Đọc và Bình Luận “Giọt Nước Trong Biển Cả” - Hồi ký của Hoàng Văn Hoan

  • Bởi Bien-Tap
    18/02/2009
    0 phản hồi

    Hoàng Khoa Khôi

    Phần I: Tóm lược sách

    Giọt nước trong biển cả là tựa quyển Hồi kí mới ra đời của Hoàng Văn Hoan (HVH), (1987 Hồi kí, tập 1, không ghi nhà xuất bản và giá bán). Năm 1979, ông li khai khỏi đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN), trốn sang Bắc Kinh tị nạn, tại đây ông đã công khai ra mặt chống lại ban lãnh đạo đảng mình. HVH không phải là kẻ tầm thường. Vốn là bạn đồng hành của Hồ Chí Minh ngay từ những giờ phút đầu tiên, ông đã lần lượt có mặt ở những địa điểm then chốt của cuộc Cách mạng Đông Dương như Xiêm, Trung Quốc, Việt Nam. Nhân viên trong Bộ Chính trị từ 1956 đến 1976, ông giữ một địa vị quan trọng trong ban lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam. Khiêm nhượng thật hay giả vờ khiêm nhượng, ông tự ví mình như giọt nước trong biển cả của phong trào cách mạng mà ông đã tham gia từ hơn năm mươi năm nay.

    Tác phẩm của ông lí thú trên nhiều phương diện. Ông cho chúng ta rất nhiều dữ kiện về sự thành lập các nhóm cách mạng Việt Nam đầu tiên tại Xiêm và Trung Quốc trong những năm 1920 và 1930. Ông tiết lộ bí mật về chính sách của Đảng Cộng Sản Việt Nam và mối dây liên hệ giữa đảng này với Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Màn bí mật được vén lên, sư thật soi rọi vào một số bóng tối trên đường đi – lắm lúc ngoắt ngoéo – của Đảng CSVN, một đảng đầy mưu mô xảo quyệt và đã từng che giấu lịch sử vào hạng tột bậc(1).

    Nhưng chúng ta sẽ không để bị mắc lừa. Những gì tác giả kể lại chỉ là phần nổi của băng sơn. Chúng ta không quên rằng tác giả được đào tạo từ lò Staline và vẫn là một tín đồ tuyệt đối trung thành và kiên trì của chủ nghĩa Staline trong địa hạt lí thuyết cũng như trong hành động. Nhưng đây là một quyển sách đáng đọc, chỉ cần ta cảnh giác và giữ vẹn óc phê bình.

    Trong quyển hồi kí, HVH dùng danh từ nhân xưng ngôi thứ nhất chứ không như Hồ Chí Minh khi nói về mình nhưng lại sử dụng ngôi thứ ba.(2) HVH ôn lại những kỉ niệm của chính mình và trái hẳn với Hồ Chí Minh, ông viết như một nhà văn thật sự có tài. Những bài thơ của ông có một giá trị khác hẳn “thơ Bác”(3). Nhưng ông không bao giờ bỏ lỡ dịp trích dẫn Hồ Chí Minh mà ông coi là bậc thiên tài về văn chương cũng như chính trị.

    Chúng tôi xin tóm tắt các chi tiết bằng những đoạn trích dẫn khá dài, để phản ánh trung thực ý kiến của tác giả, dù các trích dẫn có thể làm bài thêm phần nặng nề.
    (Phần trích dẫn sẽ in chữ nghiêng, trong ngoặc kép và kèm theo số trang trong nguyên bản)

    HÀNH TRÌNH CỦA MỘT NGƯỜI TRÍ THỨC TRẺ TUỔI

    HVH sinh năm 1905, tại làng Quỳnh Đôi, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình cựu Nho nghèo. Quanh năm cha ông đi đến những tỉnh phía Bắc hành nghề ông đồ dạy chữ Hán, Tết mới về đôi tuần, mẹ ông vay nợ mua tơ lụa gánh đi bán các chợ xa nên vắng nhà cả ngày. Tuổi thơ ông trôi nổi giữa ông ngoại và hai người bác, dượng là những người lãnh phần nuôi dạy ông. Ông học chữ Hán đến năm 14 tuổi và thú nhận rằng “tôi học không lấy gì làm thông minh, chỉ đươc chút ưu điểm là viết chữ tốt và đọc sách rành mạch” (tr.4). Năm 1919, vì các khoa thi cũ bị bãi bỏ, cha ông cho ông vào học trường Pháp - Việt. ăm 1923, ông ra trường với bằng Sơ học Pháp Việt nhưng không nộp đơn thi vào trường Quốc học. Cha ông buộc ông nộp đơn xin thi vào Quốc tử Giám(4) (trường đào tạo các quan lại tương lai cho Pháp và triều đình Huế) nhưng đơn không được nhận vì thiếu lo lót (tr.14). Sau đó ông thi vào trường Sư phạm Nam Định, nhưng bị hỏng, rốt cục chỉ còn một cách để sống là dạy chữ quốc ngữ cho trẻ em trường tư. Đường tương lai này rồi ra cũng bị bít lối. Từ 1929, các tư thục phải xin phép mới được mở cửa dạy. Trường làng nơi ông dạy bị giấy quan huyện gửi về bắt đóng cửa, thế là, như đa số người trẻ thời bấy giờ, HVH rơi vào tình trạng bế tắc. Về sau, ông xin thi tuyển vào sở Hoả Xa và sau khi thi đỗ, được bổ về ga Phủ Diễn “tập sự ký ga làm thu vé, bán vé và đánh điện báo” (tr. 24). Một việc làm vừa không vừa ý lại chẳng có tương lai gì. Cuối cùng HVH xin thôi việc.

    Trong chương thứ nhất, tác giả kể rõ các chi tiết thời tuổi trẻ của mình, gặp trăm nghìn khó khăn của buổi giao thời. Chính sách mới thay cho một thời phong kiến vừa tàn. Thay đổi và lựa chọn không phải là chuyện dễ. Khác với Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp đã chọn theo học nền văn hoá Pháp, HVH cũng như Hồ Chí Minh là người thuộc thế hệ xưa, lúc bấy giờ là những nhà Nho nửa vời. Hành trình “dẫn tới con đường cách mạng” của ông cũng giống như đường đi của một số người có học vào thời ấy. Với vài khác biệt nhỏ, đường đi của ông giống như đường đi của Hồ Chí Minh, người mà ông tôn thờ, nêu làm gương mẫu và không ngừng trích dẫn trong suốt quyển hồi kí này.

    Theo tác giả, điểm khởi đầu đưa ông vào con đường cách mạng là khi ông biết có một nhóm người Việt ái quốc hoạt động cách mạng ở Trung Quốc. Rồi từ việc thực dân bắt giữ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh đến những tác phẩm văn chương của hai sĩ phu yêu nước này, lời kêu gọi đấu tranh, các ý tưởng cách mạng từ hải ngoại chuyển về nước, tất cả đã thúc đẩy HVH vùng dậy, quyết chí đấu tranh cho đất nước được độc lập. Đến lúc ấy, ông chỉ có một ý nghĩ là xuất dương tìm đến những người cách mạng. “Không có gì quí hơn độc lập, tự do” khẩu hiệu của Hồ Chí Minh đưa ra về sau này có thể coi như của chính ông vào lúc ấy. Độc lập là mục tiêu tối thượng. Tự do sẽ từ độc lập mà ra, tự do nghĩa là tự do sống trong một nước không còn bị ngoại bang chiếm đóng(5).

    Năm 1926, HVH bắt liên lạc được với “anh giáo Lập” là cán bộ cách mạng bí mật trong đảng Thanh Niên(6) đang chuẩn bị đưa người sang TQ. Mùa thu năm đó, ông từ giã quê hương và cha mẹ(7) lấy cớ lên đường đi tìm việc làm (tr.27). Thế là ông dấn thân vào cuộc phiêu lưu lớn bên cạnh những đồng bào mà ông chưa rõ tính danh cũng như dự định thật sự của họ.

    Tại Quảng Đông, HVH gặp anh Vương, tức Nguyễn Ái Quốc, tức Hồ Chí Minh sau này. Đây là cuộc khám phá lớn lao. Cho đến lúc bấy giờ, HVH không biết gì về chủ nghĩa cộng sản. Nhờ Hồ Chí Minh, ông biết rằng cuộc đấu tranh giành độc lập sẽ được xem như cuộc đấu tranh của phong trào cộng sản thế giới do Đệ Tam Quốc tế lãnh đạo. Lẽ ra phải chính thức vào trường võ bị Hoàng Phố, của chính phủ Quốc Đân Đảng Trung Quốc (QDĐTQ), ông được chỉ định theo học lớp huấn luyện chính trị do Vương, đại biểu Đông phương của Quốc tế Cộng sản (Đệ Tam Quốc tế) chủ trì . Một chi tiết quan trọng là các giảng viên, trừ Hồ Chí Minh, đều là người Trung Quốc, trong số này có Lưu Thiếu Kỳ, về sau trở thành Chủ tịch nước Cộng hoà Dân chủ Trung Quốc. Các bài học được Hồ Tùng Mậu, Tản Anh và Lâm Đức Thụ dịch sang tiếng Việt, đôi khi Hồ Chí Minh dịch. Chương trình học gồm ba phần: Cách mạng Thế giới, Cách mạng Việt Nam và Phương pháp vận động và tuyên truyền cách mạng.

    Về Cách mạng Thế giới, giảng viên chú ý phân tích sự khác nhau giữa Cách mạng vô sản Nga với Cách mạng tư sản Tây phương do tư sản và tiểu tư sản lãnh đạo. Về Cách mạng Việt Nam, giảng viên nhấn mạnh rằng công nông là lực lượng chủ yếu để đánh đổ thực dân và phong kiến. Đường lối chính trị của Phan Bội Châu, với chủ trương phò Cường Để và chính
    sách bất bạo động của Gandhi cũng được phân tích và phê phán là không thích hợp và không tưởng. Về Phương pháp vận động và tuyên truyền, chính Peng Pai (Bình Bái), người lãnh đạo phong trào nông dân (nông hội) TQ và Lưu Thiếu Kỳ, lãnh đạo phong trào công đoàn (công hội) của đảng CSTQ, đảm nhận phần giảng dạy. Sau mỗi bài giảng là phần thảo luận, cho đến khi nào tất cả các học viên đều “thấm nhuần” phần chủ yếu (“nắm vững toàn bài” tr.30). Địa điểm lớp học là số 5 đường Nhân Hưng Cai ở Canton (Quảng Châu). Khoảng hai tháng sau, lớp học kết thúc, các học viên được dẫn đến trước mộ Phạm Hồng Thái(8) để làm lễ tuyên thệ và được kết nạp vào đảng Thanh Niên (tiếng gọi tắt của Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí hội). Trở thành cán bộ, HVH liền được bố trí về nước hoạt động.

    Mùa xuân 1928 đánh dấu sự mở đầu cho cuộc đời chính trị của ông.Theo lệnh của Kỳ Uỷ Trung Kỳ, ông mở cuộc vận động phong trào chống đối việc tàn sát người cộng sản ở Trung Quốc. Ông tổ chức rải truyền đơn kêu gọi người Hoa nổi dậy chống Tưởng Giới Thạch và chống sự đàn áp người cộng sản Việt Nam tại Quảng Châu. Vì trong cuộc đàn áp này, Tưởng đã bắt giam Hồ Tùng Mậu và một số cán bộ cách mạng VN.

    HVH và hai đồng chí rải truyền đơn ở Vinh, một trong hai người này bị mật thám bắt. Thế là hoạt động bí mật của HVH bị lộ. (tr.34)

    Bị lùng bắt, ông được gửi đi trốn tại Xiêm (Thái Lan) và ở lại bên ấy từ 1928 đến 1935.

    HOẠT ĐỘNG CỦA PHONG TRÀO THANH NIÊN TẠI XIÊM

    Chương thứ hai của quyển hồi ký nói về hoạt động của HVH ở Xiêm. Tại đây ông gặp lại một số đồng chí bạn học cũ với ông ở Quảng Châu ngày trước. Xiêm là đất nước đặc biệt thích ứng cho các hoạt động của người cách mạng Việt Nam và cũng là nơi ẩn náu của những cán bộ, đảng viên bị mật thám thuộc địa truy lùng. Sau khi phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh bị thất bại, hàng trăm chiến sĩ chạy sang Xiêm trốn. Đây cũng là nơi đảng Thanh Niên đào tạo cán bộ và chiến sĩ. Tóm lại, Xiêm là một hậu cứ giống như hậu cứ thứ nhất ở TQ. Nhờ vậy mà sau cuộc khủng bố tàn khốc của nhà cầm quyền thuộc địa Pháp ngay trước Thế chiến thứ hai, Hồ Chí Minh đã cứu vãn được thành phần cốt cán chủ yếu, trong khi đó, những người Đệ Tứ trốt kít Việt Nam, sau cuộc khủng bố này đã hoàn toàn bị tiêu diệt. (Chú thích hkk)

    Tại Xiêm, khi HVH đến, thì hội Thanh Niên, thành lập từ 1925, đã vững chắc. Trên một tổng số 30.000 người, hội lãnh đạo hai đoàn thể: Hội Hợp tác và Hội Việt kiều Thân ái. Hội Hợp tác, khoảng một trăm hội viên có sứ mạng trở thành chiến sĩ của Thanh Niên. Hội Việt kiều Thân ái, có tính chất mở rộng hơn, gồm tất cả người Việt của cộng đồng, không phân biệt tôn giáo và chính kiến. Tại các nơi đông đảo, hội này có thêm các bộ phận khác như Hội Phụ Nữ, Hội Thanh niên, Hội Thiếu niên.

    Sinh hoạt của Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí hội tại Xiêm rất đa dạng: xuất bản báo chí, mở lớp học cho thanh thiếu niên, tổ chức những buổi diễn thuyết và thảo luận chính trị, tổ chức các lễ kỷ niệm có tính cách yêu nước và diễn kịch. Ngoài hoạt động chính trị, Hội còn tổ chức đưa cán bộ từ trong nước qua Xiêm hoặc TQ tiếp tục hoạt động cách mạng hay học chính trị. Năm 1927, Phân bộ Thanh Niên ở Xiêm đã gửi người qua Lào thành lập Chi hội Thanh Niên tại Vạn Tượng (Vientiane) và đặt cơ sở giao thông liên lạc giữa các thị trấn Lào. Hội đã thiết lập được một đường dây liên hệ bí mật giữa Xiêm và Việt Nam. Sách báo đủ loại in ấn ở Xiêm được đưa về Việt Nam, gây được tiếng vang đáng kể, đến nỗi đảng quốc gia Viêt Nam Quốc Dân đảng (VNQDĐ) tìm cách liên lạc với Thanh Niên. Vẫn theo HVH, mùa xuân năm 1928, hai năm trước khi có cuộc khơi nghĩa Yên Bái, VNQDĐ gửi ba đại biểu sang Xiêm (Nguyễn Ngọc Sơn, Hồ Văn Mịch và Nguyễn Văn Tiềm) yêu cầu Thanh Niên giúp đưa khí giới về nước chuẩn bị cuộc nổi dậy. Phái đoàn đại biểu được Thanh Niên tiếp đón thân mật nhưng từ chối giúp khí giới. Khi về nước ba người đại biểu này đều bị bắt và khai thật với mật thám. Trong hai năm 1928 và 1929, Thanh Niên và các Hội trong phong trào

    “trên đà phát triển tốt. Đó là nhờ sự đóng góp của nhiều người kể từ những bậc tiền bối như Phan Bội Châu, Đặng Tư Kính cho đến những thanh niên mới từ trong nước ra và những em nhỏ (...) những người có công lao to lớn nhất về việc xây dựng cơ sở Việt kiều lâu dài ở Xiêm thì phải nói là Đặng Thúc Hứa, mà kiều bào đã quen gọi với một tên rất tôn kính và trìu mến là ‘Cố Đi’ hay ‘Thầy Đi’” (tr.47)

    HVH đã dành tám trang nói về Đặng Thúc Hứa, một nhân vật đặc sắc và phi thường. Rời Việt Nam năm 1908, đến Xiêm 1909, năm 1910 Đặng Thúc Hứa gặp Phan Bội Châu và cùng Phan Bội Châu xây dựng cơ sở một tổ chức chính trị giữa cộng đồng người Việt ở Xiêm. Lúc đầu Đặng Thúc Hứa ủng hộ phong trào Cần Vương, sau chuyển sang phò Cường Để, tán thành dự định chính thể quân chủ lập hiến, rồi ông lại đồng ý với Việt Nam Quang Phục Hội, theo đường lối tư sản. Cuối cùng ông tham gia hội Thanh Niên, bỏ rơi cả quân chủ lẫn tư sản. Được gọi là Thầy Đi hay Cố Đi vì ông thường đi bộ từ nơi này sang nơi khác, bất kỳ chỗ nào dù hẻo lánh nhưng hễ có đông người Việt là ông đến hô hào thương yêu, tập hợp tổ chức, đoàn kết, không quên nguồn gốc, và luôn nhớ lấy nỗi nhục mất nước. Từ đó ông giúp họ xây dựng và đấu tranh. Cùng với bạn bè, ông đã gây dựng được một số cơ sở và đường dây liên lạc khắp nước Xiêm như Bản Đông, Vặt Pa, Noỏng Xẻng, Bản Mày, Bản Phừng, U Đon, Đồng Ỏn, và nhiều nơi khác dọc theo sông Mékong như U thên, Noỏng Khai... Chi hội Thanh Niên lúc đó đã thừa hưởng thành quả của nhóm Tâm Tâm xã do Lê Hồng Phong, Phạm Hồng Thái thành lập tại Xiêm từ năm 1923. Co Đi qua đời vì bệnh, thọ 61 tuổi, vào năm 1931, một năm sau ngày thành lập đảng Cộng Sản Việt Nam.

    Với tên Vương, Hồ Chí Minh được Đông Phương cục của Đệ Tam Quốc Tế gửi qua Xiêm công tác hai lần. Lần đầu từ tháng 8 năm 1928 đến tháng 9 năm 1929, lần thứ nhì tháng 3 đến tháng 4 năm 1930, lúc đó ông 38 tuổi.

    VIỆT NAM THANH NIÊN CÁCH MẠNG ĐỒNG CHÍ HỘI TẠI XIÊM ĐỔI THÀNH ĐẢNG CỘNG SẢN XIÊM

    Trong lần công tác thứ nhất ở Xiêm, Hồ Chí Minh đề nghị hợp pháp hóa một số hoạt động của Thanh Niên như việc xin phép mở trường dạy học ở Noỏng Búa. Được phép của nhà cầm quyền Xiêm, các đoàn viên đã góp công góp của xây cất cơ sở trường này. Hồ Chí Minh với sự cộng tác của HVH, dịch quyển Duy vật sử quan (Le Matérialisme Historique(9)) và ABC của chủ nghĩa cộng sản(10) , ông Hồ đã đổi tựa đề của quyển thứ nhất thành Lịch sử tiến hoá của loài người. Các dịch giả chủ ý tóm tắt và giữ các ý chính chứ không dịch sát nghĩa. Điều đáng lưu ý là họ sử dụng bản dịch Trung Quốc chứ không dùng các bản dịch tiếng Pháp như về sau này. Óc thực tiễn và sự khôn khéo tài tình của Hồ Chí Minh thường được HVH ca ngợi và nhắc nhở. HVH kể lại một giai thoại khá tiêu biểu: Đến Xa Côn và U Đon, nhận thấy một số gia đình người Việt thờ phụng Đức Thánh Trần và hay cầu cúng, lên đồng xin tàn hương nước thải chữa bệnh, xua đuổi ma tà v.v... Bác Hồ bèn soạn bài ca nhắc nhở, kể rõ tính danh đức Thánh Trần, và ca ngợi lòng yêu nước của ngài. Đức Thánh Trần chính là anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo đã đánh đuổi quân Nguyên. Đọc bài thơ, người ta nhận thấy rằng sự mê tín dị đoan không bị bài trừ mà được sử dụng như công cụ tuyên truyền chính trị (tr. 59). Theo HVH, nhờ thế các đệ tử của đức Thánh Trần trở thành đệ tử của Hội Thân Hữu, do Thanh Niên lãnh đạo.

    Ông còn kể lại một chuyện bên lề khác với sự khâm phục chẳng kém: được giao trách nhiệm thảo một bức thư gửi nhà cầm quyền TQ trước khi cùng các đồng chí (ở vùng dân tộc thiểu số VN mới sang TQ) trở về Việt Nam, HVH đưa bản nháp cho Hồ Chí Minh duyệt. “Bác Hồ” bôi xoá vài chữ và thêm vào vài chữ khác. HVH lấy làm lạ vì như vậy dù nội dung thư không thay đổi, nhưng văn pháp thì sai. “Bác Hồ” mới trả lời ông rằng:

    “Chú chỉ biết viết thư là viết thư, chứ chưa biết chính trị. Người Việt Nam ở vùng dân tộc viết chữ Trung Quốc thế nào mà đúng văn pháp được. Viết sai như vậy họ mới tin là anh em viết.” (tr.140) HVH kết luận: “Việc tuy nhỏ nhưng đối với tôi là một bài học rất sâu sắc về công tác quần chúng và công tác thực tế.”

    Cũng trong lúc ở Xiêm lần thứ nhất này, Hồ Chí Minh hay tin đảng Thanh Niên, trong Đại hội Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí hội nhóm họp ở Hương Cảng (tháng 5/ 1929) đã chia rẽ thành hai nhóm: nhóm Quốc Anh (tức Trần Văn Cung) và Kim Tôn bỏ đại hội về lập đảng Cộng Sản. Nhóm kia bèn biểu quyết khai trừ nhóm Quốc Anh không chờ ý kiến đồng chí Vương (tr.60). Hồ Chí Minh quyết định rời Xiêm đi hỏi ý kiến Đông Phương cục của Quốc tế Cộng sản. Tháng 9/1929 được uỷ quyền hành động của Quốc tế Cộng sản, ông Hồ tổ chức hội nghị thống nhất các khuynh hướng tại Hương Cảng. Nhờ vậy, đảng Cộng Sản Việt Nam, do hai đảng Cộng Sản An Nam và đảng Cộng Sản Đông Dương hợp lại, ra đời ngày 3/2/1930.

    Hai nhiệm vụ của “đồng chí Vương” khi đến Xiêm lần thứ hai là:

    1) Báo cáo về sự thống nhất thành công của các nhóm cộng sản (Thanh Niên) Việt Nam
    2) Đổi Phân bộ Xiêm của đảng Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí hội ra đảng Cộng Sản Xiêm.

    HVH kể lại rằng, vừa đến Xiêm, Hồ Chí Minh bắt liên lạc ngay với những người cộng sản Trung Quốc ở Bangkok và Tỉnh ủy đảng Thanh Niên Việt Nam tại U đon để thông báo tình hình về việc thống nhất các đảng cộng sản Việt Nam và truyền đạt tinh thần Quốc tế Cộng sản về việc thành lập đảng Cộng sản Xiêm (tr.60) Hồ Chí Minh giải thích:

    “người cộng sản cư trú ở nước nào sẽ tham gia hoạt động vào sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản nước đó (...) Và những người Việt ở Xiêm cũng có trách nhiệm giúp đỡ nhân dân bị áp bức, bóc lột Xiêm làm cách mạng (...) Người cộng sản không chỉ lo sự nghiệp cách mạng của nước mình, mà phải góp phần vào công cuộc cách mạng của giai cấp vô sản trên toàn thế giới”. (tr.62)

    Theo HVH, khi nghe từ nay nước Việt Nam có đảng CS, những người có mặt rất vui mừng phấn khởi nhưng thắc mắc đặt câu hỏi vì sao họ không được vào đảng này (tr.62). Vài điều lo ngại khác như: trở thành đảng viên đảng CS Xiêm như vậy họ sẽ không còn góp phần vào cách mạng Việt Nam, họ sẽ tách rời cộng đồng người Việt và sẽ chịu sự khủng bố của chính phủ Xiêm; hơn nữa không dễ dàng hoạt động chính trị vì họ không biết nói tiếng Xiêm. Thật vậy, Phân bộ Xiêm của đảng Thanh Niên đều là người Việt và người Hoa. Làm sao tranh đấu và tranh đấu thay cho người Thái trong đất nước của người Thái? Nhưng trước uy quyền và hào quang của Quốc tế Cộng sản và Hồ Chí Minh, những thắc mắc cùng lo ngại mau chóng lùi bước, mọi sự trở lại bình thường. Đề nghị chuyển đổi thành đảng CS Xiêm được tuyet đai đa so các đồng chí cốt cán phấn khởi chấp nhận(11) (tr.63). HVH cho biết ông hoàn toàn ủng hộ đường hướng mới này và thấy chiến thuật của bác Hồ thật tài tình. Hội nghị do HCM chủ trì họp ở Bangkok ngày 20/4/1930, tuyên bố thành lập đảng CS Xiêm. Vẫn theo HVH, đảng này, từ lúc mới thành lập cho đến sau này, không hề có cương lĩnh, điều lệ lẫn chương trình (tr.69).

    Sau thành tích độc nhất vô nhị này của phong trào cộng sản, Hồ Chí Minh đi Mã Lai Á “giúp các đồng chí ở đó thành lập đảng Cộng Sản Mã Lai” (tr.64). Hai công tác được đảng CS Xiêm triển khai là:

    1) Tuyên truyền vận động dân chúng Xiêm chống chính phủ.
    2) Viện trợ cách mạng Đông Dương.

    Chỉ công tác thứ hai mới có hiệu quả, còn mục tiêu thứ nhất quá “mơ hồ” vì khi đại biểu Quốc tế Cộng sản đi rồi, không có chỉ thị hành động (tr.90). Do đó từ 1930 đến 1934, đảng CS Xiêm trở thành một tổ chức với hoạt động độc nhất là viện trợ cho cách mạng Đông Dương. HVH, từ Tỉnh Uỷ U đon được cử sang Bangkok làm việc trong Xiêm Uỷ.

    ĐẢNG CỘNG SẢN XIÊM TRƯỚC SỰ ĐÀN ÁP CỦA CHÍNH PHỦ XIÊM

    Khi chuyển sang đảng CS Xiêm, các đảng viên Hoa -Việt thuộc Phân bộ Thanh Niên phải lấy tên Xiêm và học tiếng Xiêm. Đối với HVH, vốn có khiếu học ngoại ngữ, chuyện học này không thành vấn đề (ông nói thành thạo tiếng Xiêm và TQ) nhưng đối với các đảng viên còn lại thì khác. Thật vậy, cho đến lúc bấy giờ, chuyện ở Xiêm, đối với họ, chỉ có tính cách tạm thời, nên việc học tiếng Xiêm đã không được xem là quan trọng. Nhưng khó khăn nhất trước mắt lúc ấy chính là chuyên đối phó với sự khủng bố của nhà cầm quyền Xiêm. Đối với nhà cầm quyền Xiêm, “bọn cộng sản” chỉ có thể là người Hoa và người Việt. Cảnh sát Xiêm đem theo những truyền đơn cộng sản (nhiều khi do chính họ làm ra hay lượm được ở ngoài đường phố) ngang nhiên xông vào nhà bắt giam người Việt hoặc người Hoa, càng ngày càng nhiều. Cộng đồng người Việt tại vài thành phố(12) bị thiệt thòi hơn cộng đồng người Hoa vốn đông hơn (hơn một triệu người tại Bangkok) và khó kiểm soát hơn (nên người cộng sản có thể trà trộn vào dễ dàng).

    Trước tình thế này, HVH đặt câu hỏi: “Nếu cứ làm thế này mãi, mỗi lần phát truyền đơn lại bị bắt bớ dần mòn, rồi sẽ đi tới đâu? (...) Nếu đương cục cứ thẳng tay khủng bố thì chắc chắn cơ sở dễ bị tan rã” (tr.76). Những câu hỏi này ám ảnh ông trong nhiều năm. Trong khi đó báo chí Ban chỉ huy đảng ở nước ngoài tại Hương Cảng lại “nêu cao tinh thần đấu tranh không khoan nhượng” (tr.76). HVH đọc trong báo Bolchevik ấn bản Hương Cảng gửi qua Xiêm năm 1934, một bài tố cáo “bọn hữu khuynh lùi bước trước tình hình”. Tháng 5/1934, gặp lúc đồng chí Tăng đầu bạc sửa soạn đi Hương Cảng họp hội nghị mở rộng của ban chỉ huy đảng CS Đông Dương, Hoan nói với Tăng điều thắc mắc này và đề nghị Tăng trình bày với lãnh đạo đảng. Nhưng khi trở lại Bangkok, Tăng cũng nói như báo Bolchevik và thêm “còn một người, còn đấu tranh” (tr.77, 91). Dĩ nhiên HVH thấy vấn đề nghiêm trọng nhưng không bao giờ ông có ý định đăt lại đường lối của Quốc tế Cộng sản và Hồ Chí Minh. HVH nghĩ rằng có lẽ lỗi do Tăng đã báo cáo quá “lạc quan”, nghĩa là “sai lạc” về tình hình Xiêm cho Quốc tế Cộng sản.

    Và ông mong muốn gặp lãnh đạo tại TQ để hiểu rõ thêm về vấn đề này. Năm 1935, lấy lý do đi TQ “chữa bệnh đau đầu”, HVH gặp Hà Huy Tập tại Nam Kinh khi đó ông “mới trực tiếp trình bày được đầy đủ” (tr.77). Phần báo cáo này có thể tóm tắt như sau:

    Đảng CS Xiêm thành lập năm 1930 chỉ gồm người Hoa với người Việt, riêng người Xiêm: “không có mấy”. “Các đồng chí người Hoa không có cơ sở cũng như ảnh hưởng trong dân chúng. Chỉ có người Việt, mới có chút ảnh hưởng” (...) Còn trong cộng đồng người Việt khoảng ba vạn người, chỉ có vài nghìn người ở trong tổ chức cộng sản hoặc là cảm tình viên cộng sản. Ngày trước, người cộng sản có thể tổ chức lễ hội, sinh nhật vào dịp Cách mạng tháng mười Nga hay ngày lao động quốc tế mùng 1 tháng 5. Họ có thể phát truyền đơn, cổ động phát triển đảng. Bây giờ, nếu làm như vậy, họ sẽ lập tức bị đàn áp hay bị bắt thật nhiều như trường hợp ở Phi Chịt (vùng trung Xiêm). Và nếu tiếp tục như thế, các cơ sở cán bộ cũng như cảm tình viên sẽ “không thể bảo toàn”, thì khi đó “sự cống hiến đối với cách mạng Xiêm sẽ giảm đi, mà công tác viện trợ cách mạng Đông Dương cũng sẽ bị ảnh hưởng không thể lường hết được”. (tr.93-94)

    Hà Huy Tập chăm chú nghe rồi trả lời HVH rằng trong báo cáo, Tăng “không nêu vấn đề như anh vừa nói. Hôm nay nghe anh báo cáo rõ, tôi thấy có nhiều chỗ đáng phải suy nghĩ. Nhưng trước mắt, tôi chưa thể trả lời được, rồi đây chúng tôi sẽ thảo luận, có ý kiến gì sẽ nói với anh sau”. (tr.94)

    Báo cáo xong, về sau HVH không nhắc đến chuyện này nữa nên độc giả không biết ông có được đảng trả lời hay không.

    Khi HVH sửa soạn trở về Xiêm thì hay tin mọi liên lạc với xứ này đều bị gián đoạn. Quả thật, lúc đó cuộc khủng bố người cộng sản của nhà cầm quyền Xiêm đang lên đến cực điểm, các cơ sở cộng sản hay thân cộng sản đều bị giải tán, hàng trăm đảng viên và cảm tình viên bị bắt giam (tr.114 - 117). Trước tình thế này, HVH buộc lòng phải ở lại TQ cho đến năm 1942, nghĩa là 8 năm.

    Tại TQ, ông sẽ gặp lại HCM, và vài lãnh tụ quan trọng khác như Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng v.v... Ông cũng có dịp gặp gỡ các tổ chức quốc gia khác như Việt Quốc(13), Việt Cách(14), Phục Quốc(15) v.v... HVH đi từ tỉnh này qua tỉnh nọ, kiên nhẫn và quyết tâm tuyên truyền, củng cố uy danh và vai trò bá quyền của đảng mình. Thời kỳ này có rất nhiều biến cố và sự kiện lịch sử quan trọng: HVH kể lại trong chương thứ ba, một trong những chương quan trọng nhất của quyển hồi ký, liên quan đến khoảng thời gian trước khi Việt Minh lên nắm chính quyền ở Việt Nam năm 1945.

    TÌNH HÌNH CÁC TỔ CHỨC NGƯỜI VIỆT NAM TẠI TRUNG QUỐC

    Trong chương ba, HVH phân tích tỉ mỉ về tình trạng người Việt di cư tại TQ cũng như sự tranh giành ảnh hưởng giữa các tổ chức chính trị. Đất TQ thời ấy là nơi gặp gỡ của Viêt kiều(16) thuộc mọi khuynh hướng chính trị, từ quốc gia đến cộng sản, kể cả trốt kít Đệ Tứ. Từ năm này sang năm khác, mỗi lúc một đông những người Việt trốn khủng bố, đến đây tiếp tục cuộc tranh đấu. Ban đầu, với số đông và nhờ sự giúp đỡ của Quốc Dân đảng Trung Quốc, các đảng phái quốc gia như Việt Quốc, Việt Cách, Phục Quốc v.v... tạo nên lực lượng quan trọng nhất. Nhưng dần dần, người cộng sản lật ngược tình thế nhờ ở cách cài người tài tình và tổ chức vững chắc. Nhưng yếu tố quyết định sau cùng là việc họ có cán bộ trung kiên hoạt động từ lâu tại quốc nội, điều mà các đảng phái khác không có.

    Các lực lượng đảng phái quốc gia chủ yếu là các cựu đảng viên VNQDĐ, Việt Cách và những người sang TQ yêu cầu sự giúp đỡ của Trung Hoa Quốc Dân đảng. Nói về Việt Quốc, HVH viết:

    “Năm 1930, sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại, Vũ Hồng Khanh lại từ trong nước chạy ra, nhập bọn với Nguyễn Thế Nghiệp. Được sụ cho phép ngầm của đế quốc Pháp, và sự “giúp đỡ” của đương cục Trung Quốc, chúng đã tổ chức Việt Nam Quốc Dân đảng, dựa vào một số lưu manh làm cốt cán để uy hiếp và lừa dối quần chúng” (tr.124)

    Nhân vật nổi tiếng nhất của Việt Quốc là Nguyễn Hải Thần, một người quốc gia đã cao tuổi ở đất TQ từ lâu. Ông rất ngờ vực người cộng sản và được lòng Trung Hoa Quốc Dân đảng. HVH mô tả ông như một người rất mờ nhạt, thiếu khả năng phân tích chính trị, dễ bị hoàn cảnh lôi cuốn, sao cũng được miễn là tên mình còn đứng đầu danh sách. Cho nên, người cộng sản thường dàn xếp, mỗi khi có dịp, cho ông ta làm “chủ tịch” những tổ chức do họ thành lập hay tham dự.

    Năm 1941, khi Nguyễn Hải Thần được nhà cầm quyền Trung Hoa đẩy ra làm chủ tịch Việt Cách, theo HVH, nhằm tạo điều kiện chuẩn bị cho kế hoạch Hoa quân nhập Việt.

    HVH còn nhắc đến một đảng phái quốc gia khác, đảng Phục Quốc và nhóm Trương Bội Công.

    Đảng Phục Quốc tuyên bố kế thừa phong trào của Cường Để, là một tổ chức thân Nhật. Có khoảng năm trăm đảng viên, thành phần phức tạp và không có khuynh hướng chính trị gì cả. Khi bị Nhật bỏ rơi và Pháp truy nã, họ chạy trốn sang TQ và được Trung Hoa Quốc Dân đảng giúp đỡ.

    Riêng nhóm Trương Bội Công thì khác hẳn, do chính quân đội Trung Hoa Quốc Dân đảng thành lập và Trương Bội Công (là người Việt) tự xưng là thiếu tướng chỉ huy quân đoàn này.

    Lưc lượng quân sự người cộng sản VN lúc ấy khoảng sáu mươi người “anh em Việt Minh”, (tr.178). Nếu ở Xiêm, lực lượng cộng sản đông hơn và hoàn toàn thuộc về Thanh Niên (đảng Cộng Sản) thì ở TQ họ hành động dưới danh nghĩa Việt Minh. HVH và đồng chí mang khá nhiều nhãn hiệu: khi thì là Việt Minh, đoàn thể “ma” do chính họ thành lập, khi thì núp sau những tổ chức của các đảng phái quốc gia. Trong bí mật, họ hoạt động dưới quyền điều khiển của Ban hải ngoại thuộc Đông Phương cục của Đệ Tam Quốc Tế.

    Bên cạnh các tổ chức quốc gia và cộng sản này, HVH nhắc đến một nhóm Đệ Tứ bằng những lời lẽ như sau:

    “Ngoài Vũ Hồng Khanh và Nghiêm Kế Tổ ra, còn có một nhóm tơ-rốt-kít độ ba bốn tên, cầm đầu là một anh có trình độ văn hóa, biết nặn tượng, chịu ảnh hưởng của Tạ Thu Thâu khá sâu, hay nói lý luận có vẻ cách mạng, có thể đánh lừa một số quần chúng. Hắn tuyên truyền vận động kiều bào xuống đường chống Pháp và đòi đương cục Trung Quốc giảm thuế. Hắn đi vận động đến đâu cũng bị ta đả thẳng cánh, âm mưu không thực hiện được và hoàn toàn bị cô lập”. (tr.128)

    Xin lưu ý, khác với Hồ Chí Minh, HVH không dùng những từ ngữ vu khống “gián điệp”, “tay sai đế quốc” để chỉ người trotskistes(17).

    ĐẢNG VIỆT MINH ĐẦU TIÊN THÀNH LẬP NĂM 1936

    Từ Nam Kinh đến Côn Minh, rồi từ Côn Minh qua Long Châu, Liễu Châu, Tịnh Tây v.v... đến Pắc Bó. HVH giữ một vai trò quan trọng trong việc lãnh đạo đảng CSVN. Bất cứ chỗ nào đã qua, ông đều để lại dấu ấn của một chiến lược gia và một người tổ chức có bản lĩnh. Năm 1936, ông là một trong ba người thành lập tổ chức Việt Minh đầu tiên: Việt Nam Độc Lập Đồng Minh hội, tiền thân của Việt Minh năm 1941. Năm 1939, HVH cùng với Phùng Chí Kiên, Vũ Anh (Trịnh Công Hải) tổ chức “Ban Hải ngoại của đảng, để lãnh đạo mọi mặt công tác của đảng tại Trung Quốc” (tr.128), HVH trở thành bí thư ban này ít lâu sau đó. Năm 1941, ông được chỉ định vào ban lãnh đạo Việt Minh.

    Theo HVH, chính Hồ Học Lãm, đã có ý định đầu tiên thành lập một tổ chức cách mạng hợp pháp. HVH và Hải(18) , đồng chí cũ đã cùng học ở Quảng Châu với HVH, thực hiện việc này. Hải thảo điều lệ bằng tiếng Việt, nội dung như điều lệ của hội Phản đế đồng minh, Hoan dịch sang tiếng TQ. (tr.103) Cuộc hội nghị tuyên bố thành lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh hội, gọi tắt là Việt Minh được tổ chức tại phòng họp Đảng bộ khu phố của Quốc Dân đảng TQ (Trung Hoa QDĐ). Tham dự hội nghị về phía người Việt có Nguyễn Hải Thần, Hồ Học Lãm và anh em khác khoảng hai mươi người, phía người TQ có hai đại biểu trung ương Quốc Dân đảng TQ. Cách tổ chức đơn giản như vậy, mục đích là hợp pháp hóa hoạt động chính trị yêu nước của Việt kiều dưới mắt nhà cầm quyền TQ ngõ hầu được họ giúp đỡ và hỗ trợ. Đấy là ý kiến của Hồ Học Lãm.

    Hồ Học Lãm là ai? Theo HVH, Hồ Học Lãm rất được mọi người quý mến và kính nể. Sống sót sau khi phong trào Đông Du thất bại, bỏ Nhật sang TQ, Hồ Học Lãm vào làm việc ở Bộ Tham Mưu quân đội Tưởng Giới Thạch tại Nam Kinh với cấp bậc Trung tá. Là người quốc gia yêu nước, không vào đảng cộng sản nhưng luôn luôn giúp đỡ, hỗ trợ đảng và các đảng viên cộng sản Việt Nam. Ông đảm bảo cho họ chuyện ăn ở. Trong nhà ông lúc nào cũng có nhiều người cộng sản đến trú ẩn. Ông còn giúp họ bí mật tổ chức cả lớp dạy chủ nghĩa mác xít và lý thuyết về các giai đoạn cách mạng Việt Nam. Về mặt lý tưởng, ông thiên về người quốc gia của Việt Cách và Việt Quốc, nhưng về mặt thực hành ông luôn luôn giúp người cộng sản, vì thế có khi gây hại cho người quốc gia. Là sĩ quan của quân đội Tưởng, ông hay đứng ra bảo lãnh cho người cộng sản mỗi khi họ gặp rắc rối trong mối quan hệ khó khăn giữa họ và nhà cầm quyền TQ. Năm 1936, chính nhờ ông đỡ đầu, việc đăng ký và thành lập đảng Việt Minh mới thực hiện được. Báo chí Quốc Dân đảng nói đến đảng Việt Minh này với nhiều thiện cảm. Nhờ có cơ sở hợp pháp, người cộng sản đã rút tiả được nhiều thành quả tốt. Và để

    “biểu thị sự hoạt động tích cực của Việt Minh, Hồ Học Lãm tự bỏ tiền, ra một tờ tạp chí nhỏ bằng chữ TQ lấy tên là Việt Thanh, số lượng phát hành chỉ độ một trăm cuốn, cốt để gửi cho các cơ quan Quốc Dân Đảng TQ ở Nam Kinh, cũng có gửi cho Việt kiều ở Quảng Châu và Côn Minh độ vài chục cuốn” (tr.105).

    Chính vào lúc HVH và các đồng chí đang vận động thành lập Việt Minh thì Tưởng Giới Thạch thi hành chính sách chống cộng ác liệt (tr.108). Việt Minh bị tố cáo, mọi hoạt động của phong trào cộng sản bị ngừng chỉ. Tờ báo Việt Thanh cũng đình bản. Bốn năm sau, vào cuối năm 1940, tình hình hoàn toàn thay đổi vì Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch hợp tác để đối phó với quân xâm lăng Nhật Bản: Việt Minh lại xuất hiện.

    Sau khi Phạm Văn Đồng tiếp xúc với một vài nhà văn TQ, Trung Việt văn hóa công tác đồng chí hội được chính thức ra đời, để thắt chặt tình bạn giữa hai dân tộc. Trong ban Lý sự hội Trung Việt này có 2 ủy viên Việt là Hồ Học Lãm với tư cách chủ nhiệm Biện Sự xứ Việt Minh tại hải ngoại và Phạm Văn Đồng, (dưới bí danh Lâm Bá Kiệt) phó chủ nhiệm Biện Sự xứ.

    Dĩ nhiên tình “thân hữu giữa hai dân tộc” chỉ là hình thức. Thật sự đôi bên đều rình rập, nghi ngờ nhau. Phía TQ sợ rằng nếu tổ chức này bị cộng sản lũng đoạn, thì việc biến nó thành một cơ quan chính trị thuận lợi cho kế hoạch Hoa quân nhập Việt của TQ sẽ bị cản trở . Phía cộng sản Việt Nam thì e ngại TQ sẽ nắm lấy một tổ chức hoạt động chính trị hợp pháp của Việt Minh. Phong trào Việt Minh từ 1936 đến 1940 (ngược lại với Việt Minh của năm 1941) tuyệt đối không thể trở thành cơ quan chính trị có quyền lực do sự có mặt của các lực lượng quốc gia trong ban lãnh đạo. Bởi người cộng sản Việt Nam theo nguyên tắc không bao giờ muốn chia sẻ quyền lực với người khác.

    SÁCH LƯỢC “HOÁ GIẢI TỪ BÊN TRONG”

    Giữa năm 1940, quân Đức xâm lăng Paris (ngày 20 tháng 6 năm 1940), Hồ Chí Minh triêu tập các đồng chí và quyết định sửa soạn chuyển hướng hoạt động về trong nước. Trong khi chờ đợi, tất cả sẽ di chuyển dần về các tỉnh biên giới thuộc vùng Quảng Tây. Sở dĩ Quảng Tây được chọn là vì nơi đây quân đội cộng sản Trung Quốc khá đông đảo và vững mạnh trong khi vùng Vân Nam điều kiện không tốt bằng. “Quyết định xong, bác đi Trùng Khánh gặp Trung Ương đảng Cộng sản TQ để trao đổi ý kiến” (tr.130)

    Trên đường về Pắc Bó, HVH dừng chân ở Tịnh Tây, thành phố biên giới TQ đối diện với Cao Bằng Việt Nam. Ông được thư Hồ Học Lãm báo tin rằng tại Tịnh Tây, Trương Bội Công với sự giúp đỡ của quân Tưởng, đang chuẩn bị tập hợp người Việt để dọn đường cho quân TQ kéo vào Việt Nam. Trương Bội Công có đề nghị Hồ Học Lãm cộng tác, nhưng Lãm từ chối và báo cáo cho các lãnh tụ Việt Minh. Hay tin này, Hồ Chí Minh lập tức phái Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh và Cao Hồng Lãnh đi Tịnh Tây, nơi có Phạm Văn Đồng đang chờ. Mục đích nhằm đón bốn mươi người Việt vừa mới sang và để “triệt tiêu/hoá giải lực lượng” Trương Bội Công bằng cách buộc Công phải đàm phán với Biện Sự xứ Việt Minh tại hải ngoại. HVH viết:

    “Nhưng chúng ta về Tịnh Tây không phải để bàn bạc công việc với Trương Bội Công, mà để tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng ở ngoài nước, tổ chức cách mạng ở trong nước” (tr.151)

    Phía cộng sản đề nghị Trương Bội Công đổi tên tổ chức Công đang thành lập Việt Nam Dân Tộc Giải Phóng Ủy Viên Hội thành Việt Nam Dân Tộc Giải Phóng Đồng Minh Hội, viết tắt là Hội Giải Phóng, lấy lý do là phải có quần chúng Việt Nam ở trong nước tham gia mới gọi là giải phóng Việt Nam. (Biện Sự xứ Việt Minh tại hải ngoại là đại biểu của quần chúng!) Đề nghị này được Quốc Dân Đảng TQ đồng ý, Trương Bội Công đành phải “cúi đầu làm”. (tr.152)

    Đúng ngày Đại hội thành lập Việt Nam Dân Tộc Giải Phóng Đồng Minh hội, các đại biểu Việt Minh, hầu hết là cộng sản, từ khắp nơi kéo về, trong nước cũng như ngoài nước (Tịnh Tây, Long Châu).

    “đều được theo nhu cầu lúc đó mà ‘phân vai’... Đặc biệt có một người lấy tên Hà Đức Phương đại biểu cho lãnh tụ Việt Minh là Hoàng Quốc Tuấn vì sức khỏe và đường sá khó khăn quá không thể đến được. Hoàng Quốc Tuấn là cái tên chúng ta bịa ra.”

    Hoàng Quốc Tuấn, cũng như Việt Minh trong nước, lúc đó không hề có thật.

    Đại hội diễn ra với sự có mặt :

    - phía cộng sản Việt Nam: khoảng hai mươi đại biểu Việt Minh.
    - phía Trung Quốc: năm sáu người của Trương Bội Công, vài đại biểu Việt Quốc, đại biểu nhà cầm quyền vùng Tịnh Tây cùng các đại biểu của Trương Phát Khuê, Dương Kế Vinh và Lý Tế Thâm(19).

    Hội nghị chỉ định một Ban chấp hành Trung ương, Nguyễn Hải Thần được bầu làm chủ tịch. Đa số các chức vụ quan trọng đều ở trong tay người cộng sản(20). Không có một người Hoa nào trong ban Chấp hành. Thế là Việt Minh đã thành công vì “Bác đã nói dứt khoát đã là cách mạng Việt Nam thì không thể do Hoa kiều lãnh đạo” (tr.154)

    Kết quả hội nghị này, dĩ nhiên không theo đúng ý nguyện nhà cầm quyền TQ, dù đại biểu Lý Tế Thâm của họ đã gửi bức trướng mừng có bốn câu thơ như sau:

    Trung - Việt dân tộc --- hai dân tộc TQ – VN
    Thuần xỉ quan thiết --- gần gũi như môi với răng
    Tiền sỉ đồ tồn --- để rữa nhục cùng tự vệ
    Duy thiết duy huyết --- chỉ có sắt với máu

    Theo HVH, “Mục đích ta tham gia tổ chức Hội giải phóng này cốt để hợp pháp hóa những hoạt động của ta ở ngoài, và cũng để tranh thủ sự viện trợ ở ngoài về vật chất cũng như tinh thần” (tr.155). Thật vậy, trong lúc chuẩn bị Hội nghị, người TQ bằng lòng giúp huấn luyện một số cán bộ quân sự (sáu mươi người) và một số cán bộ khác về bộc phá (12 người) (tr.156). Dĩ nhiên sự giúp đỡ này không phải không có hậu ý. Phía Việt Nam yêu cầu TQ huấn luyện quân sự nghĩa là: “theo ý Bác là cốt để có người lấy súng chúng mang về.” (tr.156). Quân QDĐ Trung Hoa thì hẳn là muốn lũng đoạn hàng ngũ cộng sản. Chiến tranh mà, giữa đôi bên đều có ý đồ, nhưng HVH không chấp nhận điều đó, ông tố cáo quân Tưởng “có sự tính toán bẩn thỉu là sẽ nhồi sọ cán bộ ta, để từ nội bộ ta, chúng nặn ra một số tay sai đắc lực.”

    Và dù người cộng sản Việt Minh “chiếm ưu thế tuyệt đối về chính trị cũng như thành phần cơ cấu lãnh đạo, nhưng Hội giải phóng đó có thể coi là một tổ chức lãnh đạo cách mạng được không?” (tr.155) HVH đặt câu hỏi và tự trả lời: “Không!” Bởi vì tổ chức này hoàn toàn do Quốc Dân Đảng Trung Hoa lập ra. Người cộng sản Việt không được tự do hành động. Mọi sự sẽ thay đổi hoàn toàn vào một tháng sau, khi ra đời tổ chức Việt Minh do chính người công sản Việt Nam thành lập vào tháng 5/1941 sau Hội nghị Trung Ương lần thứ 8 tại Pắc Bó.

    Sau khi thành lập Hội Giải Phóng, một tờ báo lấy tên là “Giải Phóng” ra đời. Nhưng rồi báo bị đình bản theo lệnh Hồ Chí Minh, vì ông sợ rằng “quần chúng hiểu lầm”. Những số báo đã lỡ in được “chỉ để mấy tờ gửi cho một số cơ quan của TQ, còn nửa phải đốt hết, tuyệt đối không được phát cho quần chúng” (tr.155).

    TRANH CHẤP GIỮA NHÀ CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC VÀ VIỆT MINH

    Sự tranh chấp giữa nhà cầm quyền Trung Quốc (QDĐTQ) và Việt Minh tuy ngấm ngầm nhưng có thật. Để dò xét thực lực của Việt Minh, nhà đương cục TQ yêu cầu bên Việt Minh cho phép một sĩ quan của họ vào Việt Nam quan sát tình hình. “Bác chỉ thị đồng ý cho vào”, viên Thượng tá họ Lục này, được hướng dẫn theo một kế hoạch tham quan và tiếp đãi do

    “chính Bác trực tiếp vạch ra và chỉ đạo thực hiện tỉ mỉ. Được dẫn qua những núi cao, rừng rậm, những suối nhỏ, hố sâu, Lục Thượng Hiệu luôn luôn gặp bộ đội vũ trang của ta đi vòng quanh những trạm gác và đồn gác của địch (...) đi rất mệt, rất khổ và nhiều lúc rất nguy hiểm và đến đâu ông ta cũng được dân Thổ, Mán, Nùng, Kinh, già trẻ bé lớn tiếp đón nồng hậu.” (tr.157)

    Quan sát xong, về Tịnh Tây, Lục Thượng Hiệu làm một bản báo cáo dài năm mươi trang cho Trương Phát Khuê, tướng của Tưởng Giới Thạch, với kết luận: “Hơn 80% dân các tỉnh ông ta thị sát đều theo Việt Minh cả” (mà sự thật Việt Minh chỉ dẫn họ Lục đi loanh quanh những khu vực họ đã xếp đặt, bố trí trước) “nếu TQ muốn làm gì ở Việt Nam có hiệu quả, nhất định phải liên hệ với Việt Minh mới được. (...) Cố nhiên báo cáo ông ta có nhiều chỗ thổi phồng để khoe công nhưng kết luận như thế lại là một thực tế.” (tr.158)

    Hội Giải Phóng (“Việt Nam dân tộc giải phóng đồng minh hội”) thành lập trong điều kiện phức hợp như vậy tất khó đương đầu với những biến chuyển do tình hình đem lại. Trương Bội Công bị bắt vì một vụ buôn lậu. Thế là quân đoàn của Công tan vỡ. Hội chỉ còn lại cái tên.

    Cùng lúc với sách lược hoá giải từ bên trong, người cộng sản còn dùng sách lược khác cũng rất có hiệu quả. Đó là sách lược chinh phục quần chúng từ bên trong. Việc thành lập chi bộ Vân Quí là một thí dụ. Vân Quí là tiếng gọi tắt mấy chữ Vân Nam và Quí Châu, hai tỉnh lớn Trung Quốc. Chi bộ Vân Quí thuộc cánh tả Quốc Dân Đảng. Việt Minh đã cài người vào và đã thành công trong việc lôi kéo tất cả trở thành đảng viên cộng sản. Chi bộ Vân Quí trở thành đội quân tiên phong của đảng CSVN sau này.

    Sau khi Trương Bội Công bị bắt, nhà cầm quyền TQ đặt hết hy vọng vào Nguyễn Hải Thần và Trần Báo. Trần Báo là kẻ phản đảng (CSVN), Báo biết rõ mọi bí mật của tổ chức đảng và không ngừng tố giác cộng sản với nhà cầm quyền TQ. Tuy không có bằng cớ, HVH nghi ngờ Báo và Nguyễn Hải Thần đã âm mưu khiến ông bị nhà cầm quyền TQ bắt tại Bình Mãnh về sau này.

    Việc chuẩn bị cho “Hoa quân nhập Việt đã tiến triển khá tích cực” (tr. 183), chỉ còn thiếu một tổ chức chính trị. Bộ Tư lệnh quân khu bốn TQ đề nghị một cương lĩnh và một “Ban trù bị” hội nghị thành lập “Việt Nam phản xâm lược đồng minh hội”. Nhưng bên trong họ bí mật liên lạc với Nguyễn Hải Thần và Trần Báo để lập một “chính phủ lâm thời” gồm có:

    Nguyễn Hải Thần: Chủ tịch
    Hoàng Lương: Bộ trưởng bộ Quốc phòng
    Mai Công Nghị: Bộ trưởng bộ Ngoại giao
    Dương Thanh Dân: Bộ trưởng bộ Tài chính
    Trần Báo: Bộ trưởng bộ Tuyên truyền
    Nông Kính Du: Cố vấn v.v...

    Biết được danh sách chính phủ lâm thời này, HVH lập tức hội kiến với Nguyễn Hải Thần và giải thích rằng hai bộ quan trọng là Ngoại giao và Tài chính giao cho người TQ (Mai Công Nghị, Dương Thanh Dân ) và Hoàng Lương là một người nổi tiếng thân Nhật, như vậy Nguyễn Hải Thần còn lại quyền hành gì? Thế là trong buổi họp có mặt Trương Phát Khuê, Nguyễn Hải Thần đột nhiên đứng ra tuyên bố phủ nhận Ban trù bị, viện cớ người Việt không được tham khảo trong việc lập danh sách Ban này. HVH đề nghị thêm tên người Việt Minh (tên ông và một người đồng chí khác) vào bản danh sách. Dĩ nhiên, mọi việc đi vào bế tắc. Bởi vì

    “Rõ ràng vấn đề cách mạng Việt Nam nên tổ chức như thế nào và nên làm gì không phải do ủy ban trù bị quyết định mà do Bộ Tư lệnh quân khu bốn, hay nói cho đúng hơn là do Trùng Khánh quyết định” (tr.193)

    Thật vậy, cuối năm 1942, chính phủ Tưởng Giới Thạch “đưa Vũ Hồng Khanh và Nghiêm Kế Tổ từ Trùng Khánh về, tha Trương Bội Công và (...) đưa Đặng Nguyên Hùng với Nguyễn Tường Tam về” (tr.193). Những người này, do chính phủ Trùng Khánh đỡ đầu đã thành lập Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh hội (Việt Cách) và không cần Việt Minh hợp tác.

    Nhưng mục tiêu của họ là nhằm loại hẳn Việt Minh, nghĩa là người cộng sản, để thành lập một tổ chức chỉ có những người quốc gia thân Trung Quốc, mục tiêu này có đạt được không? Câu trả lời nằm trong chương nói về hội nghị Việt Cách. Trong khi đó, lực lượng cộng sản tiến triển nhanh chóng. Tháng 5/1941 hội nghị Trung Ương đảng lần thứ 8, tổ chức tại Pắc Bó, quyết định đổi Mặt trận Phản đế Đông Dương thành Mặt trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh tức Việt Minh. HVH có mặt trong hội nghị nhưng chỉ tham dự vài buổi, thời gian còn lại ông phải qua lại giữa Pắc Bó và bên kia biên giới lo bảo đảm an toàn cho hội nghị. So sánh chương trình điều lệ giữa hai mặt trận thì Việt Minh có phần nhân nhượng so với Mặt trận phản đế và cũng nhượng bộ so với chương trình Việt Minh hồi năm 1936.

    “Đấy là một Mặt trận rất rộng rãi nhằm liên minh tất cả lực lượng các giai cấp, đảng phái, các nhóm cách mạng cứu nước, các tôn giáo, để chống Pháp Nhật” (tr.160). HVH được bầu vào Tổng bộ. Phong trào Việt Minh lớn mạnh nhanh chóng và trở thành công cụ cho việc giành chính quyền năm 1945.

    TRÊN ĐƯỜNG VỀ NƯỚC

    Cuối 1941, HVH từ Tịnh Tây về Pắc Bó báo cáo tình hình cho Hồ Chí Minh. Khi trở lại, giữa đường HVH bị (quân Tưởng) bắt, tại Bình Mãnh (tr.164). Theo lời ông thì trong chuyện bị bắt này có nhiều điều rắc rối kì quặc và bí ẩn. Ban đầu, người ta cùm tay chân ông, ngay sau đó lại mở cùm mời ông dùng cơm có rượu thịt tử tế với những viên chức địa phương. Qua hai mươi ngày mơ hồ hoang mang như thế, HVH được đưa về Tịnh Tây và được trả tự do. Không những thế ông còn được cấp tiền đi đường về Liễu Châu tiếp tục hoạt động cách mạng. Tại Liễu Châu ông tiếp tục cuộc vận động chống lại chương trình Hoa quân nhập Việt của quân Tưởng. Sau đó ông trở lại Tịnh Tây sửa soạn về Việt Nam.

    Vào một buổi sáng đẹp trời, tháng tám năm 1942, lợi dụng lúc “Chỉ huy sở (nơi HVH làm việc cho quân đội QDĐ) mở đại hội thể thao cho các đơn vị và bộ đội (...) ăn sáng xong, tôi thủng thỉnh ra ngoài (...) nhắm hướng về biên giới một mạch đi luôn” (tr.201). Đoạn đường gần sáu mươi cây số, ông đi bộ, chỉ ngủ một đêm ngoài trời, hôm sau thì tới Pắc Bó “và gặp bác Hồ.”

    Trong chương 4, HVH nói về những hoạt động của mình tại Việt Nam từ 1942 đến 1948. Ông có trách nhiệm xây dựng Khu giải phóng Việt Bắc, giáo dục cán bộ Đảng và tổ chức, huấn luyện quần chúng. Ông có điều kiện thuận lợi nhờ đã tới lui vùng biên giới nhiều lần lại biết nói tiếng Thái Lan (Xiêm) và tiếng TQ vì các thứ tiếng này cơ bản giống tiếng nói các dân tộc Nùng, Tày tại đây.

    HVH nhắc đến những bất đồng ý kiến về chiến lược giữa ông với Võ Nguyên Giáp (và Phạm văn Đồng) vào tháng 5 năm 1944 (tr.226-227): “Tôi lí luận mãi mà hai anh vẫn không nghe” (tr.226). Đó là chuyện nên hay không nên phát động ngay cuộc chiến tranh du kích tại vùng biên giới là Cao Bằng, Bắc Giang và Lạng Sơn. Theo HVH, tình thế chưa chín muồi, thêm vào đó “đường dây liên lạc quốc tế”(21) do Hồ Chí Minh phụ trách đã bị cắt đứt vì ông Hồ bị Quốc Dân Đảng bắt, phát động ngay chiến tranh du kích là không thực tế.

    HVH kể tỉ mỉ chuyện Hồ Chí Minh bị bắt tại TQ vào cuối năm 1942 và chiến dịch của đảng nhằm đòi lại tự do cho ông Hồ. Khi Hồ Chí Minh ra tù, theo HVH, ông Hồ cho rằng HVH đã có lí về việc không đồng ý này (tr.227). Theo HVH, dường như một số lãnh tụ đảng đã không hiểu được ý nghĩa sâu xa của một số hoạt động của Hồ Chí Minh. Tuy không nói thẳng ra nhưng HVH ngụ ý rằng ông là một trong số bạn đường rất hiếm của Hồ Chí Minh đã nắm vững, hiểu rõ được ý tưởng và chiến lược thật sự của Hồ Chí Minh. HVH viết:

    “Đến như những hoạt động của Người như thế nào để đạt được kết quả chính trị có lợi cho mình, cho cách mạng thì rất ít ngưới biết. Có người lúc đó biết được đôi chút về Người, khi viết hồi ký lại huênh hoang thêu dệt ra một số tình tiết để tỏ vẻ mình là người biết rõ sự việc, là người được Hồ chủ tịch tin cậy, dặn dò, giao phó việc này, việc nọ.Thực ra thời gian ở Liễu Châu khi chưa tham gia Cách mạng Đồng minh hội, Người chỉ chăm chú rèn luyện thân thể, cặm cụi đọc sách báo và dịch quyển Tam Dân chủ nghĩa(22) , không nói chuyện chính trị và tiếp xúc với một ‘nhà chính trị Việt Nam’ nào, vì Người cảnh giác đối với các ‘nhà chính trị’ đó.” (tr.234)

    Vẫn theo HVH, Hồ Chí Minh đã giữ yên lặng sau khi bị bắt và chỉ bắt đầu hoạt động lại sau khi vận động được bầu vào Ban chấp hành Việt Cách. Những sự việc cụ thể này do HVH đã tham khảo “các tài liệu gốc của QDĐTQ mà gần đây mới sưu tầm được.” (tr.234) Những sự việc đó cho đến nay chưa ai được biết.

    NHỮNG HOẠT ĐỘNG BÍ MẬT CỦA HỒ CHÍ MINH TẠI TRUNG QUỐC

    Việc Hồ Chí Minh tham gia thành lập Việt Cách (tr.238-240). Vì Bộ tư lệnh Quân khu Bốn TQ tại Liễu Châu bế tắc sau khi thất bại trong việc thành lập hội “Việt Nam phản xâm lược đồng minh”, chính phủ Trùng Khánh mới cho vời đến đấy hai người Việt được họ bảo trợ là Vũ Hồng Khanh và Nghiêm Kế Tổ(23) nhằm mục đích thành lập đảng Việt Cách (Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh hội).

    Ngày 1 tháng 10 1942, đại hội thành lập chính thức khai mạc ở Liễu Châu, Ban Chấp hành Trung ương rất thiên về TQ gồm 7 người: Trương Bội Công, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Thế Tổ, Trần Báo, Nông Kinh Du, Trương Trung Phụng. Nhưng dần dần xảy ra chia rẽ và bất hoà giữa những người này, mọi việc không diễn ra như ý muốn của người TQ. Trương Phát Khuê muốn tổ chức một Đại hội khác nhằm chỉnh đốn nội bộ, mở rộng và thay đổi Ban Chấp hành. Hồ Chí Minh và sau đó một số người trong Việt Minh lập tức xin tham gia.

    Đại hội “chỉnh đốn” họp tại Liễu Châu từ ngày 25 đến ngày 28 tháng 3 năm 1944, gồm 15 đại biểu các đoàn thể trong đó có 3 đại biểu của Việt Minh (Lê Tùng Sơn, Nguyễn Thanh Đồng và Hồ Đức Thành), Hồ Chí Minh là đại biểu của Việt Nam phản xâm lược đồng minh(24), và Nguyễn Tường Tam là đại biểu của đảng Đại Việt.(25)

    Trong Ban Chấp hành mới này, thay thế cho Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh và Nông Kinh Du bị đẩy vào Ban Giám sát, là Lê Tùng Sơn, Bồ Xuân Luật (Việt Minh) và Trần Đình Xuyên. Hồ Chí Minh (và Nguyễn Tường Tam) được bầu làm ủy viên Trung Ương dự khuyết. Khi Trần Đình Xuyên bị gạt ra, Hồ Chí Minh nghiễm nhiên trở thành ủy viên Trung ương chính thức. “Thế là Hồ chủ tịch có một địa vị vững chắc trong Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh hội” (tr.240). Sau Liễu Châu đến lượt Phân hội Việt Cách tại Vân Nam “chỉnh đốn” nội bộ. Ba người Việt Minh (Phạm Việt Tử, Lý Đào và Phạm Minh Sinh) vào Ban Chấp hành, (Phạm Việt Tử, Lý Đào còn kiêm thêm chức ủy viên Ban Thường vụ) Dương Bảo Sơn, một người Việt Minh khác vào Ban Giám sát. Trước kết quả này, Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ phản đối dữ dội. Tiêu Văn, Chủ nhiệm văn phòng “đại biểu chỉ đạo”, không những không nghe mà còn hạ lệnh bắt cả hai (Vũ Hồng Khanh nhờ Trùng Khánh can thiệp vào giờ chót nên không bị bắt).

    + Hồ Chí Minh đi Côn Minh gặp Tư lệnh Không quân Mỹ.

    Về việc này, “một việc rất ít người biết, có người biết ít nhiều cũng tránh đi không nói” (tr.243). Theo HVH, không nói tới là một sai lầm, trái lại cần phải kể lại đầy đủ rõ ràng vì nó nằm trong một chủ trương chiến lược rất quan trọng. HVH kể rất tỉ mỉ Hồ Chí Minh đã được đưa đón tiếp đãi dọc đường như thế nào, “bác” tiếp chuyện với ai và kể cả tâm trạng của “bác” trong những buổi chuyện trò khác nhau với người Mĩ.

    “Bác đến Côn Minh với danh nghiã là Ủy viên Trung Ương của hội Việt Cách(26), tất nhiên có trách nhiệm xem xét tình hình Phân hội Việt Cách ở Vân Nam, và giúp đỡ cán bộ về tư tưởng và cách thức làm việc, khiến cho Phân hội trở thành một tổ chức cách mạng được quần chúng tin cậy. Nhưng mục đích chính của Hồ chủ tịch trong dịp đến Côn Minh là liên hệ với quân Đồng Minh Mĩ để cách mạng Việt Nam có một địa vị quốc tế rõ ràng trong phe Đồng Minh chống phát xít”. (tr.244- 245)

    Tại Côn Minh, Hồ Chí Minh đã gặp và nói chuyện khá lâu với tướng Mĩ Chen-nét-tơ.(27) Hồ Chí Minh kể chuyện Việt Minh (tại Cao Bằng) đã cứu hộ và giúp đỡ một sĩ quan nhảy dù Đồng Minh (người Mĩ) và tuyên bố Việt Minh sẵn sàng phối hợp với Đồng Minh để đánh Nhật. Nhưng khi tướng Mĩ đề nghị Việt Minh làm tình báo cho Đồng Minh thì ông Hồ từ chối và thêm rằng: “chúng tôi có thể thông báo tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam, cũng như tình hình hoạt động của Nhật ở Việt Nam”. (tr.245)

    Hồ Chí Minh đối đáp như một lãnh tụ thay mặt Việt Minh trong khi ông thực hiện chuyến du hành này với tính cách đại biểu Trung Ương của Việt Cách.

    + Hồ Chí Minh đi Trùng Khánh gặp Tưởng Giới Thạch.

    HVH giải thích rằng chuyến đi này của Hồ Chí Minh cũng cùng một tinh thần với chuyến đi Côn Minh gặp người Mĩ và chuyến gặp gỡ hụt với Sainteny (người Pháp) tại Trung Quốc. HVH viết nhiều trang chứng minh lời giải thích này. Xin trích ra đây vài đoạn chính:

    “Việc Bác đi Trùng Khánh gặp Tưởng Giới Thạch (không gặp được vì bị bắt ở dọc đường) việc đi Côn Minh để gặp Tư lệnh Mĩ, và việc liên hệ với tướng Pháp Xanh tơ ni trước Cách Mạng tháng Tám(28) thật ít người biết, có người biết ít nhiều cũng tránh đi không nói, vì họ nghĩ rằng như thế là hữu khuynh, là thoả hiệp. Cách nghĩ như vậy là không phù hợp với thực tế, không hiểu hết ý nghĩa chiến lược và sách lược của sự việc.

    Chúng ta đều biết, từ Hội Nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (tháng 5-1941) quyết định lấy Mặt trân Việt Minh thay cho Mặt Trận Phản đế thì chúng ta đã tuyên truyền là chúng ta đứng về phía phe Đồng Minh chống Phát xít (...)

    Chiến tranh thế giới lần thứ hai đã phân định thành hai phe rõ rệt, phe phát xít là Đức, Ý, Nhật; phe Đồng Minh là Liên Xô, Mĩ, Anh, Pháp, Trung Quốc. Trong đại hội lần thứ 7 của Quốc tế Cộng sản họp ở Mạc Tư Khoa năm 1935 đã quyết định các Đảng cộng sản trên toàn thế giới cần lập Mặt trận chống phát xít, mà đã chống phát xít thì khi có phe Đồng Minh chống phát xít, ta phải ủng hộ Đồng Minh. Việc ủng hộ phe Đồng Minh và đứng về phe Đồng minh chúng ta đã tuyên truyền nhiều, nhưng trên thực tế ta chưa trực tiếp liên hệ được với phe Đồng Minh. Ta đã biết chắc phát xít nhất định sẽ thất bại, Đồng minh nhất định sẽ thắng (...) ta cần phải có một hình thức liên hệ thực tế với Đồng Minh (...). Đến như việc muốn liên hệ với Pháp để trao đổi ý kiến, là vì Bác đã biết chắc khi quân Nhật thua, Đồng Minh sẽ đồng ý cho Pháp trở lại Việt Nam, nếu không có sự chuẩn bị trước thì lúc đó sẽ bị động. Vì vậy việc Bác định gặp Tưởng (...) gặp Mĩ (...) và (...) với Xanh-tơ-ni là một chủ trương chiến lược rất sáng suốt. Về mặt sách lược(29) thì Bác biết rất rõ là cách mạng thì phải dựa vào quần chúng (...) không có vũ trang là không thể chiến đấu, vũ trang đó ta có thể lấy ở địch, nhưng ta phải có một cái vốn (...) Bác cũng biết rất rõ là Mĩ (...) vẫn muốn hất cẳng Pháp. Tưởng [Giới Thạch] tuy phải thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Việt Nam nhưng cũng vẫn muốn (...) gây khó dễ cho Pháp. Bác vẫn biết Mĩ và Tưởng sẽ không giúp cho chúng ta (...) nhưng gặp để tranh thủ ảnh hưởng, tranh thủ được sự giúp đỡ dù rất ít cũng vẫn tốt, gặp để phân hoá họ, để hạn chế họ. (tr.250-251)

    (...) Về vấn đề đàm phán với Pháp là một vấn đề Bác đã nói rõ trong Quốc dân Đại hội ở Tân Trào, và sau Cách mạng tháng Tám (13/8/1945) Bác đã đàm phán với Xanh-tờ-ni đi đến Hiệp Định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946. Nhưng về sau trong tài liệu nói về Quốc dân Đại hội Tân Trào ta tránh đi không nói đến(30). Tôi thấy việc này cần nói rõ, đây là một chủ trương rất sáng suốt...” (tr.257)

    Tác giả đã nhiều lần phân biệt cẩn thận chiến lược với sách lược. Chiến lược là vận động cuộc cách mạng trong khuôn khổ “khối Đồng Minh chống Phát xít” quy định bởi Đại hội lần thứ 7 của Quốc Tế Cộng sản năm 1935 và được Hội nghị Trung Ương đảng (CSVN) lần thứ 8 chấp nhận. Sách lược là tổ chức cuộc chiến tranh võ trang và vận động quần chúng nổi dậy giành chính quyền từ tay người Nhật. Như vậy Việt Minh đủ lực lượng làm áp lực với Đồng Minh ngõ hầu buộc họ ngồi vào bàn thương thuyết, với hi vọng, như “bác Hồ đã giải thích trong đại hội Tân Trào (...) sau năm năm thì nước Việt Nam hoàn toàn độc lập”. (tr.256)

    CHIẾN LƯỢC VÀ SÁCH LƯỢC CÓ THỂ HOÁN CHUYỂN CHO NHAU!

    HVH không giải thích vì sao sách lược - chiến tranh vũ trang- được đổi thành chiến lược, nghĩa là trở thành phương hướng chính của Cách mạng Việt Nam, sau khi hội nghị tại Fontainebleau thất bại. Hồ Chí Minh đã nói gì ở đại hội Tân Trào?(31) HVH kể lại lí luận phân tích tình hình của Hồ Chí Minh như sau:

    “Lúc này tuy Nhật chưa đầu hàng, nhưng phát xít Đức đã đầu hàng khi quân Liên Xô đánh thẳng vào Béc-lanh; sáu mươi vạn quân của Nhật ở “Mãn Châu quốc” đã bị quân Liên Xô đánh tan, thì phát xít Nhật nhất định sẽ phải đầu hàng, đó là việc có thể biết chắc chắn. Phát xít Nhật đầu hàng thì quân Đồng Minh sẽ vào tiếp quản Đông Dương. Quân Đồng Minh đây có thể là quân Anh, quân Pháp, cũng có thể là quân Quốc dân đảng Trung Quốc, vì việc Hoa quân nhập Việt đã được chuẩn bị từ 1940, 1941. Bất kể là quân nào vào, đứng về mặt quốc tế mà nói là ta không thể cự tuyệt mà nói cho đúng là ta cự tuyệt họ cũng cứ vào. Như vậy là ta phải tiếp xúc, phải nói chuyện với họ, và nói chuyện với họ là ta phải có thế mạnh, thế mạnh đó là nước Việt Nam đã giành được độc lập từ tay Nhật.” (tr.254)

    Chính chủ trương “chiến lược” này đã giải thích vì sao Hồ Chí Minh kí Hiệp định sơ bộ ngày mồng 6 tháng 3 năm 1946 với Sainteny cho phép 15.000 quân Pháp kéo vào Việt Nam(32).

    (Thật ra ở trang 274, tác giả lại giải thích cách khác khi nhắc đến lí do chính thức của việc kí kết Hiệp định sơ bộ: “15.000 quân Pháp vào thì hai mươi vạn quân Tưởng phải rút (...) và để có hoàn cảnh chuẩn bị lực lượng kháng chiến chống Pháp một khi chúng không thi hành đúng hiệp định đã ký kết”.)

    Trở lại đoạn nói về việc “tham gia Việt Cách của Hồ Chí Minh”, khi Hồ Chí Minh được bầu vào Ban Chấp hành đảng Việt Cách, HVH khâm phục thành tích này của ông Hồ lắm. Làm sao ông Hồ đã thành công được trong khi các chủ nhân ông thực sự điều khiển việc thành lập Việt Cách đều là những tay sừng sỏ cả? Từ Trương Phát Khuê đến Tiêu Văn, Hầu Chí Minh(33), những người này đều biết rõ ràng lí lịch Hồ Chí Minh do sự phản bội của Trần Báo(34) :

    “đương cục (...) mới biết rõ Hồ Chí Minh là Lý Thụy, là Nguyễn Ái Quốc, là Hoàng Quốc Tuấn, là lãnh tụ cộng sản, là lãnh tụ Việt Minh. (tr.237) Nhưng sau khi biết rõ thân phận của Bác, Trương Phát Khuê lại càng kính nể và ưu đãi hơn trước (tr.238)

    Làm sao giải thích thái độ của nhà cầm quyền Trung Quốc? HVH đưa ra hai lí do:

    1. Tài “thuyết phục” của bác Hồ: Sau khi ”trao đổi ý kiến” với Bác, Tiêu Văn đồng ý “chỉnh đốn” nội bộ Việt Cách và cho Bác tham gia vào Ban Chấp hành (tr.239-240).

    2. Người TQ tìm cách “cảm hoá” (chiêu hồi) Hồ Chí Minh: từ 1941, trong bản báo cáo cho Trung Ương QDĐTQ, Trương Phát Khuê viết: “Hồ Chí Minh(35) từ lúc dời đến Bộ Chính trị quân khu vẫn được ưu đãi và được cảm hoá với một thái độ kính nể” (tr.238). HVH cho biết Trương Phát Khuê đã giao việc “cảm hoá Bác” cho Hầu Chí Minh.

    HVH dùng hai lần chữ “cảm hoá” nhưng có vẻ như chọn lối giải thích thứ nhất: nhờ “tài thuyết phục của Bác.”

    Sau khi đã giải thích kĩ lưỡng “chiến lược và sách lược” của Hồ Chí Minh, trong phần cuối chương, HVH nói về tình hình trước và sau khi Việt Minh cướp chính quyền vào ngày 19 tháng 8, “ngày toàn dân vùng dậy”.

    Ngày 30 tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh về đến Hà Nội. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, trước 500.000 người(36), ông đọc bản Tuyên ngôn độc lập và thành phần chính phủ lâm thời, gồm có: (tr.258-259)

    Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ ngoại giao: Hồ Chí Minh
    Bộ trưởng bộ Nội vụ: Võ Nguyên Giáp
    Bộ trưởng bộ Quốc phòng: Chu Văn Tấn
    Bộ trưởng bộ Tài Chính: Phạm Văn Đồng
    Bộ trưởng bộ Kinh tế: Nguyễn Mạnh Hà
    Bộ trưởng bộ Lao động: Lê Văn Hiến
    Bộ trưởng bộ Thanh niên: Dương Đức Hiền
    Bộ trưởng bộ Giáo dục: Đặng Thái Mai
    Bộ trưởng bộ Tư pháp: Vũ Trọng Khánh
    Bộ trưởng bộ Giao thông Công chính: Đào Trọng Kim
    Bộ trưởng bộ Y tế Vệ sinh: Phạm Ngọc Thạch
    Bộ trưởng bộ Xã hội: Nguyễn Văn Tố
    Bộ trưởng bộ Tuyên truyền: Trần Huy Liệu
    Bộ trưởng không Bộ: Cù Huy Cận và Nguyễn Văn Xuân

    Người ta nhận thấy các bộ quan trọng đều nằm trong tay người cộng sản. Các bộ khác giao cho các người có cảm tình cộng sản hoặc không đảng phái. Trần Huy Liệu (Bộ Tuyên truyền) và Nguyễn Văn Xuân (không Bộ) là cựu đảng viên VNQDĐ.

    Chú thích :

    (1) Trong số tháng giêng & tháng 2 năm 1986, tờ báo Bulledingue (xb tại Paris) cho một dẫn chứng hùng hồn: dưới tựa đề “Người ta viết lại lịch sử như thế nào” tờ báo này trích dẫn hai bản khác nhau của cùng một nghị quyết của ban chính trị Đảng CSVN. Một bản đăng trong Tạp chí Cộng Sản và một bản trong Tạp chí Nghiên Cứu Lịch sử. Mỗi bản giải thích một kiểu về vấn đề có hay không chuyện nổi dậy chống chính quyền ông Thiệu của nhân dân thành thị miền Nam vào năm 1975, khi quân đội Hồ Chí Minh sắp tiến vào Sài Gòn.

    (2) Xem Truyện và ký - tr.334, nxb Văn Học, Hà Nội - Hồ Chí Minh nói thực với người đồng hành: “Bác không phải là người hay thơ mà thơ bác cũng không hay”. Đấy là sự thật không hơn không kém, chỉ có những kẻ xu nịnh trong đảng Cộng Sản Việt Nam mới tâng bốc và đặt Hồ Chí Minh lên địa vị một “đại thi hào”.

    (3) Xem Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch - nxb Sự Thật, 1975, Hà Nội - Hồ Chí Minh, dưới bút hiệu Trần Dân Tiên, kể lại đời chính trị của mình. Nhờ viết tiểu sử cách ấy, Hồ Chí Minh có thể khen mình qua... tác giả.

    (4) Trường này cũng như trường Thuộc địa ở Paris, đào tạo công chức hành chánh thuộc địa cho thực dân Pháp. Năm 1911, Hồ Chí Minh cũng xin vào trường này mà không được. Theo chúng tôi, việc xin này là cốt ý ông muốn học hay để có một nghề hơn là nhằm vào việc tiến thân.

    (5) Phương Tây thường hiểu sai chữ Tự do trong khẩu hiệu này của Hồ Chí Minh, nó không hề mang cái ý nghĩa của Tự do ghi trong bản Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế.

    (6) Tiền thân đảng CSVN do Hồ Chí Minh thành lập.

    (7) Chỗ này ông không nhắc đến vợ ông, nhưng khi đó ông đã lập gia đình vì qua trang sau (tr. 31) ông kể chuyện ghé thăm người em vợ, và sau đó (tr. 35) ông “bồi hồi nghĩ đến vợ con”.

    (8) Phạm Hồng Thái, chiến sĩ quốc gia, ném lựu đạn ám sát toàn quyền Đông dương tại Quảng Châu.

    (9) Tác giả là Staline (chú thích của người viết bài).

    (10) Tác giả là Boukharine, vài năm sau Staline ra lệnh cấm lưu hành quyển này (chú thích của người viết bài).

    (11) HVH không viết “hoàn toàn nhất trí”.

    (12) Như U đon, Xà Côn, Na Khon, Pha Nôm v.v...

    (13) Việt Nam Quốc Dân đảng

    (14) Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh đảng

    (15) Đảng thân Nhật

    (16) Viêt kiều: Người VN ở nước ngoài

    (17) Đọc Chroniques vietnamiennes số 1, hồ sơ “Hồ Chí Minh et les trotskistes”

    (18) HVH cho biết Trịnh Công Hải lúc đó đã trở thành “kẻ ăn chơi” “không ăn khớp với tư cách một người cách mạng” (tr.95)

    (19) Ba tên sau này là người TQ, chúng tôi giữ phiên âm theo tiếng Việt vì không biết âm TQ.

    (20) Trong ban chấp hành có ba người mang tên giả: Phạm Văn Đồng = Lâm Bá Kiệt, Võ Nguyên Giáp = Dương Hoài Nam, Hoàng Văn Hoan = Lý Quang Hoa (tr.134)

    (21) Theo HVH tức là đường dây liên lạc với đảng CSTQ.

    (22) Quyển sách của Tôn Dật Tiên

    (23) Hai người này là lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân đảng (Việt Quốc).

    (24) Đảng này vẫn hiện hữu dù không được chính thức thành lập!

    (25) Theo HVH chính Hồ Chí Minh đề nghị tên Nguyễn Tường Tam với Trương Phát Khuê.

    (26) Sau cách mạng tháng Tám 1945, Việt Cách (Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh hội ) bị Việt Minh cấm hoạt động.

    (27) Tên của viên tướng Mĩ được phiên âm viết bằng tiếng Việt.

    (28) Sau Cách Mạng tháng Tám, cuộc gặp gỡ với tướng Sainteny xảy ra tại Hà Nội

    (29) Tác giả nhấn mạnh chiến lược (stratégie) và sách lược (tactique).

    (30) Tác giả lập đi lập lại nhiều lần nhóm từ “tránh đi không nói đến”, chúng tôi ghi lại để tôn trọng ý kiến của ông.

    (31) Thật ra có đến 2 Đại hội Tân Trào, một diễn ra vào ngày 13/8/1945 là Hội nghị toàn quốc của Đảng và một diễn ra ngày 16/8/1945 là Hội nghị toàn dân, ở cả hai kỳ hội nghị, bác Hồ phân tích tình hình như nhau. (tr.254-255) Lịch sử Đảng CSVN không hề nói đến phát biểu của Hồ Chí Minh trong hai kỳ đại hội này như HVH đã kể.

    (32) Tài liệu đảng CSVN lại cho chúng ta một cách giải thích hoàn toàn khác hẳn.

    (33) Tên một thủ lĩnh người Tàu, xin đừng nhầm với Hồ Chí Minh.

    (34) Trần Báo là đảng viên cộng sản Việt Nam.

    (35) Alain Ruscio, sử gia của đảng CS Pháp, tác giả quyển “Les communistes français et la guerre d’Indochine” (Những người cộng sản Pháp và cuộc chiến tranh Đông Dương) cho rằng người cộng sản Tàu không biết Hồ Chí Minh là ai kể cả Chou En Lai, nhưng giả thuyết cuả Alain Ruscio mâu thuẫn với lời báo cáo này trích từ văn kiện lưu trữ của QDĐTQ.

    (36) Vài văn kiện khác của đảng CSVN đưa ra con số một triệu người.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi