Bùi Chí Vinh: Giai thoại của thi sĩ (phần 4)

  • Bởi Admin
    06/02/2009
    0 phản hồi
    Từ khóa: 

    Thời kỳ đầu sau giải phóng người Việt Nam gần như chỉ có hai toa thuốc để điều trị dạ dày và sức khỏe. Toa thuốc thứ nhất chính là bo bo tràn ngập trong mỗi bữa ăn. Bo bo vốn dĩ không phải là thứ thức ăn cho người nhưng trong tình trạng đất nước vừa thống nhất lại thiếu lương thực trầm trọng, nên ai nấy đều cố gắng chế biến bo bo bằng đủ mọi công thức luộc, hấp, chiên, xào… đủ kiểu để có thể nuốt trôi vào cuống họng. Ngoài ra những kẻ có năng khiếu ẩm thực có thể hô biến bo bo thành một loại bột giống như bột mì để làm thành mì sợi, bánh bao, nui… với điều kiện vừa nấu chín xong phải xơi tại chỗ, bởi chỉ cần để lâu chừng nửa tiếng là các thành phẩm sáng tạo sẽ cứng như đá. Ở trường Thanh Niên Xây Dựng Cuộc Sống Mới Xuyên Mộc năm 1977 tôi đã từng được nếm thứ bánh bao cứng như đá có thể gãy răng nanh như chơi từ nhà bếp hậu cần :

    SIÊU THỰC PHẨM

    Ở một thời kỳ mà ngay cả bột mì
    Cũng hóa thành thức ăn tân kỳ nhất
    Bóp nhẹ đôi tay thành bánh bao lúc lắc
    Thêm vài cọng hành húp được bữa canh nui
    Bóp thật nhanh vì bao tử rã rời
    Dù được trang bị một bồ lý luận
    Húp thật chậm vì dạ dày trống rỗng
    Dù được nhai xong quan điểm lập trường…

    Toa thuốc thứ hai chính là xuyên tâm liên. Xuyên tâm liên là những viên thuốc tròn màu đen ngó như cứt chuột được các viện bào chế nội địa tung ra để trị bá bệnh. Hồi đó các bạn chỉ cần gõ cửa các trạm y tế phường xã là sẽ được bác sĩ lẫn y tá cung cấp ngay một lô đại trà xuyên tâm liên cho dù bệnh các bạn có là cảm mạo thông thường hoặc xuất huyết bao tử, sưng gan, ung thư, giang mai hay cùi hủi. Đặc biệt xuyên tâm liên được điều trị cho cả trẻ con lẫn người già. Yêu cầu duy nhất là miễn giải thích bởi khả năng ngành y không thể có được thuốc kháng sinh. Trong tình thế cơm không có ăn, áo không đủ mặc như thế nhưng Việt Nam vẫn lập được chiến công vĩ đại là đưa người vào không gian. Tôi còn nhớ chuyến bay “mãnh long quá giang” của Phạm Tuân trên tàu vũ trụ Liên Xô được giới văn nghệ giang hồ truyền khẩu bằng hai câu ca dao như sau : “Hoan hô đồng chí Phạm Tuân – Đang ở dưới đất bỗng tưng lên trời”. Sự kiện hài hước ấy đã giúp tôi làm một bài thơ kỷ niệm sau khi phỏng vấn bà ngoại 70 tuổi của mình :

    ĐÓI

    Tôi mang cơn đói về nhà
    Các em tôi đứng chờ với cái bụng lò xo
    Đôi mắt các em tôi chảy nước miếng
    Giá tôi biến thành cục thịt bò màu tím
    Được ram cẩn thận ở nhà hàng quốc doanh Lê Lai

    Tôi nắn lên những đốt xương sườn có giá trị ngang những khúc cây
    Nơi lồng ngực người yêu tôi hô hấp
    Cặp vú của nàng xa lạ với chữ “mập”
    Như đứa hiếp dâm xa lạ với nhà chùa
    Nếu trời cho tôi có bùa
    Tôi sẽ “thư” hết những kẻ ăn cơm một ngày ba buổi

    Cơn đói không biết nói dối
    Má tôi không biết đánh bài cào
    Bà ngoại tôi không biết Phạm Tuân bay ở hướng nào
    Nhưng biết khoai mì thiếu phân sẽ sượng
    Biết mỗi tiếng còi giao thông là mười đồng to tướng

    Mỗi ngày tôi lại ra đi
    Mặt ngửa tay xin nhiều kiểu cầu kỳ
    Sân khấu hóa trang đứng ngồi chồm hổm
    Tôi thấy văn học đục tường ăn trộm
    Hội họa, âm thanh ghé tiệm cầm đồ
    Tôi thấy xe hơi cầm lái là bò
    Biệt thự mở vào khép ra đầy chó
    Heo mặc áo vest cười rung cửa sổ
    Mệnh phụ tụt quần đứng ngóng ngã tư
    Thấy mắt tôi đui, màng nhĩ tôi ù
    Thấy tôi trở về mang theo cơn đói
    Ả điếm trở về mang theo hơi thối

    Ả điếm được no nhờ bước hai hàng
    Tôi được làm người nhờ đói quanh năm

    Một trong những kẻ sĩ ngoài Bắc đầu tiên mà tôi tiếp xúc sau giải phóng là Lưu Trọng Văn, con trai thi sĩ tiền chiến Lưu Trọng Lư. Qua Lưu Trọng Văn, tôi có dịp làm quen với cặp vợ chồng nhà thơ nổi tiếng ngoài đó là Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh. Tôi có một kỷ niệm riêng đặc biệt với Lưu Quang Vũ một đêm ở Hồ Con Rùa mà không tiện kể ra đây. Chỉ biết lúc đó anh đã kể với tôi về thời gian tuyệt vọng không lối thoát khi B52 dội bom miền Bắc, thậm chí anh đã có ý định tự sát dưới mưa bom (nhưng bất thành) khi tổ chức và đồng nghiệp tỏ ra nghi ngờ lòng yêu nước của mình. Cuối năm 1977 Lưu Quang Vũ là một trong vài người ngăn cản tôi đi bộ đội khi tôi cho anh xem những lá đơn tình nguyện ra biên giới chiến đấu. Bằng kinh nghiệm cá nhân của một người cầm súng phía Bắc, có lẽ anh hiểu rằng tôi không thích hợp với trò chơi phe nhóm của chiến tranh. Kỷ niệm văn nghệ của chúng tôi được ghi nhận bằng tuyển tập thơ NHÌN NHAU VÀ NÓI do tôi và anh Tôn Thất Mạnh Tường phụ trách tập hợp, đặt tên và biên tập. Trong tuyển tập thơ NHÌN NHAU VÀ NÓI ra đời cuối năm 1975 mang ý nghĩa thống nhất thơ ba miền do Thành Đoàn xuất bản này, tôi đã chọn một bài thơ của Lưu Quang Vũ dù lúc đó chưa quen biết anh. Bài thơ nói lên tâm trạng trống rỗng của người lính sau khi đất nước thống nhất, bài thơ độc đáo đối với độc giả phương Nam bởi không nằm trong dòng chảy của thơ minh họa và thơ đồng phục. Bài thơ ăm ắp tính người. Đáng tiếc đến giờ này kho sách của tôi đã bị mất tuyển tập đầu tiên ấy.

    Ngay từ hồi mới quen, Lưu Trọng Văn đề nghị tôi nên viết hồi ức về những gì mà chính tôi nếm trải trong chiến tranh. Tôi trích từ tự truyện HAI HÀNG DỌC, TRƯỚC THẲNG vừa hoàn thành trong tháng 5 – 1975 ra một chương gần cuối đặt tựa là “LOÀI CHIM ĐI BIỂN” và gửi Lưu Trọng Văn đăng báo Văn Nghệ Trung Ương ngoài Bắc. Các bạn nên biết bốn chữ LOÀI CHIM ĐI BIỂN thoạt nghe có vẻ cực kỳ thơ mộng, nhưng thực chất đó là tên gọi triển khai một cách hài hước của bốn từ “LAO CÔNG ĐÀO BINH” gọi tắt là “LCĐB”, là tên gọi chung những sĩ quan binh lính Việt Nam Cộng Hòa đào ngũ, bỏ ngũ, phản chiến, bị giam ở quân lao, cuối cùng gom lại tập trung đưa đi làm lao công chiến trường như một thứ “bia đỡ đạn”. LCĐB còn được gọi nôm na là “Lũ Chó Đái Bậy” hoặc “Lính Chiến Đồng Bằng”… Ngay khi vừa xuất hiện trên mặt báo, truyện ngắn LOÀI CHIM ĐI BIỂN đã gây tiếng vang và được dư luận ngoài đó nhận xét như một thứ bút pháp lạ. Sau này có dịp tôi sẽ cho ra mắt tự truyện trên. Tôi còn nhiều lần gặp lại Lưu Trọng Văn ở tòa soạn báo Lao Động trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa lúc anh về làm báo cùng với nhóm các anh Lý Quý Chung, Hoàng Thoại Châu, Trần Trọng Thức… Nhà thơ Hoàng Thoại Châu vừa là đàn anh vừa là đồng nghiệp cũ của tôi thời kỳ đầu làm báo Tuổi Trẻ, anh từng đoạt giải nhất thơ miền Nam thời Nguyễn Văn Thiệu và sau đó ở tù Côn Đảo vì hoạt động chính trị. Nhà báo Trần Trọng Thức thường đặt bài tôi viết về mảng phóng sự của những con người dưới đáy xã hội như những người bán vé số hát rong, bán ve chai, xích lô xe kéo vĩa hè, đám giang hồ anh chị sống ngoài vòng pháp luật…Riêng ông Lý Quý Chung, cựu dân biểu Sài Gòn kiêm nhà báo thể thao dưới bút hiệu Chánh Trinh, là người hỗ trợ tôi về tài chánh tích cực nhất. Mỗi lần xảy ra sự kiện bóng đá Euro hoặc World Cup ông thường đặt hàng tôi những bài thơ thời sự bóng đá nóng hổi, nhuận bút mỗi bài thơ tương đương “một chỉ vàng”. Trong tư thế của một người cầm bút tự do không hề lãnh lương bất cứ nơi đâu, thú thật là tôi rất cảm kích điều đó. Với khoản thu nhập sau mỗi sự kiện thể thao, tôi góp phần bảo vệ sự sống gia đình mà không phải hạ mình trước áp lực nào. Tôi còn nhớ bài thơ THI HÀNH đọc cho Lý Quý Chung nghe ở nhà hàng Thanh Niên khi ông mở quán. Hôm đó có mặt cả anh Huỳnh Bá Thành và vài thân hữu…

    THI HÀNH

    Thi ca cũng hệt như bóng đá
    Hạng A thưa mà hạng B dày
    Làm thơ cả nước 50 triệu
    Trở thành thi sĩ đếm đầu tay

    Trở thành thi sĩ đều thê thảm
    Đứa bán ve chai, đứa chợ trời
    Đứa nào cũng mánh đồ quốc cấm
    Chỉ trừ thơ chẳng quốc doanh thôi

    Thơ quốc doanh sơ sơ ngàn đứa
    Chen chúc nhau mà đấu võ đài
    Mánh mung chôm chĩa nghề buôn chữ
    Nghị quyết chuyền nhau giắt lỗ tai

    Nghị quyết chuyền nhau thơ cổ động
    Mặc sức mà đi khách niêm vần
    Chai mặt còn hơn nghề nằm ngửa
    Lấy chồng chẳng để một phương không

    Đã thế còn học đòi viết lách
    Đội trên đạp dưới, bợ triều đình
    Mình ta đủ chấp ngàn pho sách
    Ngứa mồm chửi đổng cũng thành kinh

    Điểm danh thấy tủi cho văn học
    Ngửa hết bàn tay muốn khóc thầm
    Hạng A chưa kín trên mười ngón
    Vậy mà quá nửa phụ nhân dân

    Vậy mà quá nửa lo kiếm chác
    Thuở nhiễu nhương, Phật phải xa chùa
    Chúa ngừng giảng đạo vì chiên đói
    Chữ nghĩa làm sao khỏi muối dưa

    Chữ nghĩa làm sao không chay tịnh
    Vũ Hữu Định say chết giữa trời
    Lên núi Nguyễn Đức Sơn mài kiếm
    Xuống đường Bùi Giáng giả điên chơi

    Nói chung thi phú chờ thi bá
    Hạng A còn chừng ấy giang hồ
    Những thằng lòn cúi ta khai tử
    Sợ đói làm sao trí tuệ no

    Sợ đói cho nên thơ tiền chiến
    Khom lưng mà an phận kéo cày
    Bao danh sĩ, danh không liêm sĩ
    Từ hạng A rớt xuống B ngay

    Thi ca cũng hệt như bóng đá
    Hạng A thưa mà hạng B dày
    Riêng ta tên tuổi tìm không có
    Hay chờ ngoại hạng mới kê khai…

    Nói về chuyện bị áp lực của dư luận, tôi là thằng thường xuyên bị “Đảng nghi ngờ, nhân dân chú ý”. Trong hai năm 2007, 2008 hai đài phát thanh là BBC và RFA mỗi đài phỏng vấn tôi khoảng 4 lần, mỗi lần từ vài phút cho đến cả tiếng đồng hồ. Những cuộc phỏng vấn xoay quanh chuyện làm báo trong nước và chuyện hành nghề cầm bút. Những cuộc phỏng vấn trực tiếp và bất ngờ đó không hề có thù lao cho người được phỏng vấn dù có người tưởng rằng tôi được trả rất nhiều tiền. Tất nhiên là trước khi thực hiện phỏng vấn, bằng phép lịch sự của nghề báo quốc tế thừa nghiệp vụ và đầy kinh nghiệm, họ thường hỏi tôi rằng có đồng ý trả lời những câu hỏi hóc búa của họ hay không… Mới đây nhất sau bài trả lời phỏng vấn đài BBC ngày 13 – 5 – 2008 về vụ hai nhà báo trong nước bị bắt vì những bài báo liên quan đến PMU 18, tôi lập tức bị một vài blog cá nhân nặc danh xuất phát từ báo Tuổi Trẻ và vây cánh của họ tấn công chụp mũ trên mạng. Trong đó đòn tấn công bẩn thỉu, ti tiện , trắng trợn nhất là vu cáo tôi “rời khỏi báo Tuổi Trẻ vì ăn cắp xe đạp”… Nếu các bạn đã từng đọc qua loạt hồi ký GIAI THOẠI CỦA THI SĨ nhất là GIAI THOẠI CỦA THI SĨ, PHẦN 3 mà tôi từng tiết lộ cách tôi rời khỏi báo Tuổi Trẻ như thế nào, sau ba lá đơn tình nguyện đi bộ đội trong đợt Hồng Binh của Thành Đoàn, sau đêm đọc thơ long trọng rầm rộ ở Nhà Văn Hóa Thanh Niên năm 1978 dưới sự chứng kiến của các cấp lãnh đạo Thành Ủy, Thành Đoàn và hàng ngàn công chúng trẻ thì mới thấy việc vu cáo trên đúng là “trét cứt” vào mặt chính cấp trên của chúng đã đưa tiễn tôi lên đường. Hôm đó anh Lê Công Giàu, đang đương nhiệm phó bí thư Thành Đoàn kiêm chỉ đạo trực tiếp báo Tuổi Trẻ đã ngậm ngùi bắt tay tôi sau buổi đọc thơ nói rằng : “Thơ ông hay lắm, Chỉ tiếc rằng ông sinh bất phùng thời, không có đất dụng võ”.

    Tôi có làm hai bài thơ sau đây để trả lời bọn tiểu nhân ném đá giấu tay sau vụ trả lời đài BBC. Bài đầu tiên “đấm” thẳng vào một blog cá nhân đòi “tát vào mặt Bùi Chí Vinh” :

    PHẢN ỨNG CỦA THI SĨ

    Chúng tát vào má phải của Giê Su
    Giê Su chìa má trái
    Chúng tát vào má ta bên phải
    Ta không làm Giê Su
    Ta tập trung một thế hệ căm thù
    Để chìa ra… quả đấm !

    Bài thứ hai mang tựa SÁU MẶT CON XÚC XẮC vạch trần chân tướng lũ cơ hội trong giới làm báo và cầm bút ở Việt Nam đang lăm le thu hoạch địa vị và lợi nhuận lần thứ hai nhờ những đảng viên cầm quyền biến chất và suy thoái :

    SÁU MẶT CON XÚC XẮC

    Khi các ngươi đua nhau xu nịnh Đảng
    Để hằng mong kiếm địa vị cho mình
    Thì ta lưu lạc trong lòng cách mạng
    Làm thơ khuyên người nghèo KHOAN nói chuyện tiếu lâm

    Bây giờ các ngươi lại đua nhau dè bỉu Đảng
    Để lần thứ hai kiếm lợi nhuận cho mình
    Thì ta tiếp tục lưu lạc trong lòng cách mạng
    Làm thơ khuyên người nghèo NÊN nói chuyện tiếu lâm

    Trở lại chuyện “ăn cắp xe đạp” vớ vẩn, có lần dự liên hoan sinh nhật cuối năm của báo Mực Tím tôi đã ngồi cùng bàn với đồng chí Phan Xuân Biên (Trưởng Ban Tuyên Giáo Thành Ủy) và nhiều văn nghệ sĩ khác, tình cờ được nghe chính ông Phan Xuân Biên kể về giai thoại tôi “cầm nhầm xế điếc” của vợ ông tại nhà xe chung cư 190 Nam Kỳ Khởi Nghĩa (đường Công Lý cũ) thuộc Hội Văn Nghệ Giải Phóng phía Nam. Câu chuyện của ông đã làm mọi người cười bể bụng. Cần mở ngoặc đơn chỗ này, Phan Xuân Biên không hề xa lạ gì với gia đình tôi, ông cùng chung đơn vị với cậu ruột Tám Ruby của tôi tại Biệt Động Thành Đội. Cậu Tám Ruby thuở còn sống có nói với tôi rằng ông Biên làm trợ lý cho Thiếu Tướng Tư Lệnh Biệt Động Thành Trần Hải Phụng (tức ông Ba Đặng). Câu chuyện mà ông Biên kể đại khái như sau : Khoảng năm 1977 tôi đến chung cư 190 Nam Kỳ Khởi Nghĩa chơi với các nhà văn Trang Thế Hy, Chim Trắng và chiều tối có ghé thăm nhà thơ Trần Nhật Thu ăn cơm rồi mượn chiếc xe đạp mini của Trần Nhật Thu để đi công chuyện vài ngày. Dĩ nhiên là anh Thu đồng ý và chỉ tôi xuống nhà xe tập thể để lấy “xế điếc”. Trong cơn say xỉn kèm theo bóng tối nhập nhoạng, tôi đã lấy lộn một chiếc xe đạp mini khác dựng kế xế điếc của Trần Nhật Thu. Và tôi đã chạy luôn một mạch ba ngày mới quay trở lại nhà xe để trả cho khổ chủ. Tôi không hề biết rằng trong thời gian đó khu tập thể văn nghệ sĩ giải phóng náo loạn vì bà vợ của đồng chí Phan Xuân Biên tri hô bị… mất xe. Khách khứa đến chung cư ba ngày trước đều bị khoanh vùng, trong đó có tôi, và tất nhiên bộ dạng giang hồ của tôi đáng bị nghi ngờ nhất. Anh Biên kết luận sau câu chuyện hài hước đó tại báo Mực Tím : “Bùi Chí Vinh sinh ra để ăn cắp cái gì khác lớn hơn chớ đâu phải chiếc xe đạp”.

    Đó là câu chuyện xảy ra ở một chế độ mà ai cũng có thể nghi kỵ lẫn nhau từ người trên xuống kẻ dưới, từ kẻ có quyền lực quyết định sinh mạng người khác đến dân đen vốn như cá nằm trên thớt. Vì vậy khi xuất hiện hoặc ăn nói trước đám đông, ai nấy đều phải tự đề phòng. Tôi là thằng ít chịu đề phòng nên thường biến thành miếng mồi ngon cho bọn bất tài đội trên đạp dưới khoái dèm pha nịnh hót. Chúng hay rình mò những văn nghệ sĩ, chính khách, những nhà trí thức nổi tiếng để ghi âm, báo cáo lấy điểm hòng thăng quan tiến chức. Chính vì thế có một chuyện khôi hài xảy ra sau đây khi tôi được Nhà Xuất Bản Kim Đồng mời dự bữa tiệc mừng huy chương lao động của NXB cách đây vài năm. Trong tiệc, tôi và vợ tôi ngồi cùng bàn với ông Nguyễn Thắng Vu, nguyên giám đốc NXB kiêm Chủ Tịch hội đồng xuất bản hiện thời. Sau màn tay bắt mặt mừng, ông Nguyễn Thắng Vu mời bà Phạm Phương Thảo, Chủ Tịch HĐND Thành Phố đến gặp tôi tại bàn. Qua vài câu chào hỏi xã giao, ông Vu nói thẳng với bà trước mặt nhiều người : “Bà bảo Bùi Chí Vinh là thằng có tư tưởng phản động không có lợi cho Nhà Xuất Bản. Bà không cho phép tôi được sử dụng Bùi Chí Vinh. Qua những gì Bùi Chí Vinh đã làm việc và tự vươn lên để nổi tiếng thì tôi thấy Bùi Chí Vinh không phải như những gì bà đã áp đặt cho chúng tôi. Bùi Chí Vinh không có Nhà Xuất Bản Kim Đồng vẫn tiếp tục lừng danh với hàng loạt kịch bản phim nhựa ra mắt toàn quốc và quốc tế, được công chúng lẫn dư luận trong và ngoài nước thừa nhận. Vậy bà nghĩ sao?”. Trước phát biểu của ông Vu, bà Thảo quay sang tôi đánh trống lảng : “Bùi Chí Vinh cứ tiếp tục viết truyện thiếu nhi, và chỉ nên viết truyện thiếu nhi thôi, đừng nên viết những gì khác”.

    Trời đất, tôi sinh ra đời từ một ngôi sao “quậy” làm thiên chức của kẻ sĩ sáng tác đủ thể loại văn học ghi nhận mọi biến thiên của thời đại, trong đó chuyện viết cho lứa tuổi mới lớn hoặc thiếu nhi chỉ là một bộ phận nhỏ trong sự nghiệp. Tôi không ôm mộng viết SỬ KÝ như Tư Mã Thiên để bị thiến… dái, nhưng tôi cũng không hèn hạ biến thành một loại bồi bút, gia nô cho lãnh đạo xoa đầu, chỉ đâu đánh đó. Vì thế xin lỗi bà Phạm Phương Thảo , cựu Bí Thư Thành Đoàn thời tôi đi bộ đội năm 1978. Năm ấy cũng chính bà đến Nhà Văn Hóa Thanh Niên nghe tôi đọc thơ và đưa tiễn quân tình nguyện Hồng Binh. Tôi nghĩ rằng có thể tự thâm tâm bà không hề ác cảm với tôi, nhưng cái nhìn lệch lạc của bà khi nghe những báo cáo tâu hót của cấp dưới vô tình làm khốn đốn biết bao nhiêu kẻ sĩ. Ngay cả những bí thư tiền nhiệm trước đó của Thành Đoàn là ông Phạm Chánh Trực tức Năm Nghị và ông Nguyễn Chơn Trung tức Sáu Quang cho dù không dám “dùng” tôi cũng chưa bao giờ mở lời xúc phạm một thi sĩ của phong trào đấu tranh đô thị như vậy. Nhân đây cũng xin nhắc lại khoảng đầu thập niên 80 tôi cũng từng bị ông Võ Văn Kiệt ngộ nhận qua những kiểu báo cáo “lấy điểm” như thế và tôi cũng đã có dịp đọc thơ trực tiếp tại nhà ông Kiệt khi ông mời tôi và nhóm sáng tác của Thành Đoàn lại tư gia dùng bữa cơm thân mật. Điều quan trọng là tôi đã đọc những bài thơ “nổi loạn”, “phê phán bất công xã hội” mà ông Kiệt muốn nghe là XÍCH LÔ HÀNH, VE CHAI HÀNH…và chứng kiến vị Bí Thư Thành Ủy lúc đó vỗ tay cười cực kỳ thoải mái. Riêng cố Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh lại càng đáng quý trọng hơn, hồi còn sinh tiền chính ông bảo vệ những bài thơ từ tập THƠ ĐỜI của tôi khi đám nịnh thần xum xoe chụp mũ. Hơn ai hết, ông là tác giả tiết mục NHỮNG VIỆC CẦN LÀM NGAY nên quá biết những gì bất công thối tha của xã hội cần phải phê phán và lên án triệt để.

    Cũng may tôi xuất thân từ gia đình cách mạng thứ thiệt và bản thân từng tham gia hoạt động cách mạng ngay từ 15 tuổi nên ba cái chuyện chụp mũ ruồi bu vớ vẩn coi như sự tích Hứa Do xuống suối rửa tai, Sào Phủ dắt trâu lên bờ sợ trâu uống nhầm nước bẩn. Chỉ tội nghiệp cho giới văn nghệ sĩ cầm bút “sĩ khí rụt rè gà phải cáo” trong thơ Tú Xương lỡ bị những kẻ lãnh đạo như bà thành kiến thì chỉ có nước bỏ nghề, bán thân mình đi xuất khẩu lao động hải ngoại… Bài thơ MẠT LỘ của tôi phần nào đã nói lên điều đó :

    MẠT LỘ

    Không còn chút hy vọng
    Trong sự trở lại bờ
    Những chiếc phao tưởng tượng
    Hành tội người nằm mơ

    Bao nhiêu đợt sóng xô
    Nhấn ta chìm dưới đáy
    Ta chẳng hề mơ hồ
    Trước cánh buồm đã gãy

    Thơ ta là hoa trái
    Không kiếm được mảnh vườn
    Thơ ta là máu chảy
    Dính trên đầu mũi gươm

    Đừng vì nỗi héo hon
    Mà đầu hàng số phận
    Ta thiết gì mồi ngon
    Chiếc cần câu danh vọng

    Trước mặt là khoảng trống
    Sau lưng là vũng lầy
    Ta như là trái đất
    Quay. Một mình tự quay !

    Nói lên chuyện này để thấy theo dòng thời gian gột rửa đá vẫn là đá, vàng vẫn là vàng. Tôi còn nhớ hai câu ca từ trong một bài hát của nhạc sĩ Miên Đức Thắng : “Một mai qua cơn giông tố, nắng lên soi rõ mặt nhau” . Ngày 20 – 9 – 2007 hai tập THƠ TÌNH BÙI CHÍ VINH và THƠ ĐỜI BÙI CHÍ VINH họp báo ra mắt trang trọng tại trụ sở Hội Nhà Báo TP. Riêng tập THƠ ĐỜI sau bao nhiêu năm rúc trong ngăn kéo, tồn tại bằng sự truyền khẩu, đã được Nhà Xuất Bản Thanh Niên ấn hành. Trước đó bản thảo của tập THƠ ĐỜI từng được gửi đến 3 Nhà Xuất Bản khác nhưng đều bị từ chối vì những lý do miễn bàn. Buổi họp báo có mặt các thân hữu chọn lọc thuộc hai phe Hắc, Bạch giang hồ gồm đủ mọi môn phái thơ văn nhạc họa điện ảnh sân khấu… Các phát biểu chân thành của các đạo diễn Nguyễn Chánh Tín, Đào Bá Sơn, diễn viên điện ảnh Hiền Mai, của các nhạc sĩ Trần Tiến, Miên Đức Thắng, Lã Văn Cường, của các nhà văn nhà thơ Đoàn Thạch Biền, Đỗ Trung Quân, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Quốc Chánh …đều chia sẻ những nỗi niềm cay đắng mà tác giả đã một thời gian dài gánh chịu. Hôm đó phát biểu của nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã được báo Phụ Nữ thành phố ghi lại như sau : “Là người làm thơ hơn 40 năm nay, đây là lần đầu tiên tôi được chứng kiến một buổi ra mắt thơ sang trọng như hôm nay. Tôi rất vui khi thấy thơ được tôn vinh như thế này…”. Tôi thiết nghĩ thành công của buổi ra mắt qua những bài viết trên báo chí là câu trả lời đích đáng nhất cho những phe nhóm hay quyền lực nào muốn đẩy tôi đến đường cùng không còn đất sống.

    Cuối năm 1980 tôi bắt đầu đạp xích lô qua trung gian của đồng chí Nguyễn Trì, một cán bộ Thành Đoàn bất đắc chí. Nguyễn Trì giới thiệu tôi làm quen đám giang hồ hảo hớn khu vực Tân Kỳ Tân Quý miệt Bà Quẹo và tôi được một chiến hữu cho trưng dụng chiếc xích lô bửu bối kiếm cơm những lúc chiến hữu kẹt công chuyện khác. Tôi đạp xích lô như làm thơ, hứng thì chạy vòng vòng Sài Gòn đón khách, chán thì “tấp” vào biệt thự các sếp lớn trên đường Phùng Khắc Khoan, quận 1 bấm chuông hoặc gõ các trạm gác bảo vệ yêu cầu cho gặp thủ trưởng. Phải thú thật tôi chưa bao giờ lấy tiền người già, phụ nữ, trẻ con, ngay cả gái ăn sương. Tôi chở họ miễn phí nhưng với bọn công tử ăn chơi thì lấy tiền đích đáng. Nguồn thu nhập chủ yếu trong thời gian giả dạng “xích lô hành” của tôi là những bì thư của các sếp lớn nhét vô túi áo túi quần mỗi khi họ thấy chiếc xích lô quen thuộc nằm chình ình trước các biệt thự. Nhiều thân hữu văn nghệ giang hồ đã từng chứng kiến tôi thu nhập kiểu đó để có lệ phí lai rai ba sợi như Bảy Dũng, Hồ Lê Thuần, Ba Lê, Chiêu Anh Hải, Vũ Ngọc Giao, Đoàn Vị Thượng… Có lần tôi chở đôi tình nhân sinh viên nghèo thuê xe một đêm để được yêu nhau một cách rất con người. Đơn giản là họ không có tiền để thuê nhà trọ hoặc thuê một băng ghế đá ngồi âu yếm. Cảnh tượng não lòng và phổ biến đó khiến tôi bật thành bài thơ mang tựa THỜI CỦA NGƯỜI GIÀ. Xin chép ra đây cho các bạn thưởng thức :

    THỜI CỦA NGƯỜI GIÀ

    Không có một chỗ trú cho chúng ta
    Đây là thời đại của những người già cả
    Anh muốn đi chơi buổi chiều với em quá xá
    Tìm không sao thấy một chỗ ngồi
    Anh đã thử ra công viên lựa một chỗ khá tồi
    Nhưng vừa đứng dậy lại bị người chiếm mất
    Anh đã mua vé hung hăng đi lùng trong rạp hát
    Chỉ thấy toàn những bộ phim câm
    Cuối cùng chúng ta đành âm thầm
    Yêu nhau bằng cách khoanh tay bó gối

    Không có một chỗ trú cho chúng ta, anh không nói dối
    Đây là thời đại của ông già
    Ông già vắt chân chữ ngũ triết gia
    Luận Tam Quốc bằng bảy lần uốn lưỡi
    Ông già cởi trần khoe xương sườn như củi
    Hippy mà múa Thái Cực Quyền
    Ông già ban ngày, ông già về đêm
    Chai rượu đế cạn bên bàn cờ tướng
    Thành phố giống như một ông già hổ lốn
    Sĩ tốt tựa cháu con, sĩ tốt tựa khoai mì
    Ông già đến rồi ông già đi
    Để lại những nếp nhăn trên thời kỳ tuổi tác

    Không có một chỗ trú cho chúng ta, anh không nói khoác
    Đây là thời đại của bà già
    Bà già nhai trầu và bõm bẽm đơn ca
    Những bài hát sáu câu về cơm áo
    Bà già làm đủ nghề, kể cả nghề đi dạo
    Lên bục đọc diễn văn, xuống bục ngủ vĩa hè
    Bà già disco mở cửa hàng nhậu nhẹt
    Chăn gối thừa trong các phòng khuê

    Hoàn toàn không có một chỗ trú cho chúng ta
    Đây là thời đại của những người già cả
    Tuổi 40 nghĩa là nhà thơ trẻ
    Khoảng 60 làm thi sĩ là vừa
    Từ 70 trở đi là tuổi của nhà vua
    Quan lại mới ăn lộc bằng năm tháng
    Trong khi tuổi của tình yêu chỉ cần vài cơn nắng
    Một chút mưa đủ cảm thấy mình già
    Chúng ta yêu nhau ngày một ngày ba
    Sợi tóc bạc phếch trong trái tim mới lớn
    Cứ thêm một ngày là tình thêm chết sớm

    Thế mà không có chỗ trú cho chúng ta
    Thành phố tróc da trên cây me già
    Rớt vẩy xuống sư sinh sôi của cỏ
    Chúng ta nhỏ nhoi trong từng hơi thở
    Thiếu oxy vì xăng nhớt vì dầu
    Chúng ta rang ái tình trong từng tóp mỡ
    Không cần miếng thịt nạc sống dài lâu
    Còn mở mắt là biết mình còn thọ
    Nhưng có chỗ nào anh trú với em đâu ?

    Bài thơ THỜI CỦA NGƯỜI GIÀ sau này được tôi “chuyển thể” thành truyện ngắn BỐN THÍ NGHIỆM TRONG ĐÊM TÂN HÔN đăng tải trên nhiều báo trong và ngoài nước. Truyện ngắn BỐN THÍ NGHIỆM TRONG ĐÊM TÂN HÔN một lần nữa lại được tôi “chuyển thể” thành kịch bản phim nhựa 45 phút của hãng Chánh Tín do Nguyễn Chánh Tín làm đạo diễn, vừa công chiếu các rạp trên toàn quốc tháng 6 - 2008 cùng với phim CHẾT LÚC NỬA ĐÊM.

    Đạp xích lô vài tháng, một lãnh đạo Thành Đoàn “chịu không thấu” nên gửi tôi vào làm Xưởng Huy Hiệu Thành Đoàn nằm trên đường Lê Lợi. Tại đây tôi biến thành công nhân máy dập kim loại bất đắc dĩ và tạo uy tín cá nhân bằng những tờ báo tường cho cơ quan. Tôi tự vẽ và viết đủ mọi thể loại thơ, truyện, tùy bút, vui cười, truyện tranh, chuyện phiếm… ký dưới nhiều bút hiệu khác nhau. Không khí như sôi lên khi tôi cùng anh Quế (anh ruột của chị Quỳnh Hoa và anh Năm Bằng, cán bộ Thành Đoàn) đặt biệt danh mọi người trong cơ quan thích ứng với thế giới động vật và thực vật trong Sở Thú. Chẳng hạn các cô gái ở bộ phận sơn huy hiệu có các biệt danh Con Mèo, Con Thỏ, Con Nhím, Con Voi, Con Muỗi, Con Cầy Hương, Con Thiên Nga… tùy theo nhan sắc và trọng lượng thân thể của các cô. Chẳng hạn các ông cai ở các bộ phận văn phòng, bộ phận chỉ huy, bộ phận hậu cần thì có các biệt danh Tre Miễu, Cây Si, Cây Măng Cụt, Trái Sầu Riêng, Chôm Chôm. Riêng chiến hữu giang hồ trắng trẻo khu Tân Định là Lâm Cầu Kiệu làm bảo vệ cơ quan được anh Quế phong tặng biệt danh “Thợ Săn” còn tôi thì là “ông chủ Thảo Cầm Viên” lãng mạn…

    Chính nhờ giai đoạn lao động “thơ mộng” này mà tôi thai nghén tiểu thuyết học trò mang tên TÓC TIÊN. Tiểu thuyết TÓC TIÊN xuất hiện qua hình thức đăng feuilleton nhiều kỳ trên báo Mực Tím năm 1991 và cuối năm đó được độc giả tuổi mới lớn bầu chọn là truyện dài hay nhất trong năm. Không một ai hay biết những nhân vật trong truyện TÓC TIÊN có một số mang biệt danh các đồng nghiệp của tôi từ thời làm ở Xưởng Huy Hiệu.

    Trong thời gian làm ở Xưởng Huy Hiệu tôi có dịp làm quen với nhà thơ, nhà văn kiêm kịch tác gia bụi đời Mặc Tuyền. Làm quen một cách khơi khơi. Trước cửa xưởng 66 Ter Lê Lợi, quận 1 là mặt tiền một đại lộ lớn với vỉa hè rộng là “phao cứu sinh” đối với rất nhiều người buôn bán nhỏ, trong đó có anh Mặc Tuyền. Mặc Tuyền vốn là “đại đệ tử” của nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà, anh có một thời lăn lóc giang hồ với đủ nghề nghiệp mưu sinh kiếm sống, và đang kiếm sống bằng cách bán đủ các loại ống tiêu, ống sáo ngay trước cơ quan tôi. Trước đó tôi đã biết anh khi anh đoạt giải nhất truyện ngắn của báo Văn Nghệ TP cùng với đạo diễn Lê Văn Duy. Anh hoàn toàn bất ngờ khi hay tin tôi cởi áo lính làm công nhân máy dập Xưởng Huy Hiệu. Đêm đầu tiên hạnh ngộ, hai anh em ngồi quán cóc vỉa hè, anh thổi sáo ngâm thơ cho tôi nghe và kể rằng chỗ buôn bán của anh hiện nay cũng chính là chỗ thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên (một thi sĩ tài hoa trước 1975 có nhiều bài thơ được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc) từng đứng bán chợ trời trước khi vượt biên sang Mỹ. Hôm đó tôi đã đọc cho Mặc Tuyền nghe bài thơ ĐÓI LIÊN TỤC của một gia đình cách mạng khiến anh thẫn thờ:

    ĐÓI LIÊN TỤC

    Nhà hết gạo
    Chung quanh một nồi cháo
    Mười cái chén gục đầu
    Bốn người thất nghiệp, một người đau
    Nồi cháo bốc hơi cán bộ
    Năm công nhân viên làm toán đố
    Đáp số không qua giới hạn cộng trừ :
    “45 ký trong lu
    600 phần ăn một tháng”
    Lúa miền Nam gặp hạn
    Bình Trị Thiên bão về
    Đồng bằng Sông Hồng hồi hộp vỡ đê
    Sao đọc báo chỉ thấy bội thu lương thực
    Sao nghe đài thấy gạo Việt thành cơm Tây cơm Nhật
    Sao xem ti vi thấy thóc nở đầy hình
    Thóc đã tràn vào ngân khố vô danh
    Đất nước được mùa công trái
    Cho lãnh tụ rộng mồm ăn nói
    Diễn văn đầy ngũ vị hương
    Ôi, hoa màu thần tiên trên các bích chương
    Thứ hoa màu trên giấy báo

    Đương nhiên
    Nhà hết gạo
    Và mười người hết máu…

    Hai anh em không cần cắt máu ăn thề như tích Tam Quốc Chí, chỉ cần hiểu nhau theo kiểu “kiến nghĩa bất vi vô dõng giã – lâm nguy bất cứu mạt anh hùng” là đủ đặt niềm tin vào nhau. Chính vì thế khi Mặc Tuyền rủ tôi về Bến Tre là tôi đi theo anh một mạch. Tại đất Bến Tre không hiểu anh xoay xở ra sao mà mới vừa hành nghề bán sáo dạo lề đường bỗng biến thành ủy viên ban chấp hành Hội Văn Nghệ Nguyễn Đình Chiểu. Anh giới thiệu tôi với anh Bảy Dân, cháu cô Ba tức nữ tướng Nguyễn Thị Định. Anh Bảy Dân lúc đó đương nhiệm chủ tịch Hội Văn Nghệ hoàn toàn tin cậy Mặc Tuyền trong việc làm kinh tế cải thiện đời sống cho Hội. Trong vòng vài tháng ở Bến Tre, có lần anh Mặc Tuyền và tôi ngồi xe hơi của Hội chạy về Sài Gòn làm việc với Hội Văn Nghệ TP của đồng chí Viễn Phương khiến ai nấy há hốc mồm kinh dị. Họ không thể hiểu nổi lý do gì một kẻ bán chợ trời, một kẻ sửa xe vỉa hè bỗng hô biến thành hai “nghệ sĩ đại gia” chớp nhoáng. Tôi có ghi nhận thời gian vàng son ấy trong bài thơ NGÀY TRÌNH DIỆN BẾN TRE trích đoạn như sau :

    NGÀY TRÌNH DIỆN BẾN TRE

    Một trái tim, một ba lô con cóc
    Tôi đến Bến Tre như thể trở về nhà
    Tôi đến Bến Tre như là tôi có lỗi
    Vụng về không biết chào thưa
    Tôi đến Bến Tre như là tôi bối rối
    Hai tay bóp lại dư thừa

    Tuổi 26 chưa sửa soạn già nua
    Mà trước đó ngỡ tóc mình sắp bạc
    Tôi đã sống một thời mê nhạc
    Cây guitar biết thở như người
    Tôi đã sống một thời đánh giặc
    Lựu đạn tròn khoen lách vành môi…

    Cuộc đời vốn dĩ là… cá ăn kiến, kiến ăn cá. Mặc Tuyền mau chóng “bạo phát bạo tàn”. Những lúc không có anh ở Bến Tre, tôi lưu linh lạc địa cùng anh em văn nghệ nghèo trong Hội chia nhau từng phiếu ăn tập thể thê thảm. Tôi còn nhớ thuở đó Kim Ba đã làm thơ có triển vọng ngay trong tuổi học sinh, đôi vợ chồng trẻ Nguyên Tùng, Ngọc Điệp đã có những tác phẩm ấn tượng, rồi Hồ Trường (hiện giờ là chủ tịch Hội Văn Nghệ Nguyễn Đình Chiểu) thuở đó phải chạy đôn chạy đáo kiếm từng giọt rượu hiếu khách cho tôi uống. Tôi tập đi qua cầu khỉ về Mỏ Cày trợn trượt té xuống sông liên tục. Và tôi đã tập bước trên thân cây dừa đầy bùn sình trơn trượt ấy cho đến lúc đi khoan thai như một ảo thuật gia.

    Đầu năm 1981 Mặc Tuyền từ giã Bến Tre lôi tôi quy hồi cố xứ mở xưởng làm đồ chơi tại Xóm Chùa đường Trần Quang Khải, quận 1. Xưởng đồ chơi tọa lạc trong khuôn viên một ngôi chùa nằm cạnh dòng sông đen. Ở đây tôi có ngay hai đồng nghiệp là Bảy Dũng (một cán bộ Thành Đoàn từng là một trong vài sếp lực lượng Thanh Niên Xung Phong và từng đi bộ đội cùng đợt với tôi) và Trương Hùng Dũng, em ruột nữ ca sĩ Kim Khánh bên văn công Quân Khu 7. Ba đứa tôi là ba thợ chủ lực sản xuất những bộ phận đồ chơi gia công cho một đơn vị mà anh Mặc Tuyền cung cấp theo hợp đồng kinh tế. Nếu các bạn có mặt ở Xóm Chùa lúc ấy chắc chắn sẽ hình dung chúng tôi như ba gã cô – dắc trong phim SÔNG ĐÔNG ÊM ĐỀM. Ba đứa tôi tóc dài lê thê và bộ dạng rất ngầu chứ còn phải hỏi. Khoảng thời gian này cũng là khoảng đời thơ mộng nhất của tôi, khi tôi tái ngộ lại người con gái mà sau này trở thành hiền thê mãi mãi. Ngày đầu tiên gặp Hương Lan ở quán nước dưới chân cầu Công Lý, tôi đã có ngay một bài thơ ghẹo em :

    CHIỀU CÓ LAN

    Chỉ cần ngón tay đưa lên môi
    Ngàn năm nhan sắc ở em rồi
    Ngàn năm trời đất thành thơ nhạc

    Cây cỏ chào nhau kể lứa đôi

    Chỉ cần chiếc muỗng em trong ly
    Là tim anh chết rất nhu mì
    Là thằng du đãng bay đâu mất
    Một chút tình anh lẻn trốn đi

    Chỉ cần em cứ ngồi như thế
    Yên lặng nhìn anh suốt buổi chiều
    Là anh trôi sạch bao dâu bể
    Mở hết lòng ra đợi tiếng… yêu !

    Tôi còn nhớ sinh nhật tôi ngày 23 – 10, đêm ấy ở khu giang hồ đầy anh chị Xóm Chùa, em và một người bạn gái đã đem quà và một cành hoa cho ngày sinh nhật thằng con trai lãng tử :

    SINH NHẬT

    Hôm nay là sinh nhật của anh
    Hai mươi bảy tuổi cháy ngon lành
    Anh xòe diêm đốt mà cay mắt
    Diêm tàn, riêng sọi khói mong manh

    Sinh nhật anh không có đèn cầy
    Hoa hồng mang đến cánh còn gai
    Em cong môi thổi như công chúa
    Hơi thở thơm mùi hương trái cây

    Sinh nhật anh không có rượu vang
    Ly quên chén dĩa, ghế quên bàn
    Anh quên đời sống như quên tuổi
    Bó gối nghe đùi thương gót chân

    Sinh nhật anh không có đàn bà
    Tháng mười Chúa chẳng kịp sinh ra
    Dang tay anh đứng làm thập tự
    Mơ một nàng Madalêna

    Sinh nhật anh không có đàn ông
    Tháng mười Phật giác ngộ chưa xong
    Vòng tay anh khép làm tràng hạt
    Mơ nàng Thị Kính cắt râu chồng

    Sinh nhật anh mà sinh nguyệt em
    Có nàng con gái rất thuyền quyên
    Lách qua khe cửa như hơi gió
    Up xuống đời anh cơn bão đêm

    Sinh nhật anh. Ừ, sinh nguyệt em
    Trăng lên soi rỗng túi không tiền
    Mẹ anh sinh nở con cầu tự
    Nên suốt đời anh ngủ mái hiên

    Hùm thiêng khi đã sa cơ… chẳng hèn. Xưởng đồ chơi của chúng tôi ở Xóm Chùa bị vị sư trụ trì giải tán sau một cuộc đánh lộn với đám anh chị bảo kê khu vực quanh Xóm Mười Căn. Mèo lại hoàn mèo, tôi lang thang qua khu Chợ Cá, Trần Quốc Toản, quận 10 giao du với anh em nhà Long Gỗ. Long Gỗ sau 1975 làm công tác Phường Đoàn rồi đi bộ đội đánh nhau ở biên giới, xuất ngũ chuyển qua nghề buôn củi. Tại địa phương, Long Gỗ sống như một đại ca với các em út thầu giữ xe cho khách khứa các quán xá. Chúng tôi đến với nhau trên nguyên tắc “trọng nghĩa khinh tài”. Trên bãi đất trống trước bệnh viện Nhi Đồng đường Lý Thái Tổ, hàng ngày tôi, Long Gỗ, Bảy Dũng vừa đốn củi vừa tiếp thị khách đi đường những khối thước củi chất cao nghệu với giá rẻ rề. Chúng tôi đã sống trong những ngày tháng đó bằng cách đổ mồ hôi sôi nước mắt cật lực như vậy để tồn tại. Kỷ niệm ngày gặp Long Gỗ được tôi ghi lại như sau :

    Bạn ta ở thành phố
    Chứ không phải ở rừng
    Sao lần này thăm bạn
    Thấy cây nằm ngổn ngang

    Tìm trong lửa thấy vàng
    Tìm trong cây thấy bạn
    Bạn ta thành Thạch Sanh
    Trước khi ra ngồi quán

    Tay bạn xòe mười ngón
    Khép lại thành núi đồi
    Mở ra thành sông rạch
    Chốn giang hồ rong chơi

    Cũng trong năm 1981 ông Dương Đình Thảo tức Sáu Thảo, giám đốc Sở Văn Hóa Thông Tin kéo tôi khỏi kiếp “tiều phu” về làm việc tại Phòng Bảo Tàng Lịch Sử thành phố trên đường Pasteur. Tại đây tôi ăn lương hợp đồng ở Phòng Tổ Chức Sở và làm nhiệm vụ ghi chép các địa chí văn hóa nội ngoại thành, những lúc cần thiết chú Sáu Thảo trưng dụng tay nghề “xuất khẩu thành thi” của tôi trong phái đoàn lưu diễn. Phái đoàn của chú Sáu Thảo là một phái đoàn văn nghệ tạp lục kiểu như “đại nhạc hội Hoàng Thi Thơ” trước giải phóng. Nhờ vậy tôi có dịp làm quen với nhiều nghệ sĩ sân khấu, ca nhạc trong đó có anh Trần Quang Minh tự Minh Bò. Anh Trần Quang Minh là con trai thứ của giáo sư tiến sĩ Trần Văn Khê, một nhà văn hóa lỗi lạc của Việt Nam tại hải ngoại. Năng lực của Minh Bò có khuynh hướng nghiêng về người chú ruột là quái kiệt Trần Văn Trạch. Minh Bò có thể vừa hát rất độc những bài nhạc Pháp cổ điển, vừa hát biến thể thành nhạc Rap những hành khúc rộn ràng như “Tiểu Đoàn 307” rất có duyên trước công chúng. Anh còn hát bài thơ CHÙA HƯƠNG của thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp được Trần Văn Khê phổ nhạc theo kiểu tái chế riêng của mình cực “phê”. Còn tại sao gọi là Minh Bò thì quá dễ hiểu : anh chuyên môn mặc bộ đồ jeans của cao bồi chăn bò và mỗi lần lấy giọng thì hụ hụ trong cuống họng như bò rống. Tại Phòng Bảo Tàng anh là một bạn già thân thiết luôn yêu cầu tôi đọc thơ giang hồ mỗi khi đối ẩm. Đầu năm 1982 Sở Văn Hóa Thông Tin điều động tôi và Nguyễn Đức Thành tức Sáu Du (một cán bộ biên tập thời kỳ đầu tiên của báo Tuổi Trẻ) theo đồng chí Võ Ngọc An tự Bảy Câu ra huyện Duyên Hải (Cần Giờ) khi Bảy Câu được cấp trên thử lửa bằng chức Trưởng Phòng Văn Hóa Thông Tin của vùng đất mẹnh danh là “Sibêri” thành phố.

    Tại Duyên Hải tôi được anh Bảy Câu phân công làm Nhà Văn Hóa còn Sáu Du phụ trách bản tin huyện. Tất nhiên phân công là một chuyện còn lúc làm việc chúng tôi luôn choàng gánh cho nhau, bởi Nhà Văn Hóa huyện thực chất chỉ là một cái đình bỏ hoang không có mấy người ở, còn bản tin hầu như chỉ có “bộ tam sên” của chúng tôi tự biên tự diễn. Thế mà chúng tôi cũng cho ra mắt bản tin hàng tuần như một tờ báo long trọng làm nức lòng cư dân xứ biển. Tôi còn nhớ bài thơ xuất hiện trên tờ báo huyện số ra mắt mang tên PHẢN TỐNG BIỆT HÀNH của tôi được anh em người Sài Gòn và cán bộ người bản xứ học thuộc làu. Bài thơ “nhái” giọng điệu thi sĩ Thâm Tâm khi làm TỐNG BIỆT HÀNH trở thành một dạng “tình ca đặc sản địa phương” được mọi người hát lên mỗi lần cụng ly rôm rả. Hầu như giới lãnh đạo cấp huyện đều biết hát bài thơ do Lã Văn Cường phổ nhạc đó. Phải nói là anh Chung, phó chủ tịch phụ trách du lịch và xuất khẩu ôm đàn guitar chơi “bốc” nhất. Những năm sau này mỗi lần họp mặt truyền thống Duyên Hải vào dịp cận Tết Nguyên Đán, những “lính già ngày xưa” như Hồ Văn Ngon cựu Bí Thư Huyện Ủy, như anh Tư Tình bên xây dựng, ông Vui bên tòa án, anh Dương Độc Lập bên giáo dục, anh Hợp bên văn hóa, các vị khác bên các ngành khác… trong cơn say chếnh choáng thường bất chợt nổi hứng cất giọng đồng ca bài PHẢN TỐNG BIỆT HÀNH để kỷ niệm những ngày gian khổ cùng nhau…

    PHẢN TỐNG BIỆT HÀNH

    Đi đến với những người hiếu khách
    Ngoài ba lô còn một cây đàn
    Ba lô để nhớ thời chân đất
    Cây đàn nghe sóng vỗ thênh thang

    Đưa người ta cứ đưa sang sông
    Không sợ tiếng sóng ở trong lòng
    Thâm Tâm lên núi thèm Tống Biệt
    Ta về biển mặn hóa dòng sông

    Nhích lại gần nhau nghe ngày xưa
    Chàng An Tiêm lãng mạn trồng dưa
    Có cô công chúa đi làm rẫy
    Con mắt to giống như em vậy

    Con mắt to thành mắt con thuyền
    Có người kéo lưới đợi thuyền lên
    Có người kéo lưới thương con mắt
    Mắt con thuyền… A, con mắt em

    Người biết bơi nhớ mùa nước nổi
    Lặn làm chi sặc sụa tâm hồn
    Quả dưa xẻ đặt trên đầu gối
    Em một đầu, ta một đầu : hôn

    Ừ thôi về biển ta về biển
    Con cá ra khơi, con chim liệng
    Chỉ e con sóng sớm bạc đầu
    Sợ hãi vì người xanh tóc đến

    Đã bảo trong ba lô có biển
    Không, sao cây sác mọc thành rừng
    Đã bảo trong cây đàn có biển
    Không, sao âm nhạc thở tình nhân

    Đừng hàm hồ nói : đất không chân
    Khi ngón mỗi người đều có móng
    Tóc biết bay và tay biết ôm
    Gió biết biển lúc nào xúc động

    Em có thể khóc chiều nay lắm
    Nếu ta vờ đánh mất cây đàn
    Ta có thể khóc chiều nay lắm
    Nếu biển vờ quên mất giòng sông

    Bài thơ PHẢN TỐNG BIỆT HÀNH không chỉ phổ biến ở đất Cần Giờ, nó còn được truyền khẩu trong giới văn nghệ trong nước lẫn giang hồ hải ngoại. Tôi đã có dịp được nghe một số ca sĩ Việt Kiều, trong đó có Duy Quang hát dù họ không hề biết tác giả và xuất xứ của bài thơ.

    Trong thời gian ở huyện đảo, tôi có lần âm thầm “cứu bồ” Nguyễn Thái Dương trong chuyến tham gia phái đoàn ủy ban huyện trên chuyến ghe đi kinh lý 7 xã. Số là Nguyễn Thái Dương lúc đó đang dạy học ở xã Bình Khánh, một xã thiếu tiện nghi về mặt giáo dục đến mức độ thầy giáo Nguyễn Thái Dương phải làm bài thơ nói về “một cô giáo phải cởi áo dài gói lại để bơi qua sông” dạy học. Hoàn cảnh cô giáo giữ bộ đồ khô ráo để bảo vệ tư cách sư phạm khi đứng trên bục giảng làm cảm động người đọc, nhưng không ai lưu tâm đến số phận nhà thơ sáng tác ra nó. Khi ghe ủy ban ghé lại xã Bình Khánh, tôi có nói với anh Bảy Câu mời Nguyễn Thái Dương lên chơi. Trên ghe có mặt anh Năm Cương bí thư huyện, anh Sáu Đông chủ tịch huyện, anh Dương Độc Lập trưởng phòng giáo dục huyện và nhiều đầu ngành chóp bu khác. Chúng tôi đã tổ chức một đêm thơ nhạc bụi đời dưới ánh trăng huyền hoặc và trong cuộc trà dư tửu hậu, tôi có nhắc anh Dương Độc Lập tạo điều kiện để Nguyễn Thái Dương trở về thành phố hầu phát huy năng lực chuyên môn của mình. Dĩ nhiên là ông trưởng phòng giáo dục đồng ý cái rụp.

    Ở Duyên Hải không chỉ có niềm vui mà còn quá nhiều những nỗi buồn. Nỗi buồn không phải từ chuyện thiếu thốn nước ngọt, chuyện ăn cơm tập thể thóc sạn nhiều hơn gạo trắng, chuyện đồn đại về xã đảo Thạnh An như một xã đảo “Ra Đô” bởi ngư dân trên đảo ai cũng đeo đồng hồ cao cấp Ra Đô nhờ “bán bãi” cho những kẻ vượt biên từ khắp nơi đổ đến. Nỗi buồn còn đến từ những buổi chiều lang thang ngoài hàng dương chứng kiến vô số xác người từ phao số 0 trôi dạt vào bờ. Trên bãi cát màu đen đặc sản của Duyên Hải, lần đầu tiên tôi biết được đàn ông chết trôi luôn nằm sấp còn đàn bà chết trôi luôn nằm ngửa, ngay cả cái chết cũng mang quy luật âm dương. Những cái chết của những chiếc ghe chở người vượt biên do bị lừa đảo, do bị sóng lớn nhấn chìm đã làm trái tim thơ của tôi chảy máu. Năm 1983 tôi chia tay vùng đất Cần Giờ qua bài thơ PHỐ ĐỘNG sau đây :

    PHỐ ĐỘNG

    Từ giã biển một năm văn xuôi
    12 tháng thi ca, 365 ngày kịch nói
    Ở đó ta làm diễn viên hay đến nỗi
    Mọi con cua đều mọc đủ hai càng
    Mọi con chim đều xòe ra đôi cánh
    Mọi con cá đều thở với hai mang

    Ta làm diễn viên sân khấu bình dân
    Người xem kịch chỉ cần mua chung rượu
    Với ông già, ta đóng vai nhập tửu
    Với trẻ con thì ta giả thánh hiền
    Với phụ nữ thì ta làm gì vậy
    Sao lại chàng ràng như gã Lã Phụng Tiên ?

    Từ giã biển một năm Điêu Thuyền
    12 tháng Thúy Kiều, 365 ngày Angiêlic
    Làm anh hùng còn có thời thấm mệt
    Huống chi ta làm đĩ đã rạc dài
    Về thành phố mà mua thêm son phấn
    Để thơ còn mình hạc với xương mai

    Về phố mà xem chữ mọc như cây
    Vườn mẫu giáo thành vườn ươm dũng sĩ
    Kế hoạch nhỏ còn hơn làm anh chị
    Tội chi xưng du đãng với biển kìa
    Về phố phen này đi tìm giấy vụn
    At hẳn được bằng dũng sĩ về khuya

    Về phố mà xem chữ lạnh như bia
    Khà một hớp là được khen tiên tiến
    Gái đẹp kinh thành đi đông như kiến
    Dí gót chân trên chiếc Cub mà lùa
    Về phố phen này lên đồ chững chạc
    At hẳn được quyền bán chúa buôn vua

    Về phố mà xem bạn cũ te tua
    Tụ tập bất minh bàn toàn chuyện mánh
    Đứa chơi nhạc, đứa vẽ tranh, đứa rảnh
    Kể tiếu lâm bậy bạ sống qua ngày
    Ta mang chút sóng lòng về cho phố
    Chưa như nhà thơ mà đã như thằng say

    Oi khi ta về đến phố phen này
    Là kiếp đĩ lại trở về với động…

    Trở về Sài Gòn tôi ngồi sửa xe vĩa hè với ông bạn giang hồ Phan Văn Bồng mà tôi đặt cho biệt danh là “Bế Văn Bồng” ngay ngã tư Trần Quốc Thảo – Điện Biên Phủ. Anh Bồng gốc con nhà võ Tây Sơn Bình Định trước 1975 tham gia các lực lượng yêu nước xuống đường đấu tranh cho dân chủ hòa bình. Anh rất mê bốn câu thơ xuất phát từ phong trào : “Hàng loạt đứng lên – Bạo tàn sụp đổ – Thế mới biết chuyện vang lừng kim cổ – Là của đám người không tuổi không tên”. Một con người mê sức mạnh của nhân dân là như thế nhưng sau 1975 cũng chính anh ngao ngán thốt lên hai câu thơ : “Khi nguy thì gọi công thần – Lúc lên chín bệ xa dân trùng trùng”. Tôi chơi thân với anh từ chí khí đó. Tại điểm sửa xe mỗi ngày tôi chứng kiến biết bao nhiêu chuyện khổ đau của kiếp người. Chỉ cần một tai nạn giao thông xảy ra trên đường là đủ thấy hậu quả nhãn tiền của một xã hội duy vật thực dụng. Mọi người hầu như bỏ mặc nạn nhân hấp hối để lo tiếp thị thu hoạch lợi tức cá nhân. Bài thơ như một sự cảnh báo tiên tri về hiểm họa mà ông Phan Văn Khải gọi là sự “vô cảm” của con người sau này :

    THỜI CỦA THÚ

    Ở một thời kỳ mà xe đụng ngoài đường
    Xác người chết được đem lên bàn mổ
    Mọi người xúm nhau như ong vỡ tổ
    Chợ trời lăng xăng quảng cáo thuốc Tây
    Gã sửa xe chuẩn bị túi đồ nghề
    Chiếc mỏ lết há hàm răng chó sói
    Xe xích lô nối đuôi cười khiêu gợi
    Chiếc nệm ăn mày thủng cả lò xo
    Những con thú đói bu quanh con thú không no
    Húp lẫn nhau chút bơ thừa sữa cặn
    Ở một thời kỳ mà trái tim đi vắng
    Nợ áo cơm làm thủng mắt con người…

    Tại ngã tư nghiệp chướng này tôi đã tái ngộ vô số bạn hiền. Có lần gặp lại Lưu Ngũ (tác giả cuốn VŨNG LẦY) đoạt giải thưởng Văn Học Thành Phố cùng với tôi, Trần Mạnh Hảo, Lê Văn Vọng, Vũ Quần Phương, Lương Minh Cừ, Nguyễn Mạnh Tuấn, Đào Hiếu, Lê Duy Hạnh, Trương Quốc Khánh… một giải thưởng danh giá nhất thời đó. Khi gặp nhau Lưu Ngũ liền rủ tôi về khu Ông Tạ làm kẹo bán kiếm tiền độ nhật. Lưu Ngũ tên thật là Luật có biệt danh Sáu Vạng không phải dân anh chị chuyên nghiệp như đám anh em Sơn Đảo, nhưng về mặt đụng độ giang hồ cũng thuộc diện đáng gờm bởi thiên hạ đồn là anh “Vạng” đủ sáu cái cho địch thủ đo ván mới ngưng. Qua anh, tôi giao du thêm với Ba Đen, đại ca thứ dữ từ vùng Hải Sơn, Bà Rịa Vũng Tàu. Ba Đen tướng tá hộ pháp như Lý Quỳ trong Lương Sơn Bạc là con người trọng nghĩa khinh tài, làm phi vụ được đồng nào là bay xuống Sài Gòn chơi hết với anh em đồng đó. Chính anh đã tài trợ cho đám anh em văn nghệ sĩ mạt lộ chúng tôi thành hình một xưởng kẹo. Xưởng kẹo được đặt ở sau nhà Lưu Ngũ. Công đoạn làm kẹo khá rắc rối tôi không tham gia, chỉ thấy đạo diễn Hồ Ngọc Xum và thi sĩ Trần Mạnh Hảo xỏ bao nilông bảo vệ hai bàn chân, nhảy lên đống kẹo khổng lồ dùng chân nhào nặn liên tục. Khi kẹo thành phẩm Lưu Ngũ phân công tôi và hai nhạc sĩ Nguyễn Hải, Lã Văn Cường đi bán bỏ mối. Thuở ấy anh em thương nhau đẹp đến nỗi trong cuộc chơi lúc tôi quá đuối không còn sức đọc thơ thì đàn anh Mặc Tuyền hoặc thi sĩ đàn em Đoàn Vị Thượng thế vai. Phải nói rằng Mặc Tuyền ngâm bài thơ QUÁN BÊN ĐƯỜNG của Minh Phẩm (tức Trang Thế Hy) và bài thơ TIỀN VÀ LÁ của Kiên Giang làm chúng tôi “phê” tới bến. Còn Đoàn Vị Thượng thì lém lỉnh vàsắc sảo. Thượng được nhiều người biết với bài thơ BỤI PHẤN tuy nhiên họ Đoàn lại thành công trong bàn rượu với bài ĐẤT VÀ NƯỚC được anh em vỗ tay khen ngợi. Hồi đó bằng uy tín cá nhân, tôi là người thu hoạch tài chánh cao nhất từ nghề bỏ mối kẹo. Tôi xông đến tất cả những cơ sở kinh tế của Thành Đoàn chào hàng và hầu như được các chủ quầy thực phẩm ôkê nhận kẹo trước, trả tiền sau. Tiền kẹo đem về Lưu Ngũ chỉ nhận tuợng trưng, thông thường cho tôi xài thả cửa. Bài thơ BÁN KẸO ra đời trong khoảng thời gian ấy. Bài thơ viết về cảnh ngộ của vợ chồng Lưu Ngũ :

    THƠ BÁN KẸO

    Ta sinh ra chưa hề hảo ngọt
    Quen đắng cay hơn uống nước đường
    Chắc tại đời ta như giấy bóng
    Nên lâu lâu gói kẹo đỡ buồn

    Hãy ngậm vào mồm đi các em
    Kẹo ta bán vốn chẳng cần nhãn hiệu
    Kẹo còn trinh tiết ta gọi là kẹo kéo
    Ngắt một ngón tay chỉ tốn có 5 hào
    Khi hút thuốc lào và nói chuyện tào lao
    Mời các em mua ngay phong mè xửng
    Kẹo dành lai rai là kẹo nhiều đậu phụng
    Ta chưa quốc doanh nên giá cả rẻ tiền
    Kẹo chuối, kẹo dừa ngọt lắm đó các em
    Ngậm cho chặt để lưỡi đừng lắt léo

    Bạn bè ta và vợ ta bán kẹo
    Chỉ mình ta thích hợp với “kẹo đồng “
    Chính vì thế các em nên mua kẹo
    Để mỗi ngày gỡ bựa dưới chân răng…

    Không xa nhà Lưu Ngũ là nhà Bùi Đại Bằng, một đàn anh bất phùng thời ở khu Ông Tạ. Mỗi lần nhậu nhẹt chúng tôi thường kéo qua nhà anh chơi tít cung mây. Bùi Đại Bằng mới lấy vợ là một hiền thê có chữ nghĩa hằng ngày cùng với anh ra chợ ngồi bán cá. Hai vợ chồng bán đủ các loại cá đồng, cá biển nhưng mỗi khi tôi xuất hiện là họ để dành một đống ruột cá lóc làm mồi nhậu đãi nhà thơ. Dân có máu Thủy Hử cụng ly nhau nhiều khi nước mắt ứa ra vì thời thế. Tôi có làm bài thơ BÁN CÁ an ủi vợ chồng họ như Hàn Tín an ủi bữa cơm Phiếu Mẫu :

    THƠ BÁN CÁ

    Đến nhà gặp bạn hiền bán cá
    Cá rô, cá sặc, cá thòi lòi
    Mà ta thì vốn thằng láu cá
    Thấy cá là chỉ muốn nướng trui

    Thấy cá là lại thèm một xị
    Ít ly y lít với bạn hiền
    Cuộc sống chẳng qua toàn mộng mị
    Ma quỷ còn đá cá thần tiên

    Vậy thì ta chính là ma quỷ
    Bắt cá hai tay thú lẫn người
    Vậy thì bạn chính là tiên thánh
    Bán cá cần chi sợ hổ ngươi

    Trên thớt, cá thách người dám cá
    Vây giương mắt trợn nhớ ao hồ
    Nếu ta nằm thớt như tôm cá
    Đã chắc gì dám nhớ tự do

    Tự do bị đắm ngay trên cạn
    Bạn ta thành cá mắm chợ đời
    Vua quan sắm giỏ đi mua bán
    Mắt bạn buồn như mắt cá tươi

    Mắt bạn buồn như bầy cá lóc
    Nhớ kênh thuơng rạch đến bao giờ
    Mắt vua chúa như bầy cá mập
    Phơi nắng bao giờ mới hết khô

    Tại bạn lắm nghề nên lắm nghiệp
    Hết bán gạo xong đến bán nhà
    Bán nhà đâu sướng bằng bán cá
    Xưa Thúy Kiều còn phải bán “bar”

    Bán bar thì vốn nòi con gái
    Gà trống nuôi con bán cái gì
    Chẳng thà bán cá hơn bán nước
    Bán lỗ dư mồi nhậu mới nguy

    Đói bụng ca ngay bài con cá
    Sẽ được no hơi cá hóa rồng
    Mấy ai đã dám xưng vương bá
    Nếu thiếu thời không vượt vũ môn

    Tôi làm nghề gì cũng tài tử. Bán kẹo chừng nửa năm thì gia nhập vào thế giới ve chai. Hồi đó ở Sài Gòn tụ điểm bia nổi tiếng nhất là công viên Tao Đàn, nơi những chiếc xe xì tẹc phun vòi bắn bia như suối. Hai chữ “Tao Đàn” xuất xứ từ nhóm thơ quý tộc “Tao Đàn Nhị Thập Bát Tú” của ông vua thi sĩ Lê Thánh Tôn sau 1975 biến thành nơi quy tụ giới võ lâm hắc bạch y chang như Quang Minh Đỉnh trong Tiếu Ngạo Giang Hồ của Kim Dung. Bá tánh tha hồ xếp hàng hoặc tan hàng dành từng phiếu tích kê, cự nự làm quen, nhìn mặt bắt hình dong kết nghĩa giang hồ. Những kẻ có dòng máu chịu chơi Lý Bạch tha hồ cụng ly chan chát với vô số đồng nghiệp từ Nam chí Bắc. Khó mà điểm danh hết các hiền sĩ còn sống hoặc ra người thiên cổ ở trung tâm bia bọt Tao Đàn. Chỉ biết rằng tại Tao Đàn tức “Tan Đào” hễ tan trận là đào tẩu một mạch. Thiên hạ đào tẩu với đủ mọi lý do của họ : Người lộng ngôn bừa bãi, kẻ coi trời bằng vung lỡ mượn rượu phát ngôn rút lời không kịp. Ở trung tâm luôn có sẵn các Mạnh Thường Quân yêu mến văn nghệ túi tiền rủng rỉnh sẵn sàng ngây người nghe lời vàng ngọc từ những nhà thơ giang hồ bất đắc chí xuất khẩu thành thi, những nhạc sĩ coi “tứ xứ là nhà” búng guitar, hát nhạc dân gian điệu nghệ hơn xa tỉ ca sĩ trên sân khấu. Một trong những tửu khách xuất hiện thường xuyên là chủ quán Trống Đồng kiêm thi sĩ Vũ Trọng Quang hay nhái Bình Ngô Đại Cáo một cách hào sảng : “Dẫu tiền bạc lúc có lúc không – Song dân nhậu thời nào cũng có”. Quán Trống Đồng hiện giờ không còn nữa nhưng thuở đó tọa lạc ở góc Lý Tự Trọng – Cách Mạng Tháng Tám về sau chuyển về số 5 Lê Quý Đôn. Một trong bốn chủ quán là Vũ Trọng Quang biệt danh Điền Bá Quang, kẻ mê ni cô Nghi Lâm trong Tiếu Ngạo Giang Hồ nhưng không “ngâm ly” mà biết dụ khị tửu khách ghé quán bằng hai câu thơ tiếp thị do chính anh sáng tác :

    Mời người và rượu cùng nhau
    Bốn phương là chỗ rót vào đầy ly

    Những lúc ấy tôi chỉ biết đáp lễ bằng một bài thơ “điệp ngữ” như sau :

    Lít đầu chỉ thấy sương sương
    Lít hai thấy lửa táp sườn riu riu
    Khơi khơi chục lít sáng chiều
    Đến khuya đứng dậy chân xiêu tà tà

    “Xiêu tà tà” có nghĩa là “ta xìu xìu” quắc cần câu chứ còn phải hỏi. Tại Tao Đàn Nhị Thập Bát Tú không chỉ có 28 ngôi sao mà có đủ 108 tửu khách Lương Sơn Bạc lừng danh. Tại đây dân nhậu có thể chứng kiến Trần Quang Lộc say xỉn đội xô đá trên đầu xông đến bàn Trịnh Công Sơn, Đinh Cường, Miên Đức Thắng, Rừng, Nguyễn Trọng Khôi… quậy tá lả. Tại đây những cuộc xô xát xảy ra như cơm bữa giữa văn nghệ sĩ hai miền bằng nước bọt lẫn nắm đấm. Tôi khó mà kể hết những lần can thiệp hoặc tham dự của chính tôi vào những cuộc dâu bể đó. Thực ra tôi đến Tao Đàn dưới sự chi viện của nhiều băng nhóm khác nhau. Lúc thì đi với băng họa sĩ Khánh Trường, lúc thì đi với anh em Long Gỗ, lúc thì đi với anh em Lâm Cầu Kiệu, lúc thì đi với băng Bến Tre của Mặc Tuyền, băng điện ảnh giang hồ của Lý Huỳnh, Hồ Ngọc Xum, Lê Chánh, Robert Hải, lúc thì đi với các triết sĩ Đông Phương Huệ, Trụ Vũ, Nguyễn Tôn Nhan, Hoàng Ngọc Tuấn, có lúc gầy sòng với đám xích lô, sửa xe vĩa hè bụi bặm… Nói chung sự có mặt của tôi như là một niềm vui thi ca truyền khẩu không thể thiếu của anh em. Tại đây tôi quen với Sơn Quăn, một họa sĩ ẩn dật kiêm Đầu Lĩnh giới ve chai và Nguyễn Ước, nhà nghị luận phê bình nghiên cứu văn học kiêm Thừa Tướng ve chai có một con mắt giả bịt miếng da đen như hải tặc. Sở dĩ tôi phải kể tên Sơn Quăn và Nguyễn Ứớc vì hai anh có bụng “lân tài” nghĩa khí. Hai anh mỗi lần trúng mánh bất cứ phi vụ “phân kim” hoặc “đồ cổ” đều hú tôi một cách trân trọng. Tôi chỉ có thể tạ ơn hai anh bằng bài thơ HÀNH VE CHAI rất phổ biến lúc đó qua một nhạc sĩ giang hồ phổ nhạc.

    HÀNH VE CHAI

    Anh em ta đi bán ve chai
    Thằng thì chột mắt, đứa cụt tay
    Râu tóc để lâu thành võ hiệp
    Tráng sĩ mà ưa nhắm thịt cầy

    Thực ra anh em ta đẹp trai
    Không đẹp trai sao bán ve chai
    Cái nhìn giá trị ngang vàng xịn
    Con mắt nheo là hốt tiền xài

    Ê, vua quan cũng đói dài dài
    Bởi vì không biết bán ve chai
    Tô Tần miệng lưỡi xem còn kém
    Gã Kissinger cũng ớn tài

    Mà thiên tài hay họa thiên tai
    Tiếng gào mưa nắng chợ ve chai
    Buổi trưa gân cổ dường như đắng
    Cốc rượu chửa vơi đã rót đầy

    Nước mắt ứa ra cơ hồ cay
    Nước cay thành đế nhậu lai rai
    Anh em ta đọc thơ sang sảng
    Bài thơ buồn như đời ve chai

    Anh em ta tiếp tục ve chai
    Thằng thì cởi gió, đứa đạp mây
    Chân không mà ngỡ đi xe đạp
    Áo mão đầy hai túi xách tay

    “Tiền cổ, tiền xưa, tiền cắc đây”
    Tiền nhiều ắt nặng cả hai vai
    Thương Cao Bá Quát đời luân lạc
    Mượn giang hồ mà tởm cân đai

    Gặp nhau không cần coi lịch ngày
    Ai đội mũ rơm chân mang hài
    Lại đây cùng uống quốc doanh tửu
    Gặm đậu phụng rang mà nghe say

    Liêm sĩ nằm trong túi xách này
    Còn tiền, du đãng cũng bô trai
    Đàn bà con gái còn… đi ngựa
    Thế thì ta tiếp tục ve chai !

    Mà đời ve chai đáng buồn thật. Lên voi trong bàn nhậu nhưng xuống chó ngay trong cuộc đời. Tôi đã từng ăn dầm ở dề ngôi nhà trọ trong Xóm Nhà Đèn của cặp vợ chồng nghệ sĩ ve chai Trịnh Nghĩa và cô Hiền. Trong thế giới ve chai, Trịnh Nghĩa chỉ là thần dân không có vai vế, nhưng anh là một nhạc sĩ tài hoa từng phổ nhạc một bài thơ rất thành công của một thần dân ve chai khác là Trần Dzạ Lữ. Anh cụt một ngón tay trỏ do tự hủy hoại để trốn lính mà búng guitar vẫn điệu nghệ. Phu nhân anh là cô Hiền một người đẹp thủy chung dám bỏ gia đình dấn thân cùng anh và đặc biệt hát rất hay. Tôi biết được những bài hát thất truyền từ thời tiền chiến chính là nhờ cặp vợ chồng Nghĩa, Hiền biểu diễn. Đến giờ này tiếng hát khàn đục đặc biệt của cô Hiền vẫn còn ám ảnh tôi. Tôi có làm một bài thơ nói về cảnh ngộ không hộ khẩu sống rày đây mai đó của gia đình họ. Xin chép ra đây cho các bạn thưởng lãm :

    CĂN NHÀ NẰM MƠ

    Anh sẽ lợp căn nhà
    Đơn sơ vài vật liệu
    Kèo cột không đi tiểu
    Lên trí tuệ con người
    Anh cần chiếc giường đôi
    Hai đứa mình cùng thở
    Chia nhau nỗi xấu hổ
    Mà ông bà cắn răng

    Đất nước bốn ngàn năm
    Rộng dài như văn hiến
    Đêm anh đi thấy điếm
    Lợp nhà cạnh gốc cây
    Ngày thấy lũ con lai
    Căng lều nơi xó chợ
    Vợ chồng mướn nhà trọ
    Yêu nhau như ngoại tình

    Căn nhà vừa tượng hình
    Đã tan theo cơn đói
    Anh dẫn em lên núi
    Không đủ giấy tờ về
    Anh dắt em thăm quê
    Định làm chàng Tô Vũ
    Định làm một gã hề
    Ngôi nhà không bảng số
    Anh lợp hoài trong mê

    Trời sinh anh yêu em
    Mà không sinh hộ khẩu
    Con chim có chỗ đậu
    Con chó có nơi nằm
    Anh và em lưu vong
    Như người không quốc tịch
    Đất nước giàu diện tích
    Cho châu chấu cào cào
    Có đâu nghèo lý lịch
    Với những người yêu nhau ?

    Kỷ niệm về vợ chồng Nghĩa, Hiền và những cặp vợ chồng nghệ sĩ khác như họa sĩ Rừng tức nhà văn Kinh Dương Vương đã khiến tôi bị “sốc” nặng. Tôi còn nhớ lúc Hiền sinh đứa con thứ hai trong nhà không có sữa bò để uống cũng như lúc chị Vân vợ của học sĩ Rừng sinh xong rồi không biết gửi con học Mẫu Giáo ở đâu bởi vì một lý do đơn giản : Không hộ khẩu. Trong khi hàng ngày trên báo chí không ngừng đưa tin về những ông to bà lớn, những con ông cháu cha thế hệ kế thừa đua nhau vào vũ trường, nhà hàng, tụ điểm cờ bạc ăn chơi. Bước sang năm 2008 còn tìm cách tống khứ dân nghèo lẫn thiên nhiên đi chỗ khác để xây dựng những sân gôn cho đám nhà giàu giải trí, những cung điện dành cho các cuộc thi Hoa Hậu của lũ quý tộc mới. Bao hình ảnh nhức nhối đó đập vào mắt khiến tôi bật thành thơ như sau :

    HẾT Ý KIẾN

    Các ngươi ăn ở sao khôn vậy
    Bóc lột ngay từ lúc cởi truồng
    Bốn hộp sữa mỗi lần sinh đẻ
    Thảo nào con nít bệnh còi xương

    Thảo nào con nít quen moi rác
    Tập ngửi mùi hôi để trưởng thành
    Lỡ sau khôn lớn làm thủ trưởng
    Cũng quen mùi thum thủm công danh

    Thảo nào con nít quen dắt mối
    Tập bán trôn nuôi miệng kiếm lời
    Lỡ sau khôn lớn làm lãnh đạo
    Cũng rành “ba mươi sáu kiểu chơi”

    Thảo nào con nít quen nói láo
    Tập giống bề trên cách uốn mồm
    Lỡ sau khôn lớn làm nhà báo
    Viết đói thành no dễ kiếm cơm

    Tiền ? Ngươi nói “Ngân Hàng Nhà Nước”
    Tù ? Ngươi cho “Tòa An Nhân Dân”
    Chao ơi, tiền bạc dành ông lớn
    Còn cùm gông tặng kẻ rách quần

    Suốt năm 1984 tôi đi khắp bốn vùng chiến thuật. Lưu diễn Bảo Lộc với đạo diễn sân khấu Trần Văn Hưng khi Hưng kéo đội tinh binh văn nghệ lên cao nguyên phục vụ Công Ty Chè của ông Năm Lửa. Trong phái đoàn bao giờ tôi cũng lãnh nhiệm vụ đọc thơ tiên phuông. Tôi biến thành một thứ gạch nối cần thiết gom bạn bè tứ xứ. Tại Blao tôi được Trung Họa Sĩ người địa phương dẫn đường lên núi Đại Lào thăm kẻ sĩ Nguyễn Đức Sơn ở ẩn. Như đã đề cập từ phần đầu GIAI THOẠI CỦA THI SĨ, nhà thơ Nguyễn Đức Sơn theo tôi là một trong “tứ trụ thi ca” của miền Nam trước giải phóng. Ba vị kia là Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên. Thực ra ngoài bộ tứ vừa nêu, còn một nhân vật kiệt hiệt khác mà tôi rất hâm mộ, đó là Phạm Công Thiện, một triết gia kiêm thi sĩ từng là thần tượng của thế hệ sinh viên học sinh theo chủ thuyết hiện sinh tại Sài Gòn trước năm 1975. Triết gia Phạm Công Thiện nghe đồn từng đi tu và sau năm 1975 chu du khắp thế giới, chơi với văn hào Hy Lạp Nikos Kazanzaki tác giả ALEXIS ZORBA, CON NGƯỜI CHỊU CHƠI. Ông còn gặp Đạt Lai Lạt Ma và có thời gian ẩn sĩ ở An Độ, Tây Tạng. Chung quanh con người họ Phạm có quá nhiều giai thoại, riêng tôi chỉ biết ông qua tác phẩm NGÀY SINH CỦA RẮN. Chỉ cần qua NGÀY SINH CỦA RẮN tôi đã liệt ông như Trung Nguyên Vương Trùng Dương giữa bốn vị Bắc Cái Bùi Giáng, Nam Đế Thanh Tâm Tuyền, Đông Tà Tô Thùy Yên và Tây Độc Nguyễn Đức Sơn y chang như truyện chưởng Kim Dung VÕ LÂM NGŨ BÁ. Là một ngòi bút phong trào tranh đấu cho một lý tưởng hoàn toàn khác, tôi quyết định “ấn chứng võ công” với Phạm Công Thiện tiên sinh bằng bài thơ NGÀY SINH CỦA NGỰA, đơn giản vì tôi tuổi Giáp Ngọ. Tôi đã đọc bài thơ này cho Phạm Trung Cang (em trai Phạm Công Thiện) những năm đầu giải phóng tại một điểm sách dạo dọc đường Lê Lợi, khi ông Cang bán sách chợ trời ở đó. Xin mạn phép chép bài thơ ấn chứng ấy ra đây cho bạn đọc thưởng lãm. Cũng cần nhắc lại là bài thơ NGÀY SINH CỦA NGỰA bất ngờ được đăng trên báo Văn Nghệ Trung Ương như là một trong vài bài thơ phá lệ hiếm hoi của Ban Biên Tập thời đó:

    NGÀY SINH CỦA NGỰA

    Ngày ta sinh ra Nguyễn Huệ đã băng hà
    Nên con ngựa tử vi không người cưỡi
    Ta sút chuồng phá bỏ yên cương
    Lặng lẽ ruỗi đời mình lên núi

    Ngày ta sinh ra rừng không ai biết tới
    Chỉ có cỏ cây hoa lá tầm thường
    Ta đi đến đâu, chỗ ấy thành đại thụ
    Đại thụ sinh rừng, rừng sinh nở mùi hương

    Ngày ta sinh ra bầy rắn đã rung chuông
    Định lấy nọc để phân ranh trời đất
    Khí hạo nhiên ta dựng cứng bờm
    Lấy nhân nghĩa để phân ranh lành, độc

    Chỉ có cô đơn mới đủ làm ta khóc
    Tiếng khóc của ta là tiếng hí của người
    Ta không biết ta là người hay ngựa
    Chỉ một mình Nguyễn Huệ hiểu ta thôi !

    Lên Đại Lào ngoài việc thù tạc thi ca với nhau, Nguyễn Đức Sơn còn giới thiệu tôi rừng thông ngút ngàn phủ kín khu đồi trọc liên hoàn mà ông trồng thí nghiệm. Công việc trồng thông của ông nặng nhọc và bị trả giá đắt đến nỗi phải mang thương tích đầy người bởi băng nhóm Hà Sơn Bình tranh giành đất đai ám hại. Bi kịch trên sau này được tôi đưa vô tiểu thuyết YỂU ĐIỆU THỤC NỮ và đổi bút hiệu ngày xưa của ông là “Sao Trên Rừng” thành nhân vật “Thông Trên Núi”. Thời gian ngắn ngủi ở Bảo Lộc giúp tôi sáng tác bài thơ BLAO đăng trên báo Văn Nghệ Thành Phố và đoạt giải Thơ Hay ngay năm đó :

    BLAO

    Em có giống Blao không em ?
    Đón anh đừng đóng cửa cài then
    Bằng không anh biến thành bông giấy
    Mọc tỉnh bơ ngay phía trước thềm
    Em có giống Blao không em ?
    Ngắt anh đừng nỡ ngắt trong đêm
    Bằng không anh biến thành trái bắp
    Cắn vào răng em để bắt đền

    Em có giống Blao không em ?
    Vất anh đừng vất ở ngoài hiên
    Bằng không anh biến thành con muỗi
    Chờ dịp giường em bị hở mền

    Em có giống Blao không em ?
    Đập anh đừng đập bẩn tay tiên
    Bằng không anh sẽ nằm huýt sáo
    Suốt mùa thu như chú dế mèn

    Là phải giống Blao nghe em
    Chiều, mưa một chút để anh thèm
    Tối, sương một chút cho anh nhớ
    Một chút gì như thể áo len

    Là phải giống Blao nghe em
    Làm duyên một chút để anh hiền
    Dịu dàng một chút cho anh sợ
    Một chút gì anh sẽ buốt tim…

    Trên thực tế bài thơ BLAO không phải là bài thơ tình thích nhất của tôi. Một bài thơ khác phổ biến hơn là bài thơ mang tên THIẾU NỮ. Bài thơ THIẾU NỮ gây tiếng vang mạnh đến nỗi tôi đi đến bất cứ đêm thơ của trường đại học, trường trung học, đơn vị quân đội, nông trường thanh niên xung phong, công trường lao động tập thể nào cũng đều được công chúng trẻ tuổi yêu cầu phải đọc bài thơ đó. Trong một cuộc thăm dò đột ngột của các thầy cô dạy văn một trường điểm cấp ba ở Tân Bình, hầu như trong sổ tay hoặc nhật ký của học sinh đều có chép bài thơ THIẾU NỮ. Bài thơ được lan tỏa trong nước lẫn hải ngoại nhờ sự cộng hưởng của các nhạc sĩ phổ nhạc. Trong nước tôi chỉ được biết nhạc sĩ Nguyễn Hiệp và một nhạc sĩ không quen biết ở Pleiku phổ rất có duyên. Còn ở nước ngoài, qua những băng đĩa bán lụi mang tên “HỀ XUÂN” phát hành lậu trong nước vào dịp Tết, bài nhạc phổ thơ được hát một cách nghịch ngợm bởi một nam ca sĩ trẻ mà tôi không biết tên biết mặt. Cả tên nhạc sĩ cũng không ghi.

    THIẾU NỮ

    Cô gái ơi, anh nhớ em
    Như con nít nhớ cà- rem vậy mà
    Như con dế trống đi xa
    Một hôm nhớ đến quê nhà gáy chơi
    Con dế thì gáy một hơi
    Riêng anh gáy hết một thời con trai
    Tiếng gáy bò lên lỗ tai
    Làm em nhột suốt một ngày một đêm

    Cô gái ơi, anh nhớ em
    Như má lúm nhớ đồng tiền đúng chưa ?
    Như cà chớn nhớ cà chua
    Như da em nhớ da- ua ngọt ngào
    Cái nhớ nhảy qua hàng rào
    Không thèm đăng kí cứ nhào vô anh
    Xô ra thì thấy không đành
    Nên anh ôm lấy rồi canh giữ hoài
    Con kiến còn nhớ củ khoai
    Huống chi tóc ngắn tóc dài nhớ nhau

    Nhớ nhau không biết để đâu
    Nếu để trên đầu sợ tóc che đi
    Để trong túi áo cũng kỳ
    Lỡ đi đường rớt lấy gì chứng minh
    Chi bằng giả bộ làm thinh
    Hét lên “nhớ quá” một mình nghe chơi !

    Rời cao nguyên xuống đồng bằng bất ngờ tôi được linh mục Hiền, một linh mục trẻ có cái nhìn cấp tiến mời đọc thơ và nói chuyện về thơ tình trong Mùa Chay tại nhà thờ Tân Định. Trước khi biết linh mục Hiền, ngay từ tháng 5 – 1975 tôi đã viết bài trên báo Công Giáo Và Dân Tộc và thân thiết với nhiều anh em trong tòa soạn, trong đó có hai linh mục tranh đấu nổi tiếng là Trương Bá Cần và Huỳnh Công Minh. Linh mục Trương Bá Cần tác giả loạt bài “Hai mươi năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc” đăng trên tạp chí Đối Diện trước giải phóng được tôi thân mật gọi là “bố “, còn linh mục Huỳnh Công Minh có khuôn mặt hơi giống Che Guevara lúc để râu được tôi gọi là “anh Ba Râu”. Mỗi lần ghé tòa soạn, tôi thường được Bố Cần và anh Ba Râu ủy lạo tinh thần lẫn vật chất bằng phong bì dằn túi cho những ngày lang bạt sắp tới. Thực ra tôi còn vài lần tiếp xúc với một linh mục nổi tiếng khác là linh mục Nguyễn Ngọc Lan tác giả loạt bài “Cho cây rừng còn xanh lá” trên các nhật báo đối lập thời chính quyền cũ. Tuy nhiên tình thân không thể bằng hai linh mục Huỳnh Công Minh và Trương Bá Cần..

    Trở lại chuyện linh mục Hiền mời đọc thơ tại nhà thờ Tân Định trước hàng trăm thanh niên nam nữ vốn quen thuộc với kinh nhật tụng và thánh ca. Lần đầu tiên tôi đã làm một chuyện động trời là kể chuyện cuộc đời giang hồ lãng tử “xa Chúa gần ma quỷ” của tôi và minh họa bằng những bài thơ tình. Cuộc nói chuyện thành công đến mức mọi người quên hết giờ giấc. Tôi còn nhớ bài thơ ĐIỀU RĂN THỨ 11 đọc kết thúc trong đêm đó :

    ĐIỀU RĂN THỨ 11

    Em đã thờ phượng bầu trời
    Bằng điều răn thứ nhất
    Tôi cũng đã yêu thương mặt đất
    Bằng chín điều răn sau cùng
    Chúng ta cũng đã đợi nhau gần 30 năm
    Để bày tỏ tình yêu khác giống
    Trong khi nhân loại đã đợi nhau 1984 năm
    Tiến về hang đá Bêlem để làm người gác cổng

    Chúa không muốn tôi thành con lừa
    Người cho tôi chân tay, mặt mũi
    Chúa rất muốn em là con gái
    Để sau này có nhẫn cưới đeo tay
    Tôi đã yêu em một cách rất con trai
    Như Adam yêu Eva lịch sự
    Có thể toàn bộ xương sườn tôi cứng chứ
    Nhưng phần xương cụt mất đi lại mềm mại hiền lành
    Phần xương ấy mang nỗi buồn Đức Mẹ
    Tan lễ nhà thờ, môi biết gọi : anh, anh…

    Chúa không trực tiếp dạy chúng ta đọc kinh
    Nhưng tôi và em đã thành lời cầu nguyện
    Chúng ta yêu nhau nhỏ như hai con kiến
    Lớn như hai con voi và vừa phải cỡ… con người
    Em đã dám thờ phượng bầu trời
    Bằng điều răn thứ nhất
    Thì làm sao tôi chẳng biết yêu thương mặt đất
    Bằng chín điều răn sau cùng

    Và tất nhiên chúng ta yêu nhau
    Chúng ta yêu nhau ở một góc địa cầu
    Thành phố ta ở chỉ lớn bằng dấu chấm
    Bên trong dấu chấm, năm triệu người đang sống
    Mới hai người yêu nhau, còn lại mấy triệu người
    Oi tôi hứa mãi yêu thương mặt đất
    Cho lòng em hằng nhớ tới bầu trời

    Đầu thập niên 2000 một linh mục khác là linh mục Siêu ( một huynh trưởng ngày xưa của tôi thời đi Thiếu Nhi Thánh Thể) cũng mời tôi đến nhà thờ Martino trên đường Nguyễn Thị Minh Khai quận 1 để nói chuyện và đọc thơ với công chúng trẻ họ đạo trong Mùa Chay. Tôi còn được “huynh trưởng” Siêu mời với nhiệm vụ tương tự tại nhà nguyện thuộc nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế ở đường Kỳ Đồng, quận 3. Tại hai nơi đó tôi đã làm đúng chức năng tông đồ lẫn thi sĩ dù bị đẩy vào hoàn cảnh bất khả kháng Cũng cần mở ngoặc đơn chỗ này, trên thực tế kể từ ngày lang bạt giang hồ, tôi giao du và chơi thân với các thượng tọa, đại đức bên Phật Giáo nhiều hơn bên Công Giáo. Tôi không hiểu tại sao nữa, chỉ biết rằng những bài thơ tôi đọc ra được một số vị chức sắc tôn giáo coi như một loại “công án” chứa dụ ngôn đạo lý răn đời. Trong phạm vi bài viết này tôi không thể kể hết những mối duyên kỳ ngộ của tôi với các bậc cao tăng ẩn sĩ khi cùng họ đàm đạo triết thuyết và thi ca thâu đêm. Chỉ đơn cử mối giao tình với thượng tọa Thích Tâm Khai, sư trụ trì chùa Diệu Pháp, ngôi chùa nằm cạnh con sông Đồng Nai được tôi đưa vô tiểu thuyết YỂU ĐIỆU THỤC NỮ với tên gọi là chùa Diệu Đế. Trong truyện, tôi đã cho họa sĩ kiêm người hùng ve chai Robert Bá học võ công nhà chùa. Còn ngoài đời thật, tôi và các anh Nguyễn Xuân Thượng, Trịnh Thanh Tùng, Tôn Thất Mạnh Tường, Nguyễn Hải, Sáu Đầu Rồng, Tư Đồng… rất nhiều lần gõ cửa chùa Diệu Pháp để được thượng tọa Thích Tâm Khai chiêu đãi. Thầy Thích Tâm Khai chính là người bảo trợ phong trào tranh đấu sinh viên học sinh đô thị trước giải phóng, tương tự như ni sư Huỳnh Liên. Các bạn thử tưởng tượng trăng thì sáng, mặt nước thì lung linh, tình nghĩa thì đầy tràn như men rượu. Sư trụ trì Tâm Khai ôm guitar hát ca khúc Da Vàng của Trịnh Công Sơn phục vụ anh em, còn tôi thay mặt huynh đệ giang hồ đọc thơ đáp lễ. Những bài thơ tứ tuyệt xuất khẩu thành thi ấy được tôi chép ngay trên vách tường nhà chùa bằng muội than kỷ niệm. Hiện giờ thượng tọa Thích Tâm Khai đã viên tịch, các anh Tôn Thất Mạnh Tường, Sáu Đầu Rồng, Tư Đồng cũng đã mất, không biết những bài thơ bút tích còn được các vị trụ trì đời sau lưu lại hay không ?

    TỨ TUYỆT DIỆU PHÁP TỰ

    Chúng sinh vô lượng kiếp
    Trần gian một chén đầy
    Đến thiền môn đổ hết
    Mở lòng làm… Tâm Khai !

    Năm 1985, chị Đỗ Thị Nghĩa tức Chín Ngân (vợ anh Năm Nghị) đang làm sếp Liên Hiệp Hợp Tác Xã Tiêu Thụ Mua Bán TP (tiền thân của hệ thống Coop Mart bây giờ) giới thiệu tôi xuống Cửa Hàng Tổng Hợp Thương Nghiệp Hợp Tác Xã TP tại 32 – 34 Tháp Mười, quận 6 làm việc vì không chịu nổi cảnh bấp bênh chìm nổi của tôi. Cửa hàng trên là một đơn vị kinh tế đang ăn nên làm ra trực thuộc dưới quyền chị. Tại đây tôi bắt đầu nghề nghiệp tréo cẳng ngỗng. Hết làm giám sát thi công coi xây dựng đến làm áp tải hàng hóa đường dài, thậm chí có lúc trực tiếp làm bốc xếp khuân vác nặng. Những công việc thuần túy máy móc đều đặn cho dù sinh ra tiền bạc nhưng hoàn toàn dị ứng với trái tim ngựa chứng bất kham của tôi. Nhiều người chỉ cần làm giám sát thi công chừng vài công trình là kiếm tiền bỏ ống như chơi nhưng tôi dù có được thả vô hủ gạo cũng không thể làm một con chuột gặm nhấm tài lộc được. Tôi không có năng khiếu tước đoạt của cải người khác. Lúc đó tôi có làm bài thơ ĐẰNG SAU NHỮNG QUẦY ĐỔI TIỀN nhân đợt đổi tiền toàn quốc thời điểm đó :

    ĐẰNG SAU NHỮNG QUẦY ĐỔI TIỀN

    Giữa thời kỳ mà tiền bạc chưa yên
    Giấy thiếu trữ kim bỗng biến thành giấy lộn
    Giữa thời kỳ mà thiên hạ đổi tiền
    Như đổi một hầu bao thiếu vốn

    Em đã đến cực kỳ khiêm tốn
    Mắt mở to cho túi của anh đầy
    Em đã đến không người đưa kẻ đón
    Nhoẻn miệng cười ngang giá trị “trăm cây”

    Vàng trong anh có từ lúc sơ khai
    Đợi em đến là trồi lên thành quặng
    Ngọc trong anh có từ lúc chào đời
    Đợi em đến là gia công thành nhẫn

    Hãy xòe hết cả bàn tay năm ngón
    Chỉ cho anh ngón áp út vợ chồng
    Để vàng ngọc của anh còn ý nghĩa
    Hơn những tờ bạc mới số 500

    Em đến làm anh trong suốt kim cương
    Mọi bá hộ trần gian đều khánh kiệt
    Tình yêu anh mở ngay tiệm kim hoàn
    Chứa một triệu cara dành em hết

    Giữa thời kỳ không lằn ranh thiện ác
    Đang đói meo anh chợt biết mình giàu
    Em rách vẫn thơm, anh nghèo vẫn sạch
    Thiên hạ đổi tiền, ta đổi đời nhau

    Tôi chia tay nghề “phi thương bất phú” vì một lý do lãng nhách. Một hôm trong giờ hành chánh tôi bị giám đốc Cửa Hàng là Bảy Định triệu tập lên văn phòng để gặp đồng chí Sáu Khôi, Trưởng Phòng Bảo Vệ An Ninh Văn Hóa (tức PA 25) của Sở Công An TP. Anh Sáu Khôi thì tôi chẳng xa lạ gì, cũng từ gốc Thành Đoàn như tôi, thuộc thế hệ đàn anh và chuyển qua ngành công an từ rất sớm. Anh làm việc với tôi bằng khuôn mặt khá trầm trọng. Đại khái anh cho tôi biết thơ tôi được đăng trên báo chí hải ngoại hơi bị nhiều và “công an văn hóa” phát hiện tôi vừa lãnh một thùng quà thuốc Tây của nước ngoài nhằm mục đích “trả công” cho những bài thơ đã đăng. Coi, quả thật vừa qua tôi có nhận một gói bưu phẩm từ trên trời rớt xuống ghi tên người gửi là “Bùi Thị Chín gửi từ Cali, USA”, dĩ nhiên là tôi ký nhận ngay. Sau khi tham khảo với mẹ hiền vốn dĩ là bà mẹ “gia đình có công cách mạng”, mẹ tôi đồng ý cho tôi ra chợ trời thuốc Tây Tân Định bán với giá một chỉ vàng, vì bà nghĩ rất đơn giản rằng “đã là họ Bùi gửi thì chắc là bà con với gia đình tôi”. Chuyện chỉ có vậy. Còn thơ ư ? Tôi là một thằng thi sĩ gần như trung tâm và chủ lực đọc thơ trong bàn nhậu trước đủ dạng quần hùng, trong đó có cán bộ lãnh đạo lẫn nhân dân đủ kiểu. Gặp người tri âm hoặc kẻ tâm đầu ý hợp về thơ, tôi sẵn sàng chép tay bài thơ vừa đọc mà họ ưa thích. Qua truyền khẩu, họ có thể thuộc lòng bằng trí nhớ hoặc bằng bản chép tay, và nếu họ vượt biên hay đi xuất cảnh hợp lệ thì chuyện sử dụng những bài thơ của tôi đăng báo chí hải ngoại thiết nghĩ cũng là chuyện phổ biến bình thường. Có khi sự phổ biến ấy góp phần vinh danh và không làm thui chột các tài năng xuất chúng trong nước. Vậy hà cớ gì tôi phải lo lắng khi biến thành một dạng “tội phạm” trong con mắt đầy đa nghi của một vị đàn anh từng quá hiểu con người trung thực của tôi lúc ở Thành Đoàn ?

    Tôi có nói với anh Sáu Khôi rằng “Nếu Việt Kiều Bùi Thị Chín gửi tiếp một thùng đồ nữa thì tôi vẫn nhận bởi nhà nước chưa hề tặng quà hay trả lương hoặc bồi dưỡng cho một gia đình công nhân nghèo khổ có tới 5 người làm cách mạng như gia đình tôi”. Tôi đã phải làm bản tường trình về những lần đọc thơ giang hồ, những bài thơ chống bất công xã hội đã làm, những mối quan hệ với các thi sĩ văn nhân trí thức. Bởi Sáu Khôi nói như đinh đóng cột : “Bùi Thị Chín không phải họ Bùi mà là Cao Thị Ngọc Phượng, vợ hay người tình gì đó của Thượng Tọa Thích Nhất Hạnh. Nhiệm vụ Cao Thị Ngọc Phượng là chuyển lửa về quê nhà, đón thuyền nhân vượt biên. Việc chọn gửi gói thuốc Tây cho Bùi Chí Vinh và vài văn nghệ sĩ nổi tiếng khác là nhằm ly gián hoang mang nội bộ”. Bút sa thì gà chết, nói năng thì phải uốn lưỡi bảy lần. Tôi được biết Cao Thị Ngọc Phượng là em ruột của chị Cao Thị Quế Hương (vợ liệt sĩ Nguyễn Ngọc Phương một sinh viên tranh đấu nổi tiếng của Thành Đoàn). Chị Cao Thị Quế Hương thời điểm đó đang đương nhiệm Tỉnh ủy viên, chủ tịch Hội Phụ Nữ tỉnh Lâm Đồng không hiểu sao anh Sáu Khôi lại không “gõ cửa” đồng chí của mình mà hỏi?

    Khi viết những dòng chữ này, trong thâm tâm tôi không hề hờn trách gì cử chỉ thái độ Sáu Khôi lúc đó. Anh làm Trưởng Phòng PA25, làm một mắt xích trong một guồng máy an ninh hoàn hảo, anh đương nhiên phải bảo vệ chiếc ghế của mình. Nhưng tôi chỉ giận anh lúc anh giao phó công việc viết bản tường trình của tôi vào mỗi buổi sáng cho những người khác tại Sở Công An suốt một thời gian dài. Tôi nhớ rằng mình bị “hỏi cung” tại căn phòng trên lầu cao có cửa sổ nhìn xuống mặt đất sâu hun hút. Có lần tôi nổi cơn thịnh nộ đấm tay vào ngực thình thịch sau tiếng chửi thề : “Hồi trước giải phóng M16 bắn tôi không chết chẳng lẽ bây giờ bị AK bắn chết”. Tôi còn hét lớn : “Ép tôi khai những gì không có, coi chừng tôi nhảy qua cửa sổ tự tử là quý vị phải chịu trách nhiệm ”.

    Thái độ liều lĩnh của tôi ít ra cũng có tác dụng. Những đợt thẩm vấn và triệu tập chấm dứt. Chấm dứt luôn công việc của tôi ở Cửa Hàng Thương Nghiệp HTXTP . Mà chấm dứt cũng phải, sau thời gian làm bốc xếp lao động quá nặng nhọc ở các kho của Cửa Hàng, tôi bị bệnh ho lao, mỗi ngày đều phải đến trạm y tế chích thuốc. Trong hoàn cảnh bệnh hiểm nghèo như vậy mà còn bị PA25 tra tấn tinh thần thì sức chịu đựng của tôi quả là một phép lạ. Tôi được tay giám đốc cho nghỉ lãnh lương dài hạn và tiếp tục chuỗi ngày lãng tử phiêu bồng. Sau này mấy lần tôi có gặp lại anh Sáu Khôi. Lần đầu tiên tái ngộ tại nhà Nguyễn Xuân Hàm, anh ruột Nguyễn Xuân Phổ tức nhà thơ phong trào Hàm Phố, bạn tôi. Lần đó nhân kỷ niệm sinh nhật Sáu Khôi, tôi có cao hứng đọc ghẹo anh hai câu :

    SÁU KHÔI có một KHỐI SÂU
    Bò ra lúc nhúc làm rầu nồi canh

    Tục ngữ nói “con sâu làm rầu nồi canh” chẳng sai. Tôi không ám chỉ Sáu Khôi làm rầu nồi canh mà muốn cảnh báo các nhân viên của sếp. Rằng ở đất nước Việt Nam đầy đau khổ này không có “địch”. Những kẻ căm thù thề không đội trời chung với chế độ cộng sản đã “gô” hết rồi. Trong nước chỉ toàn văn nghệ sĩ “sĩ khí rụt rè gà phải cáo” nơm nớp uốn cong ngòi bút vì sợ vi phạm chủ trương đường lối. Báo chí truyền thanh truyền hình thì nói cùng một giọng như được mặc đồng phục. Tìm được người làm thơ viết văn viết báo dám ăn dám nói đếm trên đầu ngón tay. Đã không biết trân trọng giữ gìn những kẻ sĩ “đối lập cuội” đó để làm “bình phong nhân quyền” mà lại còn sinh nghi theo dõi theo kiểu mật thám Gia-ve trong NHỮNG NGƯỜI KHỐN KHỔ của Victor Hugo thì thật là tự vạch áo cho quốc tế xem lưng ghẻ chóc. Nếu có “địch” thì đó chính là bọn tham nhũng hối mại quyền thế, bọn cơ hội chính trị tranh thủ mua quan bán tước, đội trên đạp dưới, luồn sâu leo cao... để hiếp đáp hãm hại nhân dân. Chính những kẻ làm ô danh Đảng đó mới là đối tượng, là địch để A25 và PA 25 theo dõi.

    Hai câu vè tạm gọi là thơ làm ghẹo anh Sáu không hiểu sao được đồn đại rất nhanh trong giới giang hồ văn nghệ và được biến cải như sau : “Sáu Khôi là một Khối Sâu - Bò ra lúc nhúc làm rầu nhân dân”. Những lần tái ngộ kế tiếp thì Sáu Khôi đã về hưu sau khi giữ chức Trưởng Công An quận 1. Thỉnh thoảng gặp nhau anh nhìn tôi với đôi mắt ngậm ngùi. Tôi không hiểu là anh thương tôi hay anh thương anh hay anh đang thương hai kẻ từng là cựu chiến binh Thành Đoàn lạc lỏng giữa cuộc đời duy vật do chính mình gây ra đây ?

    Hương Lan, người yêu tôi thường nói rằng “Anh là con cưng của Thượng Đế”. Thực vậy, mỗi lần bị đẩy đến chân tường là tự nhiên tôi “cùng tắc biến, biến tắc thông”. Trong thời gian rãnh rỗi, tôi tha hồ ngao du sơn thủy. Tôi chở em xuống Bình Dương chơi cùng với ông anh thi sĩ giang hồ bạt tụy Thùy Dương Tử và em ruột ông là ca sĩ bụi đời Nguyễn Hải. Có những lúc cặp Trần Mạnh Hảo và Tôn Nữ Giáng Tiên tháp tùng. Cũng cần mở ngoặc đơn chỗ này để nói về Nguyễn Hải. Hải dân gốc Quảng Nam nguyên là Ban Công Nhân Thành Đoàn xuống xí nghiệp dệt làm công tác văn nghệ phong trào, từng đoạt huy chương vàng đơn ca hội diễn toàn quốc những năm đầu 1975. Giai thoại về Nguyễn Hải cũng khá ly kỳ, người nhà kể rằng anh không học trường nhạc mà luyện giọng bằng cách rúc đầu vào lu nước gầm rống. Mỗi lần anh hát là kinh động hàng xóm trong vòng bán kính 50 mét, mỗi lần anh ngâm thơ là mọi người im bặt có thể nghe được tiếng lá rơi. Nguyễn Hải yêu kính mẹ như yêu kính Quan Thế Am, anh hát bài “Có người mẹ đi tìm con – Trên đỉnh đồi hoang vắng…” của Phạm Duy xúc động đến nỗi tôi phải làm bài thơ tặng anh.

    MẸ MIỀN TRUNG

    “Có người mẹ đi tìm con
    Trên đỉnh đồi hoang vắng”
    Thằng bạn hát mà ngó về Đà Nẵng
    Mây trắng bay lầu Hoàng Hạc đến bao giờ
    Có phải mẹ ở miền Trung sợi tóc như tơ
    Không cột được gót thằng con trai lêu lổng
    Nên bạn cứ ôm guitar đi tìm giấc mộng
    Thức trăm năm mà khóc với cây đàn

    Tại Bình Dương tôi có dịp tiếp xúc với Lê Vĩnh Thọ, một thầy giáo thất nghiệp kiêm nhà thơ bất đắc chí ngồi dựa lưng vào tường suốt 10 năm sau giải phóng như Đạt Ma Sư Tổ khiến vôi tường nứt nẻ thành hình cái bóng của một con người. Cái bóng ấy vừa phụ vợ con xay xe bán nước mía vừa đạp xe thồ hằng đêm chở bao tạ than lên Sài Gòn bỏ mối kiếm sống như danh tướng Trần Khánh Dư của nhà Trần thời xưa. Các bạn thử tưởng tượng đường Bình Dương – Sài Gòn xa hun hút, đầy bảo kê thổ phỉ mãi lộ dọc đường, thế mà Lê Vĩnh Thọ vẫn nghiến răng mỗi đêm leo dốc mà đạp. Sự đau khổ ấy của ông được trả giá bằng vô số bài thơ nhân tình thế thái cực hay. Tôi và ông rất nhiều lần thù tạc với nhau về thi ca ứng khẩu trong lời ca tiếng nhạc minh họa của Nguyễn Hải. Tôi có làm tặng ông một bài thơ kỷ niệm :

    GÁC KIẾM Ở BÌNH DƯƠNG

    Đúng là về đây nương thân
    Rồng không gặp lúc phong vân, vẫn Rồng
    Về đây vào rẫy ra đồng
    Thấy mây thấy gió chạy cong đuôi nhìn
    Thấy ta giống hệt bình minh
    Mặt trời mọc tự trong mình mọc ra
    Mặt trời đỏ hết thịt da
    Bình Dương chưa chắc đã là Quốc Oai
    Bình Dương, Bồ Bản ơ hay
    Tiếng con chó sủa đủ lay ngai vàng
    May mà treo ấn từ quan
    Dạy dăm đứa trẻ xiên quàng tích xưa

    Tích xưa sáng nắng chiều mưa
    Trang Chu thức giấc đổ thừa nồi kê
    Bướm vàng chi khéo rủ rê
    Mộng đi mà tỉnh quên về, thật sao ?
    Giận là giận Chúa cường hào
    Thương là thương nỗi lao đao Chu Thần
    Bình Dương, Bồ Bản hay chăng
    Cờ Thang, Vũ dựng chẳng cần Thuấn, Nghiêu

    Đúng là về muộn mới yêu
    Về trung niên cũng đánh liều trái tim
    Văn như Thánh Quát cũng chìm
    Thà làm viên sỏi nằm im đáy hồ
    Thà là một chữ trong thơ
    Đợi trang giấy đẹp bất ngờ ta reo
    Chữ Tình ai dám bảo nghèo
    Không tin cứ hỏi Tháy Kiều lầu xanh…

    Trời cao cuối cùng cũng có mắt. Sau này về Sài Gòn tôi nghe anh em văn nghệ Bình Dương nói rằng thầy giáo Lê Vĩnh Thọ trúng vé số cặp độc đắc đủ để… đốt nhà lá xây nhà lầu. Không biết ông còn giữ cái bóng hình nhân trên tường của mình trong suốt 10 năm ngồi dựa chờ thời hay không ?

    Riêng Thùy Dương Tử thì “cõi trên” hơn. Tôi từng nghe các anh Tư Đồng, Sáu Đầu Rồng, Tôn Thất Mạnh Tường kể về giai thoại lúc Thùy Dương Tử lãnh giải nhất Thơ Tao Đàn Bạch Nga của tiên sinh Nguyễn Vỹ. Khi ôm cọc tiền thưởng từ cầu thang bước xuống trước ống kính máy quay của báo chí, Thùy Dương Tử không đi hết các bậc cầu thang mà bung cọc tiền “thùm lùm” tung tóe xuống phía dưới. Một trong những người thu hoạch tài chánh lì xì bất ngờ của ông chính là nhà thơ châm biếm Cung Văn. Kể sơ sơ như thế để thấy sự ngông cuồng hào khí ngất trời của một thi sĩ tự do trọng nghĩa khinh tài thuở đó. Tôi còn nghe đồn rằng Thùy Dương Tử rất giỏi Kinh Dịch và bấm Nhâm Độn. Có lần tôi chở Hương Lan trên xe đạp ghé căn nhà đìu hiu của ông trong tận cùng ngõ ngách khu Phú Nhuận. Trong cơn mơ màng, ông bật dậy chạy ra hét lớn “Thằng em thiên tài chở vợ tới”. Tôi hết hồn nhìn ông thì ông trợn mắt khẳng định : “Chắc chắn chú mày sẽ lấy mỹ nhân này. Anh nhìn thấu kiếp trước lẫn kiếp sau của chú”. Mọi chuyện tưởng như giỡn chơi ai ngờ “linh ứng” vào năm sau. Đáng tiếc bây giờ Thùy Dương Tử đã quy tiên, nếu không tôi sẽ còn thẩm vấn ông về vận mệnh đất nước để nhờ ông đoán điềm giải mộng…

    Tháng 8 – 1988 tôi và Hương Lan làm đám cưới tại khuôn viên Hội Liên Hiệp Thanh Niên Việt Nam. Chúng tôi chỉ có ái tình và hai bàn tay trắng. Anh Huỳnh Tấn Mẫm, Chủ tịch Hội lúc ấy và chị Giám hầu như lo cho tôi miễn phí hết mọi sự, từ mặt bằng đến lều bạt, âm thanh. Huỳnh Tấn Mẫm nguyên là Chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn thời tôi tham gia phong trào học sinh tranh đấu. Anh yêu mến thơ tôi, tôn trọng cá tính của tôi và sẵn sàng tâm sự với tôi những chuyện không thể kể cho nhiều người. Đám cưới được hình thành từ công sức của bạn bè. Thiệp do Nhã Bình, Đỗ Trung Quân in tặng. Gửi thiệp tới quan khách do nhóm Trần Hữu Dũng đảm nhiệm. Bài “Oui Devant Dieu” nổi lên, bao nhiêu ân oán giang hồ rũ sạch, mọi nghi kỵ thù hận nhỏ nhen tan biến. Quan khách đến dự tiệc cưới có mặt từ lãnh đạo trung ương, thành phố cho đến văn nghệ sĩ bụi đời. Bàn “các sếp” có ông Trần Bạch Đằng, Phạm Chánh Trực, Nguyễn Chơn Trung, Huỳnh Tấn Mẫm, Dương Văn Đầy, Lê Công Giàu, Bảy Câu, Bến Nghé, bà Chín Ngân, vợ chồng Võ Như Lanh… Bàn nhạc sĩ có Miên Đức Thắng, Diệp Minh Tuyền, Phan Bá Chức, Nguyễn Duy… Bàn họa sĩ có vợ chồng diễn viên Lê Chánh, Hồ Hữu Thủ, Rừng, Hải Nguyễn, vợ chồng Hồ Thành Đức, Bé Ký…Bàn dịch giả có Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Phan Thịnh, Nguyễn Ngọc Trân… Bàn văn thi sĩ có vợ chồng ông Cung Tích Biền, Hà Nguyên Thạch, vợ chồng Lê Thị Kim, Trần Hữu Dũng, vợ chồng Đoàn Thạch Biền, vợ chồng Nguyễn Lương Vỵ… và rất nhiều anh em chiến hữu văn nghệ khác mà tôi không thể nhớ hết tên. Trong tiệc cưới, quan khách có cấp bậc cao nhất tham dự là ông Trần Bạch Đằng tức chú Tư Ánh đương nhiên đóng vai cương vị chủ hôn. Về việc này tôi có nói sơ trong GIAI THOAI CỦA THI SĨ các phần trước. Lúc lên phát biểu chú Trần Bạch Đằng có khuyến cáo vợ tôi rằng “Lấy thằng Vinh là con phải trang bị một khẩu súng để bóp cò lúc cần thiết”.

    Câu nói của ông làm vợ tôi hoảng hồn. Tôi phải xoa dịu em bằng bài thơ dịu dàng khạc ra tại chỗ :

    ĐÊM OUI DEVANT DIEU

    Kìa Oui Devant Dieu
    Mau quỳ xuống trước bàn thờ đi em
    Đừng cắn tay, đừng ngó lên
    Trước khi chớp mắt đừng quên liếc chàng
    Lát chàng nâng ngón tay ngoan
    Nhớ hôn mặt nhẫn nói thầm : anh ơi
    Lát môi chàng chạm vào môi
    Nhớ suỵt khe khẽ : suốt đời nghe anh !

    Lời khuyên hữu ích của chú Tư Ánh đã khiến đời tôi rẽ qua một bước ngoặc khác. Ông Trần Bạch Đằng như nhiều người biết từng là Đệ Nhất Công Thần của cách mạng miền Nam trong hai thời kỳ kháng chiến, ông tuy mang tiếng về hưu nhưng cương vị chính trị trong hậu trường còn lớn hơn thời còn tại vị. Vai trò ông quan trọng đến mức tôi thường gọi đùa ông là “quân sư Nguyễn Trãi” thiếu minh chúa Lê Lợi để phò tá. Đến chơi nhà ông nhiều lần, tôi được biết và chứng kiến không ít các vị lãnh đạo tối cao của nhà nước vừa nhậm chức đến gõ cửa ông nhờ tư vấn. Nhưng cho dù ông có làm đến “ông trời” đi nữa thì tôi vẫn yêu mến và kính trọng ông như bậc cha chú, như một người làm thơ đàn anh có tâm huyết thật sự với đất nước. Ông có hai câu thơ hào khí ngất trời khiến tôi rất thích :

    Dưới hầm đọc Lục Vân Tiên
    Bỗng nghe vó ngựa bình Phiên thuở nào

    Trong thời kỳ cánh cửa “bế quan tỏa cảng” vừa hé mở, không ai khác mà chính Trần Bạch Đằng mở toang cánh cửa văn hóa ra thế giới bên ngoài qua bộ phim nhựa chiếu trên đài truyền hình nhiều tập đầu tiên VÕ TẮC THIÊN do ông mang về. Bộ phim đã gây sóng gió với nhiều dư luận khác nhau từ giới chính trị bảo thủ. Nếu kẻ phổ biến bộ phim trên là một nhân vật khác không phải Trần Bạch Đằng thì ắt đã nằm trong tầm ngắm của công an văn hóa. Kỷ niệm của gia đình tôi và ông càng sâu đậm thêm vào mỗi dịp Tết. Cứ cuối năm lần nào đến thăm ông, tôi cũng được ông dành sẵn cặp rượu XO hiệu Martell hoặc Hennessy thượng hạng kèm theo một phong bao lì xì cho thằng nhóc con Bùi Vương của tôi tương đương một tháng lương. Đặc biệt đến thăm Trần Bạch Đằng mà không có Hương Lan vợ tôi là ông sa sầm nét mặt. Có lần vợ tôi bận bịu công việc, chỉ có hai cha con tôi xông đất thì ông nhăn nhó : “Sao mày không dẫn con Lan đến, nó là con gái nuôi của tao. Tao gửi nó cho mày để nó làm mày thuần tính. Nhớ đó”… Một lần khác gần đây trước khi ông mất, ông còn viết một bài nhận định tổng kết khá dài trên báo Tuổi Trẻ để nói về những người làm nên diện mạo văn hóa chữ nghĩa cho thành phố, cho miền Nam đang bị nền báo chí thực dụng cố tình lãng quên. Trong bài báo ông có nhắc tên Sơn Nam… như nhà văn hóa lớn, và nhắc tên tôi như một thi sĩ dân gian đặc sản của Nam Bộ. Con người ông đại khái là vậy, ai nói gì ai xầm xì gì mặc kệ, ông đã vượt ra ngoài tầm mọi “thủ đoạn chính trị” của các phe nhóm để cuối cuộc đời sống như một con người. Những chuyến đi nước ngoài ông kể lại cho tôi làm tôi nhớ đến bài thơ ĐI SỨ SINGAPORE của thi hào Cao Bá Quát khi bị lưu đày theo sứ bộ Phạm Phú Thứ ngày xưa. Xin mạn phép chép lại để các bạn nghiền ngẫm :

    THƠ CAO BÁ QUÁT

    Tân Gia từ vượt con tàu
    Mới hay vũ trụ một bầu bao la
    Giật mình khi ở xó nhà
    Văn chương chữ nghĩa khéo là trò chơi
    Không đi khắp bốn phương trời
    Vùi đầu án sách uổng đời làm trai

    Rõ ràng cái chết của chú Tư Ánh tức ông Trần Bạch Đằng là một mất mát quá lớn đối với đất nước. Không còn ông tư vấn về mặt nhân tâm và đạo lý, tình hình xã hội trở nên rối như mớ bòng bong. Những bế tắc vừa qua trong việc giải quyết tham nhũng từ trên xuống dưới đã chứng thực điều ấy.

    Bước ngoặc đời tôi xảy ra sau đám cưới khoảng vài tháng. Một hôm ông Lê Thanh Hải tức Mười Hải, giám đốc Sở Nhà Đất thành phố mời tôi và nhạc sĩ giang hồ Nguyễn Hải đến dự tiệc tại tư gia. Ông Mười Hải trước kia là một trong những lãnh đạo Thành Đoàn thời bí mật, từng ở tù Côn Đảo và rất có máu mê văn nghệ. Ông nghe các phụ tá đồn đại về khả năng xuất khẩu thành thơ cay đắng của tôi nên muốn được thưởng thức cụ thể. Hôm đó Nguyễn Hải hát và ngâm bài thơ HỒ TRƯỜNG của Nguyễn Bá Trác cùng bài thơ PHẢN TỐNG BIỆT HÀNH của tôi xuất thần đến nỗi ông Mười Hải lặng người. Và tôi đọc tiếp bài ÔNG GIÀ BẮT RẮN làm ông chết điếng. Bài thơ ÔNG GIÀ BẮT RẮN ra đời khi tôi và Hồ Lê Thuần (con trai cố bí thư Thành Đoàn Hồ Hảo Hớn) ngồi nhậu tại một quán rượu chiều mưa trên đường Trần Quang Khải. Đang nhậu bỗng một người đàn ông trung niên tiều tụy đeo bị gậy tiến lại. Hai thằng mời vị hành khất ngồi vào bàn. Rượu vào lời ra mới biết người hành khất khắc khổ từng là cựu sĩ quan chế độ cũ sau khi học tập cải tạo về phải hành nghề bắt rắn để nuôi thân…

    ÔNG GIÀ BẮT RẮN

    Đột nhiên uống rượu gặp ông già
    Hai thằng đều thuộc loại không cha
    Cha ta ngày trước chưa hành khất
    Sao ông già xách bị thăm ta ?

    Quá may chai rượu còn phân nửa
    Ta nâng ly thù tạc bạn già
    Đêm nay không xỉn mà như xỉn
    Tiếng cười theo giọt lệ lăn ra

    Không gặp nói chi, bằng đã gặp
    Chiến tranh dứt, sao mô còn đắp ?
    Mời bố cạn ly rồi cười khà
    Chồm hổm coi đời thua con mắt

    Ông già, thằng nhỏ cụng ly “túc”
    Khè khè không kém rắn hổ mang
    Thiên hạ cao tay bằng ngón út
    Giang sơn thu lại vất trên bàn

    Ông già kể : “Nếu ưng nhậu rắn
    Mời mấy em lên núi một lần
    Khô hổ, khô trăn “qua” chất đống
    Gọi là có dịp ngộ tri âm

    “Qua” bắt rắn bằng dây thòng lọng
    Khác thầy mo bắt rắn bằng bùa
    Mãng xà cắt cổ “qua” làm tiết
    Xực vào là khoái chuyện mây mưa

    Chưa hết, mới xong màn tiết rắn
    Còn sáu món chờ anh hùng ẩm
    Luộc, xào, lẩu, nướng, gỏi, cà ri
    Anh hùng ẩm tửu, anh hùng tận

    Nhưng mấy em ơi, “qua” đã già
    Cháu chắt thì đang thời khát sữa
    Đành nửa đêm băng núi đi xa
    Nói dóc xuống Sài Gòn đòi nợ

    Mà xuống đồng bằng, “qua” là hổ
    Con thú làm sao có mái nhà
    Trời thương cho ngủ ngoài xó chợ
    Đêm về nước mắt tưởng sương sa

    May mà gặp chú dòng hảo hớn
    Mời cụng ly không sợ dơ bàn
    Chỉ tiếc thiếu một khoanh khô rắn
    Cắn vào quên nỗi sợ công an”

    Ông già xách bị chào mấy đứa
    Bố ơi, đất nước lắm ăn mày
    Tụi con trúng mánh nhờ phụ nữ
    Thời này con gái dễ đưa cay

    Thời này con gái như con rắn
    Đem nướng phơi khô nhậu đã đời
    Tụi con giống bố thân hành khất
    Thường xin tiền phụ nữ mua vui

    Còn hơn ăn trộm bằng ngòi bút
    Vua quan trăm kiểu hái ra tiền
    Tụi con tính trời cho háo sắc
    Ra phố thường ăn trộm trái tim

    Mưa xuống, ba người không chỗ ở
    Ông già bắt rắn đã đi xa
    Riêng ta đi kiếm dây thòng lọng
    Đợi nàng rắn cái lén đi qua !

    Sau khi hỏi thăm cụ thể về quá trình công tác, ông Mười Hải dặn tôi và Nguyễn Hải làm ngay hai hồ sơ cá nhân để ông thu xếp công việc phù hợp với chuyên môn từng người tại Sở Nhà Đất TP. Tôi và Hải cùng nộp hồ sơ theo yêu cầu nhưng không hiểu sao chỉ mình tôi được nhận về Ban Nghiên Cứu của Sở. Ngày đầu tiên đến cơ quan trình diện, Mười Hải khẳng định với tôi “Em về chỗ anh là để phát huy khả năng làm báo. Sở Nhà Đất đang xin phép ra một tờ báo hằng tuần. Không sử dụng tài nghệ viết lách của em là rất uổng”. Như vậy trong khi chờ đợi tờ báo ra đời, tôi tạm thời sinh hoạt tại bộ phận tham mưu cho giám đốc được mệnh danh là Ban Nghiên Cứu. Đó là một ban quy tụ các anh hào tứ xứ từ các nguồn khác nhau đổ về. Dân tập kết có, dân học sinh miền Nam có, dân hoạt động nội thành có và dân chính quyền cũ lưu dụng lại cũng có nốt. Đó là các chuyên viên tài năng trên các mặt ngân hàng, tài chánh, địa ốc, văn hóa dân tộc. Tại đây tôi cùng các anh Lộc, Tiếp, Trí, Lân… soạn thảo một cuốn sách văn bản pháp quy giải đáp những thắc mắc của mọi người về phương diện tranh chấp đất đai, quyền sở hữu nhà cửa và các thứ linh tinh khác. Cuốn sách như một thứ cẩm nang được tôi biên soạn hành văn một cách linh động và dí dỏm. Tôi còn được Mười Hải tín nhiệm giao cho việc ngoại giao báo chí khiến nhiều đồng nghiệp cũ trong giới làm báo đến Sở Nhà Đất gặp tôi ngỡ ngàng. Trong đó có cả anh Huỳnh Bá Thành. Đáng tiếc duyên nợ của tôi với Sở Nhà Đất khá ngắn ngủi. Tôi rơi vào hoàn cảnh “rất uổng” như sếp Mười Hải vô tình dự đoán trước. Bởi một lẽ giản dị cuối cùng không có giấy phép ra tờ báo và Mười Hải nhận quyết định về hưu. Trong một buổi gặp gỡ riêng vị sếp mê văn nghệ nói với tôi : “Huỳnh Bá Thành bên báo Công An TP đánh tiếng với anh muốn xin em về làm báo. Bên đó phù hợp với em hơn ở đây. Ở đây không có tờ báo mà anh lại sắp về hưu thì ai lo cho em ?”.

    Thế là xong. Một năm hương lửa đang nồng, trượng phu chưa muốn động lòng xuất chinh thì… tôi đã phải từ giã Sở Nhà Đất. Đúng là tôi không có lộc ở cơ quan được đồn là “xịn” nhất trong các cơ quan làm ra của cải tiền bạc cho thành phố. Tôi chưa vội vã gặp họa sĩ Ớt tức anh Huỳnh Bá Thành. Tôi quyết định phiêu lưu xuống miền Tây theo đề nghị của báo Văn Nghệ TP để viết loạt phóng sự giang hồ về các cây bút lừng danh miền sông nước. Nhân sự chuyến đi gồm có Kim Tuấn, Trần Hữu Dũng, Vũ Ngọc Giao và tôi. Bốn người làm thành một phái đoàn mà thiên hạ gọi là Tây Du Ký. Còn phải hỏi, nhà thơ Kim Tuấn vốn tính tình điềm đạm nho nhã lại lớn tuổi nhất, là tác giả các bài thơ phổ nhạc nổi tiếng trước giải phóng như ANH CHO EM MÙA XUÂN, NHỮNG BƯỚC CHÂN ÂM THẦM… xứng đáng làm thầy chùa Tam Tạng thỉnh kinh. Nhạc sĩ guitar cổ điển Vũ Ngọc Giao vốn dĩ háo sắc, mê các em và mê nhậu hơn mê âm nhạc nên tục gọi Trư Bát Giới là phải đạo trời. Nhà thơ Trần Hữu Dũng thì lúc nào cũng ậm ừ, tịnh khẩu một cách bí ẩn thành thử được mệnh danh là Sa Tăng. Còn tôi tính khí ngang tàng, thấy việc ngứa mắt là phát biểu, giao tiếp rộng rãi cả hai phe chánh tà nên anh em phong làm Tề Thiên Đại Thánh. Phái đoàn chúng tôi lên đường chu du đủ lục tỉnh, làm nên loạt phóng sự nhiều kỳ HẢO HỚN MIỀN TÂY vang dội. Vũ khí duy nhất của tôi trong chuyến Tây Du Ký vẫn là những bài thơ tình đặc sản Nam bộ mà đồng nghiệp và công chúng yêu cầu đọc lên trong những đêm thơ. Xin giới thiệu bài thơ CON GÁI BA MIỀN đọc trong chuyến đi lưu diễn :

    GÁI BẮC

    Con gái Bắc rất chịu chơi
    Ta dân Nam bộ ngỏ lời cầu hôn
    Chịu chơi vì lắm hồi môn
    Chẳng hạn răng khểnh, má tròn đồng xu
    Chưa kể con mắt tiểu thư
    Dáng đi công chúa, lởi ru thiên thần
    Ta thường dễ động lòng trần
    Thấy con gái Bắc manh tâm ngó hoài

    Các em mình hạc xương mai
    Thấp cao vẫn nhớ, mập gầy vẫn thương
    Chanh chua vẫn ngọt như đường
    Nói xạo cách mấy vẫn tương tư hoài
    Nhớ em lồi hết lỗ tai
    Lõm hai con mắt, lồi mười ngón chân
    Em tên Bích, Thảo, Thu, Vân
    Hay Kim, Oanh, Yến có lần chịu chơi
    Từng yêu khi mới chào đời
    Đêm nay gọi các em ơi, ta buồn

    Hà Nội băm sáu phố phường
    Ngó môi em hết nhớ đường về Nam

    GÁI HUẾ

    Con gái Huế rất khó chơi
    Ta dân Nam bộ thốt lời vũ phu
    Khó chơi vì hát như ru
    Nói như chim hót, bước như rắn trườn
    Cộng lại thì thành văn chương
    Trừ ra thì dễ bất thường động tâm

    Sơn bất tận, thủy bất thâm
    Lên núi Ngự mới ớn thầm sông Hương
    Ta từ xưa thích du dương
    Ưa trèo núi, khoái bơi xuồng lội sông
    Giang hồ một phút yếu lòng
    Kêu lên hai tiếng mặn nồng : Huế ơi
    Dù các em rất khó chơi
    Nhưng ta cũng thử ngỏ lời bướm ong

    Các cô gái Huế nghe không
    Kêu thêm phụ nữ đến còng ta đi

    GÁI NAM

    Con gái Nam rất ham chơi
    Ta dân cùng xứ ngỏ lời biểu dương
    Ham chơi đến lúc lên giường
    Em còn xuống giọng cải lương rất mùi
    Sáng đèn nhớ lúc tối thui
    Giàu sang nhớ củ khoai lùi dính tro
    Các em như miếng cá kho
    Ngó vô thấy đã, cắn vô thấy bà
    Cắn vô xương gỡ không ra
    Trừ khi trình diện ông già của em

    Lên Đồng Nai, xuống Long Xuyên
    Các em má lúm đồng tiền bắt ham
    Chỉ người ngu mới không tham
    Ta chưa ngốc muốn gỡ làm vốn riêng
    Kệ đồng tiền trắng hay đen
    Ngày ta bỏ túi, đợi đêm bỏ mùng
    Các em mới liếc đã khùng
    Hèn chi thi sĩ, anh hùng phải tiêu
    Mỹ nhân nghĩ thiệt trớ trêu
    Xưa nay danh tướng biết điều dưới cơ
    Vòng Bến Tre, bọc Cần Thơ
    Ở đâu ta cũng choán giờ cơ quan
    Nước dừa em tắm thả giàn
    Ta vốn đàng hoàng cũng lén rình coi
    Rình coi con quạ kêu rồi
    Quạ kêu “nam đáo” nữ ơi đề phòng

    Phải không Đào, Cúc, Thu, Hồng
    Anh trai khác họ đem lòng nhớ thương !

    Trong chuyến đi tôi có dịp làm quen với Trịnh Bửu Hoài, Phù Sa Lộc, Nguyễn Văn Bổn, Võ Minh Đường, Trúc Linh Lan, Nguyễn Lập Em, Phạm Hữu Quang, Huỳnh Duy Lộc, Trần Thế Vinh, Hồ Thanh Điền, Thiện Chiến, Trần Thanh Phong, Trương Công Thuốt, Ngô Khắc Tài, Song Hảo… Đáng tiếc là lộ trình lưu diễn không đi qua Bến Tre và Long An để gặp bạn bè cũ là anh Mặc Tuyền, Đinh Thị Thu Vân, Hồ Trường, Bảy Dân, Nguyên Tùng, Kim Ba, Ngọc Điệp… Tôi cũng không gặp các huynh đệ quen thuộc Nguyễn Trọng Tín, Võ Đắc Danh, Võ Đắc Dự…vì họ không còn ở chỗ cũ. Chuyến đi đọng lại hai hình ảnh anh hùng hảo hớn cả văn lẫn võ. Đó là Phạm Hữu Quang và Huỳnh Duy Lộc, một kẻ vai bạn, một người vai em.

    Phạm Hữu Quang râu quai nón như Lỗ Trí Thâm, tướng tá kềnh càng như con gấu nhưng có ánh mắt và nụ cười thật dễ thương. Phạm Hữu Quang ăn ý với tôi ở chất Lục Vân Tiên, tại Long Xuyên hễ gặp chuyện bất bình là anh sẵn sàng ra tay can thiệp nên thường “xa huy chương mà gần tù tội”. Anh lập gia đình có một vợ hai con, hồi học đại học Sư Phạm trên Sài Gòn cùng lớp với Nguyễn Nhật Ánh. Thơ Phạm Hữu Quang phải nói là độc đáo và có cá tính. Đọc những bài thơ phiêu bạt, khinh mạn của anh làm tôi liên tưởng đến thi sĩ Hà Thúc Sinh thời vàng son trước 1975. Hai anh em có một đêm nằm tâm sự với nhau và anh dúi vào tay tôi bài thơ mới làm từ chuyến viễn du miền Trung chống stress. Bài thơ được tôi đưa cho Tổng Biên Tập báo Văn Nghệ TP là anh Chim Trắng đăng ngay lúc phái đoàn Tây Du Ký trở về. Bài thơ nổi tiếng đến mức hai câu cuối cùng tới bây giờ vẫn còn lưu truyền trên mạng internet :

    Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt
    Nghe tiếng cơm sôi đã nhớ nhà

    Khi tôi viết những dòng chữ này thì họ Phạm đã vĩnh biệt cõi đời sau một cơn bạo bệnh. Những dòng chữ xem như nén nhang thương tiếc một con người tài hoa sinh bất phùng thời.

    Ngược lại với Phạm Hữu Quang, xuống Cần Thơ tôi đụng độ một hiền đệ gặp lúc thời vận ăn nên làm ra nhưng vẫn giữ nguyên tắc hảo hớn miền Tây “kiến nghĩa bất vi vô dõng giã”. Đó là Huỳnh Duy Lộc, giám đốc khách sạn Hào Hoa kiêm thi sĩ kiêm võ sĩ Thần quyền. Cuộc gặp mặt có cả Vũ Ngọc Giao như một chứng nhân. Xét về thơ thì Huỳnh Duy Lộc ăn nói cực kỳ khiêm tốn. Xét về võ thì họ Huỳnh khởi sự bằng cách nhai ly rôm rốp và nuốt chửng. Chuyện đó tôi cũng làm được, tôi ghé răng hất ly xây chừng vào miệng rồi nhai như bánh tráng đáp lễ. Huỳnh Duy Lộc chuyển sang võ bí mật. Hiền đệ họ Huỳnh đặt một trái quýt lên đỉnh đầu con người cao tới 1m74 là tôi, sau đó hiền đệ tung một cú giò lái từ thân thể cao chưa tới 1m60. Trái quýt bị đá văng khỏi đầu tôi như một luồng gió thốc. Sẵn đà cao hứng, hiền đệ xách con dao chặt dừa ra chẻ phăng một trái dừa xiêm. Cũng con dao đó, họ Huỳnh chém vào ngực trần của mình bình bịch. Màn biểu diễn võ gồng chấm dứt mà da thịt Huỳnh Duy Lộc không hề trầy trụa hay sứt mẻ. Được biết trước khi trở thành thi sĩ, Huỳnh Duy Lộc từng bôn ba sóng gió giang hồ. Lộc từng thành danh đại ca bên đất nước chùa Tháp, từng hỗ trợ tích cực chính quyền địa phương trong việc săn bắt tội phạm hình sự.

    Năm 1989 tôi làm việc tại Lăng Ông Lê Văn Duyệt. Trong một lần họp mặt truyền thống Thành Đoàn tại nhà anh Sáu Quang, tôi được Sáu Quang tức Nguyễn Chơn Trung (bí thư Thành Đoàn thứ nhì sau anh Năm Nghị) kêu về Bình Thạnh, nơi anh đương chức Bí thư Quận Ủy. Anh và Tư Phương tức Nguyễn Xuân Thượng phụ trách kinh doanh du lịch đang rất cần một đảng viên có năng lực để điều hành và vực dậy di tích Lăng Ông Lê Văn Duyệt trong tình trạng xuống cấp. Anh Sáu Quang từng chỉ đạo trực tiếp báo Tuổi Trẻ từ ngày mới thành lập và tương đối am hiểu con người nổi loạn của tôi, bởi anh cũng là một người làm thơ phong trào dưới bút hiệu Thiên Lý và là Chủ tịch Tổng Đoàn Học Sinh Sài Gòn trước cả Lê Văn Nuôi. Chỉ đáng tiếc tôi chưa hề là đảng viên nên tôi quyết định giới thiệu Lã Văn Cường, một nhạc sĩ đảng viên bên lực lượng TNXP cho anh vì Cường cũng chưa có việc làm, đang chờ chuyển ngành. Thế là hai đứa tôi cùng về phòng Văn Hóa Quận một lượt. Lã Văn Cường được bổ nhiệm làm giám đốc Lăng Ông. Trong GIAI THOẠI CỦA THI SĨ những phần trước, tôi đã nói sơ sơ về Cường. Đại khái tôi và Lã Văn Cường là cặp bài trùng một thơ một nhạc đi đến đâu tạo niềm vui cho đám đông ở đó. Vì vậy thoạt đầu nhận chức ở Lăng Ông, Cường và tôi đã quy tụ anh em hào kiệt tứ xứ khắp nơi. Nòi tình đồng điệu gặp nhau, khu di tích Lăng Ông thuở ấy khá hùng mạnh với bố già Sơn Nam làm cố vấn, với đạo diễn Trần Văn Hưng phụ trách nhà hát vừa xây dựng xong, với Đoàn Vị Thượng làm chánh văn phòng, với Nguyễn Hải làm quản lý Lăng… và võ thuật do Hồ Hoàng Khánh, huấn luyện viên Không Thủ Đạo, con trai cố võ sư lừng danh Hồ Cẩm Ngạc đảm nhiệm. Cuộc đời tưởng xuôi chèo mát mái nhưng… tưởng vậy mà không phải vậy. Giống như 108 anh hùng Lương Sơn Bạc ngày xưa, thời từng anh hùng còn “solo” chơi với nhau thật tình nghĩa, chia cơm xẻ áo hết mình, đến khi bị Tống Giang, Ngô Dụng gom sòng lại thì năm bè bảy mối, tan đàn xẻ nghé nghi kỵ lẫn nhau . Trong đạo Công Giáo có câu “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng”. Ê kíp chúng tôi cũng không thoát khỏi định mệnh. Sau một thời gian “bạo phát” dưới hình thức kinh doanh mượn duy linh để làm duy vật, Lăng Ông “bạo tàn” nhanh chóng. Tôi không thể đấu tranh với chính bạn bè mình nên đành chia tay trong sự ân hận. Duy nhất một kỷ niệm đẹp mà tôi còn giữ : đó là lần đầu tiên tôi và nhạc sĩ Trần Tiến kết hợp nhau làm Đêm thơ nhạc thu hút khá nhiều sự bình phẩm của giới chuyên môn ở Lăng Ông…

    Nghỉ Lăng Ông tôi rơi vào tình thế chỉ mành treo chuông vì gia đình tôi sắp có con trai đầu lòng. Đúng lúc đó chiếc đũa thần từ tay Huỳnh Bá Thành gõ xuống. Huỳnh Bá Thành tức họa sĩ Ớt bí danh Ba Trung, nổi tiếng với nét cọ châm biếm cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chỉ bằng một nét vẽ mà giống cực kỳ. Anh hoạt động tình báo trong An Ninh T4 và là phụ tá báo chí của Đại tướng Dương Văn Minh (Tổng Thống cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa). Tôi biết anh ngay từ thời tôi còn phụ trách trang văn nghệ báo Tuổi Trẻ. Thuở ấy anh bị “đì” ná thở. Một trong những lý do bị thượng cấp nghi ngờ là tại sao anh làm tình báo mà không bị ở tù hoặc bị địch phát hiện, lại còn được Tổng Thống “ngụy” trọng dụng ? Thế là có lúc Huỳnh Bá Thành sa cơ phải công tác tại bãi giữ xe trước cửa Sở Công An TP trên đường Trần Hưng Đạo. Có lúc nhà anh đói đến mức thi sĩ giang hồ Mặc Tuyền từ Long An lên phải viện trợ gạo. Cả họa sĩ Ngoéo, một đồng chí vẽ châm biếm tài hoa, cũng từng giúp đỡ vật chất cho anh. Chính từ những ngày hàn vi ấy mà Huỳnh Bá Thành thấm thía hết sự bất công. Anh nhạy cảm trong sự phân biệt chính tà thiện ác và dám đầu tư nhân sự cho tờ báo Công An TP theo ý riêng của mình. Tại nhà hàng Continental (thời bia quốc doanh) anh, tôi, Ngụy Ngữ, Sáu Du, Hồ Ngọc Xum từng chia nhau từ miếng bánh mì cho đến ly bia hơi tem phiếu.

    Tôi làm việc trong Ban cố vấn của tờ báo. Ban cố vấn là tên gọi một cách nôm na, thực chất đó là bộ phận tham mưu chiến lược cho Huỳnh Bá Thành bao gồm Ngụy Ngữ, Lưu Trọng Văn, Sơn Nam, Vũ Hạnh và tôi. Bằng kinh nghiệm lịch lãm của một người làm báo Sài Gòn cũ, Huỳnh Bá Thành đã đưa tờ Công An TP từ chỗ vô danh cho đến vị trí bán chạy nhất trong làng báo Việt Nam với con số phát hành kỷ lục. Mỗi ngày Huỳnh BáThành bắt tôi phải đến tờ báo vài tiếng đồng hồ buổi sáng để họp riêng với anh, chủ yếu là làm trang Văn Hóa Văn Nghệ, viết phóng sự hài hước, chuẩn bị những kịch bản phim viết chung cho hãng phim Người Bảo Vệ mới thành lập, và cả chuyện viết chung Feuilleton. Anh tin tôi đến mức có lần phát biểu trong một cuộc họp báo trà dư tửu hậu lúc ra mắt hãng phim : “Bùi Chí Vinh đại diện cho tôi, những gì Bùi Chí Vinh phát biểu là tôi phát biểu”.

    Tôi đã không phụ lòng tin của anh. Bất chấp sự đa nghi của một số kẻ bảo thủ trong tờ báo, tôi và anh đã hoàn thành truyện dài nhiều kỳ LUẬT NHÂN QUẢ đăng trên báo Văn Nghệ TP, truyện cũng được chuyển thể thành kịch bản phim chung hai người mang tên MÊNH MÔNG TÌNH BUỒN do Hồ Ngọc Xum làm đạo diễn, Nguyễn Anh 9 làm nhạc phim. Ngoài ra năm 1989 lần đầu tiên trong đời, một ông anh khác là Vũ Quang Hùng, phó Tổng biên tập báo Công An TP kiêm phụ trách Nhà in Nguyễn Minh Hoàng cũng hổ trợ cho tôi in thiếu tập THƠ TÌNH BÙI CHÍ VINH do NXB Trẻ cấp giấy phép với số lượng bước đầu 5.000 bản. Anh Vũ Quang Hùng vốn là dân ám sát thuộc An ninh T4 sau giải phóng chuyển qua làm báo đúng như niềm mơ ước thời sinh viên của anh. Cũng như họa sĩ Ba Ớt, anh Hùng rất “sính” kiểu cách làm thơ ngang tàng của tôi nên anh em tri ngộ nhau tương đắc. Tôi đôi khi đóng vai trò hòa giải các ý kiến khác nhau giữa hai sếp bằng những bài thơ dụ ngôn. Nhờ sự trợ lực của Vũ Quang Hùng, tập THƠ TÌNH BÙI CHÍ VINH in ra gây tiếng vang lớn trên thi đàn cả nước và công chúng trẻ. Đã có những cuộc hội thảo về tập thơ “vĩa hè”, “đáng đọc nhất thế kỷ” trên báo chí lẫn các trường đại học mà tôi đã từng đề cập.

    Huỳnh Bá Thành có những tham vọng riêng, tham vọng nào cũng đứng trên nền tảng quyền lợi của nhân dân hơn quyền lợi cá thể. Tuy nhiên cách hành xử luôn đi trước thời đại của anh khiến nhiều người ngộ nhận, trong đó có cả thượng cấp. Cũng may anh được ông Phạm Hùng (Phó Chủ tịch HĐBT phụ trách Bộ Nội Vụ lúc đó) ủng hộ nên nhiều vụ tai qua nạn khỏi. Trong một xã hội nhiễu nhương, con người tài năng cho dù đức độ vẫn luôn đầy dẫy kẻ thù, trường hợp Ba Ớt tức Huỳnh Bá Thành cũng như vậy. Có lần anh bị một số báo chí hùa nhau vây đánh về vụ che chở cho Việt kiều Nguyễn Quốc Bảo tức Bảo Sơn trong thương vụ điện ảnh. Anh phẫn nộ tâm sự với tôi, nhờ tôi viết loạt bài phản kích. Tôi chỉ hỏi anh một câu : “Tôi tin anh. Nhưng vụ Bảo Sơn với pháp luật là đúng hay sai. Nếu sai thì tôi sẽ không làm”. Khi Huỳnh Bá Thành khẳng định rằng anh am tường pháp luật và việc bảo vệ chuyện làm ăn hợp pháp của Việt kiều là đúng, thì tôi liền hoàn tất hồ sơ phản biện báo chí theo yêu cầu của anh. Kết quả hậu trường sau đó êm xuôi, lời ong tiếng ve cũng biến mất. Huỳnh Bá Thành tuyên bố một câu ngậm ngùi trong bữa nhậu tại nhà trước nhiều người : “Cháy nhà ra mặt chuột. Trải qua hoạn nạn mới biết đá biết vàng. Mới biết trong báo chí trong đồng hương xứ Quảng của mình, ai là kẻ lừa thầy phản bạn”.

    Huỳnh Bá Thành qua đời vào mùng 2 Tết, lúc anh thở phào nói với tôi : “49 bước qua, 53 bước lại, cụng ly với anh chúc mừng qua năm tuổi”. Đêm đó tại nhà anh, hai vợ chồng tôi và hai vợ chồng anh Nguyễn Đăng Trừng (là người em cột chèo với anh) là những kẻ ngồi lại khuya nhất. Khi tôi và Hương Lan về, chỉ còn luật sư Nguyễn Đăng Trừng và bà xã ở lại. Đến khoảng 2 giờ sáng thì nhà văn Từ Kế Tường gọi điện thoại báo tin khẩn cấp cho tôi là anh Ba Ớt đã đột tử, xác quàng tại chùa Đại Giác, và các anh Vũ Quang Hùng, Hà Phi Long đề nghị tôi có mặt tại báo Công An TP suốt những ngày sau đó. Cái chết của Huỳnh Bá Thành gây chấn động làng báo trong và ngoài nước, anh chết cũng bất ngờ như vị lãnh đạo từng che chở anh đã qua đời trước đó là ông Phạm Hùng, đều cùng một nguyên nhân được giải thích là “nhồi máu cơ tim”. Cái chết của Huỳnh Bá Thành đi vào kỷ lục quốc gia về số lượng người thắp nhang đưa tiễn. Kỷ lục Guiness đau buồn này ghi nhận cho đến giờ chỉ có 3 đám ma đông người đến viếng nhất. Đó là đám ma nữ nghệ sĩ Thanh Nga làm sập bờ tường do công chúng hâm mộ xô đẩy. Đó là đám ma diễn viên Lê Công Tuấn Anh với công chúng điện ảnh trẻ tràn ngập khắp Sài Gòn như một cuộc mít tinh. Đó là đám ma Huỳnh Bá Thành với thập loại chúng sinh đến viếng, từ lãnh đạo trung ương địa phương đến bà con lao động nghèo khổ, giang hồ du đãng, bán vé số, đạp xích lô, đạp xe ba bánh, thương binh ngồi xe lăn cả hai chế độ. Phải nói rằng đám ma anh Ba Ớt là đám ma “nhân dân” đúng nghĩa nhất, con người suốt đời làm từ thiện cứu nhân độ thế như anh đã được đền đáp đích đáng bằng nước mắt của những người cô thế mà anh từng giúp đỡ…

    Đêm đầu tiên quan tài anh Ba Ớt đặt tại tòa soạn, tôi đã thức suốt một đêm với anh bên cạnh anh Ba Tung và Sáu Du. Đêm đó anh Ba Tung, người từng đánh mìn thủy ngân sập cầu nổi chợ Bến Thành, người từng làm Trưởng phòng hình sự Sở Công An TP, từng bị báo chí đánh tơi bời vụ Đường Sơn Quán khiến đứa con gái thân yêu nhất của anh phải tự tử vì hổ thẹn. Đêm đó mắt Ba Tung rớm lệ. Tôi hiểu con người coi cái chết nhẹ tựa lông hồng như anh bị uất ức ra sao khi bó tay trước những kẻ ám hại mình. Tôi cũng như anh, những lúc mạt lộ đều có sự hỗ trợ tinh thần cần thiết của anh Ba Ớt. Chính báo Công An TP là báo duy nhất đăng tin con gái Ba Tung tự tử chết vì áp lực tàn khốc từ một vài tờ báo lớn của thành phố. Đêm đó dù Lưu Trọng Văn đã viết sẵn một bài điếu văn thương khóc Huỳnh Bá Thành nhưng hai phó Tổng Biên Tập Vũ Quang Hùng, Hà Phi Long vẫn yêu cầu tôi tức tốc làm một bài thơ tưởng niệm Huỳnh đại huynh để đăng báo ngay sáng hôm sau. Mùng 3 Tết Quý Dậu bài thơ KHÓC ANH HUỲNH BÁ THÀNH đăng báo và đến bây giờ vẫn còn nhiều anh em nhớ mãi. Bài thơ sau này được in trong cuốn sách KÝ SỰ NHÂN VẬT của cố Họa sĩ Ớt, tức Huỳnh Bá Thành do NXB Trẻ phát hành năm 2002 :

    KHÓC ANH HUỲNH BÁ THÀNH

    Cái chết đến thật bất ngờ
    Người kỵ sĩ chưa hề thấm mệt
    Con ngựa Quan Công nhắm mắt như mơ
    Dây cương đứtt hai bờ nhật nguyệt

    Năm tuổi của anh đi qua như gánh xiếc
    Tiếng thị phi lẫn tiếng anh hùng
    Anh không có đủ 72 phép thần thông bất diệt
    Suốt đời ôm giấc mộng Tôn Ngộ Không

    Khi trần gian chưa sòng phẳng sự công bằng
    Khi ma quỷ vẫn còn đeo mặt nạ
    Cây cọ của anh vẽ từ nhân dân
    Lật tẩy bọn vua quan ngụy trá

    Khi máu đào còn tuôn như nước lã
    Người nhìn nhau chưa hiểu được lòng mình
    Ngòi bút của anh có đường gân thớ lá
    Lá rách lá lành đùm bọc nghĩa đệ huynh

    Nho sĩ ngày xưa đợi Mạnh Thường Quân
    Thế thiên hành đạo nuôi người khố rách
    Buổi nhiễu nhương của đạo quân thần
    Tâm nghiêng ngã giữa dơ và sạch

    Anh đã sống hết giấc mơ kiếm khách
    Cái chết giống như một lưỡi gươm cùn
    Trái tim khép ngay thời mở cửa
    Để nén nhang đời cháy đỏ rưng rưng

    Oi nghĩa tử củng là nghĩa tận
    Ai khanh tướng công hầu, ai họa sĩ nhân dân ?

    Chị Ninh (vợ anh Huỳnh Bá Thành) nói với tôi trong đám giỗ đầu : “Anh Ba hồi còn sống hay nói họ Bùi có hai kẻ chọc trời khuấy nước là Bùi Giáng và Bùi Chí Vinh. Ông Giáng ghé thắp nhang rồi, bây giờ Bùi Chí Vinh đốt cho anh Ba điếu thuốc đi”. Nhân nhắc đến Bùi Giáng, tôi sực nhớ khoảng đầu năm 1990 tôi có chở Hương Lan lúc đó mang bầu đứa con đầu lòng ghé chơi nhà Nguyễn Lương Vỵ, thi sĩ kiêm Trưởng phòng Văn Hóa Thông Tin quận Phú Nhuận. Tại phòng khách có mặt sẵn hai dị nhân Bùi Giáng và Joseph Huỳnh Văn. Anh Huỳnh Văn thì tôi không xa lạ gì, anh cùng đạo Công Giáo với tôi và là nhà thơ có hai câu thơ đau đớn đến tuyệt mỹ :

    Một đêm ta uống hết sông đầy
    Một đêm ta khóc hết thơ ngây

    Tôi với anh Hiến tức Joseph Huỳnh Văn thân nhau như huynh đệ, nhưng với Bùi tiên sinh thì khác. Sau khi làm thủ tục chào hỏi, Bùi tiên sinh hất hàm với tôi : “Phu nhân của Bùi hậu sinh có chữa hả, đặt tên gì chưa ?”. Tôi trả lời rằng chưa thì Bùi Giáng vỗ bàn cái rầm : “Trẫm đề nghị đặt tên cho hậu duệ Bùi hậu sinh là Bùi Vương. Bởi họ Bùi chưa có ai làm vua cả”. Phát ngôn của Bùi Giáng làm cả bàn phì cười, lúc đó tôi giả tảng nhắc lại kỷ niệm cùng với Hồ Lê Thuần hội ngộ ông ở chùa Long Huê, Gò Vấp. Kỷ niệm sâu sắc đến mức tôi ghi lại bằng bài thơ HỌ BÙI đọc ra trước mặt ông :

    HỌ BÙI

    Ta kiếm hoài một gã họ Bùi
    Trong lịch sử từng làm hoàng đế
    Chỉ thấy họ Đinh, Lê, Trần, Lý
    Thay phiên nhau mặc áo long bào
    Gượng cười ba tiếng mà rơi lệ
    Bùi gia trang tuyệt giống rồi sao ?

    Không xưng vương thì ắt cường hào
    Ta bỏ sử đi tìm kinh sách
    Nguyễn Đình Chiểu đui mà thấy hết
    Gọi ngay ông Bùi Kiệm đến chào
    Chao ôi thủy tổ nhà ta lạ
    Khinh ngai vàng, mê gái thật sao ?

    Không xưng vương thì ắt xưng tao
    Ta bỏ sách đi lùng tứ phía
    Chùa Long Huê có người mũ tía
    Trải chiếu rơm viết một chữ Bùi
    Ta giả nhà sư đi ngắm nghía
    Biết rằng Bùi Giáng ghé am chơi

    Thế thì dòng dõi nhà ta quậy
    Tửu sắc đều say đến bốc trời
    Không lập đế vì ưng rượu đế
    Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi
    Không lập chúa vì ưng nữ chúa
    Thà lên… Bùi mãi, chẳng lên ngôi !

    Bài thơ HỌ BÙI hiện giờ nằm trên mạng internet toàn cầu, là niềm tự hào của trang web “gia phả họ Bùi”. Bài thơ cũng được nhà báo kiêm nhà thơ trẻ Phan Hoàng in lại trong cuộc phỏng vấn tôi trên báo Người Đương Thời. Một lần trả lời phỏng vấn của Phan Hoàng trên báo Sài Gòn Giải Phóng tôi cũng đã giải thích về cái tên họ cụt ngủn của thằng con Bùi Vương do Bùi Giáng đặt. Bởi tôi là dân Sài Gòn gốc Nam Định, không phải dân miền Trung thường đặt tên con “hai chữ “. Phan Hoàng đã hỏi tôi thật cắc cớ về chuyện Bùi Giáng mất và bị khá nhiều câu lạc bộ kinh doanh thơ, thư pháp… lợi dụng, thì tôi đã trả lời rõ ràng: Rằng sự nghiệp thơ Bùi Giáng không nằm trong sáng tác mà nằm trong chính cuộc đời của ông khi giả điên và dấn thân như một Hành giả. Những kẻ ăn theo cái chết Bùi Giáng có thể liệt kê vào thành phần ngụy quân tử, thiếu lương tâm và vô đạo đức. Vì lúc còn sống Bùi tiên sinh không hề quan tâm đến họ mà chỉ chơi với trẻ con, chuồn chuồn, châu chấu. Hôm quan tài Bùi Giáng quàng ở chùa Vĩnh Nghiêm có mặt chị Kim Cương, điêu khắc gia Phạm Cung, thân tộc họ Bùi là Bùi Bảy… tôi đã lập lại lời nói đó. Và được nghệ sĩ Kim Cương, người mà Bùi Giáng cực kỳ hâm mộ, người lo hậu sự cho ông, đã ủng hộ tôi tối đa. Chị Kim Cương hào hứng tới nỗi lôi tôi và hai ông Phạm Cung, Bùi Bảy lên xe hơi của chị chạy ra phở Pasteur làm một chầu lai rai bồi dưỡng. Cũng cần thiết mở ngoặc đơn chỗ này : nhà của Phạm Cung là tiền trạm ghé chân của khá nhiều danh sĩ như Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư, Phạm Duy, Phan Nhật Nam…trong nhà có tượng đồng bán thân Bùi Giáng, Phạm Duy và một bức tranh sơn dầu Phạm Cung phóng bút vẽ tình bạn của ba người Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư và ông. Xuất thân từ một điêu khắc gia nhưng tranh của ông vô cùng sắc sảo khi đề cập đến thân phận loài người dưới đáy xã hội. Hồi Huỳnh Bá Thành còn sống, chính anh Thành cùng tôi đến tận nhà Phạm Cung mời ông khai trương phòng triễn lãm từ thiện đầu tiên tại báo Công An và cuộc triễn lãm đó đã thành công rực rỡ cả tài chánh lẫn nghệ thuật.

    Nhiều người trong giới văn nghệ (ngay cả chị Ninh, vợ Huỳnh Bá Thành) đều nghĩ rằng anh Ba Ớt “đai” là tôi hết đất sống. Trong độ tuổi “tứ thập bất hoặc” bốn mươi không còn gì để nghi ngờ, tôi vẫn tiếp tục tự mưu sinh thoát hiểm chẳng cần ai đỡ đầu. Tôi còn nhiều chuyện không thể kể ra đây hết được đối với nhiều người vì các lý do tế nhị khác nhau. Những chuyện thoạt nghe tưởng như giai thoại nhưng đều trả giá bằng đạo nghĩa ân oán phân minh. Nửa đêm trằn trọc nằm vắt tay lên trán nhớ lúc đói meo ra Đà Lạt gặp nhà thơ Bùi Minh Quốc, gặp bạn cũ Phan Minh rồi được nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự đánh xe hơi rước đi đọc thơ ở trường đại học Đà Lạt. Rồi lần nhậu dựa lưng cùng thi sĩ đàn anh Thu Bồn tại Hội Văn Nghệ bàn chuyện diệt bạo trừ gian, diệt bọn cầm bút vô lại và trừ đám gian thần nịnh hót. Rồi có lần cùng Nguyễn Trọng Tín, Trần Hữu Dũng, Võ Đắc Danh thuê hai chiếc xích lô xuống trường Đảng ở Thủ Đức nhậu, trong lúc ai nấy đều say khướt tôi bất ngờ cứu mạng Võ Đắc Danh khỏi một đường dao oan nghiệt, đến bây giờ bàn tay tôi còn thẹo. Rồi có lần cùng Nguyễn Quốc Chánh dẫn phái đoàn nho sĩ Bắc Hà đi chơi, cuối cùng nhà văn Nguyên Ngọc phải “bỏ dép chạy lấy người” tại Xóm Chùa. Rồi bỗng dưng nhớ lại hồi còn làm báo Công An với Huỳnh Bá Thành, tôi có dịp cứu cô cháu gái của nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm bỏ nhà vô Nam đi bụi qua bản tin đăng trên báo. Rồi nhớ lại những lần cụng ly với nhà doanh nghiệp xe lăn Tiến Toàn, mỗi lần đọc một bài thơ ứng khẩu là vị thương gia có máu Mạnh Thường Quân móc ra chi ngay cho tôi “một vé”. Rồi tiếp tục nhớ lần ra Bắc họp đại hội Nhà văn trẻ toàn quốc được sự đón tiếp bằng lòng hiếu khách đặc biệt của thi sĩ Nguyễn Quang Thiều với “anh hai Sài Gòn” theo cách của Thiều màchỉ tôi mới hiểu. Rồi lần ra Bắc tiếp theo để nhận tặng thưởng đặc biệt của NXB Kim Đồng cho bộ truyện thiếu niên 5 Sài Gòn, gặp dịch đau mắt bị Nguyễn Quang Lập lây, lúc về Sài Gòn bế quan cả một tuần lễ. Tiếp tục nhớ thời bo bo xách súng cùng nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết, họa sĩ trịnh Thanh Tùng đi săn cải thiện nhưng không dám bắn chim cu đất vì nó giống chim bồ câu biểu tượng cho hòa bình. Nhớ lần chở Vũ Ngọc Giao ngồi trên sườn trước chiếc xe đạp bỏ mối kẹo, khi đổ dốc Cầu Kiệu xe đạp tự nhiên gảy làm đôi, mỗi thằng ôm một nửa cái xe, không biết làm sao bèn quăng luôn xuống sông Cầu Kiệu. Tôi lại nhớ lần cố gắng dùng văn hóa “cứu bồ” nhà hàng Điểm Hẹn Sài Gòn của sếp báo Tin Sáng kiêm cựu dân biểu Dương Văn Ba cách đây vài năm bằng một đêm thơ nhạc trong đêm Noel với ba người “Bùi Chí Vinh, Phan Vũ, Miên Đức Thắng”, nhưng mọi thứ đã muộn màng vì nhà hàng có quyết định đóng cửa. Gần đây nhất nhớ lần lên Đà Lạt cùng đạo diễn Nguyễn Chánh Tín làm phim ma NGÔI NHÀ BÍ ẨN được nhiếp ảnh gia MPK Phước Khùng coi bói rằng ngôi nhà hoang ở Trại Mát đúng là có ma thật… Tất cả những hồi ức ấy loang loáng như một giấc mơ, như một kiếp nạn mà tôi bắt buộc phải trải qua. Trải qua để trở về CÁI CHUỒNG NGỰA của mình, cái chuồng ngựa biểu trưng cho mái ấm gia đình mà tôi đã từng xuất khẩu thành thi chép cho anh Nam Dao trước khi anh đi Mỹ. Bài thơ tam sao thất bổn mà Nam Dao đăng trên mạng như một kỷ niệm ngày tôi và anh quen nhau những năm đầu 75 :

    CÁI CHUỒNG NGỰA

    Tụi nó cưỡi lên lưng ta như cưỡi ngựa
    Khiến mông ta có đuôi và sau gáy mọc ra bờm
    Ta vừa hí vừa nặn mình nôn mửa
    Một đống lạ lùng nửa áo nửa cơm

    Tụi nó còn đưa ra trước đầu ta một giỏ cỏ thơm
    Có mùi văn chương, có hương nghệ thuật
    Ta cắn răng nhai một cách cuống cuồng
    Đến khi ợ mới hay mồm tàn tật

    Tụi nó định vỗ tay mừng ta tự sát
    Nhưng nước mắt của em đã đông lại thành chuồng
    Ta sẽ cố sải dù bốn chân cà nhắc
    Để nhớ rằng mình còn có một quê hương

    Có lần tôi tái ngộ Trần Tiến Dũng sau hơn 20 năm. 20 năm trước tôi cùng Hồ Lê Thuần xuống chợ Bình Tây thăm gian hàng bán đồ chơi của đôi vợ chồng sắp cưới Trần Tiến Dũng. Lần ấy Dũng chưa trở thành nhà thơ trường phái tư do, Dũng nhà quê trong sáng như một “người nông dân nổi dậy” gặp tôi liền xin bài thơ chép tay mang tựa CÂY DƯƠNG ỐM sáng tác khi lên vùng đất Siberi Duyên Hải. Tôi không ngờ sau chừng ấy năm Trần Tiến Dũng còn giữ bài thơ đó và đọc lên cho tôi cùng giáo sư toán nổi tiếng Cù An Hưng nghe tại quán cà phê Bích Câu. Khoảnh khắc thiêng liêng của chữ thật cảm động. Xin giới thiệu kỷ niệm đó ở đây :

    CÂY DƯƠNG ỐM

    Sẽ tìm được một cây dương ốm nhất
    Cởi áo ra ta đứng tựa trời trồng
    Tiếp tục cởi hết quần dài quần cụt
    Các em nhìn ta có giống cây không ?

    Sẽ đứng vậy bởi vì chiều lắm gió
    Chiều im hơi ta sẽ duỗi chân nằm
    Đàn ông nằm thô tục hơn thiếu nữ
    Các em nhìn ta giống bóng cây không ?

    Sẽ xuống biển nếu cây dương bật gốc
    Cây dương quyên sinh, ta phải tự trầm
    Kể từ đó sóng buồn như khóc
    Các em nhìn ta giống rễ cây không ?

    Sẽ không chết nữa nếu cây dương mập
    Nếu các em cũng từ khước áo quần
    Nếu các em đừng nhìn ta lén lút
    Oi biết biển còn nhớ đến cây không ?

    Thì ta cứ là cây dương ốm nhất
    Cho các em nhìn suốt bốn ngàn năm …

    Tháng vừa rồi gặp lại Hồ Thi Ca, con người muôn năm cũ, từ thời học đại học Sư Phạm sau Nguyễn Nhật Anh một khóa. Hồ Thi Ca cùng lớp với các nhà văn nữ Lý Lan, Lưu Thị Lương. Gặp lại để mà nhớ thuở ban đầu tôi đang làm báo Tuổi Trẻ và Hồ Thi Ca cũng như nhiều văn nghệ sĩ khác đang là cộng tác viên trang văn nghệ do tôi cùng anh Hoàng Nghĩa phụ trách. Lúc đó họ Hồ chưa làm thơ mà được chú ý nhờ viết truyện ngắn, truyện nào cũng có duyên và đầy triển vọng được ký dưới tên thật Hồ Bửu Trân. Họ Hồ chính là một trong những cơ sở hậu cần của tôi thời ấy trong những lúc lang bạt. Tôi và Nguyễn Nhật Anh thường xuống đường Hòa Hảo ghé tiệm thuốc đông y nhà của cha mẹ Hồ Thi Ca lục cơm nguội và ngủ lại. Ngày tôi sắp đi bộ đội cũng chính Hồ Thi Ca cùng cô Vinh vợ tương lai tổ chức đêm họp mặt trên sân thượng có nhiều người đưa tiễn, trong đó có Lý Lan, Lưu Thị Lương và các bạn yêu thơ khác. Lần gặp lại này Hồ Thi Ca chỉ hỏi tôi một câu “Sao không thấy ông làm thơ nữa mà chuyển sang viết kịch bản phim cho Nguyễn Chánh Tín, chẳng lẽ ông hết yêu thơ rồi sao ?”. Trời ạ, làm sao có thể bỏ thơ được khi nó là nghiệp chướng của mình. Tôi chỉ biết đọc cho Hồ Thi Ca bài THƠ GIẶT ĐỒ để lý giải :

    THƠ GIẶT ĐỒ

    Mới đầu ta định làm thơ
    Sau cùng cảm thấy giặt đồ hay hơn
    Sống như Hàn Tín lòn trôn
    Hăm bốn chữ cái nuôi mồm không xong
    Ra đường sạch giữa đám đông
    Về nhà đóng kín thư phòng thấy dơ
    Tắm nhiều lưng vẫn trơ trơ
    Tốn bao nước rửa, bàn cờ vẫn xoay
    Chi bằng sẵn áo quần đây
    Ta dồn cái sạch bên ngoài vào trong
    Sá gì một chút xà phòng
    Mà đi phản bội tấm lòng chậu thau
    Nắng lên, phơi áo công hầu
    Đợi khô đóng kịch, biết đâu thành người

    Ngoài Hồ Thi Ca, đầu năm 2008 tôi tình cờ tái ngộ lại một người bạn cố tri từ hồi còn học trung học công lập Trần Lục. Đó là Phương A, người bạn cận thị hiền lành ít nói nhà ở Xóm Bến Tắm Ngựa cạnh Xóm Lách của tôi. Phương A giờ đã là một thầy giáo giỏi chuyên môn dạy trường Nguyễn Thị Minh Khai, chủ nhân một blog có uy tín. Tôi không ngờ Phương A theo dõi con đường văn nghiệp gập ghềnh của tôi rất kỹ. Anh còn lưu giữ bài thơ tôi chép tay tặng anh năm học đệ lục (tức lớp 7). Anh “photo” tờ báo Xuân Trần Lục có bài viết của tôi để tặng tôi với nỗi ngậm ngùi. Hai đứa ngồi uống cà phê nhắc những thằng bạn nhà giàu giỏi giang đang lập nghiệp bên Mỹ như Đặng Quốc Thứ, Hoàng Quốc Quý… một cách bồi hồi. Coi, quen nhau năm 12 tuổi rồi bẵng đi hơn 40 năm mới gặp lại thì cuộc đời hỏi sao chẳng như một cái nháy mắt. Phương A nháy mắt qua tròng kính cận hỏi tôi về gia đình, vợ con. Tôi chỉ biết đọc cho thằng bạn hành nghề “gõ đầu trẻ” bài thơ GIA HUẤN CA :

    GIA HUẤN CA

    Làm thơ tự do cuối năm
    Làm thơ tự do trước khi rời thành phố
    Thơ đắp mền cho phu nhân
    Thơ lau mặt cho quý tử
    Thơ có túi như con đại thử
    Nhét nhân gian bốn cõi vào lòng
    Thơ cuồng nộ như cơn lũ
    Móng vuốt thành trăm sông

    Ái chà, ta làm thơ tự do
    Tự do chữ, tự do vần tuyệt đối
    Không câu nệ, chẳng từ chương
    Đời te tua như hủi
    Các triều đại thịnh suy vì nói dối
    Vua chúa sa cơ cũng giống ăn mày
    Thơ ta nghèn nghẹn bảy món chay
    Ca ngợi tự do trên thớt
    Tự do của con cá bằm sả ớt

    Cùi không sợ lở, hê hê
    Khát vọng tương đương như tuyệt vọng
    Con trai dòng họ Kennedy lớn lên làm Tổng thống
    Chuyện ngày xưa Lọ Lem xấu số hóa nữ hoàng
    Ta đã từng nằm mơ đàm đạo với Quang Trung
    Lúc thức dậy đất cắm dùi không có
    Ai bảo sinh ra ở hóc bà tó
    Mà mơ mộng ngai vàng
    Thơ hay bá cháy con bọ chét
    Cũng bèo như cóc ở trong hang

    Con trai ta chịu chơi hơn ta
    Nó có vương quốc riêng hết sảy
    Vũ trụ chứa một tỷ người máy
    Hành tinh gom một tỷ quân bài
    Nó chơi game bằng một tỷ ngón tay
    Ác thú, quái nhân đều nằm chỏng gọng
    Nó trả thù trong trật tự riêng
    Trật tự của một ngài Tổng thống

    Đừng cười anh nghe em
    Anh vẫn là gia trưởng
    Đừng khi dễ ba nghe con
    Ba vẫn là kẻ di truyền sự sống
    Có làm cha thiên hạ vẫn muôn đời nói ngọng
    Áo mặc không qua khỏi đầu
    Sau này con lỡ làm thiên tử
    Nhớ đừng quên gia phả chăn trâu

    Trong cuộc đời đầy sóng gió của tôi có lẽ ông Nguyễn Thắng Vu là ân nhân cụ thể nhất. Nhiều người khác cũng có bụng “lân tài” giúp đỡ tôi nhưng kết quả thường huyền ảo hơn là hiện thực. Chính ông Nguyễn Thắng Vu, giám đốc NXB Kim Đồng mới là kẻ giao hẳn chiếc cần câu cho tôi câu miếng cơm. Nội vụ bắt đầu từ lúc Trần Đình Nam, cán bộ biên tập NXB Kim Đồng vào miền Nam tìm tôi đặt hàng truyện dài HẢI ĐẠI BÀNG. Cuốn truyện phát hành thuở bao cấp xa xưa gây tiếng vang nhất định. Từ thành công bước đầu ấy, năm 1995 giám đốc Nguyễn Thắng Vu tin tưởng giao cho tôi phóng tác 70 cuốn TỨ QUÁI TKKG của Stefan Wolf qua bản dịch mộc của Vũ Hương Giang. Bằng kinh nghiệm giang hồ và văn phong không giống ai, tôi đã đẩy mỗi cuốn TỨ QUÁI TKKG phát hành hằng tuần lên con số trung bình 6 vạn bản, một con số mà đến giờ này chưa bộ sách nào phá nổi. Bộ TỨ QUÁI TKKG đã giúp tôi xây được một ngôi nhà khang trang đúng nghĩa tại Sài Gòn. Chưa dừng ở đó, năm 1997 giám đốc Nguyễn Thắng Vu tiếp tục đặt hàng tôi viết bộ truyện thiếu niên hành hiệp phiêu lưu mạo hiểm diệt bạo trừ gian hoàn toàn đặc sản Việt Nam mang tên 5 SÀI GÒN gồm 40 cuốn. Bộ truyện 5 SÀI GÒN cũng tạo được sự chú ý của dư luận với con số phát hành cao điểm mỗi cuốn lên tới 2 vạn bản mỗi tuần. Phải nói đây là lần đầu tiên 2 bộ truyện dành cho tuổi mới lớn trên được bày bán khắp các sạp báo, lẫn lộn và cạnh tranh với báo chí trên toàn quốc.

    Xét về mặt năng lực, ngoài Huỳnh Bá Thành từng đưa tờ báo Công An TP từ trong bóng tối ra ánh sáng với con số phát hành kỷ lục gần một triệu số hằng tuần, thì người thứ hai không ai khác chính là Nguyễn Thắng Vu, vị giám đốc tài ba và lão luyện từng vực dậy NXB Kim Đồng cất cánh qua bộ truyện tranh ĐÔRÊMÔN, một bộ truyện nhập cảng từ Nhật Bản làm đảo lộn hết những cái nhìn mô phạm cứng ngắc trong kinh doanh của ngành xuất bản bao cấp nội địa. Ông Vu đối với gia đình tôi có những tình cảm đặc biệt. Ông quan tâm đến tôi ngay cả lúc đã về hưu, chuyển sang làm chủ tịch hội đồng cố vấn cho NXB Kim Đồng. Tôi yêu quý và tôn trọng tâm huyết của ông về sự tự do cho trẻ con, sự công bằng cho người lớn khi ông nói về một thế giới mơ ước. Năm 2007 khi báo chí loan tin tôi về với hãng Chánh Tín Film của đạo diễn Nguyễn Chánh Tín để chuyên viết những kịch bản phim nhựa 45 phút đề tài kinh dị, hành động… Ông Nguyễn Thắng Vu đã gọi điện cho tôi nói rằng : “Xin chúc mừng em chuyển sang bước ngoặt mới. Theo anh thì Bùi Chí Vinh có ba thời kỳ phất lớn trong sáng tác. Đó là thời kỳ làm thơ, thời kỳ viết truyện và bây giờ đến thời kỳ làm phim. Anh luôn tự hào và tin tưởng ở em”. Cuộc trò chuyện qua điện thoại rất dài và rất nhiều chuyện để nói giữa hai anh em ít khi gặp được nhau. Tôi không phản đối sự chúc mừng hồn nhiên của “lão ngoan đồng” Nguyễn Thắng Vu, tuy nhiên trên thực tế tôi làm gì có thời nào cho mình. Tôi sống bằng nổ lực tối đa để tự cứu mình, cứu người thân, và cứu đồng loại. Chữ “thời” chỉ xảy ra với những kẻ liên minh quyền lực và tiền bạc trong khi tôi chỉ là một người cầm bút “solo”. Sau lưng tôi chỉ có nhân dân thấp cổ bé miệng, tôi đã bị “đóng đinh” không ít lần trong đời vì chiến đấu cho số đông nhân dân bị quên lãng ấy.

    Năm nay 2008 tôi đã bước vào tuổi “ngũ thập tri thiên mệnh”, người xưa nói số tuổi này nắm được mệnh trời. Tôi chẳng nắm gì cả, tôi ghê tởm bọn tham sân si và không thể đánh đu số mệnh giống chúng được. Tôi vẫn tiếp tục sống như một con người dù có lúc bị đẩy vào đường cùng như một con vật. Thậm chí tôi sẵn sàng đề tựa tập thơ NGỰA CŨNG BUỒN của thầy giáo Tiến sĩ dạy toán trường đại học Kinh Tế là Nguyễn Văn Nhân vì tôi cảm thấy hạnh phúc khi đọc một tập thơ có những bài thơ hay. Bài tựa mang tên LỜI TRI KỶ CHO NHÂN mà tôi phóng bút tại chỗ lúc ngồi với Phạm Hồng Danh, Nguyễn Văn Nhân trong một chiều mưa tầm tã. Xin trích bốn câu cuối cùng bài tựa mà tôi viết :

    Đệ nhìn huynh như nhìn… con ngựa
    Ngựa chứng nhiều khi cũng biết buồn
    Ta nhìn đệ như nhìn đốm lửa
    Cuối đường hầm leo lét mà thương

    Phạm Hồng Danh, Thạc sĩ toán kiêm thi sĩ đại học Kinh Tế cũng là một chiến hữu từ trên trời rớt xuống. Danh biết tôi từ hồi hắn đi bộ đội nằm bệnh xá quân y nghe một sĩ quan Trung đoàn 10 Rừng Sát nằm giường kế bên kể về giai thoại cuộc đời tôi trong đơn vị của anh ta. Mối hảo cảm phát sinh nên khi gặp nhau dễ dàng trở nên huynh đệ. Qua Phạm Hồng Danh, tôi có dịp cụng ly với vô số thầy giáo dạy toán nhưng mê thơ như điếu đổ, các hiền đệ như Tuấn guitar chơi đàn ngọt xớt và hát không biết mệt. Quan niệm của tôi về thơ và đời nhẹ tênh như câu trả lời phỏng vấn cho một nhà báo báo Tin Tức Cuối Tuần. Khi được hỏi “Nhà thơ thời chiến tranh bảo vệ tổ quốc, nhà thơ thời thị trường và nhà thơ thời hội nhập trong suy nghĩ của ông ?” thì tôi đã trả lời như sau : “Nhà thơ thời kỳ nào cũng phải giữ khí tiết và liêm sĩ. Thể chế chính trị có thể thay đổi theo thời gian dâu bể nhưng tác phẩm và tài năng mãi mãi trường tồn. Tôi còn nhớ sự tích Lý Bạch bắt Cao Lực Sĩ cởi giày, sau đó làm thơ ca tụng nhan sắc Dương Quý Phi, chọc giận Đường Minh Hoàng rồi bỏ triều đình đi giang hồ lãng tử, cuối cùng ôm trăng mà chết. Sự tích đó thật đẹp. Hy vọng các nhà thơ chân tài lấy Lý Bạch làm tấm gương cho cuộc sống của mình”.

    Phát biểu trên thay cho lời khép lại GIAI THOẠI CỦA THI SĨ, PHẦN 4. Cái sự khép mang tính tiên tri trong một bài thơ mà tôi viết cách đây 10 năm, khi thế giới sắp bước vào năm 2000 với những lời sấm truyền về ngày tận thế. Bài thơ vượt qua giới hạn của mọi ràng buộc về quốc tịch, ngôn ngữ để nói lên tiếng cầu cứu của con người cô độc. Thiết nghĩ chép lại bài thơ DỰ BÁO NĂM 2000 ở đây để tạm kết thúc phần tự truyện này vẫn còn nguyên giá trị vượt thời gian:

    DỰ BÁO NĂM 2000

    Năm ấy ta 46 tuổi
    Theo tử vi thì bụng phệ má bầu
    Biết làm tình sớm nên lưng đau
    Biết làm ăn muộn nên răng rụng
    Đừng võ đoán về sự gầy sự thủng
    Vì chưng mập ốm không do con người
    Vì chưng trái đất không do bầu trời
    Thời gian chia hai phần màu sắc
    Ban đêm có màu đen súc vật
    Ban ngày có màu vàng nhân sinh
    Đứa trẻ sinh ra đã chết ngay không tăng thêm điêu linh
    Thằng già hưởng thụ đã đời rồi nhăn răng không giảm phần khoái lạc
    Con người nhún vai kiếp này rồi xuôi vai kiếp khác
    Rồi vẫn mọc hai vai để gánh kiếp con người
    Ta chưa hề bố thí kiếm lời
    Nên Chúa Phật ban cho cái lỗ
    Ta không mua bán với thiên cổ
    Ta không đặt cọc với mai sau
    Làm thơ như nói tục
    Cục cứt không có đầu

    Ta là một cục cứt năm 46 tuổi
    Thối hoăng từ lúc mới sinh
    Người ta cấy nhau trẻ con để được cường dương
    Ta bị ăn cắp thân thể ngay khi mới đẻ
    Những thằng người lớn vì dục tình với nàng hầu, vợ bé
    Đã lấy sự khỏe mạnh của ta gieo rắc trên giường
    Vì gầy ốm ta thuở nhỏ bất lương
    Vì bụng phệ ta lúc già thành Di Lặc
    Con người ăn thịt lẫn nhau rồi biến mất
    Cục cứt vẫn không có đầu
    Đẻ ra đau
    Ỉa ra khoái
    Có gì khôi hài hơn khi cục cứt biết nói
    Về sự thơm tho không tưởng của mình
    Rằng con người ta rất văn minh
    Rằng con người ta không phải là một cây lau cây sậy
    Rằng con người ta biết đái
    Như biết thờ cúng ông bà
    Tội nghiệp ông bà, trước khi ta được biết ta
    Ta chỉ là một con sâu trong cái hình thù cương cứng
    Cục cứt ơi đừng lúng túng
    Nhà ngươi cứ phải thối hoăng dù trốn ở nhà lầu
    Nhà ngươi nhão nhẹt trong cao lâu
    Lầy nhầy trong khách sạn
    Nhà ngươi đẻ ra phát minh rồi trầm trồ tự thán
    Coi chừng nguyên tử hủy diệt địa cầu
    Nhà ngươi quên rằng mình chẳng thể sống lâu
    Trong cái phần thân thể thối
    Bộ phận sinh dục của nhà ngươi lên tiếng nói
    Công bằng, cơm áo, tự do
    Hỡi những triết gia lừa dối
    Trước sau gì mày cũng thành con ma

    Ha ha
    Ta là một con ma năm 46 tuổi
    Một con ma đói
    Vì ăn phải bã con người
    Nguyễn Công Trứ chỉ muốn làm cây thông trên đồi
    Vì ăn nhằm bỗng lộc
    Nguyễn Khuyến về già mù mắt
    Vì ngó phải công danh
    Nguyễn Du vang tiếng lầu xanh
    Vì dám nhận mình bất lực
    Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc
    Vì đẻ một lô con cháu chẳng ra gì
    Trần Tế Xương nhậu nhẹt li bì
    Vì sợ tỉnh ra là biết hết
    Cao Bá Quát đâm đầu chết
    Thiên tài kỳ cục vậy ta
    Rõ ràng con người là một con ma
    Lè lưỡi
    Thằng giàu có nếm thức ăn giỏi
    Lưỡi dài
    Thằng nghèo túng quanh năm sắn khoai
    Lưỡi ngắn
    Lưỡi càng cong càng ma vô cùng tận

    Ta có hồn ma có xác người
    46 tuổi đời
    2000 năm tuổi cứt
    Không gian lắm chiều nên khi nằm dưới đất
    Ta lúc nào cũng có thể bị văng ra
    Trái đất tự xoay để tạo ngày giờ
    Ta tự thối rửa để lòi định mệnh
    Thời gian giống như một con điếm
    Truyền sida trên khắp màu cờ
    Đừng tự hào vì quốc kỳ mà chế tạo robo
    Khi mọi thứ đều từ đất vụn
    Nổ tung trái đất đi, hỡi các nhà vua xuất chúng
    Các nút bấm tuyệt vời ở Nga, Mỹ, Nato
    Không có lý do gì mùi cứt
    2000 năm nay làm thối mũi các nhà thơ

    Lịch sử sẽ mới nguyên nếu được bới từ tro
    Các trái đất khác lại bắt đầu năm thứ nhất
    Lẽ dĩ nhiên là bắt đầu thúi hoắc !

    THÁNG 11 – 2008

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi