Trần Quang Cơ : Hồi ức và Suy nghĩ

  • Bởi Bien-Tap
    11/02/2009
    3 phản hồi

    LỜI TỰA

    Trong 44 năm (1954-1997) làm ngoại giao, trải qua những giai đoạn khác nhau, bản thân chứng kiến và tham gia nhiều sự kiện ngoại giao đáng ghi nhớ của thời kỳ kháng chiến và của thời kỳ hậu chiến như cuộc đàm phán hoà bình với Mỹ ở Paris (1968-1973), đàm phán về bình thường hoá quan hệ với Mỹ (1977 ở Paris, 1978 ở Nữu-ước), đấu tranh ngoại giao về vấn đề Campuchia và bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, sở dĩ tôi chọn quãng thời gian 1975-1991 này để viết ký ức này vì nó chứa đựng nhiều diễn biến khúc mắc tế nhị về đối ngoại, nhất là trong quan hệ của ta với ba nước lớn, dễ bị vô tình hay cố ý làm “rơi rụng” để cho lịch sử được “tròn trĩnh”; khiến cho việc đánh giá và rút bài học bị sai lệch, và đây cũng là giai đoạn mà mối quan hệ của ta với các nước lớn có những điều đáng phải băn khoăn suy nghĩ, không những cho hiện tại mà có thể cả cho tương lai...

    Bối cảnh quốc tế lúc này rất phức tạp, chiến tranh lạnh đã đi vào giai đoạn cuối, cả 3 nước lớn Liên Xô, Mỹ, Trung Quốc đều có những chuyển đổi về chiến lược, từ chỗ đối đầu quyết liệt với nhau chuyển sang hoà hoãn tay đôi rồi tay ba. Cục diện chính trị luôn biến đổi ở châu Á - Thái Bình Dương tác động trực tiếp đến tiểu khu vực Đông Nam Á và nước Việt Nam ta. Khu vực Đông Nam Á lúc này cũng đang trong quá trình chuyển đổi từ quan hệ đối đầu sang quan hệ đối thoại giữa hai nhóm nước Đông Dương và ASEAN. Hoàn cảnh này đúng ra (đòi hỏi) Việt Nam phải mạnh dạn sớm đổi mới tư duy về đối ngoại để có được một đường lối phù hợp với thực tiễn khách quan nhằm thoát ra khỏi thế cô lập, hoà nhập được với đà phát triển chung của khu vực và thế giới. Nhưng không ! Tư duy chính trị xơ cứng đã giam giữ nước ta trong cảnh khó khăn một thời gian dài. Chính vì thế, ngoại giao quãng thời gian này đã để lại trong tôi nhiều băn khoăn suy nghĩ về cái đúng, cái sai cái nên làm và cái không nên làm. Tôi nghĩ rằng nếu nghiên cứu một cách trung thực và có trách nhiệm những sự kiện của giai đoạn lịch sử này thì từ đây có thể rút ra những bài học bổ ích và đích đáng cho ngoại giao ta hiện tại và tương lai với mục đích tối cao là đảm bảo được lợi ích của dân tộc trong mọi trường hợp.

    Vì vậy tài liệu này tôi viết làm 2 phần: Hồi ứcSuy nghĩ (1). Phần Hồi ức cố gắng ghi lại một cách khách quan và trung thực diễn biễn của các sự kiện trong thời gian 1975-1991 trên cơ sở những tư liệu và nhật ký công tác còn lưu giữ được. Còn phần Suy nghĩ dành cho những ý nghĩ của riêng tôi, những điều trăn trở của tôi khi nghiền ngẫm lại các sự việc đã trải qua. Những ý nghĩ hoàn toàn theo chủ quan, có thể sai có thể đúng.
    23.1.2001

    Bản thảo này đã được bổ sung và hoàn chỉnh ngày 22.05.2003

    Trần Quang Cơ

    (1) Bản văn được chuyền tay vài năm nay chỉ là phần Hồi Ức mà thôi.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    3 phản hồi

    Điều tôi thắc mắc là những người có đầu óc khá như các ông Trần Quang Cơ, Nguyễn Trung (cựu đại sứ ở Thái Lan)...tại sao lại đi phục vụ cho bọn vô lại như các ông HCM, LD, Đ10, LĐ Anh,...Họ chấp nhận "cùng một bọn", nằm dưới trướng và chấp hành mọi chỉ thị của bọn ấy hết cả đời người.

    Tôi thắc mắc tại sao họ không viết hồi ký nói rõ lý do gì đã làm họ phải phục tùng và làm việc cho bọn vô lại ấy. Những hồi ký ấy có tác động sâu xa và có ích cho thế hệ trẻ VN hơn là các hồi ký chính trị loại này. Và tôi cũng tin rằng các ông này ,(TQC, NT...), biết và giữ rất nhiều bí mật của các đảng viên nắm quyền lãnh đạo cao nhất và các đảng viên cao cấp nhưng họ không dám viết ra.

    Tôi không tin VC kiêu ngạo mà cả Bộ Chính trị dốt nát. Cái dốt nát do chính niềm tin họ thắng trận 1975 có nghĩa do sức họ và không thấy được sự chuyển dịch của thế giới lúc bấy giờ. Họ không thấy sự đổi thay trong cái bắt tay của Nixon với Mao năm 1972 chia đôi lực lượng CS quốc tế, cũng không thấy trước đàn anh LX trên đà sụp đổ. Dốt nát và mù quáng thì đúng hơn cao ngạo.

    Hành động tặng quà của Thị trưởng Hà nội vừa rồi nhân gặp John Mc Cain cũng thế thối. Dốt và mù quáng tin vào Tàu khựa.

    Đăng lại mấy đoạn này của Trần Quang Cơ để thấy bản chất kiêu ngạo chí phèo của Việt cộng vẫn không thay đổi qua việc tên Phạm Quang Nghị tặng tấm hình chụp tượng đài tưởng niệm việc bắt giữ John McCain ở Hà nội mấy chục năm trước. Một tên khinh dân như tên Nghị này thì vẫn ngông như bọn Việt cộng ngày nào.

    Trích dẫn:
    Sau chuyến đi thăm mở đường này, hai bên đã thoả thuận mở cuộc đàm phán về bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ tại Paris. Đoàn ta lúc đó do Thứ trưởng Ngoại giao Phan Hiền dẫn đầu, thành viên có tôi, vụ trưởng Vụ Bắc Mỹ, anh Vũ Hoàng, vụ trưởng vụ Lãnh sự và mấy cán bộ vụ Bắc Mỹ: (các) anh Bùi Xuân Ninh, Cương, Hà Huy Tâm, Lê Mai. Anh Lê Mai khi đó là cán bộ vụ Bắc Mỹ, làm phiên dịch cho trưởng đoàn. Sứ quán ta ở Pháp có anh Đỗ Thanh, bí thư thứ nhất, và anh Nguyễn Thiện Căn, tùy viên báo chí, tham gia đoàn. Phía Mỹ do R. Holbrooke làm trưởng đoàn. Cuộc đàm phán diễn ra khá lâu, phải qua 3 vòng đàm phán trong tháng 5, tháng 6 và tháng 12 năm 1977. Địa điểm luân phiên ở đại sứ quán ta và đại sứ quán Mỹ tại Pháp. Trong đàm phán vòng 1 (ngày 3-4.5.77), lập trường của Mỹ là hai bên thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ ngay và vô điều kiện, còn những vấn đề khác giữa hai bên để lại giải quyết sau; Mỹ sẽ không cản Việt Nam vào LHQ. Còn về điều 21 (của Hiệp định Paris về VN), Mỹ có khó khăn về pháp luật nên không thực hiện được, hứa sẽ thực hiện khi đã có quan hệ, bỏ cấm vận buôn bán và xét viện trợ nhân đạo. Theo chỉ thị đã nhận trước khi đi, ta kiên quyết đòi phải giải quyết “cả gói” [8] 3 vấn đề: ta và Mỹ bình thường hoá quan hệ (bao gồm cả việc bỏ cấm vận và lập quan hệ ngoại giao đầy đủ), ta giúp Mỹ giải quyết vấn đề MIA và Mỹ viện trợ 3,2 tỷ đô-la cho Việt Nam như đã hứa hẹn trước đây.

    Ngông nghênh như con tác kè đỏ cổ thì cũng phải tiu nghỉu xin Mỹ bình thường hoá ngoại giao nhưng bọn Mỹ nó khinh chẳng những không cho mà còn trừng phạt nữa. Thế là đất nước đã nghèo vì bọn Việt cộng đánh giặc cho Liên xô và Tàu cộng và nay dân đã đói lại càng đói hơn.

    Trích dẫn:
    Sau đó đúng một tháng, tôi sang Nữu-ước để tiếp tục cuộc đàm phán về bình thường hoá quan hệ với Mỹ. Cuộc đàm phán vòng 4 về bình thường hoá quan hệ Việt Nam – Mỹ không kéo dài như năm 1977 ở Paris. Lần này trưởng đoàn đàm phán của ta là thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch. Còn phía Mỹ vẫn là R.Holbrooke. Đến lúc này khi ta quyết định rút bỏ đòi hỏi “Mỹ phải bồi thường chiến tranh – viện trợ 3,2 tỷ đô la mới bình thường hoá quan hệ” và nhận công thức “bình thường hoá quan hệ không điều kiện” của Mỹ thì đã muộn. Sở dĩ Mỹ tiếp tục đàm phán vấn đề bình thường hoá với ta lúc đó là chỉ nhằm làm Việt Nam chập chững trong quan hệ với Liên Xô và trong vấn đề Campuchia, trong khi đó Mỹ đã chuyển hướng sang phía Trung Quốc

    Thế là do cái ngu của bọn Việt cộng, Lý Quang Diệu cười khẩy bảo: “Năm 1975 thành phố Hồ Chí Minh có thể sánh ngang với Bangkok. Nhưng nay (năm 1992) nó tụt lại đằng sau tới hơn 20 năm” .