CHƯƠNG 17 - Hợp tung liên hoành đan xen rắc rối

  • Bởi Bien-Tap
    07/02/2009
    0 phản hồi

    Mưu lược ngoại giao và việc phối hợp, điều hòa giải quyết các vấn đề ngoại giao là sự vận động phức tạp cao độ trong hoạt động xã hội của loài người. Thông minh, lắm mưu nhiều kế đem lại lợi ích cho đất nước; thất thế thì do dự. Giữa hòa và chiến, đường khúc khuỷu mà lại mất cừu. Kết cục của chiến dịch Điện Biên Phủ đã dẫn đến những thay đổi tế nhị giữa hai phe và trong nội bộ từng phe tại Genève. Làm thế nào đánh giá được đúng sự thay đổi này, điều đó tự nhiên trở thành thử thách tốt nhất đối với một nhà ngoại giao.

    Trung tuần tháng 5, phong cảnh ven hồ Leman ở Genève thật là đẹp mắt, bầu trời lộng gió, các loài hoa quý nổi tiếng thế giới đang đua nhau khoe sắc ở bờ hồ phía Nam. “Công viên Thế giới” bước vào mùa du lịch cao điểm. Trái với cảnh quan bên ngoài, hội nghị Genève về vấn đề Triều Tiên lâm vào bế tắc. Riêng vấn đề Đông Dương, do Phạm Văn Đồng đã tuyên bố ngay từ lúc khai mạc hội nghị rằng QĐND Việt Nam sẽ phóng thích số tù binh Pháp bị thương trong chiến dịch Điện Biên Phủ, do đó không khí có vẻ dịu hơn.

    Kết quả của chiến dịch Điện Biên Phủ có lợi rõ rệt đối với phe phương Đông; một lần nữa chính phủ Laniel lại bị khủng hoảng lòng tin. Ngày 13/5, Laniel lại đề nghị Quốc hội Pháp hoãn cuộc họp bàn về tình hình Đông Dương để tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm chính phủ, kết quả đã vượt qua được với đa số rất mong manh là hai phiếu.

    Ngày 14 và 15/5, Hội đồng Quốc phòng Pháp họp hai ngày liền thảo luận tình hình Đông Dương, tập trung bàn vấn đề phòng thủ vùng đồng bằng sông Hồng sau khi mất Điên Biên Phủ. Những người dự họp rất đau đầu trước tình hình sau thất bại Điện Biên Phủ. Lực lượng lính dù cơ động tinh nhuệ nhất của quân viễn chính Pháp ở Đông Dương gần như bị mất sạch, binh lính mất ý chí chiến đấu. Quân chủ lực của bộ đội Việt Nam thừa thắng đang đưa các sư đoàn trở lại vùng đồng bằng sông Hồng. Trừ khi có viện trợ khẩn cấp cho quân viễn chinh, nếu không, vùng đồng bằng sông Hồng sẽ bị nguy hiểm như trứng để đầu đẳng. Hội nghị quyết định, quân Pháp ngay lập tức thu hẹp phòng tuyến bảo vệ vùng đồng bằng sông Hồng, coi đó là bước đi đầu tiên của biện pháp khẩn cấp, đồng thời đưa từ Pháp sang tăng cường cho Việt Nam hai tiểu đoàn dù và một trung đội hàng không. Đương nhiên, tăng quân như vậy vẫn còn thiếu rất nhiều so với yêu cầu cần thiết.

    Ngày từ lúc trước khi Điện Biên Phủ bị thất thủ một ngày, tướng Navarre đã kê ra một danh sách tăng thêm quân số và vũ khí. Navarre báo cáo với Bộ Quốc phòng Pháp: một khi Điện Biên Phủ thất thủ, tôi cần có thêm 25 tiểu đoàn bộ binh và năm cụm pháo binh cùng với ba tiểu đoàn cơ giới hóa và một số lính hàng không tương ứng, tổng số quân cần tăng viện là hơn ba vạn người mới có thể giữ được cục diện Đông Dương.”(1)

    Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Pleven và Tổng Tham mưu trưởng quân đội Ely sau khi bàn bạc đã căn cứ vào yêu cầu của Navarre, tăng viện ba sư đoàn từ Pháp sang Việt Nan. Pleven còn dự định nếu quân số chưa đủ thì có thể điều động từ Bắc Phi tới Đông Dương.

    Cuộc họp quyết định cử Tổng tham mưu trưởng quân đội Ely, tướng [Raoul] Salan, cựu thống lĩnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương và tướng Pelyssier vừa được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng Không quân ngày 18/5 sẽ bay sang Việt Nam để điều tra tình hình và nêu ra biện pháp giải quyết.

    Chiều ngày 14/5, Molotov phát biểu tại hội nghị Genève bàn về vấn đề Đông Dương, trình bày rõ lập trường của Liên Xô. Nhằm vào câu nói của Eden về “không nên đề cập vấn đề lịch sử”, vừa mở đầu bài phát biểu Molotov đã bác bỏ, ông nói: “Tại hội nghị này, có lúc và có người đề nghị không nên nhắc lại lịch sử quá khứ của vấn đề, không nên thảo luận vấn đề chính trị, mà chỉ giới hạn vào việc nghiên cứu lĩnh vực quân sự của vấn đề Đông Dương v.v.. Nếu chúng ta cứ đi theo con đường đó, có lẽ chúng ta sẽ không thể giải quyết đựợc một nhiệm vụ nào trong số các nhiệm vụ mà hội nghị Genève đang đặt ra cho chúng ta.”

    Molotov nói rõ: Ngày 25/8/1945, bản thân Bảo Đại đã đọc bản “tuyên bố thoái vị”, ông ta thừa nhận rằng 20 năm dưới sự thống trị của mình đã không đem lại được điều gì tốt đẹp cho nhân dân cả, do đó tuyên bố thoái vị và công nhận chính quyền đã thuộc về Chính phủ Việt Nam Dân chủ. Có thể thấy rõ, tính hợp pháp của chính quyền Bảo Đại do Pháp dựng lên sau khi chiến tranh tái diễn là có vấn đề, cuộc chiến tranh mà Pháp đang tiến hành ở Việt Nam hiện nay là “cuộc chiến tranh thực dân”.

    Molotov đưa ra đề nghị mới: vì đã có đại biểu dự hội nghị này nói rằng, phương án do đại biểu Việt Nam Phạm Văn Đồng nêu ra qui định: “Việc thi hành các điều khoản của hiệp định đình chiến, chỉ do hai bên tham chiến của ba nước thành lập ra Uỷ ban Liên hợp để giám sát”, nên đổi lại là do quốc tế giám sát cho bảo đảm. Vì lẽ đó, Liên Xô đưa ra sự bổ sung: “Để hai bên ký kết hiệp định thực hiện các điều khoản của hiệp định về chấm dứt các hành động thù địch, hiệp định qui định thành lập Uỷ ban giám sát gồm các nước trung lập.”

    Việc đưa ra điều khoản này đã làm cho hai phía đối lập tiến thêm được một bước nhỏ theo hướng giải quyết vấn đề.

    Ngày 15/5, Chu Ân Lai tham dự hội nghị của đại diện ba nước Trung Quốc, Liên Xô và Việt Nam, hiệp thương về lập trường của ba đoàn.

    Từ sau ngày Phạm Văn Đồng đến Genève, Chu Ân Lai, Molotov và Phạm Văn Đồng đã cùng nhau bàn bạc nhiều lần. Do thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, lòng tin của Phạm Văn Đồng tăng lên mạnh mẽ, giọng điệu khi nói cũng có vẻ cứng hơn trước nhiều. Tất nhiên ông biết rõ, sau khi hội nghị bắt đầu thảo luận vấn đề Đông Dương, đại diện của chính phủ Vương quốc Lào và Vương quốc Campuchia đều phản ứng mạnh trước việc bộ đội Việt Nam tiến vào lãnh thổ Lào và Campuchia, đại diện các nước phương Tây cũng nắm lấy điểm này để đòi Việt Nam rút hết quân ra khỏi Lào và Campuchia. Phạm Văn Đồng khăng khăng từ chối điều đó, kiên quyết không chấp nhận. Khi hội đàm với người phụ trách các đoàn đại biểu Trung Quốc và Liên Xô, Phạm Văn Đồng nhiều lần đề cập đến ý kiến này.

    Do thái độ của Phạm Văn Đồng rất kiên quyết, đến trung tuần tháng 5, ba nước Trung Quốc, Liên Xô, Việt Nam bàn bạc quyết định, nếu tổ chức họp hẹp để bàn vấn đề Đông Dương, ba nước cần phải kiên trì các nguyên tắc chính sau đây:

    1. Phản đối việc tách riêng vấn đề Lào, vấn đề Campuchia để giải quyết riêng rẽ;
    2. Vấn đề chính trị và vấn đề đình chiến phài giải quyết cùng một lúc, song, có thể bàn vấn đề đình chiến trước;
    3. Đồng thời với việc Pháp chấm dứt các hành động thù địch ở Đông Dương, Mỹ cũng phải chấm dứt vận chuyển vũ khí, đạn dược tới Đông Dương.

    Tối 15/5, Gromyko của đoàn Liên Xô, Vương Gia Tường của đoàn Trung Quốc lại gặp Phạm Văn Đồng, tiếp tục bàn bạc phối hợp lập trường của ba đoàn trong các cuộc đàm phán tới.

    Gromyko phát biểu trước, ông nói tôi muốn nêu ra trước một vấn đề về mặt tổ chức. Tuần sau sẽ tổ chức cuộc họp kín về vấn đề Đông Dương, hội nghị này nên họp như thế nào? Đề nghị của Việt Nam DCCH và đề nghị của Pháp đều nói tới vấn đề đình chiến, thảo luận như thế nào cho tốt? Thiết kế trình tự ra sao? Đồng chí Phạm Văn Đồng có ý kiến gì không ?

    Phạm Văn Đồng quan tâm trước tiên là tuần sau có phải do Eden làm chủ tọa hội nghị hay không?

    Gromyko đáp: “Đúng”. Gromyko lại đưa chủ đề nói chuyện vào việc nên bắt đầu cuộc thảo luân như thế nào? Lấy đề nghị của chúng ta làm cơ sở hay lấy đề nghị của Pháp làm cơ sở. Điểm khác nhau là, đề nghị của phía Pháp không có phương án giải quyết vấn đề chính trị, chỉ giớí hạn ở lĩnh vực quân sự, còn đề nghị của chúng ta lại toàn diện.

    Vương Gia Tường nói phía Pháp không muốn đưa ra phương án giải quyết vấn đề Đông Dương, theo tôi có thể bắt đầu thảo luận từ vấn đề đình chiến, nhưng không rút lui ý kiến về phần giải quyết chính trị.

    Phạm Văn Đồng biểu thị đồng ý với ý kiến của Vương Gia Tường.

    Vương Gia Tường chỉ rõ: trước hết phải giải quyết vấn đề mà đối phương vẫn bám lấy là vấn đề “Việt Nam phải rút quân khỏi Lào và Campuchia”. Vương Gia Tường hỏi: “Liệu có thể nói như thế này được không: Ở nơi đó có chiến tranh, nhưng ở đó không có QĐND Việt Nam, cái gọi là rút quân là vấn đề không tồn tại. Những người chiến đấu ở đó là quân đội của bản thân nhân dân Campuchia, nhân dân Lào”.

    Gromyko phụ họa theo ý kiến của Vương Gia Tường.

    Tuy nhiên, khi đưa ra chủ trương này, trong lòng Vương Gia Tường cảm thấy có chút mâu thuẫn. Cuối cùng, Vương Gia Tường nói một cách rõ ràng và mạch lạc: tôi nhớ có một lần, vào khoảng tháng Tư năm ngoái, Thông tấn Xã Việt Nam có phát một bản tin trong đó thừa nhận có quân tình nguyện Việt Nam chiến đấu tại Campuchia và Lào. Vấn đề này trước tiên là do Trương Dực, người phụ trách Phòng Việt Nam thuộc Ban Liên lạc Đối ngoại Trung ương ĐCS Trung Quốc nói cho Vương Gia Tường biết. Trương Dực cho rằng, phía Việt Nam đã công khai đưa tin thừa nhận có bộ đội ở Lào và Campuchia, một khi bị người khác nắm lấy và đưa ra tranh cãi, chúng ta chắc chắn sẽ bị động. Cho nên, sau khi thấy từ ngày đến Genève, ông Đồng mấy lần phủ nhận việc có quân đội Việt Nam ở Lào và Campuchia, Trương Dực bèn lập tức báo cáo tình hình trên đây với Vương Gia Tường.

    Nghe Vương Gia Tường nói như vậy, Hoàng Văn Hoan đang ngồi bên cạnh cũng nói: đúng, chúng tôi đã từng nói, trong lực lượng bộ đội giải phóng ở Campuchia và Lào có “quân tình nguyện địa phương của Việt Nam” tham gia.

    Gromyko khá nhạy bén, hỏi: Nếu có người hỏi về việc này, đồng chí Phạm Văn Đồng trả lời ra sao?

    Phạm Văn Đồng đáp: có thể nói như sau: Chúng tôi không cử quân tình nguyện từ Việt Nam sang Campuchia và Lào. Ý nghĩa của câu nói này là, trong số quân đội của Campuchia và Lào có người Việt Nam, nhưng đó là những người Việt Nam sinh sống ở Campuchia và Lào, do họ tham gia vào quân đội để đấu tranh giành giải phóng. Tôi nghĩ cũng chỉ có cách nói như thế, vả lại cái mà quân địch gọi là “quân tình nguyện”, nhưng chúng không thể biết được phiên hiệu đơn vị và tên tuổi của binh sĩ. Tất nhiên, trên hội nghị, chúng ta cố hết sức tránh né vấn đề này.

    Về vấn đề này, Liên Xô và Trung Quốc đều bảo lưu ý kiến. Về chuyện đàm phán giữa các nước, kinh nghiệm của Gromyko rất phong phú, ông đề nghị chuyển sang bàn vấn đề thứ hai: cần có thái độ thế nào đối với vấn đề chính trị và đình chiến? Gromyko nói, phương án của chúng ta là: đạt thỏa thuận trước về vấn đề chính trị, sau đó mới bàn các điều khoản cụ thể về đình chiến. Tuần sau, khi bắt đầu họp, chúng ta nhất định kiên trì vấn đề đầu, chú ý không nói lỡ lời.

    Vương Gia Tường nói: cần dự đoán trước rằng đối phương có thể sẽ đưa ra vấn đề đình chiến trước, sau khi đình chiến mới bàn đến việc giải quyết vấn đề chính trị, giống như trường hợp Triều Tiên.

    Gromyko nói: nếu như vậy, chúng ta có thể không cần trả lời ngay, mà chỉ ra tuyên bố là có thể xem xét, cân nhắc việc đó.

    Tiếp đó, Gromyko đề nghị thảo luận vấn đề “nước trung lập”.

    Vương Gia Tường đề nghị có thể đưa ra danh sách bốn nước trước, gồm Ba Lan, Tiệp Khắc, Indonesia và Ấn Độ. Đối phương có thể bỏ Indonesia và thay bằng Pakistan, như thế cũng không sao cả.

    Gromyko hỏi: có phải như vậy không? Hôm qua đồng chí Molotov và đồng chí Chu Ân Lai có nhắc đến chuyện này, tôi còn nhớ bốn nước là Ba Lan, Tiệp Khắc, Ấn Độ và Pakistan.

    Vương Gia Tường nói, hôm qua quả là đã nêu ra như vậy, nhưng vừa rồi, trước khi tôi đi đến đây, đồng chí Chu Ân Lai đã nói với tôi: Có thể thay thế Pakistan trong phương án dự kiến bằng Indonesia. Nếu đối phương mặc cả, chúng ta có thể coi như nhượng bộ và đồng ý thay thế Indonesia bằng Pakistan, hoặc là thêm Pakistan vào thành năm nước trung lập.

    Vương Gia Tường nêu rõ: muốn đình chiến ở Đông Dương, điểm quan trọng nhất là qui định đường ranh giới đình chiến và khu vực tập kết quân đội.

    Thứ trưởng Ngoại giao Liên Xô Kuznesov, cùng tham dự cuộc họp, lúc này mới nói: Đồng chí Vương có ý kiến cụ thể ra sao về việc này không? Bởi vì chúng ta cần phải suy nghĩ, cân nhắc đến tình hình là ở hội nghị Genève về Đông Dương, chúng ta chỉ có ba phiếu, trong khi đối phương thường có tới sáu phiếu, đa số phiếu thuộc phía đối phương.

    Về đường ranh giới đình chiến và khu vực tập kết quân đội, ba đoàn đại biểu Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam vẫn chưa có một phương án thống nhất, do đó cũng không thể bàn gì thêm.

    Gromyko mau chóng chuyển chủ đề, ông nói: người Pháp muốn “giải tán lực lượng vũ trang không chính qui, chúng ta không thể đồng ý được.” Ông nhắc mọi người: bắt đầu từ tuần sau, vấn đề Đông Dương chủ yếu chuyển vào các cuộc hội đàm bí mật, không nên có những bài phát biểu dài, mà là bàn bạc các vấn đề cụ thể. Ông nêu đề nghị: trong đàm phán, sẽ do Liên Xô đưa ra vấn đề uỷ ban giám sát gồm các nước trung lập, còn Trung Quốc sẽ nêu vấn đề Mỹ can thiệp. Vì Trung Quốc là láng giềng của Việt Nam, nhạy cảm nhất đối với sự can thiệp của Mỹ.

    Gromyko, Phạm Văn Đồng, Vương Gia Tường nhất trí thỏa thuận ý kiến như sau về cuộc họp bàn này:

    1. Nếu phía Pháp nêu ra vấn đề đòi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia và Lào, câu trả lời sẽ là: Tại chiến trường Campuchia và Lào chỉ có quân đội của nhân dân Campuchia và nhân dân Lào, không có QĐND Việt Nam. Về việc có người Việt Nam trong số quân đội ở các nước này, đó chỉ là những người địa phương cư trú tại Campuchia và Lào, không liên quan gì đến Việt Nam, cho nên không có vấn đề rút quân.
    2. Vấn đề đình chiến và vấn đề chính trị: mục tiêu của chúng ta phải là phương án đầu tiên, tức là vấn đề đình chiến và tổ chức bầu cử về mặt chính trị phải được xem xét cùng một lúc. Phương án hai là đạt được thỏa thuận chính trị trước, sau đó mới bàn các điều kiện cụ thể về đình chiến. Nếu đối phương đòi thực hiện đình chiến trước sau đó mới bàn vấn đề chính trị, chúng ta sẽ không vội trả lời ngay, chờ thêm thời gian, có thể trả lời là để về nhà suy nghĩ, xem xét.
    3. Vấn đề uỷ ban giám sát gồm các nước trung lập: chúng ta nêu ra bốn nước trung lập: Ba Lan, Tiệp Khắc, Ấn Độ và Indonesia. Đối phương có thể đòi bỏ Indonesia, thay bằng Pakistan. Nếu chúng ta nhượng bộ, có thể nêu thành năm nước, thêm Pakistan.
    4. Vấn đề đình chiến và điều kiện đình chiến: đây là điểm quan trọng nhất của vấn đề. Cần chia thành hai hội trường, một là do Tư lệnh của hai bên tham chiến bàn bạc tại chỗ; hai là bàn bạc tại hội nghị Genève.
    5. Vấn đề giải tán lực lượng vũ trang không chính qui, Phạm Văn Đồng nói không thể tán thành điểm này được, (bởi vì) Pháp sợ nhất là có quân du kích ở lại.

    Các vấn đề khác như sự bảo trợ quốc tế, vấn đề Mỹ can thiệp, đồng ý cách nêu trong văn bản.

    Cuối cùng quyết định: vấn đề bảo trợ quốc tế và uỷ ban giám sát các nước trung lập sẽ do Liên Xô đưa ra, còn Trung Quốc sẽ nêu vấn đề Mỹ can thiệp vào Đông Dương.

    Ngay trong ngày 15/5/1954, Phạm Văn Đồng gửi điện báo cáo với Trung ương Đảng của Việt Nam về tình hình hội nghị Genève ngày hôm trước:

    Ngày 14/5, hội nghị Genève họp phiên thứ tư, có mấy nội dung đáng chú ý như sau:

    + Bidault phát biểu, trong đó nhấn mạnh:
    1. Tách riêng vấn đề Việt Nam với vấn đề Campuchia và Lào;
    2. Bày tỏ sẵn sàng sớm đình chiến và phân chia khu vực đình chiến, phương án cụ thể do các Tư lệnh của hai bên tham chiến nêu ra với hội nghị, do hội nghị thẩm tra sau đó quyết định. Bidault không nói do hai bên tham chiến đưa ra ý kiến riêng, có thể là trải qua họp bàn hai bên đi đến thỏa thuận, sau đó mới nêu ra. Chúng tôi cho rằng Pháp đang mong muốn sớm ngừng bắn, vì kẻ địch đang gặp khó khăn ở Đông Dương (nhất là ở vùng đồng bằng Bắc Bộ), hơn nữa, dư luận Pháp và Quốc hội Pháp đòi ngừng bắn.

    + Các đoàn đại biểu đạt được thỏa thuận từ thứ hai tuần sau sẽ họp kín (hội nghị bí mật). Mỗi đoàn được cử 3 người dự nhằm thiết thực thảo luận các vấn đề.

    + Như vậy là hội nghị có tiến triển có lợi cho phía ta. Vấn đề chuẩn bị cho các cuộc họp kín, chúng tôi sẽ cùng bàn bạc với phía bạn và sẽ báo cáo sau. Trước mắt, theo chúng tôi, trong nước cần chú ý theo rõi đầy đủ tình hình phát triển của Hội nghị Genève, thông qua các đài phát thanh, nhất là báo cáo của Tân Hoa Xã để nắm tình hình, đồng thời đề nghị nghiên cứu một cách thiết thực các vấn đề sau đây:

    A.1. Vấn đề đình chiến và phân chia khu vực đình chiến (ở Việt Nam và Campuchia, Lào).
    2. Vấn đề đóng quân: quân ta, quân Pháp, quân ngụy, và các loại quân địa phương thuộc lực lượng du kích của phía ta.
    3. Vấn đề trao đổi tù binh, thương binh trong toàn bộ chiến trường Đông Dương.
    4. Vấn đề giám sát đình chiến theo đề nghị của phía ta, bao gồm cả việc do hai bên tham chiến lập ra uỷ ban giám sát liên hợp để giám sát đình chiến.
    5. Vấn đề phân chia khu vực ngừng bắn do Bộ Tư lệnh hai bên tham chiến cùng nhau nghiên cứu đề ra, đề nghị trong nước tổ chức nghiên cứu ngay và thông báo cho chúng tôi biết, liệu có phải triệu tập hội nghị hiệp thương giữa đại diện của hai Bộ Tư lệnh không, xin bàn ngay vấn đề này.

    B. Báo chí cần đăng toàn văn bài phát biểu của Chu Ân Lai ngày hôm kia và của Molotov ngày hôm qua, và tiến hành giải thích rộng rãi cho các nơi.

    Trái ngược với thái độ tiến thủ của Phạm Văn Đồng, Bidault đang ngồi tại Genève nhưng lại hi vọng hão huyền, muốn tình thế đổi thay. Đó là vì tối 8/5, Smith bí mật đến gặp và nói cho Bidault biết rằng, nếu phía Pháp có ý định, Mỹ vẫn sẵn sàng cùng Pháp thảo luận khả năng Mỹ can thiệp về quân sự ở Việt Nam. Mỹ muốn đạt được sự nhất trí với Pháp trước, sau đó sẽ bàn việc này với Anh. Theo bản năng, Bidault ý thức ngay được rằng Mỹ không từ bỏ ý đồ vũ trang can thiệp vào Đông Dương, chỉ chờ có “hành động liên hợp” của quốc tế là bộ máy can thiệp quân sự của Mỹ có thể khởi động. Bidault nói với Smith: phía Pháp sẵn sàng thảo luận chi tiết vấn đề này với phía Mỹ. Trong cả tuần lễ sau đó, Bidault đã nhiều lần gặp gỡ, tiếp xúc với đại diện của Mỹ về việc này. Hai nước Mỹ - Pháp gặp gỡ bí mật, hoàn toàn giấu kín không cho Eden biết; tuy nhiên không thể che mắt được các nhà báo nhạy bén.

    Màn kịch này không giấu được lâu. Sáng 15/5, sau khi ngủ dậy, Eden cầm tờ báo “Thụy Sĩ buổi sáng” vừa nhận được và tỏ ra hết sức kinh ngạc khi đọc được tin Mỹ và Pháp đang bí mật sắp đặt kế hoạch vũ trang can thiệp vào Đông Dương. Eden nổi nóng, gọi ngay điện thoại hỏi Smith sự việc báo chí đăng tải là đúng hay sai? Smith ôn tồn đáp: tôi không biết chuyện báo đăng.

    Một lúc sau, Bidault đem theo trợ lý đến thăm Eden. Eden hỏi thẳng: những tin tức đăng trên tờ “Thụy Sĩ buổi sáng” chỉ là tin đồn thôi sao? Bidault bất ngờ và ấp úng, cố nói lảng chuyện khác, một lúc sau vội ra về.

    Một trợ lý của Bidault lại cung kính kéo Eden ra phía cửa sổ và nói: được phép của Bidault, tôi xin đọc cho ngài nghe một văn kiện, nội dung liên quan đến việc hai nước Mỹ - Pháp bí mật hiệp thương với nhau.

    Eden nói ngay: “Như vậy tức là những điều báo chí nói là có thật?”.

    “Cũng có thể nói gần như vậy”. Trợ lý này nói rõ thêm là Mỹ và Pháp đã bàn đến hai thời hạn có thể hành động: hoặc là sau ngày hội nghị Genève thất bại, hoặc là khi phía Pháp muốn tiến hành. Phía Mỹ có xu hướng muốn hành động sớm.

    Sau khi các vị khách Pháp ra về, Eden nhận được báo Mỹ ”Diễn đàn Thông tin NewYork” tường thuật tỉ mỉ hơn về những âm mưu bí mật của hai nước Pháp - Mỹ. Eden lại cầm điện thoại nói chuyện với Smith và nổi cáu. Lần này, Smith không còn né tránh nữa, ông ta cũng gắt gỏng nói với Eden: Chính phủ Mỹ hoàn toàn không có khả năng giữ bí mật, ngay cả những chuyện còn đang bàn bạc cũng bị tiết lộ với báo chí.

    Eden nói với Smith: Đối với chúng tôi, tính chất nghiêm trọng của vấn đề còn ở chỗ, những điều đang đặt ra trên bàn thương lượng, thế mà chúng tôi không được biết gì cả, ngay cả dấu hiệu liên quan đến cuộc thương lượng bí mật đó.

    Eden nói như vậy là có ngụ ý khác. Smith vội giải thích: Theo thông lệ, khi Pháp chấp nhận các điều kiện về “hành động chung”, Mỹ sẽ lập tức thông báo với phía Anh. Smith hứa là trong quá trình hội nghị từ nay trở đi, hai nước Anh, Mỹ sẽ phối hợp chặt chẽ với nhau, Mỹ sẽ không có những toan tính bí mật sau lưng Anh nữa.

    Eden nói: theo cá nhân tôi, nếu Mỹ muốn vũ trang can thiệp vào Đông Dương khẩn cấp như vậy, thì, giống như nhiều chuyện đã xảy ra, kế hoạch này chắc chắn cũng sẽ thất bại.

    Nói chuyện xong với Smith, Eden lập tức báo cáo với Churchill những sự việc xảy ra tại Genève. Churchill ủng hộ Eden, ngày 17/5, Churchill nói với các hạ nghị sĩ Anh: những việc làm giữa Mỹ và Pháp mà mọi người đang đồn đại “chính phủ Anh không hề dính líu và cũng không chịu bất kỳ nghĩa vụ gì”.

    Kết quả là hai ngày sau, Bidault báo cho Eden biết: chính phủ Pháp đã quyết định rằng, trong thời gian diễn ra hội nghị Genève, Pháp không yêu cầu Mỹ, Anh liên hợp hành động can thiệp vào các công việc của Đông Dương.”(2)

    Một lần nữa, “hành động liên hợp” lại bị chết yểu.

    Sau khi hội đàm với Phạm Văn Đồng, lập trường của hai đoàn Liên Xô, Trung Quốc có xu hướng cứng rắn hơn. Phát biểu tại cuộc họp hẹp bàn về vấn đề Đông Dương các ngày 17-19/5, Chu Ân Lai nhấn mạnh: phản đối việc tách vấn đề Campuchia và Lào ra khỏi vấn đề Việt Nam để giải quyết. Ông nêu rõ, cuộc đấu tranh vũ trang giành giải phóng dân tộc của nhân dân Campuchia và nhân dân Lào là do hành động vũ trang can thiệp của Pháp gây ra. Các Chính phủ kháng chiến Campuchia và Lào đều có quân đội riêng, cần thực hiện ngừng bắn ngay trên đất đai của tổ quốc họ, cái gọi là vấn đề rút quân khỏi Campuchia và Lào là chuyện không tồn tại. Cần khôi phục hòa bình ở cả Đông Dương chứ không phải chỉ khôi phục hòa bình ở Việt Nam, không thể tách riêng vấn đề của ba nước Đông Dương để thảo luận.

    Thái độ của Phạm Văn Đồng càng cứng rắn hơn. Ngày 20/5, ông ra tuyên bố, nêu rõ quân đội Việt Nam không thể rút khỏi Lào và Campuchia, vì bộ đội Việt Nam không chiến đấu ở đó.

    Trên lời nói tuy như vậy, song tiến trình ngoại giao vẫn được thúc đẩy một cách chậm chạp. Mặc dù đại biểu Mỹ và Pháp chủ trương bàn riêng vấn đề Lào và Campuchia trước, nhưng đa số các nước đều cho rằng có thể lấy đề nghị của Phạm Văn Đồng và đề nghị của Bidault làm cơ sở để tiến hành thảo luận, vấn đề chính trị và vấn đề quân sự đều có thể bàn bạc, nên bàn vấn đề quân sự trước.

    Ngày 17/5, đại diện Pháp và Việt Minh đồng ý hội đàm có tính thực chất về vấn đề chuyển giao số tù binh bị thương ở Điện Biên Phủ. Ngày 19/5, đại tá quân đội Pháp Michel de Brebisson cùng đại biểu Việt Minh là đại tá Hà Văn Lâu tiến hành cuộc gặp gỡ đầu tiên. Hà Văn Lâu là Cục trưởng cục Tác chiến thuộc Tổng Quân uỷ QĐND Việt Nam, là một nhân vật nòng cốt về mặt quân sự của đoàn Việt Nam. Ông bắt đầu sự nghiệp ngoại giao của mình từ hội nghị Genève, sau này từng giữ chức đại sứ Việt Nam tại LHQ.

    Trước đó một ngày, người phát ngôn của chính quyền Bảo Đại tuyên bố tại Toulouse, Pháp, rằng ngày 16/5, Bảo Đại đã ký hàng loạt mệnh lệnh, bổ sung lực lượng quân đội của chính quyền Bảo Đại lên 300.000 người và động viên nam thanh niên sinh từ năm 1921 đến năm 1929 tham gia quân ngũ. Trước hành động khiêu khích của chính quyền Bảo Đại, Hồ Chí Minh tỏ ra rất bình tĩnh, ra lệnh phóng thích nữ y tá Pháp bị bắt tại Điện Biên Phủ Genevieve de Galard. Ngày 19/5, nữ y tá Pháp này gửi thư chúc mừng ngày sinh của Hồ Chí Minh, cô viết trong thư: “Tất cả chúng tôi đều hy vọng hai nước chúng ta có thể mau chóng xây dựng mối quan hệ bè bạn hữu nghị với nhau trong một thế giới không có chiến tranh. Nếu tôi có may mắn được trở về tổ quốc của mình, nhất định tôi sẽ nỗ lực làm cho các bạn thanh niên xung quanh tôi cùng nhau xây dựng một bầu không khí có thể làm cho nhân dân hai nước chúng ta hiểu biết nhau hơn, nhằm góp phần vào việc giữ gìn và xây dựng lại sự nghiệp hòa bình mà tất cả chúng tôi đều hy vọng.”

    Ngày 24/5, nữ y tá Pháp được rời khỏi vùng kiểm soát của Việt Minh. Trước khi rời đi, cô lại gửi thư cho Hồ Chí Minh: “Tôi vừa mới nhận được tin mừng là được phóng thích, tôi muốn bày tỏ với ngài Chủ tịch lòng biết ơn của tôi đối với ngài! Cám ơn lòng độ lượng của ngài đối với tôi. Tôi sẽ lập tức được bay về tổ quốc đoàn tụ với người thân trong gia đình, đó là niềm vui lớn đối với tôi. Tôi chân thành hy vọng hòa bình sẽ lập tức được khôi phục tại Việt Nam, để tất cả mọi người nam, nữ và trẻ em trên đất nước của ngài đều có thể được sống trong niềm vui và hòa bình.”(3)

    Ngược lại, phản ứng của quân đội Pháp rất căng thẳng. Tại sân bay Tân Sơn Nhất ở Sài gòn xa xôi, ngày 18/5, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Pháp Ely vừa từ máy bay bước xuống đã trao ngay cho Navarre bản mệnh lệnh do Thủ tướng Pháp Laniel ký, nội dung chính gồm:

    1. Trong tình hình hiện nay, vấn đề có tính chất áp đảo tất cả là phải bảo đảm an toàn cho quân viễn chinh Pháp, đó là vấn đề quan trọng hàng đầu. Bởi vậy, sau khi bị bất lợi ở Điện Biên Phủ, phải dự đoán chính xác khả năng tăng cường không ngừng của đối phương với sự trợ giúp của Trung Quốc.

    2. Trên một ý nghĩa rộng lớn hơn, kế hoạch mới của ngài cần bao gồm:
    a. Thanh trừng quân Việt Minh ở nam vĩ tuyến 18 (nhằm chuẩn bị tốt cho việc rút quân từ miền Bắc vào), còn mọi hành động ở bắc vĩ tuyến 18 thì chủ yếu chỉ cân nhắc về mặt ý nghĩa quân sự.
    b. Trước mắt, trong tình hình có thể, cần áp dụng mọi biện pháp để giữ cân bằng lực lượng ở khu vực đòng bằng sông Hồng. Lực lượng quân sự trong vùng này chí ít cũng phải có khả năng tự bảo đảm được vấn đề an ninh của mình, vì vậy cần phải duy trì một lực lượng cơ động nhất định tại An nam(4). Theo Kế hoạch Giai đoạn Một về thu hẹp tuyến phòng thủ, cần tập trung binh lực của chúng ta tại vùng đồng bằng sông Hồng. Nếu phải thực hiện Giai đoạn Hai của kế hoạch, trọng tâm phòng ngự của chúng ta sẽ là Hải Phòng, bảo đảm đường thông ra biển và có thể lợi dụng pháo và tàu thuyền của hải quân để chi viện. Cần đặc biệt chú ý nắm chắc tình hình lực lượng không quân để bảo đảm an ninh cho bộ đội mặt đất và các sân bay ở vùng đồng bằng sông Hồng và các địa điểm xung yếu ở Hải Phòng. Cần tăng cường bảo đảm an ninh gấp bội cho các sân bay ở khu vực Hải Phòng.

    3. Tóm lại, phải đề phòng việc phân tán lực lượng, bảo đảm sẵn sàng tập trung được binh lực. Chỉ có như vậy mới có thể tránh được những thiệt hại trong cuộc chiến đấu có thể sắp xảy ra tại khu vực đồng bằng sông Hồng, làm cho cục diện Đông Dương trở lại thế cân bằng.

    Ely giải thích với Navarre: cái gọi là Kế hoạch “Giai đoạn Một” là nói bắt đầu từ nay trở đi, quân Pháp ở Bắc bộ Việt Nam, trong vòng 15 ngày phải vứt bỏ các khu vực phía Nam và phía Tây châu thổ sông Hồng, chuẩn bị đối phó với chủ lực Việt Minh từ Điên Biên Phủ di chuyển về. Còn việc liệu có thi hành “Giai đoạn Hai” - tức vấn đề rút từ Hà Nội xuống Hải Phòng hay không, phải chờ mệnh lệnh của Paris.

    Sau khi đọc xong lệnh của Chính phủ, Navarre nói: điều tôi khó thực hiện được là khoản B của điều 2, vì hiện nay tôi chưa có đủ binh lực trong tay. Đồng thời, nếu thu hẹp tuyến phòng thủ vùng đồng bằng sông Hồng theo lệnh trên, thì quân Pháp chỉ có khả năng phòng thủ trọng điểm tại Hà Nội, Hải Phòng và tuyến đường giao thông nối liến hai thành phố này. Như vậy là quân Pháp trên toàn vùng Bắc bộ Việt Nam sẽ bị co cụm lại trong một khu vực thành phố hết sức chật hẹp.

    Navarre nói, nếu như vậy, quân Pháp ở vùng đồng bằng sông Hồng sẽ an toàn hơn, nhưng các đại diện Pháp đàm phán ở Genève sẽ khó khăn hơn.

    Theo Navarre, xét theo góc độ quân sự, quân Pháp không cần phải vội vàng co cụm lại như vậy. Việc co cụm như thế sẽ tác động nghiêm trọng đến tinh thần binh lính. Nếu có thêm quân tăng viện, vẫn có thể giữ được vùng đồng bằng sông Hồng. Nếu cần co lại thì cũng nên chờ đến mùa thu, ít nhất cũng phải chờ cho đến khi hội nghị Genève hoàn toàn không có kết quả gì hãy rút lui.(5)

    Nhóm ba người do Ely dẫn đầu bi quan hơn Navarre nhiều. Ely bực mình là không thể buộc Navarre phải lập tức ra ngay lệnh thu hẹp phòng tuyến lại. Sau bốn ngày thị sát ở Việt Nam, ngày 25/5, Ely bay về Paris, ngay hôm sau, ông ta đã đọc bản báo cáo đầy tâm trạng bi quan trước Nội các Pháp. Ely nói: quân viễn chinh Pháp đã hoàn toàn mất khả năng tiến công, lực lượng cơ động chiến lược của quân Pháp ở Đông Dương đã bị tiêu hao toàn bộ, thắng lợi về mặt quân sự của Việt Minh ở Bắc bộ Việt Nam là khó tránh khỏi. Đề cập đến tình hình hiện tại, Ely cho biết quân Việt Minh đã thâm nhập vùng đồng bằng sông Hồng, hai phía Pháp - Việt đang ở thế cài răng lược. Chủ lực Việt Minh đã di chuyển từ vùng Tây Bắc về vùng đồng bằng sông Hồng, rất có khả năng họ sẽ mở cuộc tấn công qui mô lớn vào cuối tháng 6. Hiện nay, chỉ có cách tăng viện qui mô lớn, chúng ta mới có thể cứu vãn được tình hình. Ely ủng hộ ý kiến của Pleven là Pháp phải tiến hành động viên cục bộ, điều động lực lượng dự bị chiến lược.(6)

    Lúc đó, mọi người đã nhìn thấy rõ nguyên nhân làm cho Pháp ngả nghiêng lúc tả lúc hữu chính là Ngoại trưởng Mỹ Dulles. Ngày 19/5, tại Wasinhtơn, Dulles tiếp đại sứ Đài Loan Cố Duy Quân đến chào, Dulles nói với Cố Duy Quân: trong vấn đề Đông Dương, người Pháp đã ngả nghiêng hơn một năm nay rồi, đến bây giờ cũng chưa hạ quyết tâm. Điều quan trọng là do Pháp phản đối việc quốc tế hóa vấn đề Đông Dương.

    Cố Duy Quân nói: Người Pháp đồng thời cũng muốn được Mỹ viện trợ, điều đó chứng tỏ Pháp vẫn còn muốn giữ Đông Dương.

    Dulles nói: Theo phán đoán của tôi, quả là người Pháp sợ quốc tế hóa vấn đề Đông Dương. Nếu vấn đề được quốc tế hóa thì Pháp buộc phải tiếp tục cuộc chiến. Pháp muốn nắm lấy quyền chủ động để khi nào muốn thoát ra là khi đó có thể thoát ra được.

    Dulles nêu rõ: nội bộ Pháp còn rất nhiều ý kiến bất đồng, trong quốc hội có bất đồng, trong nội các cũng có bất đồng, trong đó xu thế có tính áp đảo là muốn hoàn toàn rút khỏi Đông Dương, tuy nhiên chính phủ vẫn đang cố bám lấy, không chịu từ bỏ chính sách cố hữu, kết quả là chính phủ Pháp hết sức suy yếu, không thể hoạt động được. Hiện tại rất khó quan hệ với Pháp, thậm chí rất khó có thể đạt được thỏa thuận gì đó với phía Pháp. Ngay cả việc chính phủ Pháp vượt qua được cuộc bỏ phiếu tín nhiệm tại quốc hội với đa số mong manh hơn hai phiếu mới đây, cũng chỉ là hiện tượng bề ngoài, vì một số nghị sĩ các đảng đối lập, do thấy đại đa số các nghị sĩ đều phản đối chính phủ, nên mới bỏ phiếu tín nhiệm để tránh cho chính phủ khỏi bị đổ.

    Cố Duy Quân nói, tôi không hiểu họ làm như vậy nhằm ý đồ gì?

    Dulles đáp, đó là vì đảng đối lập sợ phải kế thừa vấn đề khó khăn là vấn đề Đông Dương, không muốn gánh trọng trách vào lúc này.

    Cố Duy Quân nói: Với tình hình này, phải chăng chính phủ Pháp có thể bị sụp đổ bất kỳ lúc nào ?

    Dulles tán thành ý kiến đó và nói: đây chính là điều khiến Bidault khó hành động ở Genève. Địa vị của ông ta bị suy yếu đi rất nhiều, quả thật là không biết làm gì nữa!

    Cố Duy Quân hỏi: Chính phủ Pháp có còn muốn "liên hợp hành động" với Mỹ để cứu vãn tình hình Đông Dương không?

    Dulles trả lời: "Không". Pháp chỉ nói còn phải chờ báo cáo của tướng Ely. Ely đã sang Đông Dương. Tuy nhiên, trong lúc chính phủ Pháp còn đang do dự chưa quyết thì tình hình quân sự ở Đông Dương đã trở nên xấu đi. Nếu Pháp tiếp tục chần chừ do dự, tình hình chắc chắn sẽ tiếp tục xấu hơn.(7)

    Ngày 20/5, Chu Ân Lai, Trương Văn Thiên tới thăm đáp lễ Eden và cùng ăn trưa theo lời mời của Eden.

    Mở đầu cuộc nói chuyện, Eden đã đi ngay vào vấn đề chính: trong phát biểu của ngài hôm qua, câu cuối ngài nói: đình chiến không nên tiến hành trước hay sau. Câu này rất đúng. Hiện nay còn có ai nghĩ đến vấn đề đình chiến trước hay sau nữa?

    Ý tứ câu nói của Eden là, vấn đề đình chiến ở Đông Dương cần phải bắt đầu ở Lào và Campuchia trước.

    Chu Ân Lai đáp: “Đình chiến cùng một lúc tại ba nước có nghĩa là điều kiện đình chiến của ba nước phải như nhau. Nay có người nêu ra rằng hai nước Lào và Campuchia phải rút quân đội chống đối của bản thân mình ra khỏi hai nước trước, nhưng nhân dân Việt Nam làm sao có thể thuyết phục được quân đội của hai nước Lào và Campuchia rút ra khỏi lãnh thổ của hai nước này được? Đó là điều không thể thực hiện được. Nếu như nói phải rút quân trước, thì quân đội Pháp cũng phải rút trước."

    Eden bào chữa rằng: hiện Pháp không còn quân đội trên đất Campuchia nữa và cũng sẵn sàng từ bỏ các căn cứ ở Lào. Trái lại, Việt Minh hình như đang muốn thôn tính hai nước Lào, Campuchia, vì thế phương Tây muốn tách Việt Nam khỏi vấn đề Lào và Campuchia. Eden lặp đi lặp lại rằng "phong trào chống đối" ở Lào và Campuchia mới chỉ trở nên sôi động từ sau tháng 2 năm nay, hoàn toàn là do Việt Nam thao túng.
    Chu Ân Lai đáp: không phải như vậy, từ lâu hai nước này đã có phong trào giải phóng giành độc lập dân tộc, chúng tôi ở châu Á đã biết từ lâu.

    Hai bên tranh luận về chuyện phong trào của hai nước Lào, Campuchia có đủ lực lượng hay không. Chu Ân Lai nói rõ thêm: "Chúng tôi mong muốn chiến tranh có thể chấm dứt sớm, không nên kéo dài vấn đề, mà giải quyết càng sớm càng tốt. Chiến tranh Triều Tiên kéo dài dẫn đến hậu quả là Lý Thừa Vãn chịu thiệt.

    Eden nói: "Cả hai bên đều bị tổn thất".

    Chu Ân Lai đáp lại một câu: "Nhưng đường giới tuyến quân sự đã được đẩy lùi xuống phía nam".

    Hai bên tiếp tục chuyển sang bàn vấn đề Triều Tiên, nhưng không có kết quả.

    Sau này, khi nhớ lại cuộc gặp gỡ với Chu Ân Lai hôm ấy, Eden cho rằng: khi thảo luận một số vấn đề xảy ra trong quá khứ, tôi thường phát hiện ra là hai bên có những điểm chung. Tất nhiên, "trong bất kỳ điểm nào, tôi đều không thể, dù là rất nhỏ, làm cho Chu Ân Lai thay đổi quan điểm của mình, cũng như Chu Ân Lai không thể thay đổi quan niệm của tôi vậy. Nhưng, làm như vậy quả là đã giúp ích cho việc giảm bớt những mâu thuẫn có thể nảy sinh giữa đôi bên. Một trong những việc tôi muốn làm rõ là liệu chính phủ Trung Quốc có thật sự mong muốn đạt được một thỏa thuận nào đó tại hội nghị Genève hay không."

    Buổi tối cùng ngày, Eden ghi vào nhật ký của mình: "đây là một ngày nặng nề trong cuộc đàm phán. Chu Ân Lai đến lúc 11 giờ trưa, chúng tôi nói chuyện với nhau một tiếng đồng hồ. Nếu tôi không tỏ ra có biểu hiện, cuộc nói chuyện sẽ còn kéo dài nữa." Theo Eden, Pháp tuy vẫn chiếm đóng Đông Dương, nhưng sẽ có ngày không thể trụ được, ngoại trừ việc rút đi không vẻ vang gì ra, chẳng còn sự lựa chọn nào khác. Nhưng chỉ cần quân Pháp vẫn còn ở Đông Dương thì vẫn còn có chỗ để mặc cả. Và cùng với thời gian, thế yếu của Pháp sẽ càng trở nên rõ rệt. Eden cho rằng, Trung Quốc sẽ buộc phải đồng ý đi đến một thỏa thuận cho phép bảo lưu một bộ phận của Việt Nam trong "tự do" và đồng ý để cho Lào và Campuchia được hoàn toàn độc lập. Nếu phương Đông và phương Tây không nhanh chóng đạt được thỏa thuận thì tình hình quân sự ở Đông Dương sẽ xấu đi. Trung Quốc thấy rất rõ điều đó.

    Sau khi Chu Ân Lai ra về, Eden lập tức đi gặp và thông báo tình hình với Bidault và Smith.

    Với vị trí là cầu nối tiếp xúc, trao đổi giữa các nước lớn, Eden rất bận rộn, buổi tối cùng ngày, ông cùng ăn tối với Molotov. Trong bữa ăn, Molotov nói, tôi xem báo thấy nói quan điểm của Anh và Mỹ có khác nhau, nhưng tôi không tin.

    Eden đáp: có thể có khác nhau, "giữa các đồng minh với nhau vẫn có thể tranh luận với nhau về các vấn đề tương lai".

    Molotov nói: "ngài nói rất đúng. Bản thân chúng tôi có thể có quan điểm khác nhau về các vấn đề". Ví dụ, Molotov nói với Eden: "Trung Quốc tuyệt đối tự quản lấy mọi công việc của mình."

    Eden gây sức ép với Molotov khi nói: nếu cuộc đàm phán không thành, Mỹ sẽ đưa quân vào Đông Dương. Nếu như vậy, vấn đề sẽ nghiêm trọng.

    Molotov bày tỏ rằng mình đã chú ý tới vấn đề này.

    Ngày 21/5, Eden và Bidault đều về nước để báo cáo tình hình. Cùng ngày, hội nghị Genève tán thành ý kiến của Molotov nêu ra về trình tự thảo luận, gồm năm vấn đề:

    1. Vấn đề ngừng bắn toàn diện ở Đông Dương;
    2. Hoạch định khu vực tập kết quân đội hai bên;
    3. Vấn đề chấm dứt sự viện trợ của bên ngoài đối với Đông Dương;
    4. Vấn đề các nước trung lập giám giát việc thi hành hiệp định đình chiến;
    5. Vấn đề bảo trợ quốc tế đối với việc đình chiến.

    Về mặt trình tự, vấn đề Đông Dương đã tiến được một bước nhỏ theo hướng giải quyết vấn đề.

    Ngày 22/5, Molotov gặp Smith, thúc đẩy chính phủ Mỹ công nhận nước Trung Hoa mới, cải thiện quan hệ với Trung Quốc. Molotov nhấn mạnh: “nước Trung Hoa mới là một nhà nước trẻ tuổi". Trung Quốc mới chỉ có năm năm tuổi, họ cần có thời gian để tập trung tinh lực vào việc giải quyết rất nhiều vấn đề của mình.

    Trong thâm tâm, Smith cho rằng việc công nhận Trung Quốc chỉ là vấn đề thời gian sớm hay muộn. Nhưng lúc này, Smith đáp: vấn đề công nhận là một đường ranh giới, hiện tại Mỹ chưa thể bước sang phía bên kia đường ranh giới. Smith phát hiện ra là Molotov rất am hiểu tình hình Trung Quốc. Khi Smith nhắc đến việc Trung Quốc vẫn còn giam giữ tù binh và một số "thường dân" của Mỹ, Molotov lập tức đáp ngay là Mỹ cũng đang giữ lưu học sinh Trung Quốc không cho họ về nước.

    Trước ý tứ của Smith yêu cầu Molotov phải làm một số công tác với Chu Ân Lai, Molotov nói: “Nếu ngài cho rằng Trung Quốc bị Liên Xô khống chế thì ngài hoàn toàn sai lầm".

    Molotov nói với Smith: Chu Ân Lai là một người bạn không hề dễ đối phó.(8)

    (1) Philippe Devillers & Jean Lacouture, End of A War, France, 1960.
    (2) Sir Anthony Eden, sđd.
    (3) Tin Tân Hoa xã ngày 28/5/1954.
    (4) tức Trung bộ Việt Nam - chú thích nguyên bản.
    (5) Philippe Devillers & Jean Lacouture, sđd, tr. 178-181.
    (6) Edgar O’ Ballancekk, Chiến tranh Đông Dương 1945-1954, London, 1964, tr. 249.
    (7) Hồi ký Cố Duy Quân, sđd, tập 11, tr. 72.
    (8) Điện ngày 22/5/1954 của Smith gửi Chính phủ Mỹ.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi