CHƯƠNG 29 - Ngân Hà quay ngược, bàn luận đêm khuya

  • Bởi Bien-Tap
    07/02/2009
    0 phản hồi

    Trở lại Genève, Chu Ân Lai không hề nghỉ ngơi một chút đã bước ngay vào cuộc hòa giải ngoại giao khẩn trương. Lúc này ông cảm thấy tình hình tế nhị nhất là suy nghĩ của Phạm Văn Đồng trước chỉ thị truyền tới từ nơi xa vạn dặm: “tướng ở ngoài, lệnh vua có cái không nghe”. Giờ phút ngả bài của hai bên Pháp, Việt đã tới gần. Không thể lại do dự khi đứng trước cơ hội dễ mất. Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng đã có một cuộc nói chuyện dài thâu đêm, kiên trì phân tích, chỉ ra bến mê, cuối cùng làm cho phương hướng giải quyết hòa bình hội nghị Genève tiến lên một bước quan trọng.

    Ngày 12 tháng 7, Chu Ân Lai đặc biệt chăm chú nghe Lý Khắc Nông và Trương Văn Thiên báo cáo.

    Từ ngày 22 tháng 6 đến ngày 9 tháng 7, người đứng đầu các đoàn đại biểu lần lượt về nước, đại biểu các nước lưu lại Genève trước sau đã họp 6 hội nghị có tính hạn chế về vấn đề Đông Dương, chủ yếu thảo luận các vấn đề như thành lập Ủy ban các nước trung lập và giám sát ngừng bắn v.v.. Cuộc đàm phán giữa nước Pháp và chính phủ Bảo Đại là một bên, cùng đoàn đại biểu quân sự nước Việt Nam DCCH bắt đầu từ ngày 2 tháng 6 đã từng bước đi sâu. Đại biểu phía Việt Nam tham gia lần đàm phán này là Tạ Quang Bửu, chức vụ đối ngoại là Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng, trợ thủ chủ yếu của ông là Hà Văn Lâu, Cục trưởng Cục Tác chiến Tổng quân ủy quân đội Việt Nam, Đặng Tính, Nguyễn Thanh Sơn, Phó Cục trưởng. Người phụ trách đàm phán thực tế là Hà Văn Lâu. Để giúp Việt Nam đàm phán với đối thủ, ba phía Trung, Xô, Việt tổ thành một hội nghị liên tịch quân sự. Ngoài phía Việt Nam ra, những người tham gia của phía Trung Quốc là Lôi Anh Phu, Lâm Phong, Quách Anh Hội, Mã Liệt, Trương Dực, người của phía Liên Xô tham gia có trung tướng Philinkov, Cục trưởng Cục Tình báo Bộ Tổng tham mưu. Nói chung không khí trong hàng loạt hội nghị này tương đối hòa nhập, trên các vấn đề như trao trả thương, bệnh binh v.v. đã thu được thành quả tích cực, nhưng trên vấn đề vạch giới tuyến tạm thời Nam, Bắc đã bị kẹt. Lý Khắc Nông trình bầy cách nhìn của mình: “Tôi có cảm giác có khả năng đoàn đại biểu Việt Nam không lãnh hội hoàn toàn ‘chỉ thị 5/7’ của Trung ương ĐLĐ Việt Nam, không chịu hạ quyết tâm bỏ khu vực Việt Minh khống chế nam vĩ tuyến 16 để đổi lấy khu vực đồng bằng sông Hồng, do quân Pháp khống chế, vì thế nên cứ lần lữa không đưa kiến nghị mới với phía Pháp, đàm phán tiển triển không lớn.

    Trương Văn Thiên đồng ý với ý kiến của Lý Khắc Nông, cũng nói với Chu Ân Lai: “Tôi cho rằng đoàn đại biểu Việt Nam lần lữa không tuân theo tinh thần ‘chỉ thị 5/7’ của Trung ương ĐLĐ đề xuất kiến nghị mới với phía Pháp. Một mặt là do chưa tiêu thụ nổi, lãnh hội chưa đủ ‘chỉ thị 5/7’. Một mặt là do có người về tư tưởng đã đánh giá lực lượng của mình quá cao, đặc biệt là đánh giá chiến thắng Điện Biên Phủ quá cao, cho rằng Việt Minh đã giành được thắng lợi có tính quyết định, quân Pháp khó có thể đánh tiếp. Vì thế đã không đưa ra những nhượng bộ thích ứng, nói chung muốn Pháp nhượng bộ nhiều hơn một chút. Đồng thời họ còn có tư tưởng ‘Liên bang Đông Dương’, không giỏi phân biệt cách mạng nhân dân và đấu tranh giải phóng dân tộc là hai loại không cùng tính chất.”

    Trương Văn Thiên cho rằng, nhất là ở Campuchia và Lào, chính phủ Vương quốc còn được lòng dân, “cách mạng là không thể xuất khẩu”, dựa vào Việt Minh, lực lượng bên ngoài không thể tiến hành cách mạng tại hai nước đó. Ông kiến nghị Chu Ân Lai: “làm tốt công tác với đoàn đại biểu Việt Nam, đi sâu bàn bạc trao đổi, đánh thông tư tưởng họ, thì sẽ có thể thúc đẩy đàm phán tiến lên.”

    Nghe xong báo cáo, Chu Ân Lai giới thiệu với Lý Khắc Nông và Trương Văn Thiên quyết sách của Trung ương ĐCS Trung Quốc đối với hội nghị Genève, cũng như cách nhìn của mình. Ông nói, nhiệm vụ của đoàn đại biểu Trung Quốc là ra sức khôi phục hòa bình Đông Dương. Lần này tôi và Hồ Chủ tịch đã bàn đi bàn lại, nghiên cứu kỹ, Hồ Chí Minh và Trung ương ĐLĐ Việt Nam cho rằng tình hình có lợi cho Việt Nam vì thế mới hình thành “chỉ thị 5/7” yêu cầu đoàn đại biểu Việt Nam chấp hành. Trung ương ĐCS Liên Xô cũng cho rằng Đông Dương đình chiến là tốt, vì thế Molotov mới trở lại Genève trước thời hạn, để thúc đẩy tiến trình hội nghị.

    Đối với phía Pháp mà nói, Mendès-France đã buộc số phận của mình với hòa bình Đông Dương, không thực hiện được hòa bình ông ta sẽ đổ, không được làm thủ tướng. Tôi và ông ta đã hội đàm mấy giờ, cảm thấy con người này tương đối thẳng thắn, có thể kết bạn, tôi tin là trong tay ông ta có thể thực hiện hòa bình Đông Dương.

    Chu Ân Lai nói, nước Anh cũng cần hòa bình Đông Dương. Thuộc địa của Anh là láng giềng Đông Dương, họ vừa sợ làn sóng cách mạng xung kích vào thuộc địa của họ ở Châu Á, lại vừa sợ Mỹ dính líu vào với qui mô lớn. Còn sợ chiến tranh Đông Dương mở rộng sẽ cuốn họ vào chiến tranh với Trung Quốc. “Con người Eden thông minh, có kinh nghiệm ngoại giao, giỏi xoay sở, tôi tiếp xúc với ông ta cảm thấy ông ta muốn tác thành hòa bình Đông Dương. Tất nhiên ông ta có tính hai mặt, ví dụ như ông ta giúp Mỹ phá hoại hội nghị về vấn đề Triều Tiên, nhưng khi Bỉ đề nghị thông qua đề án cuối cùng của tôi lại thể hiện tính hai mặt. Ông ta đồng ý với tôi, thiết lập quan hệ ngoại giao cấp Đại biện, nhưng lại không muốn ủng hộ việc khôi phục chiếc ghế của ta tại LHQ.”

    Còn về Mỹ, họ tương đối cô lập trên vấn đề Đông Dương, họ làm “liên hiệp hành động” không thành công. Đại biểu Campuchia và Lào vốn trước đây đi theo họ, qua công tác của chúng ta, bọn họ thấy được là bị mắc mưu, hiện nay bọn họ đang thoát khỏi sự khống chế của Mỹ, dựa vào chúng ta. Trước mắt chỉ còn một Bảo Đại, Việt Nam vẫn còn theo Mỹ.

    Chu Ân Lai chỉ ra, trên đây là những nhân tố có lợi, cũng có những nhân tố bất lợi. Chủ yếu là Mỹ không muốn nhìn thấy Trung Quốc mới phát huy tác dụng trong hội nghị Genève, muốn thi hành chính sách “kiềm chế”. Họ đang gia tăng áp lực với chính phủ Pháp. Mặc dù phái chủ chiến của Pháp đã bị đổ, nhưng vẫn có ý đồ sẽ trở lại cầm quyền. Họ muốn kéo dài qua thời hạn bốn tuần lễ, khiến Mendès-France bị đổ.

    Chu Ân Lai nói, còn một nhân tố không lợi xuất hiện trong nội bộ chúng ta, có đồng chí trong đoàn đại biểu Việt Nam chưa thông tư tưởng đối với “chỉ thị 5/7”, sợ bị hố. Đó là điều tự nhiên và cũng có thể hiểu được. Nâng cao cảnh giác, đề phòng mắc mưu khi chơi với chủ nghĩa đế quốc là đúng, thế nhưng cũng cần có tính linh hoạt trong đấu tranh. Tôi đã nhiều lần bàn bạc với Phạm Văn Đồng, đánh có thể tranh thủ được thắng lợi, nhưng phải trải qua đấu tranh gian khổ lâu dài, hơn nữa phải chuẩn bị Mỹ mở rộng chiến tranh. Vì thế hòa càng có lợi, có thể tranh thủ cơ hội phát triển, củng cố lực lượng của mình, sẽ lại có tiến thủ.

    Về vấn đề Campuchia, Lào, tôi cũng đã nói với Phạm Văn Đồng đạo lý “không thể xuất khẩu cách mạng”, tôi cũng đã phân tích tỉ mỉ với đồng chí đó là tình hình Việt Nam, Lào, Campuchia không hoàn toàn giống nhau, giới hạn của dân tộc và quốc gia ba nước vô cùng rõ ràng.

    Chính phủ Vương quốc Lào và Campuchia vẫn là chính phủ hợp pháp trong tim óc đại đa số nhân dân, hơn nữa còn được mấy chục nước công nhận. Ở hai nước Lào, Campuchia, cục diện kháng chiến chủ yếu là dựa vào sự giúp đỡ của Việt Minh mở ra. Trong tình hình này, nếu không chú ý tới sự khu biệt và giới hạn quốc gia rõ ràng của ba nước Đông Dương mà đề xuất xây dựng “Liên bang Đông Dương” là làm tổn hại nghiêm trọng tới chủ quyền và độc lập của hai nước Lào, Campuchia, và trên thực tế cũng là “xuất khẩu cách mạng”. Điều này không đứng vững về lý luận và trong thực tiễn cũng không thi hành được. Vì thế phải công nhận chính phủ Vương Quốc hai nước Lào, Campuchia, tranh thủ và cổ vũ họ trung lập, tiến tới từng bước tiếp cận chúng ta. Hiện nay xem ra Phạm Văn Đồng dường như thông rồi mà vẫn chưa thông, vì thế cần kiên nhẫn làm công tác đồng chí đó. Bởi vì xét cho cùng chúng ta không phải là nước đương sự, quyết định vẫn phải dựa vào việc làm của họ và Pháp, chúng ta chỉ có thể thúc đẩy từ trong đó.

    Chu Ân Lai hạ quyết tâm: “Tối hôm nay tôi sẽ phải dựa vào ý kiến của Trung ương ba đảng, gặp đồng chí đó, nói chuyện dài, bàn bạc tỉ mỉ.”

    Chu Ân Lai còn chỉ rõ, khó khăn hiện nay phải đối mặt, cũng còn ở chỗ hai phía Việt Nam tồn tại nhiều bất đồng, đặc biệt là trong việc chia giới tuyến bất đồng rất lớn. Nước Pháp chủ trương lấy vĩ tuyến 18 làm giới hạn, Trung ương ĐLĐ Việt Nam chủ trương trên vĩ tuyến 16, nhưng đoàn đại biểu Việt Nam vẫn dừng lại ở vĩ tuyến 14-15. Muốn giảm nhỏ khoảng cách giành được thỏa hiệp, cả hai bên đều phải có nhượng bộ, thậm chí nhượng bộ tương đối lớn.

    Phát biểu của Chu Ân Lai được sự tán thành nhất trí của những người phụ trách đoàn đại biểu Trung Quốc. Sau đó ông tới chào Molotov, thông báo dự tính của mình. Molotov hoàn toàn đồng ý cách nhìn của Chu Ân Lai.

    9 giờ 30 tối hôm đó, dưới sự tháp tùng của Trương Văn Thiên, Lý Khắc Nông, Sư Triết, Chu Ân Lai đã tới khách sạn đoàn đại biểu Việt Nam ở, hội đàm với Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan, Phan Anh, Trần Công Tường.

    Trước tiên Phạm Văn Đồng thông báo với Chu Ân Lai những điểm chính trong hội đàm giữa ông và Mendès-France trong hai ngày qua. Thì ra ngày 11 và 12 tháng 7, Phạm Văn Đồng đều đến biệt thự của đoàn đại biểu Pháp hội đàm với Mendès-France, mỗi lần bàn bạc một giờ, tiêu điểm của đàm phán là vạch đường giới tuyến.

    Phía Pháp kiên trì lấy vĩ tuyến 18 bắc làm đường giới tuyến. Tất nhiên Phạm Văn Đồng không đồng ý, nói, đường chia giới tuyến này rất không công bằng, không hợp lý. Mendès-France nói, rất khó tìm được biện pháp tốt hơn.

    Phạm Văn đồng thử thăm dò đề xuất vĩ tuyến 16. Mendès-France ngang nhiên từ chối, về căn bản không bàn tiếp được nữa.

    Về vấn đề tiến hành bầu cử phổ thông thực hiện Việt nam thống nhất, Mendès-France biểu thị đồng ý trên nguyên tắc, nhưng không xác định thời hạn từ lúc ngừng bắn đến khi bầu cử. Ông ta hy vọng đẩy lùi thời gian về phía sau một chút, nói phía Việt nam yêu cầu quân đội Pháp nhanh chóng rút khỏi Việt Nam, nhưng trên thực tế rút quân quá nhanh, quá sớm cũng không được, muốn nhanh chóng bầu cử phổ thông cũng không làm được. Bởi vì rút quân và bầu cử phổ thông có liên quan, cũng phải chiếu cố tới quan hệ giữa Pháp và chính phủ Bảo Đại.

    Thế nhưng phía Pháp đồng ý nguyên tắc Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, thống nhất, tán thành thông qua bầu cử phổ thông tổ thành chính phủ toàn quốc.

    Phạm Văn Đồng nói với Mendès-France, nhân dân mong muốn là như vậy, chúng tôi cũng yêu cầu thực hiện một số. Phạm Văn Đồng hỏi, khi phía Pháp thúc đẩy thực thi phương án bầu cử phổ thông liệu thái độ với chính phủ Bảo Đại có xuất hiện thay đổi hay không?

    Mendès-France trả lời, tôi sẽ hết sức thực thi ảnh hưởng với họ, khiến chính phủ Bảo Đại phát triển theo phương hướng đó.

    Khi bàn đến quan hệ Việt, Pháp Phạm Văn Đồng cho rằng đó là vấn đề lớn mang tính căn bản. Nếu quan hệ hai bên tốt thì vấn đề gì cũng có thể giải quyết tốt. Hai nước Pháp, Việt nên xây dựng quan hệ chặt chẽ về kinh tế và văn hóa.

    Mendès-France biểu thị đồng ý với ý kiến Phạm Văn Đồng, cho rằng vấn đề này còn có thể tiếp tục thương thảo. Mendès-France nói, tôi xuất thân từ làm kinh tế, tất nhiên quan tâm đến quan hệ kinh tế Pháp, Việt.

    Phạm Văn Đồng nói, về vấn đề liệu Việt Nam có gia nhập Liên hiệp Pháp hay không, còn có thể thương thảo nữa.

    Khi bàn đến vấn đề Lào và Campuchia, Mendès-France cho rằng vấn đề Việt Nam mới là then chốt nhất. Nếu vấn đề Việt Nam giải quyết không tốt, thì vấn đề Lào và Campuchia không biết bàn từ đâu. Nếu vấn đề Việt Nam giải quyết tốt, thì vấn đề Lào và Campuchia chỉ dùng mấy giờ là có thể giải quyết, vì thế hiện nay không vội giải quyết vấn đề hai nước Lào, Campuchia.

    Phạm Văn Đồng giới thiệu với Chu Ân Lai nói, ông và Mendès-France đàm phán, ngoài việc phân chia giới tuyến quân sự như thế nào ra, các vấn đề còn lại đều thuận lợi. Phạm Văn Đồng nói, Mendès-France thể hiện tròn trịa lão luyện, nhưng vẫn gây cho người ta ấn tượng thành thực đáng tin, không khí hội đàm là hòa nhập.

    Phạm Văn Đồng nói rất nghiêm túc, chọn câu lựa chữ, lại cộng thêm phiên dịch nên giới thiệu xong tình hình đã nửa đêm.

    Đến lượt Chu Ân Lai phát biểu, ông kiến nghị với Phạm Văn Đồng và những người khác, bàn bạc ở khách sạn này điều kiện bảo mật kém, hay là đến biệt thự Vạn Hoa bàn tiếp?

    Thế là Phan Anh, Trần Công Tường rút lui, chỉ còn Phạm Văn Đồng cùng Chu Ân Lai v.v.. đến biệt thự Vạn Hoa. Phía đoàn đại biểu Trung Quốc, Sư Triết cũng rút lui.

    Sau khi đến biệt thự Vạn Hoa, Phạm Văn Đồng nói với Chu Ân Lai, khi ông hội đàm với Thủ tướng Pháp, Mendès-France đã đưa một dự thảo phương án của Pháp về vấn đề giải quyết Đông Dương để ông xem một chút và trưng cầu ý kiến. Phạm Văn Đồng nói, văn kiện này gồm hai tờ giấy đánh máy, nội dung gồm các điểm có thể đạt thành hiệp nghị giải quyết vấn đề Đông Dương, trong đó điều khoản liên quan đến Việt Nam tương đối nhiều một chút. Mendès-France nói với Phạm Văn Đồng, ngày 13 sau khi sửa xong phái Pháp sẽ trao văn kiện này để phía Việt Nam nghiên cứu.

    Tình hình này cho thấy rõ, đàm phán đã tiến vào giai đoạn cuối cùng, thời gian hai bên ngả bài đã tới gần.

    Chu Ân Lai giới thiệu với Phạm Văn Đồng những kinh qua khi ông thăm Ấn Độ và Miến Điện, sau đó kể lại tỉ mỉ tình hình hội nghị Liễu Châu.

    Chu Ân Lai nói, liệu có thể thông qua chiến tranh giành được toàn bộ Việt Nam không? Tại hội nghị Liễu Châu đã nêu ra vấn đề này. Mọi người cho rằng làm như vậy rất khó khăn. Giả định không có sự can thiệp của Mỹ, chỉ đánh nhau với Pháp, Võ Nguyên Giáp cho rằng còn phải dùng ba năm nữa mới được. Vi Quốc Thanh cho rằng chí ít là ba năm. Thế nhưng một khi Mỹ tiến hành can thiệp thì sao? Lúc đó không phải là vấn đề ba năm nữa.

    Chu Ân Lai nói, trên thực tế, sự can thiệp của Mỹ là không thể nào tránh khỏi. Từ khi chiến tranh Việt nam bùng nổ đến nay, nước Mỹ không hề chắp tay đứng nhìn, sự can thiệp của họ vào Việt Nam ngày một mở rộng. Đến giờ phút then chốt, sự can thiệp của Mỹ có thể đột ngột mở rộng đến bước nghiêm trọng. Trước khi cuộc chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, phía Triều Tiên giành hết thắng trận này đến thắng trận khác, tiến sát Pusan. Lúc đó Mao Trạch Đông đã từng đề xuất với Kim Nhật Thành, Choi Yong Kun [Thôi Dũng Kiện], nên tính tới vấn đề Mỹ tiến hành can thiệp vũ trang. Quả nhiên không lâu sau đó can thiệp vũ trang của Mỹ đã đến. Bọn họ một mạch tiến sát sông Áp Lục, Trung Quốc gửi sang hơn một triệu quân chí nguyện, chỉ làm được việc đuổi họ về vĩ tuyến 38, chiến sự trở nên giằng co.

    Chu Ân Lai nói, hiện nay QĐND Việt Nam chưa tạo thành cục diện giống như thế.Thế nhưng vẫn phải đề phòng Mỹ tiến hành can thiệp. Bởi vì một khi Mỹ can thiệp, phía chúng ta chưa chắc thông qua chiến tranh giành được toàn thắng, mà còn có khả năng mất vùng giải phóng hiện nay đã giành được.

    Vậy thì liệu có thể thực hiện được hòa bình không? Chu Ân Lai nói, giả sử tại vùng phụ cận vĩ tuyến 16 vạch đường giới tuyến quân sự, thực hiện ngừng bắn, đối với phía chúng ta có lợi hay không? Đáp án của mọi người đối với việc này là khẳng định. Như vậy sẽ có lợi cho miền Bắc Việt Nam, vì như vậy sẽ có khả năng có lãnh thổ liền một khối. Vạch giới tuyến ở vùng gần vĩ tuyến 16 vẫn còn có thể có 12 triệu dân, còn miền Nam chỉ có 9 triệu.

    Chu Ân Lai nói, vạch giới tuyến tại vĩ độ 16, miền Bắc có thủ đô có hải cảng, có thể tiến hành xây dựng giao thông, phát triển kinh tế. Về chính trị Việt Nam không giống nước Đức và Triều Tiên, chúng ta ở vào địa vị ưu thế có lợi rất nhiều. Chính phủ Bảo Đại yếu hơn chính phủ Lý Thừa Vãn. Trước tiên hòa bình có lợi cho phát triển kinh tế miền Bắc Biệt Nam. Có thể tranh thủ nước Pháp, tranh thủ các nước trong Liên hiệp Anh, tranh thủ các nước Đông Nam Á, làm suy yếu lực lượng của phần tử hiếu chiến.

    Chu Ân Lai nói, phái chủ hòa Pháp là đối tượng chủ yếu chúng ta tranh thủ hôm nay. Có thể nói chính phủ Mendès-France là chính phủ tương đối tốt mà phái chủ hòa nước Pháp có thể lập được, chúng ta phải tranh thủ chính phủ đó. Tất nhiên tại Việt Nam sau khi trải qua bẩy, tám năm chiến tranh muốn tiến hành mặt trận thống nhất với quốc gia vốn là đối địch (nước Pháp) và chính phủ đối địch (Bảo Đại) là có khó khăn. Năm 1935 khi chúng tôi trường chinh đến Ngõa Dao Bảo, đồng chí Mao Trạch Đông đã chỉ ra, phải cùng tập đoàn Tưởng Giới Thạch thiết lập mặt trân dân tộc thống nhất chống Nhật. Đa số trong Trung ương đảng tán thành, thiểu số đồng chí phản đối, tranh luận khoảng nửa năm. Tôi là một trong thiểu số đó, bởi vì tôi đã cùng Tưởng Giới Thạch làm mặt trận thống nhất và tận mắt nhìn thấy hắn ta phản bội cách mạng. Tôi có kinh nghiệm đó cho nên không tin có thể cùng Tưởng Giới Thạch làm mặt trận thống nhất. Thế nhưng đồng chí Mao Trạch Đông đã đúng. Sau này trong sự biến Tây An tôi đã chấp hành chủ trương của Trung ương tiến hành công tác phóng thích Tưởng Giới Thạch.

    Nếu như muốn hòa bình, chia vùng, nhất định sẽ có vấn đề rút quân. Chu Ân Lai nói từ bài học kinh nghiệm trong lịch sử ĐCS Trung Quốc, đề nghị Phạm Văn Đồng suy ngẫm: rút quân đội của mình ra khỏi vùng giải phóng hoạt động lâu dài là một việc rất không dễ dàng, rất tổn thương đầu óc. Nhưng để giành được lợi ích toàn cục, có khi không thể không hy sinh lợi ích cục bộ; vì lợi ích lâu dài có khi không thể không hy sinh lợi ích trước mắt. Các đồng chí hiện nay đang đứng trước việc phải rút bỏ vùng Nam bộ và nam Trung bộ và những khó khăn do việc rút quân đội khỏi những nơi đó. Đảng Trung Quốc chúng tôi cũng có kinh nghiệm của hai lần rút quân tương tự, đã trải qua những khó khăn như vậy. Vì thế chúng tôi cảm thấy hiểu biết sâu sắc về những khó khăn của các đồng chí Việt Nam hôm nay. Kinh nghiệm của chúng tôi nói cho chúng ta, trong tình hình giống như vậy, “vứt bỏ” ngược lại chính là giành được, “hai không vứt bỏ” ngược lại sẽ là “tổn thất”. Trong thời kỳ chiến tranh chống Nhật, tại Tân Tứ quân miền nam An Huy, mặt trước chúng tôi kháng chiến chống Nhật, mặt sau bị quân Quốc Dân đảng công kích, đồng chí Mao Trạch Đông chủ trương rút sang phía bắc sông, Hạng Anh, người có trách nhiệm lãnh đạo lúc đó cho rằng cơ sở quần chúng vùng đó kém, vì thế đã do dự, kéo dài bốn tháng, kết quả là lâm vào bị động, khiến Tân Tứ quân ở nam An Huy trong “sự biến nam An Huy” năm 1941 bị tổn thất lớn. Sau khi Nhật Bản đầu hàng, chúng tôi có kế hoạch rút bộ đội ở nam Giang Tô và Đông Giang lên bắc Giang Tô và Sơn Đông, chỉ để lại cán bộ làm công tác quần chúng, kết quả là đã bảo lưu được bộ đội dễ bị tan vỡ, tập trung được lực lượng, đồng thời cũng bảo tồn được cơ sở công tác quần chúng địa phương một các thích đáng, có lợi cho việc tiếp tục phát triển chiến tranh giải phóng sau này. Nhưng ở vùng Trung Nguyên, do cơ sở quần chúng tốt, tương đối gần vùng giải phóng miền Bắc, đã kéo dài 5 tháng, cuối cùng bị bao vây, không thể không phá vây trong thế yếu, kết quả ba vạn người của sư đoàn 5 Tân Tứ quân chỉ còn mấy ngàn người ra được, còn không kịp để lại cán bộ, cơ sở quần chúng cũng bị phá hoại rất lớn. Lúc đó việc rút quân của chúng tôi không có vùng trao đổi, nếu đối phương muốn lấy Bắc Kinh, Thiên Tân để trao đổi hoặc lấy Đông Bắc để trao đổi, thì trong Đảng lúc đó nhất định sẽ tán thành rút quân lớn hơn nữa, thậm chí có thể hoàn toàn rút khỏi bắc Giang Tô.

    Trước mặt có chỉ thị của Hồ Chí Minh, nên Chu Ân Lai nói đến đó, thái độ của Phạm Văn Đồng đã có thay đổi rõ rệt. Chu Ân Lai tiến tới bàn tiếp một số vấn đề cụ thể.

    Về vấn đề chia giới tuyến quân sự ở Việt Nam, Chu Ân Lai cho rằng, nếu như phía chúng ta bảo lưu vùng tập kết nhỏ tại Liên khu Năm thì phía Pháp cũng sẽ đề xuất vấn đề bảo lưu vùng tập kết nhỏ tại đồng bằng sông Hồng, nếu vậy phía ta sẽ tương đối bị động. Bây giờ nếu như có thể rứt khoát lấy vĩ tuyến 16 làm ranh giới, thì có thể thành lập trước một dạng quốc gia, tiến thì có thể thông qua bầu cử phổ thông mà hoàn thành thống nhất cả nước, lùi thì cũng có thể từ vùng vĩ tuyến 16 trở ra bắc tiến hành xây dựng hòa bình dân chủ. Những thay đổi trên thế giới thường xuyên phát sinh, bầu cử phổ thông có thể thực hiện sau ngừng bắn cũng có thể bị kéo dài vô thời hạn, hãy nắm trước cái có thể nắm chắc trong tay mình là thỏa đáng hơn. Nắm chắc trước vùng từ vĩ tuyến 16 ra bắc là biện pháp tương đối thỏa đáng.

    Chu Ân Lai đề xuất lấy vĩ tuyến 16 làm ranh giới, đối phương có khả năng đề xuất không thể nhường Đà Nẵng, Huế và đường 9 làm lý do để từ chối. Phía chúng ta nên nhượng bộ về ba điều kiện dưới đây, để tiện giành được hiệp nghị, một là nhường cho đối phương sử dụng đường 9 làm đường giao thông đến Lào, phía chúng ta có thể giành được một số điều kiện trao đổi với đối phương trong đàm phán một cách thích đáng. Nếu như đối phương bảo lưu quyền khống chế, quyền sử dụng cảng Đà nẵng một năm, chúng ta cũng có thể yêu cầu bảo lưu quyền khống chế, quyền sử dụng trong một năm tại một nơi nào đó ở Trung bộ hoặc Nam bộ; nếu như đối phương yêu cầu bảo lưu Hải Phòng làm trạm trung chuyển quân đội trong nửa năm hoặc mười tháng, yêu cầu tiến hành chiếu cố về chính trị, áp dụng biện pháp khoan dung với hai vùng giáo dân Bùi Chu và Phát Diệm, thì phía chúng ta cũng có thể đề xuất yêu cầu giống như vậy tại Trung bộ, Nam bộ; đối phương yêu cầu phía chúng ta bảo đảm an toàn rút quân, phía chúng ta có thể đề xuất yêu cầu đối phương ngừng oanh tạc đường giao thông của phía ta.

    Chu Ân Lai bổ sung nói, văn kiện ngày 5 tháng 7 của Chủ tịch Hồ Chí Minh sau khi gửi xuống dưới, đồng chí Mao Trạch Đông có điện hỏi, liệu vĩ tuyến 16 có thể đạt thành hiệp nghị, liệu có thể suy tính tới việc vạch giới tuyến ở vĩ tuyến 16 ra bắc? Qua thương nghị lại với Hồ Chủ tịch đã quyết định lấy đường 9 làm giới tuyến. Mặc dù điểm này không viết trong văn kiện, nhưng đúng là đã quyết định như vậy. Cuối cùng Chủ tịch Mao Trạch Đông còn nói, để đạt được hiệp nghị, chỉ cần không thay đổi những điểm quan trọng nhất, trong đàm phán có thể tiếp nhận những phương pháp thay đổi không vi phạm nguyên tắc có thêm bớt đôi chút so với phương án.

    Về vấn đề bầu cử. Chu Ân lai chỉ ra, Mendès-France đã nhiều lần biểu thị tán thành nguyên tắc thông qua bầu cử thực hiện thống nhất, nhưng chủ trương không nên quá nhanh mà muốn chậm lại. Ông ta đang suy nghĩ, nên dùng cách nói nào hoặc biện pháp nào để giải quết vấn đế này. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng tốt nhất là định thời hạn, qui định cụ thể là sau ngừng bắn một, hai năm sẽ tiến hành bầu cử, nói chung so với không định thời hạn là tốt hơn, nhưng để tránh tạo thành cục diện cứng nhắc, Chu Ân lai cho rằng có thể đạt thành hiệp nghị có tính nguyên tắc trong lần hội nghị này, sau đó sẽ có hiệp định khác định thời hạn.

    Về Lào và Campuchia, Chu Ân Lai chỉ ra, ở Lào có thể vạch hai tỉnh vùng đông bắc, chỉ cần làm cho không thể xây dựng căn cứ quân sự Mỹ là có thể tiếp tục chịu ảnh hưởng của Việt Nam. Về Campuchia, nên đồng ý rút quân đội Việt Nam khỏi nơi này.

    Chu Ân Lai chỉ ra thêm, Trung ương ĐCS Liên Xô và Trung ương ĐCS Trung Quốc đều cho rằng phải tiến hành đàm phán tại hội nghị Genève một cách chủ động, tích cực, nhanh chóng, phải làm cho vấn đề đơn giản hóa, tránh làm cho đàm phán phức tạp hóa, phải lấy phía Pháp làm đối tượng chủ yếu, điều kiện nêu ra phải tính tới khả năng tiếp nhận của đối phương.

    Bàn chuyện đến đây, trời đã đầy sao sáng, Ngân hà như đang trôi, thành Genève đang ngủ say trong vòng tay của đêm lớn.

    Chu Ân Lai vẫn phấn chấn tinh thần, nói với Phạm Văn Đồng, giờ đây hội nghị Genève đã bước vào giai đoạn cuối cùng, công việc thành hay bại sẽ sớm rõ. Vì thế Molotov đã đồng ý chủ trương của Eden, trước mắt chưa triệu tập hội nghị tập thể, mà phần nhiều để cho các nước tham dự tham dự hội nghị tiến hành hoạt động ngoài hội nghị và hòa giải ngoại giao. Một sự việc cũng đã rõ, chiều mai (13 tháng 7) Mendès-France và Eden sẽ đến Paris gặp Dulles.

    Chu Ân Lai nói với Phạm Văn Đồng để làm tốt công việc trước khi Mendès-France xuất phát, đồng chí nên chủ động gặp ông ta hội đàm một lần nữa, chủ động đề xuất kiến nghị cụ thể về một số vấn đề quan trọng, làm cho Mendès-France khi hội đàm với Dulles trong lòng đã có cơ sở. Như vậy vừa có thể giảm bớt tính phá hoại của Dulles đối với hội nghị Genève, thậm chí còn có thể khiến ông ta cũng đến Genève tham gia phiên họp cuối cùng của hội nghị.

    Trước khi hội đàm với ngoại trưởng Pháp, Anh, Mỹ phía chúng ta nói gì với bọn họ? Chu Ân Lai một lần nữa chỉ ra rõ ràng, chủ yếu là vấn đề vạch giới tuyến. Phía chúng ta có thể suy tính lấy vĩ tuyền 16 làm giới tuyến. Chúng ta không nên do dự nữa, bởi vì thời gian đã trở nên ngắn ngủi, kéo thêm nữa, ngược lại sẽ không tốt. Thứ hai là về vấn đề vùng tập kết quân sự của Lào, vấn đề nước thành viên của Ủy ban Giám sát, vấn đề tiến hành bầu cử phổ thông tại Việt Nam, tất cả đều có thể đề xuất với Mendès-France.

    Chu Ân Lai nói, trên không ít vấn đề lời nói và việc làm của Mendès-France vẫn còn nhất trí, ông ta muốn thực hiện lời hứa, chúng ta nên tranh thủ Mendès-France khiến hội nghị Genève về Đông Dương đạt được hiệp nghị, giành được thành công.

    Nghe Chu Ân Lai nói đến đó, cuối cùng Phạm Văn Đồng đã thay đổi thái độ nói, ông cảm ơn những giới thiệu và ý kiến của thủ tướng Chu, ông nhất định sẽ nghiêm túc suy nghĩ những kiến nghị của thủ tướng Chu, đồng thời làm theo quyết định của Trung ương ĐLĐ Việt Nam.(1)

    Một lần nữa, thông qua những cố gắng của mình, Chu Ân Lai đã thúc đẩy hội nghị Genève tiến thêm một bước lớn theo hướng giải quyết hòa bình.

    Lúc này Genève đã là buổi bình minh.

    (1) Phỏng vấn La Quí Ba tại Bắc Kinh ngày 18/4/1990, và dẫn theo những ghi chép có liên quan của ông.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi