐT) vẫn thực hiện trước đây nay được thay thế bằng một cơ chế quản lý minh bạch hơn các chu trình dự án, từ phân bổ ngân sách tới các đơn vị thực hiện.

    Trong khi Việt Nam đang tiến dần tới vị thế của một quốc gia có thu nhập trung bình, một bộ sáng kiến phức hợp thứ ba hiện đang được hình thành. Chương trình cải cách chính sách đang chuyển từ các cuộc cải cách cơ cấu, cần thiết cho việc chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, sang các cuộc cải cách thể chế, cần thiết để duy trì tốc độ tăng trưởng theo thời gian và cho phép Việt Nam dần dần trở thành một quốc gia công nghiệp.

    Dựa trên Hiệp định Thương mại song phương Việt‐Mỹ (HĐTMV‐M) có tính chất bước ngoặt, việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thúc đẩy việc hoàn thiện về cơ bản luật pháp và các tiêu chuẩn, đồng thời thúc đẩy sự cạnh tranh trong cung cấp dịch vụ. Một lộ trình cải cách ngành ngân hàng nhiều tham vọng bao gồm việc thiết lập một ngân hàng trung ương hiện đại chịu trách nhiệm về chính sách tiền tệ và cải thiện việc giám sát toàn bộ khu vực tài chính và cổ phần hóa các NHTMNN. Biến động về kinh tế vĩ mô gần đây cho thấy cần đạt được nhiều tiến bộ hơn nữa trên mặt trận này. Trong các lĩnh vực hạ tầng cơ sở, một lĩnh vực có tính lan tỏa cao, nỗ lực chính là xây dựng thị trường và khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân. Khu vực y tế bắt đầu dịch chuyển từ cấp kinh phí theo cung sang theo nhu cầu, với tham vọng thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân. Việc chuyển đổi tương tự cũng diễn ra đối với chế độ hưu trí, từ chương trình dành cho cán bộ công nhân viên nhà nước sang một mô hình bảo hiểm dễ tiếp cận đối với ngày càng nhiều người.

    Một số thách thức lớn nhất đối với nhóm những sáng kiến đổi mới phức hợp này thuộc về lĩnh vực quản trị nhà nước. Tiến bộ đã được ghi nhận trong việc đơn giản hóa các quy trình hành chính và giảm bớt tệ quan liêu. Tuy vậy, điều đáng lo là cải cách hành chính công đã không đạt được tiến bộ ổn định như mong đợi. Chính phủ rất quyết tâm đấu tranh chống tham nhũng, thông qua việc củng cố các hệ thống công quyền, tạo điều kiện cho người dân khiếu nại và tố cáo, giám sát tài sản của cán bộ nhà nước và người thân của họ. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng trong một nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng, có rất nhiều cơ hội thuận lợi cho việc đút lót, hối lộ, và do đó tham nhũng khó có thể bị bứng tận gốc rễ. Ngay cả mối quan ngại ngày càng cao về bảo vệ môi trường cũng liên quan nhiều đến quản trị nhà nước, bởi khả năng quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiêu hiệu quả và lập kế hoạch phát triển vùng là hết sức cần thiết để phát triển bền vững.

    Khi được xem xét tổng thể, cả ba nhóm cải cách chính sách chủ chốt này đều hướng tới cải cách kinh tế toàn diện, rộng khắp mọi lĩnh vực chính sách, song được thực hiện tùy theo thực tiễn. Tính chất toàn diện của các cải cách đã được thực hiện khác biệt với tư tưởng được chấp nhận rộng rãi hiện nay là các nỗ lực phát triển phải tập trung vào chỉ một hoặc một vài “ràng buộc mang tính quyết định”. Ở Việt Nam thì trái lại, có vẻ như không hòn đá nào lại không bị lật lên. Mặt trái của những sáng kiến cải cách đa dạng này thường là tiến bộ không đồng đều giữa các lĩnh vực và các ngành.

    Sự lý giải không rõ ràng về động lực của cải cách

    Để đảm bảo Việt Nam tiếp tục thành công trong phát triển kinh tế và giảm nghèo, cần hiểu rõ hơn về các động lực đứng đằng sau quá trình Đổi mới và việc thay đổi các cơ chế ra quyết định tập thể diễn ra xung quanh Đại hội Đảng VI. Việc xác định các động lực của thay đổi cũng có thể giúp chỉ ra những trở ngại mới, có thể xuất hiện trong hai thập kỷ diễn ra cải cách toàn diện này. Tuy nhiên, có thể có ích nếu trước hết xem xét một số quan điểm thông thường mà thoạt nhìn có vẻ như hợp lý, song trên thực tế lại không giúp ích gì nhiều.

    Một trong số những quan điểm thường gặp này xem quá trình cải cách như là kết quả của cuộc đấu tranh giữa “phe ủng hộ cải cách” và “phe chủ trương bảo thủ”. Theo quan điểm này, các nhà ra quyết sách chủ chốt đứng ở bên này hay bên kia của một đường ranh giới vô hình, đồng thời hoàn cảnh, ví dụ khó khăn về kinh tế hay sự qua đời của một nhà lãnh đạo, từ từ làm cán cân quyền lực nghiêng về phía phe cải cách. Và không nghi ngờ gì là hoàn cảnh có thuận lợi lúc bắt đầu cải cách. Tuy nhiên, xem xét kỹ hơn thì thấy quan điểm này có vấn đề ở một vài điểm. Trước hết, hoàn cảnh liên tục thay đổi, song tốc độ của cải cách có vẻ không bị ảnh hưởng. Ngoài ra, khó khăn tương đối do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng Đông Á được gắn với sự giảm tốc của cải cách chứ không phải tăng tốc.

    Hơn thế nữa, người ngoài cuộc rất khó nói ai đứng ở bên phía nào của đường ranh giới vô hình đó. Ví dụ, ông Võ Văn Kiệt có thời đã bị các nhà quan sát phương Tây cho là một “người cộng sản sắt đá”. Trên thực tế, việc xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo đã góp phần giúp ông có được sự tín nhiệm của các đồng chí, và sau đó trở thành Ủy viên Bộ Chính trị tại Đại hội IV. Với niềm tin cao độ vào chủ nghĩa cộng sản và đội ngũ lãnh đạo Đảng, ông đã kiên quyết ủng hộ việc áp dụng mô hình kinh tế của miền Bắc trên toàn quốc. Tuy nhiên, từ kinh nghiệm thực tiễn tại TP Hồ Chí Minh, ông đã nhận ra những vấn đề nảy sinh đối với mô hình này và trở thành một trong những người đi đầu ủng hộ thử nghiệm “phá rào” trong thời kỳ trước Đại hội VI.

    Ngay cả ông Lê Duẩn, người bề ngoài thể hiện rõ ràng là rất cứng rắn, song thực tế lại là người phức tạp và khéo léo hơn ta tưởng. Khi còn phụ trách vùng lãnh thổ phía Nam mới được giải phóng, thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ông đã không ủng hộ cải cách ruộng đất theo kiểu Trung Quốc. Ông không muốn đấu tố các chủ đất, mà thay vào đó cố gắng thuyết phục họ tình nguyện và tạm thời giao quyền sử dụng tài sản của họ. Chỉ có những địa chủ nào hợp tác với chế độ thực dân Pháp trước đây thì mới bị tịch thu tài sản. Sau này, khi đất nước đã thống nhất, cá nhân ông Lê Duẩn dẫn đầu nhóm ủng hộ việc giữ lại mô hình kinh tế của miền Nam để thử nghiệm cơ chế thị trường, ít nhất là trong một thời gian ngắn.

    Còn về sáng kiến “mỗi huyện là một pháo đài”, một quyết định có thể nói là sai lầm từ góc độ kinh tế, thì đó có lẽ là một cố gắng nhằm né tránh các khẩu hiệu về chuyên chính vô sản và đấu tranh giai cấp. Theo các nguyên tắc của chủ nghĩa Mác‐xít thì mỗi Đại hội Đảng phải xác định được “mâu thuẫn cơ bản” cần giải quyết. Khi đất nước thống nhất, nhiều người trong Đảng xem sự căng thẳng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội như là mâu thuẫn căn bản. Nếu như vậy thì chiến thắng cần đạt được là đánh đuổi những kẻ theo chủ nghĩa tư bản. Ông Lê Duẩn đã chuyển sang xác định được một mâu thuẫn khác, mâu thuẫn giữa sản xuất nông nghiệp lạc hậu, nhỏ lẻ với sản xuất lớn theo công nghiệp. Theo cách tiếp cận này thì không có kẻ thù rõ ràng nào cần đánh bại. Xét từ lăng kính này, thì sáng kiến “mỗi huyện là một pháo đài” cũng không phải là một lựa chọn quá tệ như các hậu quả kinh tế sau đó cho thấy. Ông Lê Duẩn không nói thẳng, hay ít nhất là không công khai, lý do lựa chọn của mình. Song những trợ lý gần gũi của ông biết động cơ chính trị mà ông chọn. Nếu không phải là ông thì thời kỳ sau giải phóng chắc có thể đã khắc nghiệt hơn nhiều.

    Ngoài các ví dụ cụ thể của ông Võ Văn Kiệt và ông Lê Duẩn, điều ghi nhận được từ “thời kỳ tươi đẹp” không phải là câu chuyện về việc các nhà cải cách đánh bại những người bảo thủ, mà chính là tư tưởng cải cách đang dần dần chiếm ưu thế. Những người bảo thủ trước đây không bị thay thế, mà bị thuyết phục. Một ví dụ đáng chú ý là trường hợp ông Trường Chinh, người thay thế ông Lê Duẩn ở cương vị Tổng bí thư. Có thể nói rằng ông Trường Chinh ban đầu là người theo phái bảo thủ, rất cứng rắn trong việc tuân thủ các nguyên tắc “bất di bất dịch” của chủ nghĩa Mác‐Lê Nin. Tuy nhiên, trong thời gian diễn ra các cuộc thử nghiệm phá rào, ông và ông Phạm Văn Đồng đã được mời đi thăm quan thực tế và mắt thấy tai nghe. Từ việc kiểm tra thực tế này, không gặp bất kỳ sự chống đối nào, họ đã thay đổi quan điểm và dần dần chuyển sang ủng hộ Đổi Mới. Cũng có thể lý luận rằng thái độ sẵn sàng chuyển hướng sang tư duy mới là đặc điểm của các chính khách Việt Nam. Không chỉ ông Lê Duẩn và ông Võ Văn Kiệt, mà còn nhiều người khác cũng có lúc này theo phái bảo thủ song lúc khác lại theo phe cải cách. Thực tế, lại có một số người chuyển từ thái độ ủng hộ cải cách ban đầu sang trở nên bảo thủ hơn theo thời gian. Bỏ qua sự đan xen tích cực của các tư tưởng và chỉ phân loại những người đóng vai trò chính trong các phe phái đối lập tức là đã làm đơn giản hóa tình hình và do đó không thể hiểu được làm cách nào mà cải cách kinh tế có thể thực hiện được ở Việt Nam.

    Một cách đánh giá khác của quan điểm về “phe cải cách và phe bảo thủ” gắn mác “bảo thủ” cho thế hệ đi trước, được đào tạo ở các nước thuộc khối Xô viết cũ, và mác “cải cách” cho thế hệ trẻ hơn, được tiếp cận nhiều hơn với tư tưởng phương Tây. Đây lại là một cách đơn giản hóa không rõ ràng các cơ chế hiện hành. Các bước đi chính trong quá trình cải cách được thực hiện bởi những người không hề được đào tạo ở phương Tây và ít tiếp xúc trực tiếp với thế giới này. Điều này được thể hiện rõ qua những bài trình bày và tranh luận nghèo nàn, vốn tiếng Anh ít ỏi, do đó làm thất vọng những chuyên gia từ các nước phương tây, vốn quen với các bài trình bày được soạn trên máy tính với phần mềm PowerPoint, sử dụng những câu chữ hấp dẫn và từ ngữ bóng bẩy.

    Có lẽ, sự phủ nhận rõ ràng nhất đối với quan điểm đơn giản hóa này là ví dụ về ông Võ Văn Kiệt, được công nhận là người ủng hộ mạnh mẽ cho công cuộc cải cách ở Việt Nam. Ông Võ Văn Kiệt không chỉ không được đào tạo chính quy ở phương Tây, ông cũng không còn trẻ, ngay cả so với những tiêu chuẩn đánh giá dễ dãi của Đông Á. Những trường hợp tương tự có thể bắt gặp ở các cấp lãnh đạo thấp hơn.

    Một cách lý giải khác về công cuộc cải cách kinh tế ở Việt Nam coi đó là chiến thắng của miền Nam trước miền Bắc. Về một mặt nào đó, miền Bắc chiến thắng trong chiến tranh, song miền Nam đã giành lại đất nước trong thời hòa bình. Cách lý giải này khá hấp dẫn, nếu xét đến những sự khác biệt rõ rệt giữa người miền Nam và người miền Bắc. Người miền Nam thường thực tế hơn, ít kiên nhẫn hơn và tự do hơn. Người miền Bắc cứng rắn hơn, chịu khó hơn, tằn tiện hơn và có kỷ luật hơn. Cách lý giải này còn được củng cố bởi câu chuyện về các cuộc thử nghiệm “phá rào”, diễn ra chủ yếu ở miền Nam. Hơn thế nữa, số liệu thống kê về xuất khẩu theo đầu người, FDI theo đầu người, hay đầu tư tư nhân theo đầu người, của các tỉnh năng động nhất thuộc mỗi miền đều cho thấy các kết quả này ở miền Nam hơn hẳn miền Bắc.

    Tuy nhiên, nhìn từ lăng kính của cải cách, điểm khác biệt chính giữa hai miền Nam và Bắc là xuất phát điểm phát triển. Miền Bắc thực thi mô hình kinh tế kế hoạch tập trung suốt hai thập kỷ và bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Thống nhất đất nước không mang lại thay đổi cơ bản nào về mức sống; có lẽ, hòa bình đã cải thiện đời sống cho nhân dân. Trái lại, miền Nam đã quen với cơ chế thị trường, có cơ sở hạ tầng tốt hơn và một nền nông nghiệp được đầu tư nhiều hơn. Việc chuyển đổi sang mô hình kế hoạch hoá tập trung, kể cả dưới hình thức “mỗi huyện là một pháo đài”, là một cuộc chuyển đổi đầy khó khăn, và rõ ràng là không theo chiều hướng tốt đẹp hơn. Không có gì đáng ngạc nhiên là hầu hết các thử nghiệm “phá rào” đã diễn ra ở đây, dựa trên kinh nghiệm còn nóng hổi của người dân về cơ chế thị trường và năng lực kinh doanh còn nguyên vẹn.

    Các thử nghiệm “phá rào” đã chứng minh một cách rõ ràng lợi ích của việc từ bỏ mô hình bao cấp và tư tưởng mới đã thắng thế, nên không chỉ có người dân miền Nam ủng hộ cải cách kinh tế. Một số lượng lớn cán bộ lãnh đạo Đảng và Chính phủ xuất thân từ hai tỉnh miền Bắc là Nghệ An và Hà tĩnh. Mặt khác, ông Lê Duẩn, người được xem là theo đường lối cứng rắn tuyệt đối, xuất thân từ miền Trung, và xét về nhiều mặt thì có thể được coi như người miền Nam.

    Nhìn chung, miền Nam vẫn thành công hơn về mặt kinh tế, và điều này không đáng ngạc nhiên bởi miền Nam có xuất phát điểm cao hơn. Tuy nhiên, khoảng cách giữa hai miền hiện đang được thu hẹp. Tỉnh phát triển nhanh nhất Việt Nam kể từ đầu những năm 1990 là Quảng Ninh. “Tam giác” Hà Nội, Hải Phòng và Hạ Long đã bắt đầu có sự năng động giống một tỉnh ven biển của Trung Quốc. Nghiên cứu kỹ hơn kết quả phát triển của các địa phương cho thấy những câu chuyện về thành công có cả ở miền Nam và miền Bắc, chủ yếu ở những nơi mà ban lãnh đạo quyết tâm cải tổ. Với thực tiễn cử cán bộ có năng lực đến thử sức tại các địa phương không phải là nơi xuất thân của họ, nên lãnh đạo các địa phương không hoàn toàn là người địa phương.

    Cuối cùng, một quan điểm thường gặp nữa về cải cách kinh tế ở Việt Nam cho rằng đây là cuộc đấu tranh giữa phong trào ở cơ sở và ban lãnh đạo Trung ương Đảng. Theo một nhánh của quan điểm này thì cải cách diễn ra thành công vì Việt Nam đã từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, còn nhánh khác lại cho rằng cuối cùng sẽ thất bại vì chủ nghĩa cộng sản vẫn tồn tại. Ngoài những ý kiến bất đồng về kết quả của cuộc đấu tranh giả định này, theo quan điểm này thì ban lãnh đạo đã không nhận biết đúng các dấu hiệu mới xuất hiện mà tất cả mọi người khác đều thấy rõ, do không hiểu biết về thực tiễn kinh tế như đã từng biết nắm bắt các cơ hội thời chiến tranh. Quá trình cải cách, do đó, đi ngược từ dưới lên chứ không phải từ trên xuống. Quan điểm này có một ý cho rằng Chính phủ không có công lao đáng kể trong việc cải thiện điều kiện sống, mà thậm chí còn có những lúc gây trở ngại không cần thiết.

    Cách lý giải này đúng ở chỗ đã nêu bật tầm quan trọng của sự phát triển ở điạ phương nhằm tạo ra thay đổi, như trường hợp của các thử nghiệm “phá rào”. Tuy nhiên, nó bỏ qua vai trò của cấu trúc và hình thức tổ chức hoạt động của Đảng trong việc chuyển đổi sự phát triển của địa phương thành những cuộc cải cách có quy mô rộng hơn.

    Các nhà lãnh đạo địa phương đã tạo ra động lực này thực tế giữ những cương vị cao trong Đảng, và đây là một trong những lý do khiến họ có khả năng “được miễn trừ”. Nhiều người trong số họ là Bí thư Tỉnh uỷ, như ông Võ Văn Kiệt ở thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Văn Hơn ở An Giang, ông Nguyễn Văn Chính ở Long An hay ông Bùi Quang Tạo ở Hải Phòng. Nhiều người trong số họ, ví dụ như ông Võ Văn Kiệt, đã tỏ rõ sự gan dạ phi thường trong chiến tranh. Ông Đoàn Duy Thành nổi tiếng ở nhà tù Côn Đảo. Ông Nguyễn Văn Chính đã chỉ huy những cuộc chiến đấu ác liệt nhất ở đồng bằng sông Cửu Long. Ông Nguyễn Văn Hơn là nhà hoạt động kiên cường trong vùng bị địch chiếm. Ông Nguyễn Văn Phi, giám đốc Sở Ngoại thương thành phố Hồ Chí Minh, quản lý các công ty “imex”, đã từng hoạt động ngầm tại Sài Gòn. Và ông Nguyễn Nhật Hồng, giám đốc Vietcombank thành phố Hồ Chí Minh, đã từng thực hiện các hoạt động giao dịch tài chính quốc tế mật trong chiến tranh.

    Những người này đều đã tham gia chiến đấu trong chiến tranh, được thử thách về chính trị và được Bộ Chính trị tin tưởng. Các nhà lãnh đạo địa phương này đã không làm trái lệnh mà chọn cách chuyển lên các cấp lãnh đạo cao hơn những giải pháp mà họ tìm ra nhờ sự sáng tạo của bản thân và đóng góp của người dân địa phương. Cũng nhờ vậy mà họ đã thu hút được sự chú ý của ban lãnh đạo Đảng.

    Phải thừa nhận rằng, các thử nghiệm “phá rào” mở đường cho công cuộc cải cách toàn diện sau này đã được tiến hành bên lề hệ thống, trên làn ranh giới của sự hợp pháp. Tuy nhiên, những người tiến hành các cuộc thử nghiệm này đều giữ vững lòng tin vào Đảng, và đây là lý do vì sao họ nêu lên các vấn đề mà họ quan ngại với thái độ tôn trọng.

    Lãnh đạo Đảng đã phản hồi ngay và xem xét các mối quan ngại đó. Một điều rõ ràng là không phải ai cố gắng đưa ra các thay đổi cũng thành công. Nhưng những khó khăn về kinh tế nảy sinh từ cơ chế cũ đã làm giảm sự phản đối đối với những người thử nghiệm “phá rào”. Do đó, hàng rào mới chỉ bị chọc thủng ở cấp cơ sở, song cuối cùng lại được dẹp bỏ ở cấp trung ương. Năm 1979, trên tinh thần hoàn toàn ủng hộ phong trào “phá rào”, Hội nghị Trung ương VI đã coi hành động phá giá quy định là “cởi trói sản xuất”. Năm 1980, chính quyền địa phương đã được phép xuất nhập khẩu trực tiếp, nhờ đó hợp thức hóa được các công ty “imex”. Năm 1981, Ban Bí thư đã cho phép thực hiện khoán sản phẩm trong nông nghiệp. Và cũng trong năm 1981, hệ thống ba loại kế hoạch cho doanh nghiệp cũng đã được hợp thức hóa, cùng với việc thúc đẩy mối quan hệ giữa doanh nghiệp—doanh nghiệp và doanh nghiệp—thị trường.

    Đổi mới đã đẩy mạnh và nhân rộng xu thế này. Tuy nhiên, Đổi Mới mới chỉ diễn ra trong khuôn khổ các nghị quyết của Đảng chứ không vượt ra ngoài. Ở những lĩnh vực nhạy cảm, việc chuyển từ thử nghiệm mang tính địa phương sang chính sách quốc gia đòi hỏi phải được Bộ Chính trị cho phép. Như vậy, động lực cho công cuộc cải cách đã được quyết định thống nhất trong nội bộ Đảng, chứ không chống lại Đảng.

    Một điểm chung giữa các quan điểm thường gặp về cải cách kinh tế đó là mô tả bối cảnh chính trị theo hướng đối đầu. Trong mọi trường hợp, giả thiết ngầm cho là tồn tại một trạng thái cân bằng phi hợp tác, trong đó có sự căng thẳng giữa hai phe đối lập. Việc xác định thành viên của mỗi phe có thể khác nhau tuỳ theo quan điểm cụ thể, từ cải cách đối lập với bảo thủ, trẻ đối lập với già, Nam đối lập với Bắc, đến địa phương đối lập với trung ương. Những người theo những quan điểm này có vẻ có thiện cảm với một trong hai phe. Nói một cách đơn giản hơn, họ ủng hộ nhóm gồm các nhà cải cách trẻ ở cơ sở từ miền Nam, ngay cả khi ranh giới hay thành phần của nhóm đó khó có thể xác định được.

    Sự trùng hợp trong các cách lý giải một quá trình chính trị do gắn nó với một nhóm những người trong cuộc cho thấy rằng những quan điểm thường gặp về công cuộc cải cách ở Việt Nam hoàn toàn không mang tính khoa học. Dễ nhận thấy trong các quan điểm này mối ác cảm sâu sắc đối với chủ nghĩa cộng sản, với chế độ miền Bắc, hay với ảnh hưởng của khối Xô viết cũ, hoặc là một vài sự kết hợp của những tâm lý này. Dù mối ác cảm như vậy có thể biện minh hay không, nó cũng dẫn đến giải thích sai về các sự kiện và khiến cho cách giải thích đó bị giảm giá trị. Về mặt nào đó, dường như những người giữ những quan điểm như vậy về cải cách kinh tế ở Việt Nam vẫn còn đang tiếp tục cuộc chiến tranh Việt Nam, và không giống như những người đã tiến hành thử nghiệm “phá rào” và thực hiện Đổi Mới.

    Chú Thích :

    (*) Martin Rama là chuyên gia kinh tế trưởng, Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam ([email protected]). Ông Võ Văn Kiệt là Thủ tướng Chính phủ Việt Nam từ năm 1991 đến năm 1997. Trước đó, ông từng là quyền Thủ tướng Chính phủ (1988‐1990), Phó Thủ tướng và Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (1982‐1986), Bí thư Thành Ủy thành phố Hồ Chí Minh (1975‐1982) và Bí thư Khu Ủy Sài Gòn‐Gia Định trong thời gian chiến tranh chống Mỹ. Ông qua đời ngày 11 tháng 6 năm 2008.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi