Đọc và Bình Luận “Giọt Nước Trong Biển Cả” (tiếp theo)

  • Bởi Bien-Tap
    19/02/2009
    0 phản hồi

    ĐƯỜNG LỐI CHÍNH TRỊ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM SAU KHI NẮM CHÍNH QUYỀN

    Sau Cách mạng tháng Tám, tình hình trở nên căng thẳng. Chính phủ Hồ Chí Minh phải đối phó với nhiều khó khăn. HVH kể ra một số khó khăn chính:

    + Việc đối phó với quân Nhật.

    Chủ trương của đảng là ”thuyết phục” quân Nhật trao trả khí giới cho Việt Minh. Đa số lính Nhật muốn giữ thái độ trung lập, một số chỉ muốn giao vũ khí cho Đồng Minh. Một số ít kín đáo trao tặng hoặc lén bán lại cho Việt Minh. Vài người (sĩ quan và binh sĩ) xin gia nhập hàng ngũ Việt Minh. Thí dụ như đại tá Lam Sơn và trung uý Thanh Tùng đã giúp huấn luyện quân sự hay vài chuyên viên khác phục vụ làm tài xế, thợ sửa máy móc (tr 263)

    + Việc đối phó với quân Anh.

    Một tháng sau ngày Nhật đầu hàng (15 tháng 8 năm 1945), ngày 12 tháng 9 năm 1945 quân Anh (khoảng 1.400 người), phần đông là người Ấn Độ, do thiếu tướng Gracey chỉ huy, đổ bộ vào miền Nam (Sài gòn). Trên nguyên tắc, họ có nhiệm vụ giải giới quân Nhật. Nhưng vừa đến nơi, họ ra thiết quân luật cho dân chúng Việt Nam: giới nghiêm, cấm báo chí, hội họp, cấm mang khí giới v.v...

    Ngày 22 tháng 9, quân Anh chiếm Khám Lớn, thả 5.000 tù binh Pháp do Nhật giam trước đó, lấy khí giới Nhật giao cho Pháp và giúp họ chiếm giữ mọi vị trí hiểm yếu tại Sài Gòn (bến tàu, kho hàng, xưởng đóng tàu...)

    Ngày 23 tháng 9, với sự giúp sức của quân Anh, quân Pháp chiếm Sở cảnh sát Trung Ương, Kho bạc, toà Thị Chánh Sài Gòn, trụ sở Ủy ban Nhân dân Nam bộ(37). Chỉ trong vài ngày, quân Pháp kiểm soát cả Sài Gòn.

    Trước tình thế đó, Uỷ ban Nhân dân Nam bộ với chủ tịch là bác sĩ Phạm Ngọc Thạch (thành lập vào ngày 4 tháng 9, thay thế Ủy ban Hành chính “ra mắt nhân dân ngày 25 tháng 8” (tr 259) với chủ tịch là Trần Văn Giàu) phải rút về Bến Tre, ra lệnh cho dân quân phá hoại, cắt đứt mọi cầu phà, đường xá... Cuộc kháng chiến miền Nam bắt đầu. Chính phủ Hồ Chí Minh phái vào Nam các đội quân do các tướng chỉ huy Hoàng Đình Ròng, Đàm Minh Viễn và sau đó Nguyễn Bình. Tất cả các tướng này đều hy sinh tại miền Nam.

    + Việc đối phó với quân Tưởng

    Tại miền Bắc, 200.000 quân Tưởng từ Vân Nam kéo đến, do tướng Lư Hán điều khiển và một đơn vị khác từ Quảng tây kéo vào, do tướng Tiêu Văn chỉ huy. Theo lệnh Tưởng, nhiệm vụ của họ là hợp sức “diệt Cộng cầm Hồ”: tiêu diệt cộng sản và bắt giữ Hồ Chí Minh, đồng thời lập một chính phủ lâm thời làm bù nhìn cho Trung Hoa Quốc Dân đảng. Nhưng giữa Lư Hán và Tiêu Văn có sự tranh chấp ngấm ngầm. Tiêu Văn là người của Trương Phát khuê, từ những năm 1940, 1941 cả hai đã tranh đấu thực hiện mục tiêu Hoa quân (từ Quảng Tây) nhập Việt cũng như lập một chính phủ Việt gồm những người quốc gia đồng nhất. Nhưng họ không được Tưởng Giới Thạch tin cậy, Tưởng gửi thêm đoàn quân Vân Nam với Lư Hán. Mặt khác, Lư Hán lại nghi ngờ Tưởng tống mình đi ra xa vùng Vân Nam để giành lấy quyền kiểm soát vùng này thay chân Lư Hán và đồng chí của Lư Hán là Long Vân (tr.269). Tóm lại, trong hàng ngũ lãnh đạo TQ có đầy dẫy mâu thuẫn. Việt Quốc và Việt Cách cũng như thế. Một bên thì được Lư Hán và Tưởng ở Trùng Khánh bảo trợ. Một bên thì nhờ vả Trương Phát Khuê với Tiêu Văn. Chính vì lí do này mà những người Việt Nam thuộc các đảng phái quốc gia đã hành động phân tán và chậm trễ so với tình thế. Họ đã để cho Việt Minh tự do chiếm đa số các tỉnh, trừ vài nơi như Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa lộ, Việt Trì, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Hải Ninh v.v... (tr.266) tại các nơi này nhờ quân Tưởng làm hậu thuẫn, họ lập được những cơ quan tuyên truyền (chống cộng sản).

    ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CÔNG KHAI GIẢI TÁN VÀ BÍ MẬT TIẾP TỤC HOẠT ĐỘNG

    Dù chia rẽ, các lãnh tụ TQ và những người quốc gia Việt Nam không ngừng làm áp lực đối với chính phủ Hồ Chí Minh. Họ đòi phải có những đại diện của Việt Quốc và Việt Cách trong chính phủ và trong Quốc hội. Họ đòi Việt Minh phải thay đổi một cách cơ bản thái độ đối với quân đội Trung Hoa và đối với các đảng quốc gia. Tình hình cực kỳ căng sthẳng, đã có vài nơi xảy ra đụng độ giữa người quốc gia và người cộng sản.

    Để đối phó với tình trạng nguy nan này, Hồ Chí Minh áp dụng chính sách dàn hoà, thí dụ ông ra lệnh cho quân Việt Minh tại Chèm phải trả lại số khí giới mà họ vừa tước được của một trung đội quân Lư Hán (tr.270). Việc thứ hai là ông nhân danh “đoàn kết quốc gia” tuyên bố giải tán đảng Cộng Sản Việt Nam nhằm trấn an Trung Quốc. Nhưng trong bí mật, “đảng vẫn tồn tại, vẫn bí mật hoạt động” (tr.267). HVH được giao nhiệm vụ vào khu Bốn (IV) giải thích điều này cho các đảng bộ biết.

    Ngày 19 tháng 11 năm 1945, nhân danh Trương Phát Khuê, đại biểu Tiêu Văn mở hội nghị “hoà giải” với sự tham gia của đại biểu tất cả các đảng phái: Việt Minh, Việt Cách, Việt Quốc. Ba đảng này đồng ý thành lập một chính phủ Liên hiêp quốc gia. Các quyết định khác cũng được thi hành như không dùng vũ khí để giải quyết các vấn đề bất đồng, không công kích nhau trên báo chí. Và cuối cùng là quyết định thành lập một đội quân vào Nam kháng chiến. HVH mỉa mai “Cố nhiên cả đội quân ấy đều là người (của) Việt Minh”. (tr.267)

    Còn một vấn đề khác chưa giải quyết đó là ngày bầu cử Quốc hội. Việt Minh đề nghị giữ nguyên ngày đã định trước là 23 tháng 12 năm 45. Việt Cách, Việt Quốc đòi hoãn lấy lí do chuẩn bị không kịp. Việt Minh định vào ngày 6 tháng 1 năm 1946, Việt Cách, Việt Quốc vẫn lấy cớ chuẩn bị không kịp, đòi phải dành cho các đảng họ 20 và 50 ghế. Việt Minh đồng ý và cuộc bầu Quốc hội diễn ra đúng ngày 6 tháng 1 năm 46.

    Sau bầu cử Quốc hội, Tiêu Văn lại đề nghị thành lập một chính phủ mới với chủ tịch là Hồ Chí Minh, phó chủ tịch là Nguyễn Hải Thần. Việt Minh sẽ nắm 4 bộ, Việt Cách, Việt Quốc cũng giữ 4 bộ. Hai bộ quan trọng là Ngoại giao và Nội vụ sẽ giao cho các nhân sĩ độc lập và không đảng phái.

    Ngày 2 tháng 3 năm 1946 Quốc hội họp kì thứ nhất, với các đại biểu Việt Minh cũng như 70 đại biểu của Việt Cách và Việt Quốc, chỉ định chính phủ mới gọi là Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến.

    + Thành phần chính phủ.

    Chủ tịch: Hồ Chí Minh
    Phó Chủ tịch: Nguyễn Hải Thần
    Ngoại giao: Nguyễn Tường Tam
    Kinh tế: Chu Bá Phượng
    Y tế: Trương Đình Trí
    Giáo dục: Đặng Thái Mai
    Tài Chính: Lê Văn Hiến
    Tư Pháp: Vũ Đình Hoè
    Giao thông Công chánh: Trần Đăng Khoa
    Nội vụ: Huỳnh Thúc Kháng
    Quốc phòng: Phan Anh
    Bộ trưởng không bộ: Bồ Xuân Luật

    + Ban Cố vấn.

    Chủ tịch: Vĩnh Thuỵ ( cựu hoàng Bảo Đại)

    + Uỷ ban kháng chiến: 9 uỷ viên.

    Chủ tịch: Võ Nguyên Giáp
    Phó Chủ tịch: Vũ Hồng Khanh

    + Ban thường trực Quốc hội:

    Nguyễn Văn Tố

    Vì sao kế hoạch “diệt Cộng cầm Hồ” của Tưởng Giới Thạch thất bại? HVH giải thích nguyên nhân thứ nhất là do chuyện chia rẽ giữa các phe quốc gia người Việt và giữa các tướng lãnh Trung Quốc, thêm vào đó các người cầm đầu TQ như Tiêu Văn, Trương Phát Khuê lại có cảm tình với Hồ Chí Minh. Nguyên nhân thứ hai và cũng là nguyên nhân chính: Việt Minh “được toàn thể nhân dân ủng hộ”. Quân Tưởng biết rằng nếu họ tìm cách tiêu diệt Việt Minh họ sẽ gặp khó khăn vì Việt Minh sẽ vận động “vườn không nhà trống” Còn nếu bắt Hồ Chí Minh họ cũng sẽ gây hận thù, bất mãn, dân sẽ nổi dậy, hậu quả khó lường. Những thủ lĩnh TQ này sợ bị “Tưởng Giới Thạch đổ tội vào đầu, cho là bất lực và trừng trị” (tr.270)

    + Đối phó với người Pháp:

    Theo HVH, đường hướng chính trong việc đối phó với người Pháp đã được Hồ Chí Minh qui định từ hội nghị Tân Trào. Những biến cố xảy ra sau đó chứng minh những dự kiến của Hồ Chí Minh là “hoàn toàn đúng” (tr.272). Người Pháp trong khối Đồng Minh nên khi Đồng Minh thắng trận, họ trở lại Việt Nam. Người Việt Nam phải thương lượng với họ.

    Nhờ người Mĩ dàn xếp với Tưởng, Tưởng và người Pháp kí Hiệp định ngày 28/2/1946, Tưởng nhìn nhận quyền bảo hộ Đông Dương của người Pháp. Bù lại, Pháp bán lại đường sắt Vân Nam, trả về cho TQ vùng Quảng Châu Loan, các tô giới ở Thượng Hải, Hán Khẩu, Quảng Châu, v.v... Và quân Tưởng cũng rút khỏi Việt Nam trước ngày 31/3/1946(38). Trong vụ dàn xếp này, người Mĩ muốn Tưởng tập trung lực lượng vào việc đánh cộng sản Trung Quốc tại Trung Quốc.

    NGƯỜI PHÁP PHẢN BỘI HIỆP ĐỊNH CÔNG NHẬN NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

    Một tuần lễ sau hiệp định Hoa-Pháp, Hồ Chí Minh hội kiến tướng Sainteny, đại diện nước Pháp, tại Hà Nội và đôi bên kí Hiệp ước ngày 6 tháng 3 năm 1946: nước Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, tự do trong Liên Hiệp Pháp, Việt Nam sẽ có

    “Chính phủ, Nghị viện, Quân đội và Tài chính riêng. Quân Pháp sẽ thế quân Tưởng vào Việt Nam giải giới quân Nhật ở miền Bắc. Hai bên Việt Pháp ngưng súng ở miền Nam tạo không khí thuận lợi để mở tiếp cuộc đàm phán giải quyết vấn đề ngoại giao của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và vấn đề quyền lợi kinh tế và văn hoá của Pháp ở Việt Nam. Việc thống nhất Nam Bắc sẽ do toàn dân quyết định. Bản phụ lục Hiệp định còn nói rõ số quân Pháp đưa vào thay thế quân Tưởng là một vạn năm nghìn người (lúc này quân Pháp không có người Việt mà chỉ có người Âu-Phi) và chỉ được đóng ở một số nơi do ta chỉ định (...) mười tháng sau khi kí kết, quân Pháp phải dần dần rút hết khỏi Việt Nam nội trong năm năm”.(tr.173 - 174)(39)

    Kí xong Hiệp định sơ bộ, Hồ Chí Minh gặp Đô đốc d’Argenlieu, Cao Uỷ Pháp tại vịnh Hạ Long và cùng thoả thuận: hai bên sẽ cử đại biểu bàn bạc và chuẩn bị cho việc kí kết chính thức tại Paris.

    Ngày 16 tháng 4 năm 1946, một phái đoàn đại biểu Quốc Hội do Phạm Văn Đồng dẫn đầu rời Việt Nam sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau.

    Ngày 30 tháng 5, Hồ Chí Minh cũng sang Pháp nhưng với tư cách thượng khách của chính phủ Pháp.

    Hội nghị Fontainebleau khai mạc ngày 6 tháng 7 năm 1946 nhưng hoàn toàn bế tắc sau đó. Để cứu vãn chút hi vọng thoả thuận, ngày 14 tháng 9 năm 1946(40), Hồ Chí Minh kí với Marius Moutet, Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp một Tạm ước (modus vivendi) qui định rằng đôi bên sẽ mở lại Hội nghị
    Fontainebleau vào tháng giêng năm 1947. (tr.277)

    Trong lúc Hội nghị Fontainebleau đang diễn ra ở Pháp thì tại Việt Nam, Cao uỷ d’Argenlieu đơn phương tuyên bố thành lập một nước Cộng hoà Nam kì độc lập với một chính phủ riêng.

    Người Pháp ngang nhiên xé hiệp định ngày 6 tháng 3 năm 1946: vào ngày 20 tháng 11, quân Pháp tấn công các tỉnh miền Bắc (Móng Cái, Tiên Yên, Lạng Sơn). Ngày 21 tháng 11 họ gây hấn ở Hải Phòng. Ngày 18 tháng 12 họ chiếm Bộ Tài chính và Bộ Giao thông. Cùng một lúc, tướng Morlière, chỉ huy quân đội Pháp đưa tối hậu thư đòi công an Việt Minh và tự vệ quân phải hạ vũ khí. HVH kết luận: “Tình thế đã đến lúc ta phải kháng chiến thật sự”.

    Việt Minh để lại một trung đoàn bảo vệ thủ đô Hà Nội. Các cán bộ trung và cao cấp cùng Hồ Chí Minh rút về Việt Bắc. HVH được phái về khu IV với tư cách Bí thư Khu đảng uỷ, kiêm Chủ nhiệm Việt Minh và Đại diện chính phủ trung ương khu IV.

    Trong chương này, HVH thêm một lời bàn cuối cùng khá lạ lùng và mâu thuẫn với những điều ông đã nói ở trên:

    “Ta vẫn biết Pháp kí với ta như vậy, mục đích là cốt để đưa quân vào, rồi sau sẽ từng bước dùng vũ lực mở rộng ảnh hưởng tiến tới lật đồ chính quyền của ta, trở lại thống trị toàn cõi Đông Dương. Nhưng ta vẫn kí như vậy để cho hai mươi vạn quân Tưởng rút khỏi miền Bắc, đồng thời cũng để có hoàn cảnh chuẩn bị lực lượng kháng chiến chống Pháp môt khi chúng không thi hành đúng hiệp định đã kí kết.” (tr274)

    Chỗ này HVH đưa ra lối giải thích chính thức của Đảng. Đáng tiếc là ông không so sánh lực lượng Việt Minh và Pháp trước và sau khi kí kết hiệp định để biện minh cho lí do “để có hoàn cảnh chuẩn bị lực lượng”. Cũng như trong việc rút lui của quân Tưởng, ai cũng biết rằng sự rút lui này là do hiệp ước Trung Pháp kí kết ngày 28 tháng 2 năm 1946 nghĩa là một tuần lễ trước hiệp định mồng 6 tháng 3 năm 1946 giữa Hồ Chí Minh và Sainteny.

    Ý đồ của người Pháp rất rõ ràng, kể từ lời tuyên bố ngày 24 tháng 3 năm 1945 của De Gaulle với ý muốn trở lại Đông Dương (tr.272) đến những thủ đoạn họ dùng trong Hội nghị Fontainebleau, từ thất bại của Hội nghị Đà Lạt đến việc Cao uỷ Pháp d’Argenlieu thành lập nước và chính phủ Nam kì tự trị, họ vẫn luôn luôn theo đuổi cùng một chính sách: tranh thủ thời gian, củng cố lực lượng quân sự để tái chiếm Đông Dương. HVH ý thức được điều đó và nói ra. Ông còn đi xa hơn nữa khi viết rằng:

    “Như vậy, việc quân Tưởng vào tiếp quản miền Bắc Việt Nam chỉ là việc nhất thời mà ta cần phải chịu đựng và khôn khéo đối phó nhất thời, chứ đối tượng phải đối phó lâu dài ở Việt Nam cũng như ở Đông Dương là quân Pháp”.(41) (tr.272)

    Những người lính Tưởng cuối cùng rút khỏi Việt Nam vào tháng 5 năm 1946. Một số thủ lĩnh Việt Quốc và Việt Cách trốn theo họ. Một số đầu hàng Việt Minh, “ta vẫn để yên, sau hiệp định Giơ-ne vơ (...) một số trong bọn này đã đi theo quân Pháp vào miền Nam” (tr.269).

    Nhận lãnh trách nhiệm khu IV, HVH đã dùng hết sức mình tổ chức kháng chiến. Vào tháng 3 năm 1948, các đồng chí ở Thái Lan đề nghị ông sang bên ấy công tác. Đảng cử HVH trở lại Thái Lan nhưng lần này ông chỉ ở một năm (từ 1948 đến 1949) và giữ những chức vụ thật quan trọng. Về mặt
    Đảng ông vừa là “Đại diện Trung ương đảng, có trách nhiêm chỉ đạo công tác vận động Việt kiều ở Thái Lan cũng như công tác của cán bộ đang hoạt động về mặt đối ngoại ở Thái Lan ở Ấn Độ, Miến Điện, Tiệp Khắc và ở Pháp.” Về mặt chính quyền ông là “Đặc phái viên chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở hải ngoại” (tr.282)

    Thay vì thế chỗ Phái viên Chính phủ tại Thái trước đó là Nguyễn Đức Quì, HVH giữ nguyên vai trò chính thức của Quì và chỉ đạo mọi hoạt động trong bóng tối: ông đề nghị - với Đặc uỷ Thái và trong nước - lập ra Ban cán sự Trung Ương “lãnh đạo toàn diện các mặt công tác phải tiền hành trên địa bàn Thái Lan”. HVH là Bí thư và Quì là Phó Bí thư. (tr.296)

    “Tình hình mới, công tác mới” Tình hình mới đòi hỏi HVH phải giải quyết những vấn đề mới như: chỉnh đốn các tổ chức Việt Kiều tại Thái Lan, tổ chức lại hoạt động của Cơ quan Phái đoàn chính phủ ở Bangkok(42) và Rangoon, tổ chức giúp đỡ cách mạng Việt Nam đang chiến đấu ở mặt trận Cao Miên và Lào.

    TRÊN ĐẤT THÁI MỘT LẦN NỮA

    Chương 5 của hồi kí nói về những công tác mới này. Thái Lan năm 1948 không còn là xứ Xiêm của năm 1930. Đảng cộng sản Thái đã lột xác và bắt đầu thi hành khúc ngoặc từ năm 1938: “Cách mạng Thái sẽ là công trình của chính nhân dân Thái” (tr.283). Không còn ngoại kiều hoạt động trong tổ chức của người Thái, không còn mơ hồ, lẫn lộn trong các vai trò nữa. Người Việt chỉ có thể hoạt động trong những tổ chức của người Việt. Đó là điều tự nhiên, bởi vì từ khi Việt Minh ra đời, năm 1941, Việt kiều tại Thái đã chuyển hướng hoạt động cách mạng về Việt Nam.

    Năm 1948, khi HVH trở lại Thái, số dân Việt kiều đã tăng lên gần gấp đôi. Từ gần 50.000 lên khoảng 100.000, đa số từ Lào tản cư sang. Trong hai năm 1946 và 1947, chính phủ (Thái) Pri Di khá tự do và thật sự có thiện cảm với cách mạng Việt Nam. Không những họ chấp nhận sự có mặt của người di cư và người chiến sĩ Việt Nam trên đất Thái, mà họ còn cung cấp lương thực và giúp cả vũ khí nữa. Nhờ vậy, người Việt đã gửi “chi đội Trần Phú” về tham gia kháng chiến Nam bộ năm 1946 và hai đoàn Cửu Long 1 và Cửu Long 2 năm 1947 mang vũ khí về nước. Ngay từ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, “hàng ngàn thanh niên Việt kiều đã xung phong tòng quân, sang Lào và Cam-pu-chia giúp nhân dân hai dân tộc bạn đánh Pháp.” (tr.287) Địa bàn Thái Lan đã trở thành hậu phương của “mặt trận miền Tây”. Ở nhiều tỉnh giáp biên giới Lào và Campu- chia “có cơ sở huấn luyện quân đội, sản xuất và sửa chữa vũ khí cho mặt trận” (tr.287). Chính phủ Thái còn giúp người di cư Việt công ăn việc làm và giao đất để họ cày cấy sinh sống. Cả một khu đất thật lớn được người Việt dùng cất nhà và làm vườn rau trái. Dân chúng đặt tên là “Nông trường Việt Nam”.

    Trong những năm này, các điều kiên vô cùng thuận lợi đến nỗi nhiều người Việt quên hẳn mình đang sống trên xứ người. Trong sinh hoạt cũng như cách cư xử, người Việt không tôn trọng phong tục tập quán người bản xứ, không giữ gìn lề lối mà mọi ngoại kiều phải nên có. Thí dụ như người ta thấy bộ đội Việt Minh mang vũ khí, đi lại tự nhiên ngoài phố, cờ đỏ sao vàng bay phất phới trước những ngôi nhà của người Việt. Khi Trần Văn Giàu sang Thái Lan, có cả bộ đội Việt kiều dàn súng đứng chào. Một cuộc lễ hội có rước đuốc rầm rộ được dự định tổ chức nhân kỉ niệm ngày Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8. Tóm lại “người ta hãnh diện và phô trương lộ liễu rằng mình là những người làm cách mạng (...) Những phô trương lộ liễu này không thích hợp, thoả đáng với vị thế của người ngoại kiều. (...) phải dẹp ngay các hành động phô trương lộ liễu!” (tr.291)

    Khi mới tới, HVH nhận thấy rằng chính phủ Phi Bun (lên nắm chính quyền sau cuộc đảo chánh) rất hữu khuynh. Báo chí Thái Lan vừa khởi đầu một chiến dịch chống đối Việt Kiều, như vu khống người Việt vi phạm an ninh trật tự, đốt nhà cướp của v.v... rõ ràng họ đang chuẩn bị dư luận cho cuộc đàn áp Việt kiều. (tr.286) Đã đến lúc phải áp dụng một chiến lược mới.

    HVH triệu tập một hội nghị nhóm họp trong 3 ngày 15, 16, 17 tháng 8 năm 1948. Hội nghị mở rộng cho tất cả cán bộ Đảng và các đại biểu Chi hội Việt kiều yêu nước địa phương. Quyết định thay đổi được đánh dấu bằng những biện pháp: bỏ “Nông trường Việt Nam”, huỷ bỏ cuộc rước đuốc, cấm ra phố với đồng phục và vũ khí, không treo cờ Việt ở ngoài cửa, tránh mọi biểu lộ có tính cách phô trương khiêu khích đối với dân bản xứ, chuẩn bị điều kiện để chuyển hướng sang hoạt động bất hợp pháp khi cần thiết. Mục đích duy nhất phải đạt là “tranh thủ cho được cảm tình sâu sắc của nhân dân Thái Lan (...) cho nhân dân bạn hiểu rõ chính nghĩa của cuộc kháng chiến (chống Pháp) tại Việt Nam.” (tr.290-291)

    LÀO VÀ CAMPUCHIA ĐANG Ở MỨC TIẾN HÓA THẤP HƠN VIỆT NAM...

    Lãnh công tác giúp đỡ cách mạng Lào và Campuchia, HVH phải chú ý đến vấn đề lí thuyết. Và đây là phần duy nhất của quyển hồi kí nói về lí thuyết. HVH viết:

    “Nhìn bao quát, ta thấy rằng Lào Miên đang ở mức tiến hoá thấp hơn Việt Nam. Bởi vậy, cách mạng Lào Miên không thể là cách mạng xã hội hay cách mạng tân dân chủ, mà chỉ là cách mạng dân tộc giải phóng. Cách mạng Việt Nam cũng là cách mạng dân tộc giải phóng, nhưng vì tình hình kinh tế, chính trị và xã hội của Việt Nam đã cao hơn, nên khẩu hiệu cách mạng Việt Nam là độc lập và dân chủ đi đôi. Còn khẩu hiệu Lào Miên thì chỉ độc lập là độc lập. Để thực hiện mục đích độc lập, Lào Miên phải đoàn kết toàn dân, không phân biệt phong kiến hay tư bản, không phân biệt giàu nghèo, không phân biệt người có tư tưởng cấp tiến hay chưa có tư tưởng cấp tiến, miễn là thật lòng đánh Pháp giành độc lập là phải gắn bó nhau lại thành một khối thống nhất, cùng nhau kháng chiến.

    (...) Chúng ta phải biết rằng, mặc dù cách mạng Lào Miên còn thấp kém, còn non, nhưng đã là cách mạng, thì dù muốn hay không muốn, thực sự cũng là đứng về mặt trận dân chủ thế giới. Trong giai đoạn hiện thời, miễn cưỡng đưa khẩu hiêu dân chủ ra là có hại cho sự đoàn kết dân tộc của Lào Miên, có lợi cho địch.” (tr.311-312)

    HVH cho biết lí luận phân tích này của ông trong bản “Đề cương công tác Lào, Miên” được đưa ra thảo luận trong hội nghị mở rộng, và được anh em nhất trí tán thành. Đề cương này được coi như tài liệu về đường lối tranh đấu của hai đảng cộng sản Lào và Miên.

    Khái niệm của HVH về một cuộc cách mạng “qua các giai đoạn” là khái niệm tiêu biểu cho lập trường của Staline.
    Khác với Lê Duẩn hoặc Trường Chinh thường sửa đổi lí thuyết làm sao cho thích ứng với tiến trình của thực tế, HVH vẫn là đê tử sắt đá và hết mực trung thành của môn phái Staline vào những năm 1930. Nhưng ít ra ông có can đảm giữ vững và chấp nhận hậu quả ý kiến của mình.

    Về công tác chỉnh đốn lại các hoạt động ngoại giao của Cơ quan Phái đoàn chính phủ tại hải ngoại, HVH phải giải quyết một số vấn đề tế nhị:

    + Khiếu nại về những người trách nhiệm trong Cơ quan Phái đoàn Việt Nam tại Bangkok.

    Để trả lời các đồng chí than phiền về “sự phóng túng trong sinh hoạt và hành động của Phái đoàn” HVH giải thích:

    “Trước kia, cách mạng chưa nắm chính quyền, tất cả các anh em cán bộ đều ăn ở kham khổ như nhau. Ngày nay chúng ta giành được chính quyền Nhà nước, những người đóng vai đại diện Nhà nước phải có cái bề thế trang trọng. Chúng ta ủng hộ các đồng chí đại diện Nhà nước không phải là vì cá nhân các đồng chí đó, mà là vì lợi ích dân tộc, vì lợi ích cách mạng.” (tr.295)

    Đối với ông, cuộc sống “phóng túng” của các vị đại diện Nhà nước mà các đại biểu hội nghị than phiền là vấn đề ứng xử cá nhân chứ không phải vấn đề chính trị. Nếu có đồng chí phạm sai lầm “thì ta phải nghiêm khắc phê bình xây dựng. Nhưng không nên lẫn lộn việc phê bình cá nhân với việc ủng hộ hoạt động của một cơ quan đại diện Nhà nước.” ( tr.295)

    + Trường hợp Lê Hy và Trần Ngọc Danh.

    Trần Ngọc Danh là em ruột Trần Phú (cựu tổng bí thư đầu tiên của đảng CSVN) từ tuổi thanh niên, Danh đã vào đảng và đã từng du học tại trường đại học Đông Phương, Mạc-tư-khoa. Năm 1946, Danh được chính phủ Hồ Chí Minh bổ nhiệm làm trưởng phái đoàn Đại diện nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà tại Pháp. Lê Hy lúc trước hoạt động ở Nam bộ, khi kháng chiến bùng nổ, Hy được phái sang Thái Lan phụ trách Thông tấn xã Việt Nam ở Cơ quan Phái đoàn chính phủ. Theo Hoan, hai người “tả khuynh” này có tội âm mưu chống Hồ Chí Minh và chính phủ

    “một người ở Pháp, một người ở Thái Lan, bí mật trao đổi với nhau những tư tưởng hoài nghi, chống Đảng. Trong khi Lê Hy ở Băng cốc chuẩn bị đi thì Trần Ngọc Danh ở Pa ri tự ý tuyên bố giải tán cơ quan Đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở Pháp và dời sang Tiệp”(tr.299)

    Tại Prague, Trần Ngọc Danh “được Trung ương đảng CS Pháp giới thiệu qua Tiệp hình như để lập một cơ quan đại diện Chính phủ ở đây. Đương cục Tiệp đã cho một cái nhà đàng hoàng và có đủ tiện nghi. Vợ anh Danh là Thái Thị Liên hiện đang học trường âm nhạc Tiệp.” (tr.319)

    Trần Ngọc Danh và Lê Hy gặp nhau ở Tiệp, họ tìm cách tuyên truyền lung lạc các cán bộ công tác tại Tiệp cũng như học sinh Thanh niên miền Nam; ông Danh còn viết thư cho một số cán bộ chỉ trích Hồ Chí Minh và Đảng. Những chỉ trích của “hai kẻ chống đối” này là gì?

    “Sau Cách mạng tháng Tám, Đảng không thủ tiêu giai cấp tư sản và địa chủ, không tuyên bố làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, mà lại gần gũi với các nước như Ấn Độ, Miến Điện, Pa-ki-xtan và In-đô-nê-xia là những nước tư bản, thì anh ta cho là Đảng hữu khuynh. Anh ta đã viết thư cho một số đảng viên nói đường lối của Hồ chủ tịch và Trung ương Đảng là không đúng” (tr.319).

    LIÊN XÔ VĨ ĐẠI! VĨ ĐẠI!

    Đối với HVH, nguyên nhân sự sai lạc nghiêm trọng của Trần Ngọc Danh và Lê Hy là do họ “học lí luận nhiều, nhưng tiêu hoá không tốt vì không có thực tế”.

    Cuối năm 1949, được chỉ định sang Bắc Kinh họp Hội nghị Công Đoàn Á - Úc với tư cách đại biểu Công đoàn Việt Nam, HVH ghé Tiệp Khắc và gặp gỡ nói chuyện với TNDanh và Lê Hy.

    Ông khiển trách họ vô kỉ luật và khuyên họ trở về Việt Nam. Hy im lặng nhưng Danh thì trả lời phải ở lại Prague chữa bệnh. HVH “hiểu ý là Danh vì có sự giới thiệu của Trung Ương Đảng Pháp, được Đảng Tiệp đối đãi đặc biệt, nên muốn ở lại Tiệp chứ không muốn về nước” (tr.321)

    Đọc đến đoạn này, những Việt kiều tại Pháp đã từng biết ông Trần Ngọc Danh là Trưởng phái đoàn đại diện Việt Nam ở Paris thời ấy, đều rất ngạc nhiên. Bởi vì vào giai đoạn đó, ai lại không biết rằng ông Danh, ít nhất về mặt chính thức, là người ủng hộ vô điều kiện đường lối chính trị của Hồ Chí Minh? Còn ai khác hơn Trần Ngọc Danh, đã cho in tập sách tuyên truyền về Hồ Chí Minh vào tháng 5 năm 1947(43) ? Trong đó, ông Danh đặc biệt nhấn mạnh hai lời tuyên bố của Hồ Chí Minh: lời thứ nhất đăng trên tờ Journal de Genève (Tin Giơ neo): ”Những bạn bè của chúng tôi không cần phải lo ngại là chủ nghĩa mác xít sẽ du nhập vào đất nước chúng tôi”; lời tuyên bố thứ hai đăng trong báo “Le Pays”, chủ tịch Hồ Chí Minh trấn an mọi người như sau: “những lí thuyết mác xít không thể áp dụng được ở nước chúng tôi”. Trong những năm 1946-1947, vì những người Đệ Tứ điều hành ban Đại diện Trung Ương công binh Việt Nam tại Pháp không đồng ý với chính sách Hồ Chí Minh, Trần Ngọc Danh, nhân danh đại biểu chính phu, đã chống đối họ một cách dữ dội, ông đã vu cáo họ là “ngoan cố”, “chia rẽ” v.v... Như vậy làm sao có thể tin được vào thời kì ấy, Trần Ngọc Danh không đồng ý với Hồ Chí Minh và Đảng?

    Từ Prague, HVH đi Bắc Kinh dự Hội nghị công đoàn (nhưng hội nghị đã họp xong vì ông đến quá trễ) ở đây ông gặp Hồ Chí Minh, nhưng Hồ Chí Minh phải sang TQ gặp Mao Trạch Đông.

    Hồ Chí Minh đề nghị HVH ở lại Trung Quốc với tư cách đại diện cho Đảng và Chính phủ. Bác Hồ giải thích cho ông rằng “sau chiến thắng của Cách mạng Trung Quốc, trọng tâm hoạt động đối ngoại của chúng ta bây giờ không ở Thái Lan nữa, mà phải chuyển qua Trung Quốc” (tr.327)

    Tại đây, HVH tham dự (với tư cách là một Hoa kiều) lớp huấn luyện đặc biệt đào tạo cán bộ ngoại giao để làm Đại sứ (TQ) tại các nước. Được Bộ ngoại giao TQ giúp đỡ, ông chọn một toà nhà lớn làm sứ quán, trước kia vốn là một trường học của người Mĩ. Từ đại biểu Chính phủ, ông trở thành “Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà tại TQ và kiêm luôn Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam tại Mông cổ và Triều Tiên”. (tr.332)

    Ông lãnh nhiệm vụ liên hệ mật thiết với các nước Liên Xô, các nước dân chủ cộng hoà anh em khác, Ấn Độ, Miến Điện, Pakistan v.v... Tháng 5 năm 1950, ông được chính phủ phái đi dự lễ kỉ niệm Lao Động Quốc tế tại Liên Xô. HVH xem diễn binh Liên Xô qua Công trường đỏ và ghi lại cảm tưởng của mình như sau:

    “Trước kia thường nghe nói Liên Xô là Tổ quốc của giai cấp vô sản thế giới, là ngọn đèn pha soi đường cho các dân tộc bị áp bức tiến lên, thì chuyến này được thật sự chứng kiến rõ ràng, càng làm cho lòng tin tưởng đối với tiền đồ cách mạng thêm vững chắc. Những cái được trông thấy và được hiểu biết về Liên Xô, có thể hình dung bằng hai tiếng ‘Vĩ đại! Vĩ đại!” (tr.333-334)

    Những cảm tình của ông đối với Trung Quốc cũng nồng nhiệt phấn khởi như thế. Với chức vụ Đại sứ trong vòng gần 8 năm (từ 1950 đến 1957), ông có dịp nhìn thấy, phê phán, hiểu biết và yêu mến TQ.

    SỰ GIÚP ĐỠ CỰC KÌ TO LỚN CỦA TRUNG QUỐC

    Trong chương 6, HVH phân tích những liên hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Điều ông thoả mãn nhất là “Sự giúp đỡ cực kì to lớn của Trung Quốc” đối với Việt Nam

    + Giúp đỡ chính trị và ngoại giao.

    Trung Quốc là quốc gia đầu tiên, trước cả Liên Xô, công nhận chính phủ Hồ Chí Minh. Tại hội nghị Genève năm 1954, “TQ đã hoàn toàn ủng hộ lập trường của Phái đoàn Việt Nam(44). Hiệp định Giơ neo là một thắng lợi to lớn của cánh mạng Việt Nam, vì có miền Bắc vững mạnh làm cơ sở, thì mới đẩy mạnh được cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam.

    (...) Sau khi đế quốc Mĩ ném bom ở miền Bắc từ tháng 8 năm 1964,TQ đã dấy nên một cao trào mới giúp VN chống Mĩ. Chúng ta còn nhớ rõ cảnh tượng hàng trăm triệu nhân dân các tỉnh của TQ đã đổ ra đường phố biểu tình ủng hộ VN. Mao Chủ tịch và Thủ tướng Chu Ân Lai đích thân tham dự cuộc mít tinh của hơn một triệu người ở Bắc Kinh, và nghiêm trang tuyên bố: Sự xâm phạm của Mĩ đối với nước VNDCCH tức là sự xâm phạm đối với TQ. Nhân dân TQ sẽ áp dụng mọi biện pháp cần thiết, thậm chí không tiếc chịu đựng một sự hi sinh dân tộc lớn nhất, dốc toàn lực ủng hộ nhân dân VN tiến hành đến cùng cuộc chiến tranh chống Mĩ”. (tr.340)

    + Những viện trợ quân sự và kinh tế.

    Trong khoảng thời gian từ năm 1950 đến 1978, TQ đã viện trợ cho VN 20 tỉ Mĩ kim, chiếm 41% tổng số viện trợ TQ dành cho các nước ngoại quốc.

    “Trong thời kì kháng chiến chống Pháp từ năm 1950 đến năm 1954, TQ là nước duy nhất viện trợ (quân sự) cho VN. Toàn bộ vũ khí, đạn dược và quân trang, quân dụng của quân đội VN là do TQ trực tiếp cung cấp theo dự trù hàng năm và nhu cầu cho các chiến dịch ở Việt Nam.”

    Và trong cuộc chiến tranh chống Mĩ:

    “phần lớn vũ khí đạn dược và quân trang, quân dụng cũng do TQ cung cấp, gồm quần áo, thuốc men, y cụ và nhiều đại bác, xe tăng, thiết giáp, cao xạ, tên lửa, máy bay, tàu chiến, cùng các phụ tùng thay thế và dầu mỡ v.v...” (tr.341)

    Viện trợ này nhằm đáp ứng nhu cầu của hai triệu bộ đội Việt Nam. Ngoài ra, nếu “một khi nhân dân miền Nam cần đến” TQ sẽ sẵn sàng gửi quân sang “kề vai sát cánh cùng chiến đấu với nhân dân miền Nam” (tr.339). Viện trợ kinh tế cũng cực kì lớn lao. Ngay từ khi hoà bình 1954: “... theo lời yêu cầu của bác Hồ, TQ giúp khôi phục lại đường sắt từ Hà Nội đến Đồng Đăng dài khoảng 200 km. Chính Mao Chủ tịch đã ra lệnh tháo gỡ đường sắt ở Đồng Bồ” (tỉnh Sơn Tây của TQ) đem sang lắp ráp cho VN. Và giúp VN xây dựng lại nền kinh tế đã bị tàn phá vì chiến tranh.

    “Từ năm 1950, TQ giúp xây dựng 450 nhà máy: nhà máy xay lúa, nhà máy đường, nhà máy giấy, nhà máy phát điện, nhà máy hoá chất, nhà máy xà phòng, nhà máy thuốc lá, nhà máy diêm, nhà máy bóng đèn phích nước, nhà máy làm đồ sứ, nhà máy phân hoá học, nhà máy thuốc trừ sâu, xưởng đóng tầu, nhà máy gang thép Thái Nguyên, thiết bị mỏ quặng, hệ thống vô tuyến điện, nông trường quốc doanh (...) và tiếp tục làm lại đường sắt từ Hà Nội đến Lào Cai, đến Thái Nguyên, xây lại cầu Hàm Rồng...” (tr.342)

    Từ năm 1965, lúc Mĩ bỏ bom miền Bắc, TQ cũng gửi hàng đoàn chuyên gia kĩ thuật sang tháo gỡ thiết bị, máy móc các cơ sở công nghiệp đem đến những nơi an toàn.

    Từ năm 1965 đến năm 1975 TQ gửi sang VN hơn 5 triệu tấn lương thực, 300 triệu mét vải, 30.000 ô tô, 600 tàu thuỷ đủ loại, hơn 100 đầu máy và hơn 4.000 toa xe lửa, gần 2 triệu tấn xăng cùng các thứ hàng trị giá bảy trăm triệu nhân dân tệ (yuan).

    Đặc biệt từ 1955 đến 1976, TQ giúp hơn 600 triệu Mĩ kim tiền mặt giúp cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam. (tr.342)

    + Giúp đỡ bằng cố vấn, chuyên gia, nhân viên kĩ thuật.

    Từ 1950 trở đi, theo yêu cầu của Hồ Chí Minh và từ đảng CS VN, TQ cử đoàn cố vấn quân sự và đoàn cố vấn chính trị sang giúp VN. Vị Quốc Thanh dẫn đầu đoàn cố vấn quân sự

    “giúp VN xây dựng quân đội và phổ biến kinh nghiệm tác chiến Ngoài việc giúp Tổng Quân uỷ, còn có các tổ cố vấn về tham mưu, chính trị, hậu cần giúp các sư đoàn chủ lực 308, 312, 316, 304 và các binh chủng khác”

    Chính nhờ viện trợ này, quân đội Việt Nam được tăng cường và thắng trận Điện Biên Phủ, giải phóng được phân nửa đất nước.

    Nhiệm vụ đoàn cố vấn chính trị do La Quý Ba dẫn đầu là “thường đóng góp ý kiến”, cố vấn “về chính sách và công tác cụ thể của các ngành (...)” (tr.343) trong tất cả mọi vấn đề từ tài chính, thuế, ngân hàng, giao thông vận tải, công an, tình báo v.v... Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, từ 1955, “Đoàn cố vấn chính trị mới toàn bộ rời Việt Nam về nước” (tr.344).

    Từ năm 1954 đến 1978, khi hoà bình được lập lại ở Việt Nam sau hội nghị Giơ neo, “nhiệm vụ khẩn cấp ở miền Bắc là khôi phục nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá.” Đoàn chuyên gia kĩ thuật TQ của tất cả các ngành do Phương Nghị dẫn đầu, được lần lượt gửi sang Việt Nam. Họ trở về TQ vào năm 1978 khi đôi bên TQ - VN xảy ra chuyện bất hoà.

    Những chuyên gia này đều do TQ trả lương, VN cung cấp lương thực và chỗ ở. Từ 1950 đến 1978, tổng số chuyên gia TQ sang VN là 20.000 người. “30.000 bộ đội Trung Quốc xây dựng 1.231 km đường ô tô”.

    Từ năm 1965 đến 1970, khi Mĩ dội bom miền Bắc, theo lời yêu cầu Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, TQ gửi hơn 30.000 bộ đội chuyên về “phòng không, công trình , đường sắt và hậu cần”. Những người lính này “mang theo toàn bộ vũ khí, trang bị, phương tiện, máy móc và vật liệu...” Họ đắp được 1.231 km đường ô tô, 476 km đường sắt, xây sân bay Yên Bái... Ngoài việc xây dựng, họ còn bắn rơi máy bay Mĩ và giúp dân quân bảo vệ đường giao thông từ Bắc đến Nam, sơ tán người già, trẻ con, đào hầm hố phòng không, cứu chữa người bị bệnh, bị thương v.v... (tr.346)

    + TQ là hậu phương vững chắc của Việt Nam.

    Ngoài những giúp đỡ kể trên, TQ thật sự là một hậu phương vững chắc của Việt Nam. Sự có mặt của quân lính TQ đã ngăn chặn được việc quân Mĩ đổ bộ. TQ đã giúp miền Bắc đặt đường ống dẫn dầu dài 4.000 km. Và từ 1967, đã mở một đường bí mật ven biển cho tàu chở hàng viện trợ đến các đảo ngoài khơi miền Trung để từ các đảo này hàng sẽ chuyển vào Nam. Ngoài ra TQ còn dành hai hải cảng ở Hải Nam cho Việt Nam làm trạm chuyển tiếp vật tư vào Nam. Họ cũng bỏ ra nhiều ngoại tệ mở đường qua Cam pu chia đến tận miền Nam để chở hàng viện trợ TQ như vũ khí, đạn dược, lương thực và thuốc men đến Mặt trận giải phóng miền Nam.

    Họ đã giúp vận chuyển miễn phí hàng hoá Liên Xô và các nước khác về Việt Nam qua biên giới TQ. Họ đã giúp huấn luyện phi công, cán bộ dân sự, quân sự. Một giúp đỡ thật quan trọng khác nữa là họ đã cho VN sử dụng đất TQ làm địa bàn hoạt động: Trong thời kì chống Pháp, một trường huấn luyện quân sự đã mở ra ở Vân Nam với sự giúp đỡ của một số huấn luyện viên TQ. Sư đoàn tiên phong 308 đã trực tiếp kéo sang TQ để nhận toàn bộ vũ khí trang bị trước khi về nước tác chiến tại biên giới.

    Trong thời kì chống Mĩ, các phi đoàn VN sang ẩn náu tại Vân Nam và được huấn luyện trước khi về VN hoạt động. Năm 1972 khi Đài phát thanh Tiếng nói VN tại Hà Nội bị máy bay Mĩ ném bom, lập tức một đài khác thay thế, tiếp tục phát thanh từ Vân Nam.

    Tại Quảng Tây, thuộc vùng Quế Lâm, bệnh viện Nam Khê Sơn có 600 giường dành riêng cho bệnh nhân Việt Nam. Trong vòng 7 năm có hơn 5000 cán bộ Việt Nam đã được điều trị tại đây. Sau đó toàn bộ thiết bị của bệnh viện đã được giao lại cho VN. Cũng tại vùng Quế Lâm này, có trường dạy con em liệt sĩ và và học sinh miền Nam tập kết. Tóm lại, tinh thần giúp đỡ VN của TQ là

    “Bớt ăn, bớt mặc, bớt dùng, ưu tiên cung cấp cho VN. (...) Sự thật lịch sử 28 năm (từ 1950 đến 1978) đã chứng tỏ rằng sự giúp đỡ của TQ đối với VN là nhân tố quốc tế không thể thiếu được để nhân dân VN giành lấy thắng lợi trong cuộc cách mạng cũng như trong việc kiến thiết; (...) sự thực lịch sử trong mấy năm qua (1978-1986) cũng chứng tỏ rằng không có sự giúp đỡ của TQ thì VN đã lâm vào tình trạng hết sức khó khăn bế tắc. (tr.348-349).

    Sau khi dành một đoạn dài nói về viện trợ TQ, HVH cũng nhắc đến viện trợ của Liên Xô đặc biệt về mặt quân sự, viện trợ này đã giữ vai trò quan trọng trong việc VN bắn hạ máy bay B.52 của Mĩ. HVH khẳng định rằng đối với sự giúp đỡ này cũng như sự giúp đỡ của các nước khác “chúng ta vẫn phải luôn luôn ghi nhớ và biết ơn.” (tr.349)

    Đầu năm 1950, sau khi Mao Trạch Đông nắm toàn quyền tại Trung Hoa lục địa, Hồ Chí Minh bí mật sang gặp Mao và ban chấp hành Trung ương Đảng CS TQ. Đôi bên đồng ý về các điều kiện cụ thể giúp đỡ cho cách mạng Việt Nam. Sự giúp đỡ đó là việc “khai thông biên giới” (“Chiến dịch Biên giới”) nhằm tiêu diệt các căn cứ Pháp tại vùng biên giới này. Mao phái La Quý Ba hướng dẫn một phái đoàn sang giúp Ban chấp hành trung ương đảng VN. Mao cũng cử Trần Canh, là một tướng giỏi của TQ đến giúp VN tổ chức Chiến dịch này. HVH kể lại chi tiết của cuộc thảo luận về chiến thuật và chiến lược giữa Trần Canh và Hồ Chí Minh (tr.350-351). Thắng lợi của Chiến dịch Biên giới nối liền hai nước và cũng là hồi chuông báo tử cho quân đội Pháp.

    ĐẢNG CSVN SẼ HỌC TẬP TƯ TƯỞNG MAO CHỦ TỊCH

    Theo HVH, sự giúp đỡ của TQ đã góp phần rất lớn trong việc người Việt chiến thắng quân Pháp cho nên trong Đại hội lần thứ hai của Đảng Lao động VN (đảng CS Đông Dương) năm 1951, trong điều lệ mới của Đảng Lao động VN, có ghi rõ:

    “Đảng Lao động Việt Nam(45) lấy học thuyết của Mác, Ăng ghen, Lê nin, Stalin và tư tưởng Mao Trạch Đông kết hợp với thực tế của cách mạng Việt Nam làm nền tư tưởng của đảng và kim chỉ nam của tất cả mọi hành động.” (tr.357) ”Và trong bức điện Đại hội thành lập đảng Lao Động Việt Nam gửi đảng Cộng Sản Trung Quốc có đoạn nói” Đảng nguyện noi gương anh dũng Đảng CSTQ, học tập tư tưởng Mao trạch Đông, tư tưởng lãnh đạo nhân dân TQ và các dân tộc Á đông trên con đường độc lập và tự chủ (báo Nhân Dân ngày 11/03/1951).

    “(...) Trong bài viết giới thiệu quyển ‘Kháng chiến nhất định thắng lợi‘của Trường Chinh, lí thuyết gia của Đảng, báo Nhân Dân ngày 2 tháng 1-1956 có viết: ‘Đảng có đường lối chính trị và đường lối quân sự đứng đắn, lấy chủ nghĩa Mác - Lê và tư tưởng Mao Trạch Đông làm nền tảng’.

    “Nhân kỉ niệm 10 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Tướng Võ Nguyên Giáp viết: ‘Từ năm 1950 trở đi, sau cách mạng TQ thắng lợi, quân đội và nhân dân ta càng có điều kiện học tập những kinh nghiệm quý báu của Quân giải phóng nhân dân TQ, học tập tư tưởng quân sự Mao Trạch Đông. Đó là một yếu tố quan trọng giúp vào sự trưởng thành nhanh chóng của quân đội ta, góp phần vào những thắng lợi liên tiếp của quân ta, đặc biệt là trong chiến dịch Thu Đông năm 1953 - 1954 và trong chiến dịch Điện Biên Phủ vĩ đại’“ (trong báo Nhân Dân ngày 07/05/1964) (tr.358-359).”

    HVH kết luận:

    “Điểm qua một vài nét lớn như trên, chúng ta thấy những kẻ sau này chủ trương xâm lược Cam-pu-chia, khống chế Lào và chống TQ là đã phản bội đường lối của Hồ Chủ tịch, là vong ân bội nghĩa và truỵ lạc đến chừng nào?” (tr.359)

    Trong chương này, HVH đề cập đến vấn đề sửa sai cải cách ruộng đất năm 1956. Theo ông, sai lầm không đến từ đường lối Đảng vốn vẫn chủ trương:

    “Trưng mua ruộng đất, trâu bò, nông cụ những địa chủ kháng chiến, (...) không được đụng đến ruộng đất, trâu bò, nông cụ, nhà cưả của những phú nông, trung nông (...) và người có ít ruộng đất, phải phát canh vì tham gia công tác kháng chiến (...) Dựa vào bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, liên hiệp phú nông tiêu diệt chế độ phong kiến” (tr.360)

    Sai lầm cũng không thể đến từ tư tưởng Mao hay các cố vấn TQ mà do chính Trường Chinh với

    “tác phong gia trưởng và ý thức tả khuynh (...) đã đưa đến những sai lầm nghiêm trọng là đánh tràn lan vào trung nông, phú nông và những người có ít ruộng đất cho thuê, đánh tràn lan cả vào cơ sở Đảng.” (tr.361)

    Khắp nơi người ta tổ chức những Toà án Nhân dân, đấu tố, kết án oan những người vô tội “sự phản ứng mãnh liệt của nhân dân vang dội đến Hà Nội” (tr.362). Sau thảm kịch này, Trường Chinh phải thôi chức Tổng Bí thư Trung Ương Đảng nhường chỗ cho Lê Duẩn. Hoàng Quốc Việt và Lê Văn Lương cũng ra khỏi Bộ Chính Trị, Hoàng Văn Hoan và hai người khác vào thay. HVH viết

    “Sai lầm trong cải cách ruộng đất, đối với Trường Chinh là một bi kịch, đối với Lê Duẩn lại là một dịp tốt để từng bước xây dựng bè cánh, dần dần xa lìa đường lối của Hồ Chủ tịch, đưa vận mệnh Tổ quốc đến chỗ tai nạn.” (tr.367)

    Trong chương sau, chương 7, đỉnh cao của tập hồi kí, HVH nghiêm khắc lên án Lê Duẩn, Tổng bí thư Đảng. Ông bắt đầu bằng các biến cố xảy ra ở Liên Xô.

    Sau khi Staline chết, Khrouchtchev lật đổ Malenkov, mở đầu chính sách “chia rẽ và cơ hội chủ nghĩa” đánh những đòn chí tử vào phong trào cộng sản thế giới. Khrouchtchev đề cao chủ trương “thi đua hoà bình với đế quốc” và tiến lên “xã hội chủ nghĩa bằng đường lối nghị viện” Khrouchtchev đã lộ nguyên hình một tên “cơ hội chủ nghĩa và xét lại”. Nhưng tội ác lớn nhất của Khrouchtchev chính là “bản báo cáo mật về Staline”. Theo HVH, Khrouchtchev không những bội nhọ Staline mà còn bôi nhọ cả Liên Xô nữa. Đúng vào lúc “bọn đế quốc đứng đầu là Mĩ” đang tìm cách phá hoại Liên Xô, thì bản báo cáo này quả là đến đúng lúc, tiếp tay cho Mĩ nhằm gây hại cho chủ nghĩa cộng sản.

    Thật ra, HVH không chú ý xem xét coi những gì Khrouchtchev đề cập trong bản báo cáo là có thật hay xuyên tạc. Ông chỉ quan tâm đến việc người Mĩ và giới tư bản đã sử dụng những gì Khrouchtchev phát giác nhằm tấn công “Tổ quốc của Xã hội chủ nghĩa”.

    Theo HVH, bản báo cáo này đã gây rạn nứt trong các nước xã hội chủ nghĩa anh em và tạo nên bất hoà giữa Liên Xô và TQ. Tại Bucarest, thủ đô Roumanie, vào tháng 6 năm 1960 trong cuộc họp Đảng các nước Xã hội chủ nghĩa, Khrouchtchev công khai chỉ trích Đảng CSTQ. Một tháng sau, Khrouchtchev đơn phương xoá bỏ 600 hiệp định và hợp đồng kí với TQ, rút về nước toàn bộ các chuyên gia Liên Xô công tác tại TQ(46)

    Trước tình trạng nghiêm trọng này, một Đoàn đại biểu do Hồ Chí Minh cầm đầu (trong đó có HVH) lập tức sang Liên Xô gặp Khrouchtchev tại Mạc-tư-khoa. Nhưng Hồ Chí Minh không thuyết phục được Khrouchtchev. Để cứu vãn “khối đoàn kết CS”, Đảng CSVN vẫn tiếp tục xem Liên Xô như “người anh cả trong phong trào Cộng sản Quốc tế”.

    Chủ trương này được thể hiên trong văn kiện chính thức của Đảng Lao động VN sau Đại hội 3 của Đảng vào tháng 9/1960. Đảng Lao động VN mong muốn giữ vững “đoàn kết phe xã hội chủ nghĩa” nhưng những nứt rạn đã trở nên vô phương cứu chữa. Có hai phe nhóm đã hình thành “trong các đảng anh em chưa nắm chính quyền”. Nhóm thứ nhất là nhóm “chính thống”. Nhóm thứ hai là nhóm “xét lại” nghĩa là theo chủ trương của Khrouchtchev chống TQ. Đảng CSVN, theo HVH, thuộc nhóm thứ nhất “chống chủ nghĩa xét lại.”

    LIÊN XÔ ĐỀ NGHỊ HAI MIỀN NAM BẮC VN CHUNG SỐNG HÒA BÌNH

    Cuối năm 1963, Đảng CSVN họp hội nghị Trung Ương lần thứ 9 dưới sự chủ toạ của Hồ Chí Minh về vấn đề chống chủ nghĩa xét lại. Đáng lẽ Lê Duẩn phải làm bài báo cáo, nhưng Duẩn né tránh, giao lại việc này cho Trường Chinh. Trong cuộc họp sôi nổi, Tố Hữu phê phán Liên Xô rất mạnh “bằng cách nêu ra mười tội trạng với giọng lên bổng xuống trầm của một nhà thơ. Riêng Lê Duẩn thì không phát biểu gì cả” (tr.380) Duẩn chỉ lên tiếng vào lúc Trung ương dự thảo bản nghị quyết, yêu cầu không nêu tên Khrouchtchev. Trung ương chấp nhận việc không nhắc đến Khrouchtchev, bản nghị quyết này không được công bố, chỉ dùng làm tài liệu học tập nội bộ Đảng. Nhưng một bản thông cáo nói lên tinh thần văn kiện này được đăng trên báo Nhân Dân ngày 21 tháng Giêng năm 1964, sau đây là một đoạn trích dẫn:

    ”Đảng Lao Động VN ra sức tranh đấu bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, chống chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh là nguy cơ chủ yếu của phong trào Cộng sản Quốc tế, đồng thời chống chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa biệt (bè) phái.” (tr.380)

    Ngày 27 tháng 11 năm 1964, một đoàn Đại biểu đảng được Liên Xô mời sang Mạc-tư-khoa. Trước ngày khởi hành, Hồ Chí Minh đã dặn dò phái đoàn là không được kí tên vào bản thông cáo chung với Liên Xô. Cho nên khi Souslov, đại biểu Liên Xô trình bày một bản thông cáo chung vào cuối kì họp, Đoàn đại biểu Việt Nam từ chối kí tên. Nhưng lúc phái đoàn sắp lên đường về VN, Lê Duẩn bí mật đi gặp những người trách nhiệm Liên Xô và kí tên vào bản thông cáo chung. Khi HVH và các đại biểu khác phản đối thì Lê Duẩn nói sẽ nhận lãnh hết mọi trách nhiệm với “Bác và Bộ Chính trị”. Về sau, khi báo Nhân Dân đăng một bài xã luận đại ý theo tinh thần nghị quyết của hội nghị 8, Lê Duẩn đã gọi chủ nhiệm báo là Hoàng Tùng đến để khiển trách.

    Theo HVH, Liên Xô giúp Việt Nam với điều kiện là các nhà lãnh đạo Việt Nam phải đứng vào phe Liên Xô chống lại TQ. Ngay từ sau hiêp định Genève, “Liên Xô đã vẫn chủ trương hai miền Nam Bắc sống chung hoà bình, thi đua kinh tế, miền Bắc hơn hẳn miền Nam về mặt kinh tế thì miền Nam sẽ thống nhất vào miền Bắc” (tr.389) nên đã không viện trợ quân sự cho miền Bắc trong cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam. “Chẳng những không viện trợ mà còn nhồi nhét tư tưởng chung sống hoà bình với đế quốc và tư tưởng chống TQ cho đám học sinh Việt Nam qua học ở Liên Xô.” (tr.389)

    Trong khi đó, các nhà lãnh đạo miền Bắc đồng ý với TQ áp dụng kinh nghiệm của TQ vào miền Nam là “trường kì mai phục, liên hệ quần chúng, tích trữ lực lượng, chờ đón thời cơ” (tr.368). Sau khi Khrouchtchev bị lật đổ, chủ trương sống chung hoà bình này vẫn được các nhà lãnh đạo Liên Xô tiếp tục “đẩy mạnh một cách không giấu giếm.”

    Tuy về sau, trong cuộc chiến tranh chống Mĩ, Liên Xô đã sửa đổi chính sách, nhưng viện trợ quân sự khá giới hạn: “họ giúp cho Ấn Độ và Ai Cập máy bay Mig 23 mà không giúp cho Việt Nam (...) lấy cớ nếu giúp vũ khí tốt cho VN thì VN sẽ giúp TQ lấy được bí mật về kĩ thuật!”

    Về vấn đề chuyên chở vũ khí hay hàng viện trợ cho Việt Nam, thay vì dùng đường biển thuận lợi hơn, Liên Xô lại dùng đường xe lửa, tức là phải đi qua đường sắt TQ. Người Việt Nam không có đủ thời gian và phương tiện chuyển hàng về VN, nên hàng ứ đọng tại ga Bằng Tường tại TQ. Lê Duẩn biết vậy nhưng lại đi rêu rao ngấm ngầm rằng TQ chơi xấu, không chịu chở hàng Liên Xô và Đông Âu cho Việt Nam. Báo chí phương Tây đã khai thác rùm beng tin này nên ngày 28 tháng 1 năm 1967, chính phủ Việt Nam (Bắc Việt) phải cho Thông tấn xã cải chính rằng “TQ vẫn chuyên chở hàng Liên Xô cho Việt Nam đúng kế hoạch” (tr.392).

    Năm 1965, nhân dịp thăm Mạc-tư-khoa, Lê Duẩn triệu tập một cuộc họp tại sứ quán Việt Nam gồm các nhân viên sứ quán và đại biểu sinh viên Việt Nam học tại Liên Xô. Trong buổi nói chuyên này, Lê Duẩn “ca ngợi Liên Xô và phê phán Trung Quốc”. Một số sinh viên VN bất bình viết thư tố cáo lên ban chấp hành Trung Ương. Nhưng thư này bị Lê Duẩn chận lấy rồi thủ tiêu. Bộ chính trị chỉ được nghe kể lại qua ban văn thư. Cùng năm đó, trong một cuộc hội nghị cán bộ tuyên huấn do Tố Hữu tổ chức, Trần Quỳnh dám phê bình Trung Quốc với cùng một lí lẽ và luận điệu như Lê Duẩn tại sứ quán VN ở Nga. Theo luận điệu này, trong cuộc chiến tranh chống Tưởng Giới Thạch và chống Nhật, Mao đã chủ trương chính sách lấy thôn quê bao vây thành thị. Và trong thời kì xây dựng lại đất nước TQ, Mao cũng chủ trương ưu tiên cho phát triển nông nghiệp. Một chính sách như vậy là tiêu biểu cho “tư tưởng nông dân chứ không phải tư tưởng vô sản. Đến như chính sách (...) chủ trương dựa vào bần cố nông và trung nông lớp dưới cũng là sự mâu thuẫn giả tạo” vì lẽ sau khi cải cách ruộng đất không còn nông dân nghèo và cũng không còn trung nông lớp dưới vì “ai cũng như ai” (tr.393)

    Ngày 13 tháng 3 năm 1967 với sự đồng ý của Lê Duẩn, Tố Hữu cho đăng bài thơ “Tâm sự” trong báo Nhân Dân có “nội dung chống Trung Quốc”. Vì sao Lê Duẩn chống TQ đến thế? HVH giải thích “vì trong đầu óc Lê Duẩn đã sẵn có một tư tưởng chống Trung Quốc do thực dân Pháp nhồi nhét và sau lại được chủ nghĩa xét lại Khơ-rút-sốp nhồi nhét thêm” (tr.395). Nghĩa là Lê Duẩn chống TQ không phải vì cái hiểm hoạ TQ sẽ xâm lấn VN một ngày nào đó mà bởi Lê Duẩn đi theo lập trường Khrouchtchev, chủ trương “chung sống hoà bình với đế quốc” và nhất là viễn ảnh “nhờ Liên Xô dàn xếp đàm phán hoà bình với Mĩ để giải quyết vấn đề miền Nam” (tr.397). Như vậy, Lê Duẩn đã xa rời, đã đi chệch ra ngoài đường lối do Hồ Chí Minh vạch ra.

    CHIẾN THẮNG NĂM 1975 LÀ SỰ KIỆN NGƯỢC LẠI VỚI CHỦ TRƯƠNG CỦA LÊ DUẨN

    Trong suốt thời kì Hội đàm Paris, Lê Duẩn luôn luôn tỏ ra sẵn sàng thoả hiệp với người Mĩ đến nỗi chấp nhận sự hiện diện của họ trong các thành phố miền Nam. (Nhưng) chính nhờ “những thắng lợi ở chiến trường” cán cân hoà đàm Paris mới nghiêng về phía Bắc Việt.

    “Nói tóm lại, thắng lợi của Hội đàm Pa-ri là do thắng lợi ở chiến trường quyết định như Hồ Chủ tịch đã nói, chứ không phải do chủ trương thoả hiệp mà Lê Duẩn tự khoe khoang là mưu lược tài tình, càng không phải là do ba tấc lưỡi của Lê Đức Thọ ở Pa-ri quyết định“ (tr.404).

    Sau khi Hồ Chí Minh qua đời, Lê Duẩn dùng nhiều thủ đoạn nắm hết mọi quyền hành và loại trừ bằng những biện pháp hành chính những người bất đồng ý kiến. Bằng chứng là trong Đại hội Đảng lần thứ tư, chỉ toàn là (...) bồi bút (...) một bọn tay chân chỉ biết nịnh hót, tâng bốc cá nhân Lê Duẩn, coi như chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 là công trình của sự chỉ đạo tài tình của Lê Duần (tr.405). Thật là không có gì sai lầm hơn, HVH kêu lên, chính thật ra là “công trình của Hồ Chủ tịch!”

    Theo HVH, Lê Duẩn đã phạm nhiều lỗi lầm nghiêm trọng. Lỗi lầm đầu tiên là vụ Tổng tấn công dịp Tết Mậu Thân năm 1968. Vụ tấn công này đã đem đến tổn thất nặng nề về nhân mạng và vũ khí. Phải mất nhiều năm mới phục hồi binh lực. Lỗi lầm ở chỗ “ta đã coi thường (đánh giá sai) lực lượng địch”, đã đưa “bộ đội và chiến sĩ vào” những trận đánh (biết trước là) sẽ thua.

    Lỗi lầm thứ nhì là chính sách áp dụng sau Hiệp định Paris. Lê Duẩn chủ trương không đấu tranh vũ trang, chỉ dùng hình thức đấu tranh chính trị và binh vận, để hoà giải dân tộc. Tóm lại là thi hành triệt để Hiệp định Paris (tr.406) trong khi đối phương (miền Nam) từ chối ngưng chiến. HVH đưa bằng chứng về lỗi lầm này bằng cách trích dẫn khá nhiều tướng Trần Văn Trà(47) mà ông vẫn xem như cùng phe với Lê Duẩn. Chính sách đấu tranh bằng phương pháp chính trị, binh vận và hoà hợp dân tộc này, theo HVH, có thể tóm tắt bằng năm điều cấm:

    1) Cấm tấn công địch.
    2) Cấm phản công quân địch càn quét lấn chiếm.
    3) Cấm bao vây đồn địch.
    4) Cấm pháo kích đồn địch.
    5) Cấm xây dựng xã chiến đấu.

    Mặc dầu có những nhượng bộ ấy, đối phương không ngừng “lấn chiếm, (bắn) phá, (tiêu) diệt cơ sở quần chúng và cơ sở Đảng”. Đứng trước kết quả hoàn toàn ngược với dự đoán của Tổng bí thư Lê Duẩn, Trung Ương cục miền Nam và Quân uỷ miền (Nam) thay vì rút lui đã “tự ý củng cố chấn chỉnh tại chỗ, giữ nguyên vị thế xen kẽ ba vùng”“tự động đánh trả” (tr.408). HVH viết

    “nếu như sau khi có Hiệp định Paris, quân và dân miền Nam cũng triệt để chấp hành chủ trương sai lầm của Lê Duẩn mà không có sự uốn nắn kịp thời của tập thể, của quân và dân trong cương vị chiến đấu thực tế, thì chúng ta khó có thể lường được cái nguy cơ sẽ xảy ra đối với miền Nam, và cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân ta sẽ đi đến kết quả như thế nào (tr.413) (...) Vinh quang này mãi mãi thuộc về Hồ Chủ tịch và Đảng Lao động Việt Nam, thuộc về quân và dân Việt Nam, đặc biệt là quân và dân miền Nam anh hùng (tr.414) (...) chứ không phải công lao của cá nhân Lê Duẩn”.

    Đọc đến đây, ta có cảm tưởng như đang đọc “Bản báo cáo bí mật” của Khrouchtchev về Staline. Chỉ cần thay hai chữ Lê Duẩn bằng Staline!

    HVH dành chương cuối cùng của cuốn hồi kí để chỉ trích chính sách của Lê Duẩn từ sau 1975. Ông kể ra một số sự kiện chứng tỏ rằng Lê Duẩn đã phản bội Bác và Đảng. Lê Duẩn đã ngông cuồng “âm mưu biến Việt Nam thành một nước bá chủ ngự trị cả Đông Dương và Đông Nam Á.” (tr.415) Và vì biết TQ sẽ phản ứng mạnh trước âm mưu đó nên Lê Duẩn đã làm áp lực ép Trung Ương Đảng CS VN ra nghị quyết chống TQ năm 1978.

    “TQ là kẻ thù trực tiếp, kẻ thù nguy hiểm của nhân dân Việt Nam; phải đánh đổ nhóm cầm quyền thân Mao ở Bắc Kinh;(...) phải phê phán tư tưởng Mao Trạch Đông trên mọi lãnh vực; phải phái người di các nước Đông Nam Á vận động các nước này chống TQ.” (tr.426)

    Sau nghị quyết này, cả một chiến dịch rộng lớn chống TQ được tung ra. Quyển sách của Vương Minh(48) được phổ biến hàng chục vạn cuốn nhằm đối kháng tư tưởng Mao. Phạm Văn Đồng đi khắp các nước Đông Nam Á (không cộng sản) “để nói xấu TQ và cam đoan sẽ không giúp đỡ Đảng CS của các nước này đặc biệt là Đảng CS Thái Lan” (tr.427).

    Chủ trương chống TQ đã thúc đẩy Lê Duẩn và đồng bọn phạm những tội ác tày trời đối với cộng đồng Hoa kiều tại VN. Chính phủ đã tịch thu tài sản tất cả những người Hoa bị nghi ngờ là trung thành với TQ, đuổi họ ra khỏi các cơ quan Đảng, Nhà nước và quân đội bất kể họ đã từng là anh hùng chống hay diệt Mĩ, lao động tiên tiến hoặc có công trong hai cuộc kháng chiến. Chính phủ đã buộc những người Việt có chồng, vợ là người Hoa phải li dị, hoặc phải theo họ đi vùng kinh tế mới, thậm chí theo đi về TQ hay ra nước ngoài. Ngay đến người Hoa định cư tại VN từ nhiều thế hệ hay lâu đời cũng bị cưỡng bức rời VN.

    Ngày 3 tháng 11 năm 1978, Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng kí xong Hiệp ước hữu nghị và hợp tác với Liên Xô tại Moscou thì qua ngày 25 tháng 12 năm 1978, 200.000 bộ đội VN tấn công Campuchia. Dĩ nhiên, cuộc xâm lăng này không phải chủ ý diệt Pol Pot mà vì lí do khác “đó là thực hiện cái mộng Liên bang Đông Dương mà Việt Nam là bá chủ”. Nhân danh chống chính sách diệt chủng nhưng Lê Duẩn và đồng bọn đã “áp dụng chính sách diệt chủng ở Căm-pu-chia” (tr.430). Trong cuộc xâm lăng Campuchia, quân VN đã giết hại, đốt phá nhà cửa nhân dân Campuchia. Theo tin Campuchia, hiện nay (1987) có đến 60.000 người Việt di cư, chiếm đất đai và nhà cửa dân Campuchia. Đám cư dân mới này sẽ làm cơ sở cho chính sách “đồng hóa” (Việt hóa) dân tộc Khmer. Con gái Campuchia bị ép lấy chồng Việt. Trường học Campuchia phải dạy tiếng Việt. Lê Duẩn và đồng bọn muốn biến đất Miên thành đất Việt. HVH viết:

    “Lê Duẩn (...) Trường Chinh ép Uỷ ban dự thảo Hiến pháp ghi rõ trong Hiến pháp rằng nhân dân Việt Nam phải đương đầu với bọn bành trướng và bá quyền TQ cùng bè lũ tay sai của chúng ở Cam-pu-chia” (tr.426)

    THEO HVH, LÊ DUẨN ĐÃ ĐEM VÀO ĐẢNG NHỮNG CƠ CHẾ THEO KIỂU PHÁT XÍT

    Đối với HVH, Trung Quốc đã giúp Việt Nam một cách hoàn toàn vô vị lợi. Nói rằng TQ muốn lấn chiếm VN, không những là vu khống mà còn tỏ ra vong ân bội nghĩa không thể tha thứ được. Nhân danh chống xâm lăng Trung Quốc người ta đã “biến Việt Nam thành căn cứ quân sự của Liên Xô. Đó là một hành động phản quốc, phản dân tộc.” (tr.434)

    HVH cho rằng đảng CSVN không còn là đảng của Hồ Chí Minh thời sinh tiền nữa. Người ta đã đem vào đảng “hình thức đảng trị theo kiểu phát xít” (tr.434). Ở mọi cấp của đảng đều có công an, mật vụ mà chức năng là kiểm tra mọi hành động các đảng viên. Trong một bộ máy như thế bất kì ai lên tiếng phê bình đều bị coi là chống đảng, là kẻ thù của đảng, phải đem ra trừng trị:

    “Trong Đảng không còn một chút tự do, dân chủ (...), không ai dám nói lên ý kiến thật của mình về (...) đất nước, về xã hội (...) hễ (...) phê bình những sai trái (...) là bị trù úm, bị hãm hại, ở cấp nào cũng vậy... (tr.431) Lê Duẩn và bè đảng đã tổ chức thành một nền thống trị độc tài phát xít, dựa trên cơ sở công an mật vụ dầy đặc cả trong Đảng cũng như ở ngoài xã hội.” (tr.431)

    Nhờ hệ thống công an, mật vụ này, Lê Duẩn và đồng bọn đã dần dà loại trừ được những kẻ chống đối họ và đồng thời kết hợp bè đảng (tr.435). Và Đảng CS VN trở thành “một tổ chức do Lê Duẩn và bè đảng khống chế và đè đầu cưỡi cổ nhân dân”. Chế độ bây giờ là chế độ “đảng trị”. Sau đây là đoạn trích HVH nói về tính chất chế độ:

    “Do chính sách xâm lược và hiếu chiến, tất cả sức người sức của đếu dồn cả vào việc chiến tranh và chuẩn bị chiến tranh, con em chúng ta còn phải đi làm bia đỡ đạn trên chiến trường. Vì vậy mà công, nông, thương nghiệp bị đình trệ, đời sống nhân dân đã tụt xuống đến mức bị xếp vào hàng thấp nhất trên thế giới. Tệ nạn xã hội như tham ô, móc ngoặc, buôn gian bán lậu, trộm cắp, cờ bạc, đĩ điếm, ăn mày, mê tín dị đoan ngày một lan tràn. Một xã hội được khoe khoang là xã hội chủ nghĩa mà ở nông thôn đã xuất hiện tầng lớp cường hào mới, ở nhà máy, xí nghiệp đã xuất hiện tầng lớp cai xếp mới, ở Nhà nước đã xuất hiện tầng lớp quan lại mới, ở bộ đội đã xuất hiện tầng lớp quân phiệt mới. Việc xoá bỏ chế độ tự trị của dân tộc thiểu số đã gây nên sự chống đối của các dân tộc và tạo cơ hội cho một số phần tử phản động có điều kiện hoạt động phá hoại.” (tr.432)

    Trong phần kết luận HVH kêu gọi nhân dân Việt Nam “phải làm lại cuộc cách mạng (...) phải đoàn kết đấu tranh lật đổ ách thống trị tàn bạo và thối nát của bọn Lê Duẩn.” (tr.434) Nghĩa là ông kêu gọi làm cuộc cách mạng chính trị, nhưng ông không đề nghị một chương trình hành động hay một yêu sách nào cả.

    Phần II: Bình luận

    Cần phải viết lại lịch sử đảng cộng sản Việt Nam?

    Đọc Giọt nước trong biển cả của Hoàng văn Hoan, chúng ta phải công nhận đây là một quyển hồi kí quan trọng vào bậc nhất. Không phải chỉ vì sách viết hay, rõ ràng là tác giả có văn tài. Văn phong giản dị, trong sáng, bút pháp bình dân thích hợp với chủ đề mà không thiếu phần thanh nhã. Hồi kí mà ta đọc như đọc tiểu thuyết. Độc giả không hề nhàm chán một phút giây ngay dù không hoàn toàn đồng ý với tác giả.

    Điều đáng chú ý nhất chính là nội dung của sách. Đây là lần đầu tiên, một lãnh tụ cao cấp nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN), trở thành kẻ li khai, tự do kể lại những biến cố mà mình đã tham dự. Nhờ những sự kiện mới này, tác giả giúp chúng ta phục hồi một số sự thật mà Đảng đã cố tình giấu diếm từ bấy lâu nay.

    Độc giả nhận ra rằng khá nhiều sự kiện và biến cố không hề được ghi trong các văn kiện chính thức của Đảng, từ hoạt động của Hồ Chí Minh tại Xiêm và Trung Quốc, từ vai trò của ông Hồ trong Đệ Tam Quốc Tế, cho đến đường lối chính trị của ông và Đảng CSVN vào thời điểm nắm chính quyền năm 1945, từ những cuộc thương thuyết với Pháp năm 1946 cho đến thái độ của Đảng trước phong trào hạ bệ Staline sau đại hội Đảng Cộng Sản Liên Xô lần thứ 20 cũng như về những trận đánh cuối cùng ở miền Nam trước chiến thắng 1975, ông Hoan đã đem lại một cái nhìn mới cho những người như chúng tôi, vốn không tin bài bản chính thức của Đảng đã đưa ra.

    Khác hẳn với Trường Chinh, Lê Duẩn hoặc với các nhà lãnh đạo đương thời của Đảng thường hay sửa đổi lịch sử cho ăn khớp với các biến cố mới hoặc vì tuân theo mệnh lệnh Đảng, ông Hoan là một người stalinít khá đặc biệt. Ông vẫn trung thành với Staline và chủ nghĩa Staline, điều này được độc giả cảm nhận trong từng trang hồi kí, ông coi như không có bài báo cáo mật của Khrouchtchev về Staline, coi như không biết những gì xảy ra trên thế giới từ ba mươi năm nay. Chính vì thế mà quyển hồi kí của ông là một tài liệu quí giá giúp chúng ta hiểu rõ hơn lịch sử Đảng CSVN.

    CÁC BẬC THIÊN TÀI KHÔNG BAO GIỜ NHẦM LẪN

    Quay lưng với thực tại, Hoàng Văn Hoan dường như chỉ sống với dĩ vãng. Trước kia ông tôn thờ Staline, bây giờ ông vẫn sùng bái Staline. Những bài học thời thanh niên, với ông bây giờ vẫn còn là chân lí. “Liên Xô vẫn mãi mãi là tổ quốc của chủ nghĩa xã hội”“ngọn hải đăng soi đường dẫn lối cho các dân tộc bị áp bức” mặc dù có những “hóa thân dị dạng” sinh ra từ chủ nghĩa xét lại của Khrouchtchev. Đối với ông, Hồ Chí Minh cũng như Staline, vẫn là bậc thiên tài, mà thiên tài thì không bao giờ nhầm lẫn.

    Hoàng Văn Hoan điềm nhiên kể lại mọi lời nói và hành động của Hồ Chí Minh mà không hay rằng mình đã nhầm thời điểm, vô tình ông đã hạ thấp thay vì đề cao vai trò ông Hồ. Hồ Chí Minh, được ông Hoan xem là người cộng sản, đã lợi dụng tôn giáo để làm vũ khí tuyên truyền ư? Hoàng Văn Hoan thấy điều này không những đương nhiên mà còn là tài tình nữa. Ông Hồ đã chẳng triệt để thi hành chỉ thị của Quốc tế Cộng Sản: quyết định đổi đảng Thanh niên (Việt Nam) tại Xiêm thành đảng Cộng Sản Xiêm, và chính vì thế ông đã ném hàng trăm chiến sĩ của Phân bộ đảng này vào cuộc mạo hiểm không ngày mai? Hoàng Văn Hoan xem đấy là chuyện tất nhiên. Là đại diện của Quốc tế Cộng Sản tại Xiêm, ông Hồ phải thi hành mệnh lệnh của Quốc tế Cộng Sản.

    Ông Hoan không hề đặt lại vấn đề và xem xét cơ sở chính đáng của quyết định này. Thật ra trước hậu quả tai hại của quyết định đó, rốt cục, ông cũng có tự vấn. Nhưng tự vấn để rồi đổ lỗi cho “đồng chí Tăng” có lẽ đã báo cáo sai lạc cho Quốc tế Cộng Sản về tình hình thực tiễn tại nước Xiêm. Rõ ràng ông Hoan đã không hiểu rằng tai hại đó đến từ cái gọi là “thời kì thứ ba” trong chính sách của Đệ Tam Quốc tế mà Staline đã chọn áp dụng cho phong trào cộng sản thế giới vào thời điểm đó. Sau khi thất bại nặng nề tại Trung Quốc vì áp đặt chủ nghĩa cơ hội cực đoan đối với Tưởng Giới Thạch, Staline và ban lãnh đạo Quốc tế Cộng sản thay đổi chiến thuật, quyết định áp dụng đường lối chính trị tả khuynh cực đoan “giai cấp chống giai cấp”“chiến đấu đến người lính cuối cùng” v.v...(49) Sự thành lập đảng Cộng Sản Xiêm cũng như cuộc khởi nghĩa phong trào “Xô Viết Nghệ Tĩnh” đều được tiến hành trong tinh thần đó. Nghĩa là nhằm bóp nghẹt tiếng nói của phe đối lập trong Quốc Tế Cộng Sản và để chứng tỏ cho thế giới thấy ràng sự thất bại ở Trung Quốc không hề làm suy giảm sinh lực cũng như sức mạnh của tổ chức Quốc tế Cộng sản. Bằng chứng trước mắt là sự thành lập đảng Cộng Sản Xiêm và sự khởi động phong trào “Xô Viết Nghệ Tĩnh” như nói trên. Mặc cho hậu quả đã xô đẩy cả một thế hệ chiến sĩ hi sinh cho chiến thuật mới này.

    Trong một phần khá dài, ông Hoan kể lại chuyện hội nghị Việt Cách (một đảng quốc gia thân TQ) và nhấn mạnh sự kiện ông Hồ đã thành công trong việc đắc cử vào ban Chấp hành trung ương của đảng này. Chuyện nói trên dĩ nhiên không hề được ghi trong bất cứ một văn kiện chính thức nào của đảng CSVN. Vậy mà ông Hoan rất hãnh diện kể lại, coi như một thành tích đáng phục của ông Hồ và đinh ninh rằng độc giả chắc chắn sẽ đồng ý với mình. Chúng tôi rất muốn hỏi ông nếu là một người khác làm như thế chứ không phải ông Hồ thì ông nghĩ sao? Như chuyện những người Đệ Tứ Việt Nam chưa hề tham gia vào chính phủ Trần Trọng Kim bao giờ, thế mà trước nay đảng cứ nói ngược lại để bêu rếu Đệ Tứ.(50)

    VỀ CHIẾN LƯỢC “CHÍNH SÁCH CÁC KHỐI”

    Chiến lược này của Hồ Chí Minh, trong chính trị người ta gọi là “chính sách thâm nhập”. Do ông Hồ sử dụng nó thì ông Hoan xem như điều tự nhiên mà nếu do người khác, như người Trung Quốc hay người Việt quốc gia, áp dụng đối với Việt Minh thì ông phỉ báng nào là “âm mưu” nào là “việc làm đê tiện, bẩn thỉu”, ông rất thiên vị đối với “Bác” nhưng không công bằng đối với người khác. Mâu thuẫn này bàng bạc trong suốt quyển hồi kí. Hoạt động của ông Hoan và Hồ Chí Minh ở Xiêm, theo như ông kể lại, chủ yếu là những thủ đoạn, âm mưu, móc nối, gạt gẫm, lừa đảo địch thủ hay kẻ thù.

    Nếu vì cuộc tranh đấu, bị một địch thủ mạnh hơn đặt ngoài vòng pháp luật, người chiến sĩ cách mạng có lúc cũng phải buộc lòng hành động như thế. Nhưng ở đây HVH lại nêu thành nguyên tắc hoạt động thường xuyên, ông có vẻ hãnh diện và muốn sử dụng nó bất kì trong trường hợp nào cho đời sống hằng ngày. Qua những hành động như thế HVH cho chúng ta thấy một Hồ Chí Minh hoàn toàn khác hẳn với Hồ Chí Minh do Đảng vẽ ra.

    Trong một chương khá quan trọng (tr.272-278) HVH đã kể lại rõ ràng và tỉ mỉ nguyên nhân và ý nghĩa những điều khoản kí kết với Pháp trong Hiệp định sơ bộ ngày mồng 6 tháng ba năm 1946. Theo ông, Hồ Chí Minh đã dự thảo Hiệp định này từ 1941, giữa hai kì hội nghị tại Tân Trào. HVH tự hỏi tại sao Đảng lại “che giấu” một sự kiện quan trọng như thế. HVH còn giải thích thêm rằng phương hướng hành động chung được Hồ Chí Minh vạch ra ở Tân Trào không chỉ từ 1941 mà trước đó nữa, vào năm 1938 bởi ban chấp hành Quốc Tế Cộng Sản. Đó là theo chính sách “khối các nước đồng minh chống lại khối các nước phát-xít”. Việt Nam ở vào khối đồng minh, mà trong khối này lại có cả Pháp, nên phải làm hoà với Pháp, bằng một bản hiệp định. Tại Tân Trào, Hồ Chí Minh còn nói “Cho dù chúng ta có muốn đánh Pháp, chúng ta cũng không đủ sức”. Thì ra lí do đầu tiên và cũng là lí do chính của việc kí hiệp định là chính sách này.

    Nhưng lí do thứ hai quả là vô lí. Làm sao “Bác” có thể nói về tương quan lực lượng giữa ta với Pháp khi mà ở thời điểm đó, chưa có phong trào kháng chiến nổi dậy (nó chỉ phát động từ 1945!)
    Cơ bản vấn đề là Hồ Chí Minh và Đảng của ông bị lệ thuộc vào chính sách hai khối do Moscou định đoạt, Hồ Chí Minh và Đảng không thể nào tạo dựng một phương sách ở ngoài cái “khối đồng minh” đã định này.

    HẬU QUẢ TAI HẠI CỦA HIỆP ĐỊNH SƠ BỘ

    Chính vì phải làm hoà với người Pháp mà đảng đã giới hạn, ít ra là trong giai đoạn đầu, sự phát triển tính năng động của Cách mạng tháng tám 1945. Phải hòa với Pháp, cho nên Đảng đã cấm nông dân không được lấy ruộng của phong kiến địa chủ và Đảng cũng đã đàn áp tất cả những lực lượng kháng Pháp trong nước. Chính vì thế mà Việt Minh ra lệnh tàn sát những người Đệ Tứ, dù họ chỉ có cái “tội duy nhất” là đòi lấy đất ruộng chia cho nông dân nghèo(51) và muốn tiếp tục cuộc đấu tranh không nhân nhượng với người Pháp. Cùng lúc đó Việt Minh cũng triệt hạ những người của các đảng phái quốc gia vì những người này cũng đòi quân đội Pháp phải rút khỏi Việt Nam.

    Chính vào lúc ấy, cựu hoàng Bảo Đại, trở thành hoàng tử Vĩnh Thụy, được cử làm “cố vấn tối cao” cho chính phủ Hồ Chí Minh và triều đình Huế được trọng đãi. Phần tiếp theo thì ai cũng biết! Ông hoàng cố vấn tối cao đã “phản bội”, lợi dụng

    một chuyến công du ngoại quốc, trốn khỏi Việt Nam! Ngài cố vấn tối cao hợp tác với người Pháp, thành lập một chính phủ và một quân đội chống lại Việt Minh. Người Pháp thì phản bội Hiệp Định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 46, gây chiến sau khi mở những cuộc tấn công giành đất. Việt Minh chỉ còn một lối thoát duy nhất là tổ chức cuộc chiến đấu vũ trang. Sự thực lịch sử là thế. Nhưng trong Lịch sử Đảng CSVN, chúng ta được đọc một lối diễn dịch lịch sử khác: Đảng đã tiên liệu được tất cả từ sự phản bội của người Pháp cho đến sự phản bội của quân Đồng minh người Anh và người Mĩ. Nhân nhượng của Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 chỉ là một kế hoãn binh để nghỉ ngơi và để chỉnh đốn lại tổ chức kháng chiến.

    Ngược lại với văn bản chính thức, HVH đã nhìn nhận rằng hiệp ước được kí kết vì những lí do quốc tế chứ không phải vì những điều kiện quốc gia. Ông còn đi xa hơn nữa khi cho chúng ta biết rằng phong trào cách mạng tháng tám năm 1945 của hàng triệu người dân thuở ấy được tạo nên không phải để đánh đuổi thực dân Pháp mà chỉ để nhắm mục tiêu tạo điều kiện đi tới một cuộc thỏa hiệp với Pháp. Mục đích trước mắt và ngay sau đó chưa phải đấu tranh cho một nền độc lập hoàn toàn. Theo Hồ Chí Minh, độc lập hoàn toàn chỉ có thể giành được sau thời hạn 5 năm.

    Trình bày tất cả những sự kiện lịch sử đã thật sự xảy ra như đã nói trên, HVH thật ra chỉ cho ta biết có một nửa sự thật, còn nửa kia ông ta dấu nhẹm, đó là hậu quả tai hại do đường lối chính trị thoả hiệp này mang đến cho đất nước Việt Nam. Khi tàn sát những người Đệ Tứ và người quốc gia bất khuất, khiến những người này không còn có thể cùng tiếp tục góp phần vào phong trào kháng chiến chống Pháp, Việt minh không những đã phá hoại một phần lớn những tiềm năng của đất nước mà họ còn tạo ra những điều kiện khách quan gây khó khăn cho sự tổ chức cuộc kháng chiến này.

    Chỉ trong vòng vài tháng quân Pháp nắm vai trò chủ động. Họ đẩy lùi quân đội Việt Minh ra khỏi các thành phố khá dễ dàng và không mấy tổn thất. Còn về chuyện người Đệ Tứ đòi hỏi “cải cách ruộng đất” phải hơn năm năm sau, Đảng CSVN mới đề cập đến.(52) Và bởi vì chủ nghĩa cơ hội chỉ là mặt trái của chủ nghĩa bè phái (sectaire), cuộc cải cách ruộng đất này đã được thực hiện một cách cực kì tàn bạo và hoàn toàn ngược lại với những nguyên tắc sơ đẳng nhất của chủ nghĩa Lê nin về vấn đề này.

    HVH đã tố cáo điều ấy trong hồi kí. Năm 1956, Đảng CSVN đã phải sửa sai, kiểm thảo. Nhưng hàng chục nghìn nạn nhân có sống lại để được phục hồi hay không?

    VỀ VIỆN TRỢ TRUNG QUỐC VÀ LIÊN XÔ CHO VIỆT NAM

    Bàn về chiến thắng Pháp và Mĩ của Việt Nam, một số sử gia và nhà văn kể cả những người cực tả, giải thích rằng khi Hồ Chí Minh và đảng ông lên cầm quyền, tất nhiên họ đã đoạn tuyệt với Staline và chủ nghĩa Staline. Nhưng sự thật, và quyển hồi kí của HVH cũng xác nhận, là khác với Mao và Tito, Hồ Chí Minh hướng dẫn cuộc Kháng chiến Việt Nam theo khuôn khổ, chính sách do Staline và Liên bang Xô Viết đã quy định. Hồ Chí Minh đã chẳng bênh vực khẩu hiệu “Liên Hiệp Pháp” như đảng CS Pháp hay sao? Thái độ cũng như chương trình hoạt động của đảng CSVN chẳng phương hại gì cho chính sách của các đảng CS Pháp và Liên Xô. Người ta thường hay quên điểm quan trọng này: chiến tranh VN mở đầu cùng lúc với cuộc chiến tranh lạnh thế giới. Liên bang Xô Viết, lúc ban đầu, không hề nhiệt tâm giúp đỡ kháng chiến VN, bây giờ với chiến tranh lạnh, họ cũng chẳng có lí do gì để phá hoại kháng chiến Việt Nam, như trong trường hợp cuộc kháng chiến Nam Tư hay Hy Lạp. Cuộc kháng chiến VN trở nên con bài khá tốt cho chính sách của giới lãnh đạo Liên Xô Viết trong cuộc chiến tranh lạnh này.

    Không ưa Liên Xô, HVH ra mặt chọn phe Trung Quốc. Để bênh Trung Quốc, ông đã lập một danh sách thật dài những viện trợ TQ cho Việt Nam. Viện trợ này quả thật vô cùng quan trọng, nếu không có nó, sẽ không có chiến thắng Điện Biên Phủ. Nhưng HVH quên nói với chúng ta rằng sau Điện Biên Phủ, viện trợ TQ lại kém xa viện trợ Liên Xô. Và ai cũng biết cho đến trước ngày chiến thắng 1975, Trung Quốc chống lại việc thống nhất Việt Nam, y hệt như Liên Xô chống việc thống nhất Việt Nam trong những năm 1950. HVH có lí khi ông phê bình thái độ Liên Xô về chuyện này nhưng ông lại quên tư thế của Trung Quốc. Sự thật là viện trợ Liên Xô hay viện trợ Trung Quốc, cả hai đều nhằm phục vụ cho quyền lợi chính trị của giới quan liêu lãnh đạo hai nước này.

    Về hiệp định Genève năm 1954, HVH đã nói dối khi ông bảo rằng Trung Quốc ủng hộ vô điều kiện mọi quyết định của Việt Nam, và nói dối lần nữa khi ông khẳng định rằng trong cuộc chiến tranh chống Mĩ, Trung Quốc không hề tìm cách gây khó khăn trong việc chuyên chở các viện trợ Liên Xô ngang qua lãnh thổ Trung Quốc để tiếp tế cho Việt Nam.

    HVH có lí khi ông trách Liên Xô đã gọi về nước tất cả các chuyên viên Liên Xô đang làm việc ở Trung Quốc khi xảy ra vấn đề tranh chấp giữa hai nước. Nhưng Trung Quốc đã chẳng đối xử như thế với Việt Nam hay sao? Tệ hơn nữa, họ đã kéo quân sang xâm phạm lãnh thổ Việt Nam để cho “một bài học” và gây ra bao nhiêu tội ác không thể tha thứ được. “Bài học” ấy rất đắt giá cho cả hai bên nhân dân Hoa-Việt, là những người hoàn toàn không có lí do gì để huỷ diệt nhau bằng cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn.

    Cũng như về việc quân đội Việt Nam chiếm đóng Campuchia, chúng ta cũng hoàn toàn đồng ý với những chỉ trích của tác giả. Ông nói, rất đúng, rằng mục đích của Hà Nội không phải “tiêu diệt Pol Pot” mà chính là nhằm thực hiện “Liên bang Đông Dương” bằng võ lực. Chủ nghĩa “đại quốc gia” là động lực chính chứ không hề là chủ nghĩa nhân đạo vô vị lợi mà người ta đã lầm lẫn trao tặng cho giới lãnh đạo Việt Nam.

    Nhưng HVH lại không nói gì đến tội ác diệt chủng của Pol Pot cũng như việc Trung Quốc mưu toan đặt Việt Nam vào vòng lệ thuộc của họ. Chủ nghĩa “đại quốc gia” không phải bản sắc riêng của Việt Nam, nó cũng tượng trưng cho bản sắc Trung Quốc và Liên Xô, bởi nó thể hiện trên bình diện chính trị một trong những nguyên tắc của chủ nghĩa Staline mà chính tác giả cũng chưa gột bỏ được.

    NÊN THAY ĐỔI GIỚI LÃNH ĐẠO HAY THAY ĐỔI CHẾ ĐỘ?

    Trong chương cuối, HVH đả kích có bài bản kẻ thù số 1 của mình là Lê Duẩn. Đả kích về mặt chính trị lẫn cá nhân. Về mặt chính trị ông kê khai một số lỗi lầm của Lê Duẩn trong đó có ba lỗi lầm quan trọng: cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân, chủ nghĩa xét lại kiểu Khrouchtchev và đường lối chính trị trước và sau Hiêp định Paris.

    Đây là lần đầu tiên một nhân vật lãnh đạo quan trọng của đảng CSVN dám công khai chỉ trích như vậy. Thật là đáng cho chúng ta lưu ý khi biết rằng cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968 này được xem như một cuộc “phiêu lưu mạo hiểm” bởi vì ban lãnh đạo đảng CSVN đã “đánh giá quá thấp” lực lượng quân thù. Rằng Lê Duẩn là tín đồ (không dám công khai ra mặt) của Khrouchtchev trong khi Hồ Chí Minh chống lại Khrouchtchev và chống lại việc hạ bệ Staline. Một điều đáng lưu ý khác nữa là Lê Duẩn và các lãnh tụ khác đều tỏ ý ngạc nhiên trước chiến thắng 1975, vì họ đã “đánh giá quá thấp” tính năng động của Cách mạng và “đánh giá quá cao” sức mạnh của chế độ Nguyễn Văn Thiệu. Vì đã chuẩn y một tiến trình đấu tranh chính trị lâu dài, họ muốn tôn trọng nghiêm nhặt tất cả các điều khoản của Hiệp định Paris, nên họ không muốn quân giải phóng trả đũa những vi phạm Hiệp định của quân đội ông Thiệu.

    Chỗ này HVH đã vô tình ghi lại tình trạng đất nước giống y hệt như sau ngày kí kết Hiệp Định sơ bộ mồng 6 tháng 3 năm 1946. Việt Minh nghĩ rằng có thể cứu vãn được những thoả ước đã kí, trong khi quân Pháp đã vi phạm trắng trợn Hiêp định bằng cách tấn công về chính trị cũng như quân sự. Như vậy Thỏa hiệp án (modus vivendi) mà Hồ Chí Minh đã kí với Marius Moutet ngày 14 tháng 9 năm 1946, trước ngày lên tàu về nước, có ý nghĩa gì?

    HVH có lí khi chỉ trích Lê Duẩn. Nhưng những điều ông coi là xấu cho Lê Duẩn lại được trình bày là tốt cho Hồ Chí Minh. Cho nên càng bênh vực “Bác Hồ” chừng nào, ông lại ra công chỉ trích Lê Duẩn chừng ấy.

    Về mặt cá nhân, HVH phê bình Lê Duẩn cũng giống y hệt như Khrouchtchev phê bình Staline. Tất cả mọi xấu xa đều tập trung vào một mình Lê Duẩn. Lê Duẩn nhiều tham vọng, thích sùng bái cá nhân, dùng nhiều thủ đoạn chiếm lấy tất cả quyền lực về tay mình v.v... Ông còn ngụ ý rằng tập đoàn Lê Duẩn - Lê Đức Thọ đã ám hại một nhân vật có trách nhiệm lớn trong đảng, tướng Nguyễn Chí Thanh. (tr.420)

    Nhưng những chỉ trích của HVH đem đến một câu hỏi: nếu quả thật Lê Duẩn đã loại bỏ bằng phương pháp quan liêu mọi địch thủ của mình, nếu quả thật Lê Duẩn đã cài công an vào tất cả các cơ quan của bộ máy Đảng và Nhà nước, nếu quả đúng Lê Duẩn đã khiến chế độ trở thành một “chế độ phát xít”, thì phải hỏi vì sao ra nông nỗi này? Chắc chắn phải tìm câu trả lời ngay trong chính cái cấu trúc của chế độ.

    Vấn đề không phải là thay thế tập đoàn Lê Duẩn bằng một tập đoàn khác như HVH đã đề nghị mà là xây dựng lại một thể chế hoàn toàn khác hẳn. HVH có sẵn sàng chấp nhận trong chế độ xã hội chủ nghĩa, một thể chế dân chủ từ dưới gốc, một nền kinh tế tự quản, một chế độ đa đảng và nhiều nghiệp đoàn? HVH có sẵn sàng chấp nhận từ bỏ hệ thống độc đảng và độc khối hay không? Ông có sẵn sàng chấp nhận tự do giao lưu tư tưởng, tự do báo chí, quyền tự do lập hội và hội họp, quyền đình công, quyền biểu tình, tất cả được bảo đảm bằng một bản hiến pháp thật sự xã hội chủ nghĩa?

    Tất cả những đòi hỏi dân chủ này là nền tảng cơ bản của chủ nghĩa xã hội mà chủ nghĩa Staline đã chà đạp trong nửa thế kỉ nay. Có thể nào nói tới đổi mới ở Việt Nam mà không lên án một cách rõ ràng chủ nghĩa Staline và mọi phó bản của nó?

    Tháng 9 năm 1987
    HOÀNG KHOA KHÔI

    Phan thị Trọng Tuyến dịch từ bản tiếng Pháp của Hoàng Khoa Khôi (bút hiệu Hà Cương Nghị) trong tờ “Chroniques vietnamniennes”, Trimestriel, Hiver Printemps 1988, Numéro spécial Paris, France: “Việt Nam Thời Luận”, báo định kì tam cá nguyệt, số Đặc biệt Đông Xuân năm 1988, xuất bản tại Paris, Pháp.

    * Bài này Hoàng Khoa Khôi viết vào tháng 9 năm 1987 (chú thích của người dịch - Phan thị Trọng Tuyến).

    Chú thích :

    (37) Thay thế Uỷ ban Hành chánh Nam bộ

    (38) Trên thực tế, quân Tưởng chỉ hoàn toàn rút khỏi đất VN vào tháng 5/1946.

    (39) Tại Đại hội Tân Trào Hồ Chí Minh cũng đã nhắc đến thời hạn “5 năm” này.

    (40) Chỗ này HVH hoàn toàn tránh né không nói đến nội dung của Tạm ước, trong đó toàn những điều khoản đảm bảo quyền lợi văn hoá và kinh tế Pháp ở Việt Nam.

    (41) Xin lưu ý: HVH đã không lí luận như vậy khi nói về hiệp định mồng 6 tháng 3 năm 1946 đã cho phép quân Pháp trở lại Việt Nam.

    (42) Chính phủ Thái lúc đó chưa công nhận nước Viêt Nam Dân chủ cộng hoà của Hồ Chí Minh nhưng cho phép mở văn phòng đại diện.

    (43) Xin xem tập “ Hồ Chủ Tịch” do Phái đoàn đại diện chính phủ VNDCCH ấn hành tại Paris, tháng 5 năm 1947

    (44) Theo văn kiện chính thức của đảng CSVN,TQ đã phản bội vì thúc ép Phái đoàn VN chịu nhận những nhượng bộ không tương xứng với lực lượng quân sự các phe lâm chiến.

    (45) Đảng Lao động VN trở thành Đảng CSVN.

    (46) HVH quên nói tới năm 1979, Trung Quốc cũng đã làm như thế đối với Việt Nam.

    (47) Xem Hồi kí Tướng Trần Văn Trà (tr.54), nxb Văn Nghệ,Tp Hồ Chí Minh.

    (48) Wang Ming là người tin cậy cuả Staline, đối lập với Mao, đã từng cố gắng áp đặt đường lối Liên Xô cho đảng CSTQ.

    (49) Câu này được tác giả trích dẫn trong phần nói về các hoạt động của ông ở Xiêm, nhưng tác giả Hoàng Văn Hoan không hiểu rõ ý nghĩa và xuất xứ của nó.

    (50) Chúng tôi đã phỏng vấn bác sĩ Hồ Tá Khanh (hiện cư ngụ tại vùng ngoại ô Paris ) về vấn đề này Bác sĩ Khanh từng là bộ trưởng trong chính phủ Trần Trọng Kim thuở đó, ông cam đoan với chúng tôi rằng không có Tạ Thu Thâu hay bất kì một người Đệ Tứ nào trong chính phủ Trần Trọng Kim. Khi có dịp, chúng tôi sẽ công bố bài phỏng vấn này.

    (51) Trong quyển Cách mạng tháng tám, tập II, nxb Sử học, 1960, Hà Nội, tr.319, người ta đọc được lời thú nhận đáng kinh ngạc sau đây: “Sau khi chúng ta giành được chính quyền, bọn trốt-kít ra một tờ báo tên là ‘Độc lập’ có vẽ ngôi sao đỏ sáng chói, nhằm chia rẽ phá hoại chính sách Đảng ta. Báo này đòi tịch thu ruộng đất chia cho nông dân. Chúng ta đã đóng cửa tờ báo này và tố cáo bọn chủ báo, biên tập với đồng bào. Đồng thời ta bắt giữ bọn thủ lãnh của chúng trốn tránh ở Dĩ An, Thủ Đức (như Nguyễn Văn Sô, Phan Văn Hùm, Phan Văn Chánh, Trần Văn Thạch v.v...” Các tác giả của những dòng này không nói rõ số phận những tù nhân, nhưng chúng ta biết rằng họ đều bị giết chết.

    (52) Khi đề cập đến chuyên cải cách ruộng đất , Đảng Cộng Sản Việt Nam thú nhận sự chậm trễ trong viêc giải quyết vấn đề này.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi