Bùi Chí Vinh: Giai thoại của thi sĩ (phần 3)

  • Bởi Admin
    05/02/2009
    0 phản hồi

    Tôi sinh ra đời nhằm một ngôi sao… quậy, rất thích ứng với thời đại bất ổn. Bốn câu thơ đầu trong bài NGÃ HÀNH đủ nói lên điều đó :

    Ta sinh ra gặp buổi nhiễu nhương
    Bất lương bàn luận chuyện hiền lương
    Kẻ sĩ cúi đầu làm binh sĩ
    Thơ quốc doanh cười cợt thơ Đường…

    Hầu như anh em văn nghệ đều thuộc lòng bốn câu thơ trên và truyền khẩu cho nhau, truyền khẩu sâu đậm đến mức nhà báo Võ Đắc Danh trong một bài viết tranh luận giáo dục với Trần Mạnh Hảo, nhân đó bàn về một số chủ trương chính sch sai lầm của nhà nước trong việc cải tạo đất đai thổ nhưỡng đồng bằng sơng Cửu Long đã lấy bốn câu thơ của tôi để làm phần kết bài đăng báo và phổ biến rộng rãi trong một phiên họp quốc hội toàn quốc ở Hà Nội. Hậu quả của đợt phổ biến đầy nhiệt huyết, đầy tinh thần ái quốc ấy là đương sự Võ Đắc Danh bị thu hồi thẻ nhà báo, bị miễn phận sự đại diện báo Người Lao Động ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long và phải bắt đầu kiếp mưu sinh kiếm sống như bất cứ kẻ sĩ nào bị tước quyền ăn nói. Vừa rồi đọc tin trên báo thấy Võ Đắc Danh hiện cơng tác tại báo Sài Gòn Tiếp Thị đoạt giải nhất cuộc thi bút ký phóng sự năm 2008 của báo Văn Nghệ TW nghĩ cũng mừng cho anh. Như vậy là nhà nước bây giờ ít ra cũng tiến bộ hơn thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm, bớt thù dai và hành hạ kẻ sĩ bị khoanh vùng.

    Trước đó lùi lại thời gian khoảng vào trung tuần tháng 5- 1995 nhân kỷ niệm lần thứ 179 ngày sinh cụ Nguyễn Đình Chiểu, một đợt bút chiến cũng đã diễn ra chung quanh bài báo của nhà báo Đỗ Quang Hạnh viết về tôi trên tạp chí Diễn Đàn Văn Nghệ Việt Nam. Bài báo mang tựa “MỘT CHÚT RÔNG DÀI VỀ THƠ QUẬY CỦA BÙI CHÍ VINH” trong đó Đỗ Quang Hạnh cố tình ví von lối thơ dân gian hiện đại đượm nét giang hồ du đãng của Bùi Chí Vinh ngang tàng nhưng tương tự như thơ Lục Vân Tiên bình dân cổ điển của cụ Nguyễn Đình Chiểu thời trước. Bài báo thẳng thắn đầy bản năng chủ quan của người viết đã tạo nên phản ứng dữ dội của một số “cây đa cây đề” vốn được coi là ngự sử văn đàn của văn chương Nam Bộ, khiến Đỗ Quang Hạnh sinh trưởng ngoài Bắc vốn chưa nếm mùi sông rạch miền Nam bị bao vây suýt… chết đuối.

    Nói tóm tắt, tôi sinh ra đời từ một ngôi sao “quậy” chứ không phải một ngôi sao được đánh bóng ở các bàn tròn, chính vì thế hãy cho tôi khước từ mọi sự so sánh của bàn dân thiên hạ về đời sống và thơ của mình. Thơ tôi chắc chắn không “từ chương bác học” như cụ Nguyễn Du nhưng cũng không “thật thà dân dã” như cụ Đồ Chiểu. Thơ tôi khó chịu đến mức nhiều đồng nghiệp phải nhăn nhó bởi phong cách không giống ai. Tôi còn nhớ năm 1990, đúng một năm sau khi tập THƠ TÌNH BÙI CHÍ VINH xuất bản lần đầu, trên báo Lao Động đã có cuộc thảo luận của nhiều nhà thơ, nhà lý luận, nhà phê bình văn học xoay quanh chủ đề “PHẢI CHĂNG LÀ MỘT NGÔI SAO LẠ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” với phần mở đầu như sau “Tập THƠ TÌNH BÙI CHÍ VINH ra đời từ năm ngoái đã gây xôn xao như sự xuất hiện của một ngôi sao lạ. Sự đánh giá thì lại trái ngược nhau rất nhiều. Có bạn trẻ chữa vào trang đầu :”TẬP THƠ ĐÁNG ĐỌC NHẤT THẾ KỶ”, có nhà thơ lại hạ một câu :”THƠ VĨA HÈ”. Có điều chắc chắn thơ Bùi Chí Vinh đã có nhiều người đọc, nói theo kiểu bây giờ là bán được. Chúng tôi xin giới thiệu bốn bài phát biểu của các nhà thơ, nhà phê bình có tên tuổi đánh giá tập thơ này”. Bốn bài phát biểu đó là của các vị Nguyễn Văn Lưu, Anh Ngọc, Lê Quang Trang, Lại Nguyên Ân. Nhân đây tôi cũng xin cám ơn nhà văn nữ Phạm Thị Hoài trong một lần vào Sài Gòn năm 1989 gặp tôi đã gom 100 tập thơ Bùi Chí Vinh ra Bắc và phân phối đến những địa chỉ cần thiết của sĩ phu Bắc Hà. Hiệu quả của đợt phân phối ấy là bài phê bình đầy thiện ý của Vương Trí Nhàn trên báo Thể Thao Văn Hóa “Thơ Tình Bùi Chí Vinh xanh vỏ đỏ lòng”. Là bài viết của cố nhà văn nhà phê bình Xuân Tửu trên báo Công Giáo Và Dân Tộc so sánh “Thơ tình yêu Bùi Chí Vinh có thể là một cái mốc trên con đường phát triển thơ ca… Yêu thương và Chúa và Phật là đồng nhất. Điều thánh thiện không phân chia đạo này hay đạo khác. Như thế mới đích thực là người”. Là bài tựa của nhà văn Vũ Quần Phương cho tập thơ Bùi Chí Vinh của Nhà Xuất Bản Kim Đồng “Những bài thơ trong ruột sách, bài nào cũng nghịch. Nhận xét là nghịch thì không bao quát được đặc điểm thơ ông. Nhưng phải tạm dùng để nói cái khác thường, cái bất ngờ, cái không thuận… tai của thơ Bùi Chí Vinh. Không thuận tai nhưng lại thuận lý, thuận tình, nghĩa là có tính thơ. Là thơ thực sự mà bề ngoài, thoáng đọc thoáng nhìn lại ngỡ không thơ. Hóa ra đây là một thủ pháp, một biệt tài, một bản lĩnh. Người đọc ít lịch lãm hoặc thiếu trân trọng nhiều khi không thâm nhập được…”. Là sự đồng cảm của Huỳnh Dũng Nhân trên một tờ báo “Tôi khoái nhất cách xưng ta của chàng thi sĩ tuổi con ngựa này. Cái ta ấy là sự cao ngạo, là ý thức coi thường khách thể, vượt qua những rào chắn tập quán, chỉ còn biết cái tôi đang được nâng lên thành cái ta, cao hơn, ngang tàng hơn và quân tử hơn”. Là Nguyễn Thái Sơn nhận xét trên báo Văn Nghệ TP “Tôi muốn ví dụ Thơ Tình Bùi Chí Vinh như thứ cà phê quán cóc, pha bằng túi vải, uống bằng ly đất nung, không sang trọng nhưng là cà phê thứ thiệt, pha đặc, người uống lần đầu có thể thấy đắng, bỏng miệng nên nhíu trán thôi…”. Là Nguyễn Quốc Chánh viết trên báo Thanh Niên “Thơ Bùi Chí Vinh thuộc loại mạnh, ngang và tàng. Nó như một con ngựa sợ yên cương, khoái tung bờm hí rền trên thảo nguyên, nó háo hức đòi được trao thân để trở nên chính nó, dù chỉ trong khoảnh khắc… “ Đại khái là như vậy. Riêng tôi có thể tự đánh giá một cách ngẫu hứng về mình qua bài thơ NGÓ LẠI TIỀN NHÂN :

    NGÓ LẠI TIỀN NHÂN

    Với trí nhớ của Lê Quý Đôn
    Cái đầu đội trời của Cao Bá Quát
    Lại thêm Tú Xương chút mùi khinh bạc
    Ta đem thân ta đùa giỡn với công hầu

    Ta cấm “bể xanh hóa thành ruộng dâu”
    Cho người có muối và cho tằm có lá
    Ta cấm cửa những nhà thơ đon đã
    Nguyễn Công Trứ làm quan chỉ đáng mặt vi thần
    Ta cấm cửa những nhà thơ kẻ cả
    Nguyễn Khuyến về già chưa đủ lộc để chăn dân

    “Trường giang như kiếm lập thanh thiên”
    Ta thương Cao Chu Thần nên tuốt gươm làm giặc
    Ta thương mặt trời bị chôn xuống đất
    Cho lũ hủ nho nhà Nguyễn mặc hoàng bào
    Ta thương mặt trăng gặp phải thời nguyệt thực
    Cho lũ nịnh thần lấm tấm mọc như sao

    Ta thương anh hùng “ở phố Hàng Nâu”
    Giả làm “phỗng sành” mặt mày lơ láo
    Ta thương Tú Xương giả say bên chén rượu
    Không dám ngâm thơ sợ lộ cốt rồng
    Ta thương bậc Tú tài quân tử
    Mượn áo giang hồ đùa lũ Trạng tiểu nhân

    Ta có lời xin lỗi Trần Tử Ngang
    Hà tất phải “độc sảng nhiên nhi thế hạ”
    “Niệm thiên địa chi du du” bạn niệm một mình thì phí quá
    Ta chẻ đầu ta chia hết thảy mọi người
    Thế gian này những kẻ bình thiên hạ
    Có còn gan lớn mật để rong chơi
    Có giống Quát chép thơ vào vách đá
    Có như Xương nhét chữ xuống mông ngồi
    Và có dám như ta : đọc những lời khí phách
    Rồi rủ Hồ Xuân Hương chơi cờ tướng tay đôi !

    Tôi bước vào ngôi trường tiểu học chậm mất hai năm so với bạn bè cùng lứa tuổi vì một lý do bất đắc dĩ. Ba tôi là ông Bùi Văn Trình, đảng viên Đảng Lao Động Việt Nam thời kháng Pháp, ông từng sang Paris học nghề thợ giày dành cho người tàn tật và gia nhập đảng viên Đảng Cộng Sản Pháp. Lúc về nước ông tiếp tục hoạt động và bị bắt giam dưới chế độ Ngô Đình Diệm, bị tịch thu cửa hiệu mặt tiền “Tiệm giày tàn tật Bùi Văn Trình” trên đường Yên Đổ (tức đường Lý Chính Thắng bây giờ). Mẹ tôi, bà Nguyễn Thị Mùi cũng tương tự như vậy, bà cũng là đảng viên Đảng Lao Động (tiền thân của Đảng Cộng Sản) nhưng thời gian ở tù ít hơn chồng. Bà thường tự hào nói với con cái rằng “Gia đình mình là gia đình Công Giáo yêu nước”. Bà từng bị giam ở bót Hoàng Hùng, bót Catina… và có thời gian ở chiến khu. Trong tù bà bị nhốt chung với vài nhân vật lịch sử như bà Nguyễn Thị Bình, Đỗ Duy Liên, Lan Mê Linh… như lời bà kể. Còn trong chiến khu bà từng mô tả về cách sinh hoạt đặc biệt của ông Lê Duẩn thuở hàn vi, đầy lam lũ và khôi hài không thua gì ông Lưu Bang lúc chưa lập nên nhà Hán. Những chuyện kể của bà loáng thoáng như món rau muống luộc chấm nước tương trong bữa ăn nhà nghèo khiến tôi không mấy quan tâm. Điều tôi quan tâm là bà đã thay mặt người chồng nằm trong vòng lao lý, dạy dỗ ba đứa con nên người bằng nghề thợ may thuê cực khổ.

    Năm 1961 ba tôi được chế độ Ngô Đình Diệm thả về, trên lưng và ngực đầy những vết thương tím bầm do bị tra tấn bằng roi điện, roi cásấu. Ngày ông xuất hiện trước cửa căn nhà sàn vách ván lềnh bềnh trên mặt sông với bộ đồ bà ba đen, thằng con trai đầu lòng mới 7 tuổi là tôi đã từ chối ông. Từ trước đến giờ tôi quên mất mình có cha và chỉ được học đánh vần bởi người mẹ bằng cuốn “Nhị Thập Tứ Hiếu”. Tôi đã quay lưng với ông suốt một tuần lễ mặc kệ đêm nào ông cũng rơi nước mắt khi nằm bên cạnh các con. Ay thế mà chỉ trong vòng một năm tập làm quen tình phụ tử với nhau, tôi đã được ông dạy gần hết chương trình tiểu học. Tôi đã học giỏi đến mức có thể đi biểu diễn ở các trường công và trường tư lúc mới vừa…8 tuổi. Tại trường tiểu học tư thục Sao Mai dưới chân cầu Công Lý, các thầy giáo nhà dòng đã dẫn tôi đến tất cả mọi lớp từ lớp năm đến lớp nhất (tức lớp 1 đến lớp 5) để đọc bảng cửu chương từ 2 cho đến 9 đọc xuôi rồi đọc ngược, sau đó làm toán chia bốn con lẫn toán phân số của bậc trung học. Tôi biến thành tấm gương hiếu học một cách kỳ lạ. Tại trường tiểu học công lập con trai Tân Định (giờ là trường tiểu học Nguyễn Thái Sơn) tôi đã được thầy hiệu trưởng đặc cách nhận vô học lớp tư (tức lớp 2) sau khi trắc nghiệm năng lực về văn và toán.

    Kể từ đó tôi luôn luôn lãnh phần thưởng hạng nhất cuối năm học từ lớp tư cho đến lớp nhất. Chỉ cần đứng hạng nhì trong một tam cá nguyệt (học kỳ) là tôi đã bị trừng phạt bằng những ngọn roi da giày của ba tôi quất tới tấp vào mông. Những lần bị đòn như thế tôi rất oán hận và nguyền rủa ba tôi nhưng bây giờ ngồi nghĩ lại mới thấy ông có cách giáo dục và thương con cực kỳ đặc biệt. Ông có cách giáo dục như bà mẹ thầy Mạnh Tử dạy con lúc còn thơ trong sách Cổ Học Tinh Hoa. Tôi lại may mắn thụ giáo những bậc thầy giỏi ngay từ tiểu học. Lớp Tư 1 học thầy Nhạ. Lớp Ba1 học cô Cổ Tấn Mỹ Loan. Lớp Nhì A học cô Phan Thị Mai. Lớp Nhất A học bà Giáo. Thi Đệ Thất vô trường trung học công lập Trần Lục năm đó chỉ lấy 170 người trên hơn 10.000 thí sinh ứng thí, tôi thi đậu hạng 7 và được nhận học bổng suốt những năm trung học đệ nhất cấp. Số điểm hạng 7 của tôi so với hạng nhất thủ khoa chỉ cách 1 điểm rưỡi. Ba tôi bằng cách nào đó đã xem phiếu điểm thi và rất hài lòng khi thấy bài văn tôi đạt điểm cao nhất, còn bài toán được tôi giải theo kiểu phân số của bậc trung học và bị trừ 2 điểm dù đáp số y chang của Bộ Giáo Dục.

    Trong phạm vi bài viết này thiết tưởng cũng cần nói lên sự ưu việt của nền giáo dục thời đó dành cho trẻ em nghèo. Tuy đất nước trong thời chiến, nhưng những đứa trẻ con chúng tôi mỗi buổi sáng đến trường không cần phải lấy tiền của cha mẹ, bởi trước khi vào lớp đều được nhận một phần ăn bánh mì phô mai và ly sữa bột nóng miễn phí. Đến cuối năm đứa nào nghèo quá thì được lãnh phần thưởng “CÂY MÙA XUÂN” gồm quần áo sách vở, không hề phân biệt gia đình có hoạt động chống lại chế độ hay không. Cụ thể là gia đình “tù chính trị” nghèo mạt hạng của tôi luôn có thêm phần thưởng ấy. Chưa kể học tiểu học được dạy môn Đức Dục, lên trung học có môn Công Dân đều là những môn dạy căn bản đạo lý làm người. Chính nhờ đạo lý làm người ấy mà tôi biết được cô Phan Thị Mai còn có bút hiệu là Nhất Chi Mai, cô giáo lớp nhì trường Tân Định hiền lành dễ thương của chúng tôi nhà ở xóm Nhà Đèn, là một nữ anh hùng dám tử đạo vì lý tưởng ái quốc. Tại miền Nam vào những năm 1965 – 1968 mức độ phát triển và cường độ chiến tranh ngày càng ác liệt và tàn khốc. Cô giáo Nhất Chi Mai của tôi noi gương Morisson tự thiêu trước Tòa Bạch Ốc để phản đối chiến tranh. Ngày 16 – 5 – 1967 cô tự tưới 10 lít xăng lên người rồi châm lửa, biến thân mình thành đuốc tại chùa Từ Nghiêm, đường Bà Hạt gây chấn động dư luận trong nước và thế giới. Lúc đó tôi đang học Đệ Lục (tức lớp 7) trường trung học công lập Trần Lục. Tôi bàng hoàng không phải vì mình là đứa học trò giỏi nhất được cô cưng nhất , mà bàng hoàng trước bài thơ “CHẮP TAY TÔI QUỲ XUỐNG” do cô để lại như một di chúc :

    CHẮP TAY TÔI QUỲ XUỐNG

    Sao người Mỹ tự thiêu ?
    Sao thế giới biểu tình ?
    Sao Việt Nam im tiếng
    Không dám nói Hòa Bình

    Tôi thấy mình hèn yếu
    Tôi nghe lòng đắng cay
    Sống mình không thể nói
    Chết mới được ra lời

    Hòa Bình là có tội !
    Hòa Bình là cộng sản !
    Tôi vì lòng nhân bản
    Mà muốn nói Hòa Bình !

    Chắp tay tôi quỳ xuống
    Chịu đau đớn thân này
    Mong thoát lời thống thiết !
    Dừng tay lại người ơi !

    Dừng tay lại người ơi !
    Hai mươi năm nay rồi
    Nhiều máu xương đã đổ
    Đừng diệt chủng dân tôi !

    Chắp tay tôi quỳ xuống…

    Bài thơ chỉ đơn giản như thế. Nhưng đối với tôi nó là ngọn đuốc sống. Ngọn đuốc ấy hừng hực và trường cửu hơn bất kỳ một thứ hào quang nào đã dẫn dắt và kích động tôi bước vào con đường làm cách mạng. Một con đường chông gai, nguy hiểm mà tôi đã trả giá bằng tuổi trẻ cho tới tận tuổi trung niên ẩn sĩ bây giờ.

    Năm 11 tuổi tôi bắt đầu có thơ in báo ở các trang thiếu nhi của các nhật báo, tuần báo thời đó. Tôi đọc ngốn ngấu cổ văn kim văn, nhai nuốt và tiêu hóa hết kho sách cũ của ba tôi và cậu tôi giấu kín dưới gầm giường. Ở trường dạy loại thơ gì là tôi thực hành ngay loại thơ đó, kể cả thể loại thơ khó nhất là thơ Đường Luật. Tôi làm thơ Đường bảo đảm có đủ “mạo, thực, luận, kết” với cặp thực và cặp luận đối nhau chan chát. Số lượng thơ đăng báo của tôi cho đến 15 tuổi không dưới vài trăm bài thơ được cắt dán trong sổ hẳn hoi. Năm học Đệ Lục trường Trần Lục tôi và hai người bạn cùng lớp là Vũ Hào Hiệp, Ngô Đình Hải dám thành lập “Nhóm Thơ Hồn Trẻ” với những tôn chỉ, mục tiêu, thủ tục kết nạp nhóm viên đăng lên các báo. Chúng tôi có quỹ riêng tích lũy bằng sự đóng góp của các tân nhóm viên và đăng đàn sáng tác thơ, truyện y chang những ngòi bút chuyên nghiệp. Hai thành tích của tôi trong giai đoạn này là đoạt giải thưởng Hội Họa Thiếu Nhi Châu Á lúc mới 9 tuổi đang học lớp Ba1 trường Tân Định với bức tranh màu nước mang tựa “Quang Trung Hành Quân” và giải thưởng truyện ngắn Viết Trên Quê Hương Điêu Tàn của một nhật báo đối lập lúc 15 tuổi với truyện “Trái Đầu Lâu”. Trong bức Quang Trung Hành Quân tôi vẽ cuộc tiến công thần tốc của Hoàng Đế Quang Trung ra Bắc bằng cuộc chuyển quân trên võng, cảnh tượng cứ hai nghĩa quân Tây Sơn đi như chạy cáng võng một người nằm quả là hình ảnh đặc sản chỉ có ở con người Việt Nam và ở sự sáng tạo thần kỳ của Nguyễn Huệ. Còn trong truyện Trái Đầu Lâu tôi nói về sự tích trái bã đậu thường rơi rụng trên vĩa hè đường Tú Xương mà tôi hay đi qua. Trái bã đậu chín khô có hình dạng như cái sọ người. Trong số tuổi 15 non nớt tôi tưởng tượng cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn Nam Bắc đang lan dần trên thành phố qua những “trái đầu lâu” mỗi ngày rơi lộp độp.

    Tại trường Trần Lục tôi được dạy dỗ bởi những giáo sư tận tâm, nhưng người gây dấu ấn mạnh nhất đối với chúng tôi có lẽ là thầy Đỗ Quý Toàn. Thầy Đỗ Quý Toàn là một thi sĩ thành danh thời bấy giờ với trường phái thơ tự do hiện đại. Sáng tác của thầy xuất hiện trên nhiều tạp chí giá trị. Thầy Toàn luôn là niềm ngưỡng mộ của chúng tôi khi đứng trên bục giảng và là người phụ trách mục giới thiệu sáng tác văn học trên Đài Truyền Hình Sài Gòn với giọng Bắc trầm ấm, dáng người nho nhã, ống píp phì phà khói ngậm trên môi. Thầy đã dạy tôi hai năm liên tiếp Đệ Lục lẫn Đệ Ngũ và cũng chính thầy trong hai năm đó trao cho tôi giải thưởng Văn Chương Liên Lớp. Có một điều mà thầy không hề ngờ đến là cái tên tôi đăng thơ cùng chung một cột báo với nhà thơ Đỗ Quý Toàn trên tạp chí Đời. Bài thơ phản chiến tựa GÃ MỘT CHÂN đăng năm 14 tuổi dưới bài thơ của thầy được tôi ký bút hiệu là Chính Vi. Cái tên Chính Vi (là tiếng lái Chí Vinh) không biết có làm thầy ngờ ngợ…

    Tôi chỉ học hết năm Đệ Tứ (lớp 9) ở trường Trần Lục là phải chuyển qua trường trung học công lập Nguyễn Trãi ở tuốt quận 4 vì một lý do giản dị : Tôi chọn ban A và trường Trần Lục không có lớp 10A. Tại ngôi trường Nguyễn Trãi mới mẻ này trong suốt hai niên khóa trung học đệ nhị cấp tôi vẫn là một trong những học sinh xuất sắc nhất lớp. Trường Nguyễn Trãi nằm ở ngoại ô Sài Gòn với đa số học trò xuất thân từ giai cấp công nhân hoặc lao động nghèo thành thị, một môi trường hoàn toàn phù hợp với sự nổi loạn và khuynh hướng phản chiến của tôi. Một bài thơ tiêu biểu trong thời kỳ này mang tên là SIÊU THỊ CHIẾN TRANH được tôi đăng báo Chí Linh năm 1971 dưới bút hiệu Bùi Thăng Long như sau :

    SIÊU THỊ CHIẾN TRANH

    Chị em ơi mau mau bày hàng
    Những món đồ chơi dành cho giày ống
    Thịt da dân tộc bốn ngàn năm phơi nắng
    Một sớm một chiều thành đồ lót, cọt- xê
    Tuổi mười sáu đến vũ trường chân đô thị, chân quê
    Em khập khiểng bán hàng chào nón sắt
    Mẹ cha ngồi vĩa hè chén cơm chan nước mắt
    Đồng đô- la ôm thân phận Thúy Kiều
    Những con mắt hỏa châu hậm hực sợ tình yêu
    Tiếng đại bác lõa lồ đêm tao loạn

    Anh em ơi mau mau bày bán
    Siêu thị chiến tranh hàng PX ồn ào
    Gian đầu buôn đạn bom, gian giữa chứa gươm đao
    Những gian kế tiếp là hơi cay, mặt nạ
    Gian kế nữa là đồng khô sỏi đá
    Nương rẫy ma tru, cây cỏ cụt đầu
    Anh còn gì cho những gian sau

    Chị ơi, anh ơi… chúng ta ở đâu ?
    Ổ khóa siêu thị có mùi bơ ngoại tộc
    Hãy phá cửa cho trái tim òa khóc
    Cho bốn ngàn năm đội mũ xuống đường
    Rào kẽm gai nào ngăn được Quang Trung
    Hàng song sắt nào cản đường Lê Lợi
    Bước chúng ta đi cổng trường bão nổi
    Mãi mãi không còn siêu thị chiến tranh !

    Năng khiếu văn chương của tôi ngay lập tức lọt vào mắt xanh của những kẻ hoạt động bí mật trong và ngoài trường học. Tại trường Nguyễn Trãi tôi giao du với Nguyễn Văn Tâm học thua tôi một lớp và hai đứa cùng thành lập nhóm Văn Nghệ Chí Linh có một tờ báo in roneo hẳn hoi. Bên cạnh đó tôi được Nguyễn Văn Vĩnh, trưởng khối báo chí của trường, học hơn tôi hai lớp, giới thiệu tôi vào Tổng Đoàn Học Sinh Sài Gòn trụ sở trên đường Hồng Bàng, Chợ Lớn. Kể từ giây phút ấy tôi biến thành một thành viên bất ngờ trên mặt trận báo chí, văn nghệ của phong trào tranh đấu sinh viên học sinh thành phố. Tôi tham gia những cuộc xuống đường, những cuộc bãi khóa đòi hỏi dân quyền dân sinh, sáng tác thơ, văn, xã luận đăng trên các báo chí phong trào sinh viên học sinh và các nhật báo đối lập với các bút hiệu Bùi Chí Vinh, Chính Vi, Lê Đại Nam, Trần Đại Việt, Bùi Thăng Long… Tôi còn nhớ vở kịch thơ NGƯỜI LÀM LỊCH SỬ của tôi nói về cuộc chia tay của hai cha con Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi ở ải Nam Quan đăng trên báo Xuân trường Nguyễn Trãi năm 1971 cùng những bài viết trên các báo học sinh sinh viên tranh đấu đã khiến tôi bị đuổi học một tuần lễ. Lần đuổi học ấy kéo theo cả một đợt bãi khóa lớn toàn trường và tôi bị thầy giám học Tạ Quang Khôi kêu lên làm việc. Thầy Tạ Quang Khôi đối với tôi không hề xa lạ, thầy chính là nhà văn từng phụ trách mục VÙNG CỎ NON dành cho tuổi mới lớn trên nhật báo Thời Thế. Hồi còn học ở Trần Lục, tôi và Nhóm Thơ Hồn Trẻ thường xuyên đăng bài trong mục của thầy. Thầy chỉ khuyên tôi đúng một câu “Em là người có năng khiếu văn chương hơn là năng khiếu chính trị. Tôi yêu mến những bài thơ của em hơn là thấy em làm nắm đấm trong tay người khác”.

    Trời đất, tôi mới 17 tuổi như con ngựa chứng không cương làm sao hiểu hết những ẩn ý của thầy. Thuở đó tôi lồng lộn sải vó cố tìm ra ánh sáng cuối đường hầm trên con đường sạn đạo của mình. Tôi từng trần thuyết về đề tài Tam Dân Chủ Nghĩa trước thầy Huỳnh Thành Tâm tức nhà văn Huỳnh Phan Anh nổi tiếng dạy tôi năm lớp 10A và được thầy cho điểm tuyệt đối về sự hùng biện táo bạo. Khác với hai thầy Đỗ Quý Toàn , Tạ Quang Khôi mà tôi không lần nào gặp lại, riêng thầy Huỳnh Phan Anh sau giải phóng tôi được hân hạnh tái ngộ và trở thành một đồng nghiệp nhỏ thân thiết của thầy. Tôi còn nhớ cuối năm 1975 trên báo Văn Nghệ Giải Phóng xuất hiện hai bài tùy bút nổi tiếng một của Trịnh Công Sơn và một của Huỳnh Phan Anh. Hai bài viết thuộc dạng sắc sảo trong cách nhìn của mỗi người về những biến thiên của thời cuộc, nhưng tùy bút NHÌN LẠI của Huỳnh Phan Anh được dư luận đánh giá cao hơn. Tôi không coi đó là sự giác ngộ cách mạng hoặc sám hối nghề nghiệp của Huỳnh Phan Anh như sự chụp mũ ác ý của một số người cầm bút. Tôi hiểu tâm trạng của một nhà văn tự trọng kiêm một nhà giáo lương thiện và ủng hộ con đường đi của thầy. Hai thầy trò chúng tôi đã nhiều lần cụng ly, nhiều lần lăn lóc, nhiều lần ngổn ngang tâm sự với nhau cho dù Huỳnh Phan Anh hầu như không nhớ gì tên học trò Nguyễn Trãi ngày xưa được ông cho điểm cao nhất môn trần thuyết. Có lần ông kể với tôi trong một đêm say khướt ngồi xe xích lô về nhà trên đường Võ Văn Tần (đường Trần Quý Cáp cũ) ông đã được tay tài xế xích lô xa lạ đọc cho nghe bài thơ XÍCH LÔ HÀNH của tôi, sau đó còn hát nghêu ngao ca khúc phổ nhạc bài thơ đó. Ông xúc động nói với tôi rằng : ”Như vậy là mày đã tồn tại.Nhà thơ cả đời chỉ cần một sáng tác được truyền khẩu, thế mà bài thơ Xích Lô của mày được phổ biến khắp nơi. Tao hãnh diện được làm thầy của một thi sĩ nhân dân kiểu đó”. Khi tôi viết những dòng này thì vị thầy giáo đáng kính đã lưu lạc giang hồ bên Mỹ quốc, trước khi đi tôi đã cố gắng cùng thầy gõ cửa đủ mọi cơ quan, báo chí để nộp từng chồng hồ sơ khiếu nại khiếu tố dày cộm về đám cường hào ác bá tỉnh Tây Ninh cướp đất hương hỏa của gia đình thầy, nhưng tất cả nỗ lực đều thất bại bởi “con cóc không thể kiện ông trời” khi không còn thượng đế. Chẳng biết thầy còn nhớ những kỷ niệm bụi đời của chúng tôi không?

    Tại Tổng Đoàn Học Sinh Sài Gòn tôi có dịp giao du với nhiều cây bút tranh đấu khác trong giới học sinh như Lê Văn Nuôi, Trương Minh Nhựt… và quan trọng hơn cả là làm quen với Nguyễn Sĩ Hiền, một nhà thơ đàn anh đang hoạt động cách mạng rủ rê tôi tham gia biên tập tờ Làm Báo do anh phụ trách. Hồi đó Nguyễn Sĩ Hiền với các bút hiệu Hữu Đạo, Ba Đình, Rạch Gầm, Yên Thao, Đồng Tháp, Hồ Trường… lừng danh trong phong trào học sinh đấu tranh đô thị không thua gì Trần Quang Long bên cánh sinh viên. Đối với tôi, được chơi với anh là một sự hân hạnh. Có lần anh gõ cửa nhà tôi, căn nhà sàn tồi tàn nhất Xóm Lách trong một chiều mưa sùi sụt. Căn nhà chỉ có cha tôi làm thợ giày, mẹ tôi làm thợ may, cậu tôi biệt danh Tám Ruby làm thợ đệm và những đứa em nhỏ. Tất cả đều nhìn Nguyễn Sĩ Hiền đầy nghi ngại dù gia đình tôi đều âm thầm hoạt động cách mạng. Trên căn gác xép, Nguyễn Sĩ Hiền tâm sự với tôi rằng anh đang bị chính quyền Thiệu Kỳ truy nã và chỉ muốn tá túc một đêm. Trong đêm đó anh đã trao đổi biết bao nhiêu chuyện với tôi, từ thơ văn cho đến lý tưởng, hoài bão của thanh niên trong thời chiến. Anh đã đọc một bài thơ mang tựa là HẠNH PHÚC mà tôi còn nhớ mãi :

    HẠNH PHÚC

    Sớm mai con ra phố
    Thấy người nằm chết co ro trên vỉa hè
    Giữa chợ đời lấn chen

    Má ơi
    Nếu con vất được trái tim
    Và bôi bùn lên óc
    Thì đời con hạnh phúc biết bao nhiêu

    Bài thơ “Hạnh Phúc “ đọc năm 1971 ấy đến giờ này thiết tưởng vẫn còn hiệu quả nhãn tiền. Năm 1971 anh “dụ khị” tôi vào con đường cách mạng bằng bài thơ đau đớn nói về ước mơ tuyệt vọng của những kẻ bên lề bị xã hội ruồng rẫy, thì hôm nay năm 2008 cuốn phim bi kịch ấy lại lồ lộ ra trước mắt, có khi còn thảm hại hơn bởi mức độ ngụy quân tử và bội tín của những kẻ quyết định số phận của người khác cao hơn. Năm 2008 với báo cáo GDP không ngừng tăng và con số gái đứng đường, gái lấy Đài Loan, gái làm điếm ở Trung Quốc, sinh viên ra trường thất nghiệp, công nhân thợ thuyền xuất khẩu lao động như nô lệ, trẻ mồ côi không nơi nương tựa đầy vĩa hè, xăng dầu điện nước tăng giá vùn vụt, ô nhiễm từ lô cốt trên đường đi cho đến rác rưỡi đen ngòm chất thải ngập mặt nước cũng tăng theo tỷ lệ thuận cùng con số ảo của GDP. Cũng may mà Nguyễn Sĩ Hiền đã chết ngay năm đầu sau giải phóng, chấm dứt luôn tài tiên tri của một nhà thơ lớn. Nếu không thì có khi anh lại nổi cơn thịnh nộ của một thi sĩ tâm huyết và có khi lại bị khoanh vùng, quản thúc tại gia như một số nhà văn hóa yêu nước dám ăn dám nói…

    Qua Nguyễn Sĩ Hiền, tôi trở thành một nhóm với Nguyễn Văn Tâm và hai học sinh bí mật khác. Chúng tôi thường hẹn hò nhau uống cà phê trước cửa trường Nguyễn Trãi trước khi xuống đường hoạt động đấu tranh. Một hôm Tâm cắt một mớ giấy thủ công gồm 3 màu xanh, đỏ, vàng rồi xếp thành hình lá cờ Mặt Trận bày lên bàn nước. Tâm nói tôi nên lấy bí danh là “Hai Long” với ý nghĩa tôi là anh Hai trong gia đình có bút hiệu Bùi Thăng Long, rồi dùng quẹt diêm đốt lá cờ bằng giấy. Thế là xong. Thế là xem như tôi đã là một thành viên của Đoàn Thanh Niên Nhân Dân Cách Mạng Sài Gòn Gia Định như sau này Nguyễn Văn Tâm với bí danh là Sáu An tháng 5 – 1975 từ rừng ra khẳng định điều đó với tôi.

    Thời tuổi trẻ quả thật hào hùng. Làm trai thời loạn ở Tổng Đoàn Học Sinh Sài Gòn giao du với nhiều bạn bè cùng chí hướng thương nhau như ruột thịt, dám đứng mũi chịu sào mỗi người phụ trách phong trào đấu tranh một trường học. Như Nguyễn Văn Phúc tự Út Tâm, Lê Văn Nuôi, Lê Văn Triều ở trường Cao Thắng. Như Tiết Hồng Quân, Nguyễn Văn Vĩnh tự Tư Thuyết ở trường Nguyễn Trãi. Như Lê Văn Nghĩa, Ba Đông ở trường Petrus Ký. Như Hứa Thị Tuyết Hoa, Nguyễn Lương Ngọc ở trường Đức Trí. Như Trương Minh Nhựt tự Ba Vũ ở trường Vương Gia Cần. Như Lê Hoàng ở trường Văn Học. Như Trần Thị Mỹ Thành ở trường Gia Long. Như Đặng Thị Thục Trinh ở trường Lê Văn Duyệt… Ay thế mà chỉ sau một cuộc bể dâu, vật chưa đổi sao chưa dời bao nhiêu, mà sau giải phóng con đường đi của mỗi người tách ra nhiều hướng theo kiểu “mạnh ai nấy sống mạnh ai nấy chết”. Ai làm quan, làm vương tướng thì thân thích bộ hạ được nhờ. Ai dám ăn dám nói dám đề kháng lại tổ chức thì chết ráng chịu. Mỗi năm một lần tôi lại được mời họp truyền thống Thành Đoàn, đến vài lần để thấy tình nghĩa ngày xưa lạt như nước ốc. Tay giả bộ bắt, mặt giả bộ mừng nhưng bằng mặt khác hẳn bằng lòng chứ sao. Nghĩ đến câu “Lính già ngồi kể chuyện Nguyên Phong” của vua tôi thời nhà Trần sau khi đánh thắng giặc Nguyên Mông càng thêm ngậm ngùi vô tận.

    Năm 1971 cha tôi là ông Bùi Văn Trình chết vì hậu quả những vết thương do bị tra tấn trong nhà tù khi hoạt động cách mạng. Ông chết như một liệt sĩ hy sinh cả đời mình cho tổ quốc nhưng thủ tục giấy tờ để công nhận là một liệt sĩ quá rắc rối khiến mẹ tôi bực mình dẹp qua một bên. Bà cũng dẹp luôn tờ giấy chứng nhận “Gia đình có công với cách mạng” và các huy chương cho vào rương khóa kín. Bà nói sau giải phóng chừng vài năm : “Tụi nó làm trật rồi. Hồi đó nói một đằng bây giờ làm một nẻo. Người nghèo vẫn hoàn nghèo. Chỉ là sự thay đổi của đám nhà giàu mới”. Tuy nhiên đó là chuyện hạ hồi phân giải sau này.

    Đầu tháng 5 – 1975 Nguyễn Văn Vĩnh với bộ bà ba đen, khăn rằn mang dép râu gõ cửa căn nhà sàn tồi tàn nhất Xóm Lách dưới chân cầu Công Lý tìm tôi. Không phải ai khác mà chính Nguyễn Văn Vĩnh hai lần đưa tôi vào con đường cách mạng. Vĩnh xuất thân từ một gia đình sản xuất nón ở quận 4, toàn bộ nhà đều tham gia hoạt động. Hồi ở phong trào và còn làm báo Học Sinh, anh nổi tiếng là một nhà hùng biện với những bài xã luận nảy lửa định hướng những chủ trương then chốt của phong trào. Bây giờ anh trở nên thâm trầm mộng mơ hơn khi xách xe đạp chở tôi dạo một vòng Sài Gòn và đọc cho tôi nghe những bài thơ của các thi sĩ miền Bắc. Sau cuộc tái ngộ đó, anh giới thiệu tôi với Ban Tuyên Huấn Thành Đoàn để làm Bản Tin Ban Tuyên Huấn. Dù trong Ban có sẵn những khuôn mặt quen biết từng hoạt động chung ở Tổng Đoàn Học Sinh Sài Gòn nhưng tôi cũng bị “test” khá kỹ về chuyên môn và lý lịch sau một thời gian đứt liên lạc với nhau.

    Bản Tin Ban Tuyên Huấn Thành Đoàn lúc đó chính là tiền thân của báo Tuổi Trẻ bây giờ. Tôi thoát ly gia đình ở hẳn số 55 Duy Tân (giờ là đường Phạm Ngọc Thạch) trở thành cây bút chủ lực của bản tin trong tất cả mọi đề tài nóng bỏng từ thời sự, chính trị, văn hóa đến thể thao. Ngày 2- 9 – 1975 báo Tuổi Trẻ ra mắt số đầu tiên và tôi nằm trong Ban Biên Tập của tờ báo cùng với anh Hoàng Nghĩa tức Đôi Nạng Xứ Dừa phụ trách trang văn hóa văn nghệ. Công việc chủ yếu của tôi là chọn đăng sáng tác của bạn đọc và mỗi tuần viết một bài thơ theo chủ đề. Trong thời buổi cách mạng còn chân ướt chân ráo, thơ văn là thứ thức ăn tinh thần dễ đến với người đọc nhất. Thời buổi ấy đừng hòng có loại thơ tình sướt mướt hoặc loại thơ @ đồi trụy phi nhân tính như bây giờ. Thời buổi ấy tôi dùng thơ như một cây chổi để quét rác rưởi. Tôi trong sáng đến mức độ làm những bài tương tự như bài thơ dưới đây :

    HẠNH PHÚC CÓ THẬT

    Trả lại thành phố những ngày ngồi gác chân rũ rượi không biết làm chuyện gì
    Ngoài việc kêu một vài chai bia và nhìn con gái
    Trả lại thành phố một thời gian suýt làm chó dại
    Với nhiều tiếng sủa rất cầu kỳ

    Thưa mẹ, con đi
    Mọi người hãy tin tôi, chưa muộn, rằng chưa muộn
    Mẹ hãy tin con, rằng con đang lớn
    Cùng quê hương

    Trả lại thành phố những ngày so đủa cạnh bát cơm
    Quên mất ai cho tôi ăn, quên bẵng người gieo hạt
    Quên mồ hôi, quên nước mắt
    Chỉ biết ngấu nghiến và thèm thuồng

    Thưa mẹ, con lên đường
    Mọi người hãy tin tôi, còn sớm, rằng còn sớm
    Mẹ hãy tin con, rằng con đang lớn
    Cùng quê hương

    Trả lại thành phố những ngày mũ áo xênh xang
    Quên mất ai dệt cho tôi, ai se từng sợi chỉ
    Tôi đối chất với những điều phi lý
    Rồi lạc mất mình

    Thưa mẹ, thưa cha, thưa chị, thưa em
    Trả lại thành phố đang thay da đổi thịt
    Thu về tôi hạnh phúc mỏi mắt tìm
    Nhưng luôn luôn có thật

    Suốt hơn 2 năm tôi đã ở tới 3 trụ sở của báo Tuổi Trẻ. Từ 55 Duy Tân đến 62 Trương Tấn Bửu rồi 12 Duy Tân… chịu đủ thứ nạn dịch, từ dịch “ghẻ ngứa” sau giải phóng đến dịch xếp hàng chờ tem phiếu. Từ việc đụng độ với quan điểm “chọn bài soi lý lịch” của cấp trên có thành kiến đến việc chia sẻ từng tách cà phê “bo bo rang” với các cộng tác viên xuất thân từ văn nghệ sĩ Sài Gòn cũ ghé đến gửi bài mà không biết có được sử dụng hay không. Cũng cần mở ngoặc đơn chỗ này, trong thời gian trên tôi quan hệ và giao du với hầu hết giới văn nghệ từ Nam chí Bắc trên đủ mọi lãnh vực thơ văn, nhạc, họa, điện ảnh, sân khấu… trong đó có Nguyễn Nhật Anh vừa đạp xích lô vừa đi học Đại Học Sư Phạm. Tôi mến Nguyễn Nhật Ánh về nghị lực và tài thơ nên thường dắt luôn vào cơ quan và thậm chí cho ngủ ở phòng riêng của tôi sau tòa soạn số 12 Duy Tân. Chuyện chỉ có vậy, thế mà tôi bị tổ chức kiểm điểm, bị một vài cán bộ quy chụp là “bảo kê” cho nhà thơ “ngụy”, từng đăng bài trên tạp chí Văn của chính quyền Sài Gòn. Không riêng gì Nguyễn Nhật Anh, tôi còn bị dèm pha soi mói về việc đăng thơ, truyện của nhiều nhà văn, nhà thơ “chế độ cũ” bằng cách thay bút hiệu của họ. Chuyện đó mất vệ sinh đến nỗi tôi không muốn liệt kê danh sách các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ… đó ở đây. Bởi họ cũng như Nguyễn Nhật Anh hiện nay đều đang được nhà nước trọng dụng, dùng tích cực và PR hết cỡ…

    Y chang như thơ của Cao Bá Quát khi nói về Mặc Vân Thi Xã của Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương. Thơ rằng “Ngán cho cái mũi vô duyên – Câu thơ Thi Xã, con thuyền Nghệ An”. Thuở đó tôi đã làm một bản tự kiểm bằng thơ khạc ra tại chỗ sau khi thượng cẳng chân hạ cẳng tay với một nhân vật đáng ghét có quyền lực trong tòa soạn:

    BẢN TỰ KIỂM

    Bọn chó đẻ bắt đầu tấn công
    Những con lợn sủa ra ồng ộc :
    “Không được đánh nhau trong cơ quan
    Chúng tôi cảnh cáo đồng chí Vinh nghiêm khắc”

    Bọn hưởng ứng mặt vênh thách thức :
    “Rằng nghe ngôn ngữ lãnh đạo chưa
    Rằng biết điều thì nên tự giác
    Rằng làm người chớ quên nịnh hót
    Làm cơ quan thì phải khù khờ”

    Tội nghiệp chàng thi sĩ chúng ta
    Không thích thói lòn trôn kiếm chác
    Lẻ loi giữa thời đại bọn hèn
    Chàng chống kiếm hét “Đông Ki Sốt”

    Bài thơ làm năm 1977 và tôi bị “ghim” từ đó. Cuối năm 1977 tôi được Thành Đoàn biệt phái xuống hai trường Thanh Niên Xây Dựng Cuộc Sống Mới Xuyên Mộc và Vĩnh An để xâm nhập thực tế, vừa “tu chỉnh” bản thân vừa có thêm vốn sống của dân giang hồ anh chị đang làm học viên cải tạo tại trường. Tại địa bàn mới mẻ này, tôi có dịp làm quen chia bùi sẻ ngọt qua cương vị cán bộ tuyên huấn bất đắc dĩ với những nhân vật trong tương lai của vở kịch thơ THÀNH TABERD của mình. Đó là Trần Vĩnh Thành tự Thành Taberd con trai một ông quan chế độ cũ, xem chuyện vào tù ra khám như một chỗ nghỉ chân. Đó là Hiếu Hercule còn có các biệt danh Ngọc Pallmall, Hoàng Salem, Hương Xa Lộ… nữ quái khét tiếng trong giới chém thuê xã hội đen. Đó là Thái Gorki tay anh chị mê truyện Gorki như mê phi vụ. Đó là Hạnh Angiêlic nữ hoàng ăn chơi của các sàn nhảy về đêm. Đó là Tâm Luxiphe tướng cướp chuyên chặt tay người thò ra khỏi thành xe đò để cướp lắc, nhẫn vàng và vô tình chém cụt bàn tay của người mẹ quê lên Sài Gòn thăm mình… Tất cả bi hài kịch hỉ nộ ái ố của cuộc đời thực đó được tôi triển khai thành kịch thơ THÀNH TABERD dầy ngang một cuốn tiểu thuyết với sự hỗ trợ của hai nhà thơ, nhà văn tiền bối là Kiên Giang và Sơn Nam. Tuy nhiên đó là chuyện sau này, khi THÀNH TABERD đoạt giải đặc biệt của Lực Lượng Thanh Niên Xung Phong Thành Phố. Còn bây giờ xin trích ra một đoạn trong vở kịch thơ cho các bạn thưởng lãm :

    TRÍCH KỊCH THƠ THÀNH TABERD, NHỮNG KẺ ĐÀO NGỦ :

    Tôi phải đào ngũ, tôi phải đào ngũ
    Tôi đào ngũ vì tôi mặc cảm
    Tôi muốn trở thành một người vô sản
    Tôi muốn hát ca, tôi muốn yêu đời
    Nhưng tôi hát ca thua cán bộ mất rồi
    Thua tổ chức cả âm thanh và sức mạnh
    Tôi yêu đời thua những người ngu đang kiêu hãnh
    Oi ở đây tôi thấp bé đến chừng nào
    Đồng đội quanh tôi có những quá khứ tự hào
    Cộng một tương lai ít nhiều hy vọng
    Tôi có mặt như một khoảng trống ?

    Tôi cũng đào ngũ như anh vì tôi bất lực
    Không phải tư tưởng tôi đang xuống dốc
    Nhưng trước bất công tôi không dám phê bình
    Tôi biết một cán bộ chánh văn phòng nhận tiền đút lót của học viên
    Rồi đóng dấu thả về qua mặt Ban Giám Hiệu
    Còn sử dụng học viên làm tay chân khéo léo
    Đi đứng nghênh ngang ra dáng cai tù
    Tôi không dám đấu tranh vì tôi sợ bị trả thù
    Tôi chỉ là một nhân viên nghiên cứu

    Tôi cũng đào ngũ như hai anh vì thành tích xấu
    Phụ trách kho nhưng kho rỗng tuếch rồi
    Hóa đơn, giấy tờ nằm ở bụng tôi
    Bột ngọt, sữa, đường… đã vào bao tử
    Tôi không còn con đường nào khác cả

    Nhưng em đào ngũ khác ba anh, vì Sài Gòn đẹp quá
    Đêm ở Huyền Trân hấp dẫn vô cùng
    Người ta gọi em là “gái ăn sương”
    Nên thỉnh thoảng ngựa vẫn quen đường cũ
    Em thích uống bia, em mê khiêu vũ
    Em khoái đàn ông và em quý bạc tiền
    Còn ở đây thì em rất… vô duyên

    Riêng tôi tầm thường hơn bốn người, tôi đào ngũ vì “vã” đời quá cỡ
    Ở Sài Gòn tôi luôn luôn có “thớ”
    Làm đàn anh khu xe lửa Nguyễn Thông
    Ban ngày đi thu thuế con buôn
    Ban đêm tổ chức sòng xập xám
    Còn ở đây thì… bỏ qua đi Tám
    Mặt mũi ai ngó thấy cũng cô hồn
    Tôi chưa làm điều gì đáng gọi… chơi ngon

    Ê, vậy là riêng tôi dù mát thần kinh, tôi cũng đào ngũ luôn
    Tôi đào ngũ vì… nhiều người đào ngũ quá
    Ngoài ra không có lý do gì khác cả…

    Kịch thơ THÀNH TABERD được khai bút tại nhà của thi sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà trên đường Phạm Thế Hiển, quận 8 lúc ông đề nghị tôi khôi phục truyền thống kịch thơ đã bị mất tích từ thời tiền chiến. Hôm đó có mặt cả nhà văn Sơn Nam, người bạn già lừng danh của thi sĩ Kiên Giang từ thời kháng Pháp. Chú Kiên Giang nói “Sau thời Tự Lực Văn Đoàn coi như thất truyền luôn kịch thơ, một thể loại độc đáo có thể đưa lên sân khấu trình diễn thành ca nhạc kịch hoặc giao hưởng hợp xướng. Chú mày có nhiệm vụ khôi phục nó”. Để ra đời được THÀNH TABERD hai vị tiền bối Sơn Nam và Kiên Giang đã nuôi cơm tôi bằng lon guigô hơn nửa tháng trời tại chùa Phụng Sơn Tự tức chùa Gò tọa lạc trên đường Ba Tháng Hai (tức đường Trần Quốc Toản nối dài). Tại chùa Gò, ngoài chú Kiên Giang đưa đón, cứ vài ngày bố già Sơn Nam lại đến thăm tôi động viên ủy lạo tình thần. Và chưa hết, khi bản thảo THÀNH TABERD hoàn thành bằng… bút chì (vì chú Kiên Giang quá nghèo không có bút nguyên tử) hai tiền bối lại đưa tôi đến gõ cửa giám đốc Sở Văn Hóa Thông Tin Dương Đình Thảo để chú Sáu Thảo hỗ trợ phần đánh máy cho vở kịch được lịch sự hơn.

    Như nhiều người đã biết, nhà thơ Kiên Giang nổi tiếng trong thi đàn Việt Nam với bài thơ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím – Từ ngày binh lửa ngập quê hương…” được phổ nhạc. Tuy nhiên tôi yêu mến nhất bài thơ TIỀN VÀ LÁ của ông, bài thơ hay đến nỗi một tờ báo ngoài Bắc ngộ nhận là thơ của thi sĩ Nguyễn Bính. Bằng trí nhớ lõm bõm, tôi xin chép ra đây bài thơ đó của ông, nếu sai chữ nào mong chú Kiên Giang lượng thứ :

    TIỀN VÀ LÁ

    Ngày xưa hớt tóc miểng vùa
    Ngày xưa mẹ bắt đeo bùa cầu Ông
    Đôi ta cùng học vỡ lòng
    Dắt tay qua những cánh đồng lúa xanh

    Đôi nhà cùng một sắc tranh
    Chia nhau từng một trái chanh trái đào
    Đêm vàng soi bóng trăng cao
    Ngồi bên bờ giếng đếm sao trên trời

    Anh moi đất nắn tượng người
    Em tha thẩn nhặt lá rơi làm tiền
    Mỗi ngày chợ họp mười phiên
    Anh đem tượng đất đổi tiền lá rơi

    Nào ngờ mai mỉa cho tôi
    Lớn lên em đã bị người ta mua
    Kiếp tôi là kiếp nhà thơ
    Vốn riêng chỉ có một mùa lá rơi

    Tiền không là lá em ơi
    Tiền là giấy bạc của đời in ra
    Người ta giấy bạc đầy nhà
    Cho nên mới được gọi là chồng em

    Bây giờ những buổi chiều êm
    Tôi đem lá đốt khói lên tận trời
    Người mua đã bị mua rồi
    Chợ đời họp một mình tôi. Vui gì…

    Riêng với chú Sơn Nam thì tôi có mối giao du đặc biệt hơn. Tôi và bố già Sơn Nam đã gắn bó với nhau suốt hai thập niên 1980 – 2000 từ thời nhiều vị mạnh thường quân giúp đỡ chúng tôi còn sống. Trên chiếc xe đạp cọc cạch và sau này trên chiếc xe gắn máy thổ tả, tôi đã chở bố già Sơn Nam đi gõ cửa tìm kiếm niềm vui hoặc hứng chịu nỗi buồn thê thảm từ những cái lắc đầu. Nhớ những lần đến nhà ông Võ Văn Kiệt, một người đồng chí cũ của Sơn Nam cùng hoạt động trong tỉnh ủy Long Châu Hà ngày xưa, tôi thấy mắt bố Sơn Nam sáng lên khi khoe tôi một cái bì thư dẹp lép hoặc năm món “căm đùm săm dĩa lốp” phụ tùng xe đạp mới toanh có thể đi bán chợ trời kiếm tiền nhậu lai rai. Rồi những lần ghé báo Công An TP thăm Huỳnh Bá Thành, lúc trở ra bố vừa hạnh phúc vừa ngậm ngùi trước chút lòng hào kiệt đối với kẻ sĩ mạt lộ. Mới đây ngày 13 – 4 – 2008 được tin bố già mất, tự nhiên tôi sực nhớ một câu nói bất hủ của Sơn Nam khi luận về văn chương : “Văn học Việt Nam sau giải phóng trống trơn như nước đổ xuống rá”. Bố già ơi, câu nói bố hoàn toàn chính xác đối với thành phần sáng tác… quốc doanh. Đất nước chúng ta nghèo quá, ai giàu đâu chẳng biết nhưng chỉ thấy muôn đời kẻ sĩ có lòng tự trọng lại quá nghèo. Viết đến đây tôi không thể không chép lại bài thơ hiếm hoi của bố in trong trang đầu cuốn HƯƠNG RỪNG CÀ MAU nổi tiếng. Bài thơ như một nén nhang ngưỡng mộ hương hồn bậc dị sĩ kỳ nhân :

    THƠ SƠN NAM

    Trong khói sóng mênh mông
    Có bóng người vô danh
    Từ bên này sông Tiền
    Qua bên kia sông Hậu
    Mang theo chiếc độc huyền
    Điệu thơ Lục Vân Tiên
    Vài câu chữ :
    Kiến nghĩa bất vi vô dỏng giã
    Từ Cà Mau, Rạch Giá
    Cất chòi đốt lửa giữa rừng thiêng
    Muỗi, vắt nhiều hơn cỏ
    Chướng khí mù như sương
    Thân không là lính thú
    Sao chưa về cố hương ?
    Chiều chiều nghe vượn hú
    Hoa lá rụng buồn buồn
    Tiễn đưa về cửa biển
    Những giọt nước lìa nguồn
    Đôi tâm hồn cô tịch
    Nghe lắng sầu cô thôn
    Dưới trời mây heo hút
    Hơi vọng cổ nương bờ tre bay vút
    Điệu hò ơ theo nước chảy chan hòa
    Năm tháng đã trôi qua
    Ray rứt mãi đời ta
    Nắng mưa miền cố thổ
    Phong sương mấy độ qua đường phố
    Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê…

    Trở lại chuyện cuối năm 1977 chiến tranh biên giới nổ ra. Thằng em ruột tôi là Bùi Chí Quang là sĩ quan từ Trung Đoàn Củ Chi Đất Thép chuyển qua Trung Đoàn 2 Công An Vũ Trang Biên Phòng đóng quân ở mặt trận Tây Nam đã tử chiến với bọn chư hầu Khờ Me Đỏ Pôn Pốt dưới quyền điều khiển của thiên triều Trung Quốc. Những trận tử chiến triền miên ngay sau giải phóng, thế mà báo chí lẫn truyền thanh truyền hình đều câm như hến, im như thóc. Mãi đến khi xác người chết bay về hậu phương dồn dập, những cuộc thảm sát người Việt ở biên giới diễn ra thì nghị quyết bảo vệ tổ quốc mới được triển khai. Lúc này tôi không còn hào hứng gì với giải thưởng văn học thành phố Hồ Chí Minh năm 1976 – 1977 qua tập thơ HẠNH PHÚC CÓ THẬT vừa trúng giải. Lúc này đối với tôi chỉ còn hai phe : một phe gồm những người trẻ tuổi quả cảm dám ra chiến trường đánh giặc, phe còn lại là lũ mị dân ngồi trong phòng tiện nghi mồm loa mép dãi hò hét tiến công nhưng dậm chân tại chỗ để bảo vệ cái ghế, dại gì cầm súng chết uổng mạng. Tôi đã làm ngay một bài thơ thời sự để mô tả sự phản ứng của mình :

    BIÊN GIỚI SALÔNG

    Tôi căm thù sự bất công và rảnh rỗi
    Thường được trá hình bằng những dạng âm thanh nổi
    Hãy nghe chúng bàn biên giới ở đâu
    Trên chiếc ghế vẹc- ni : nhân vật và những ly kem dâu

    Tôi căm thù tiếng động ồn ào
    Tiếng huýt sáo, tiếng của kẻ thích làm tình, tiếng nói tục
    Hãy nghe chúng bàn biên giới ở đâu
    Qua tiếng động thời trang xuất sắc

    Biên giới nếu chỉ là đáp số của ngôi nhà bình yên rào kẽm gai, nuôi chó Nhật
    Tích trữ tiện nghi, phụ nữ, dạ dày
    Thì hãy để miệng tôi nhổ đờm và đầu tôi biết lắc
    Để làm một người chiến sĩ thơ ngây

    Biên giới Salông không ở hướng Tây…

    Năm 1978 sau ba lá đơn tình nguyện, tôi lên đường đi bộ đội trong đợt Hồng Binh rầm rộ của các cán bộ công nhân viên Thành Đoàn. Năm ấy tôi đã 24 tuổi, có vẻ là một “lính già” lão luyện so với đám non tơ tuổi 18 đôi mươi mới lần đầu sờ ngón trỏ đến cò súng. Trên tư thế một nhà thơ trẻ vừa đoạt giải thưởng văn học thành phố đầu tiên sau giải phóng, tôi được Nhà Văn Hóa Thanh Niên tổ chức một buổi đọc thơ trong đêm thơ nhạc đặc biệt tại số 4 Duy Tân dành cho hàng ngàn thanh niên vừa trúng tuyển nghĩa vụ quân sự. Đêm đó trước sự cổ vũ của đám đông cuồng nhiệt, tôi đã đọc khá nhiều bài thơ, trong đó có bài thơ sau đây mà tôi còn nhớ :

    KHI ANH CẦM SÚNG

    Buộc vào ba lô sách Lỗ Tấn
    Ca hát như một chàng di- gan
    Ta vừa nghịch ngợm vừa đứng đắn
    Khi đã quàng vai khẩu súng trường

    Rừng nhờ người đi mà thành đường
    Ta nhờ tự do mà thành lính
    Đường, áp tai nghe mùi quê hương
    Lính, áp má thấy nòng thép lạnh

    Biên giới như người đau mới mạnh
    Giặc sang truyền dịch sốt rét rừng
    Lẽ nào ta ngồi ôm ảo ảnh
    Nhấp ngụm trà luận chuyện văn chương

    Em có thể bàn về thiên đường
    Với môi hồng cắn lên trái táo
    Riêng ta chỉ biết kể chiến trường
    Qua đôi mắt kẻ thù hung bạo

    Hãy hát bài tình ca nhân đạo
    Thay cho câu “bất khứ” tầm thường
    Và hãy tin rằng sau cơn bão
    Mặt trời lại mọc hướng Tây Nam

    Bài thơ như một lời tiên tri. Ngay mùa xuân năm 1979 bộ đội Việt Nam đã giải phóng Tà Keo sau đó quét sạch bọn chư hầu Khờ Me Đỏ khỏi đất Campuchea trong vòng một tuần lễ. Ở mặt trận phía Bắc, thiên triều Trung Quốc cũng bị đánh không còn manh giáp phải cuốn xéo về nước sau chiến dịch tấn công cổ điển theo kiểu biển người. Chúng tôi gồm ba thằng Thành Đoàn chơi thân với nhau, cùng lên đường một lượt là tôi, Sáu Quốc, Bảy Dũng thì Sáu Quốc đã nằm lại vĩnh viễn trên đất nước Chùa Tháp xa lạ.

    Tôi mặc áo lính không hề êm thắm. Hồi ở phòng chính trị Bộ Tư Lệnh Thành làm báo Quyết Thắng chiều chiều trong doanh trại thấy các cô bộ đội tuổi mới lớn háo hức nhìn lên cây me nuốt nước miếng. Môi các cô đỏ mọng, mắt lồi ra, bao nhiêu cử chỉ xấu khác đều tập trung vào sự thèm muốn lúc đó. Tôi và thằng Bảy Dũng bên bộ đội thiết giáp cầm lòng không được nên hai đứa thoăn thoắt trèo lên cây và rung cành tha hồ cho trái rụng. Kết quả Bảy Dũng đẩy một chiếc xe ba bánh đầy me ra khỏi cổng để đổi lấy chút hơi men đàn ông lai rai ba sợi, còn các cô bộ đội thì thu gom các ba lô ăm ắp me dốt. Tất nhiên là chúng tôi bị kỷ luật. Tôi có làm bài thơ kỷ niệm về điều đó :

    TÊN CÔ DẮC TÊN THỔ PHỈ

    Cũng có thể vì anh ba gai
    Và nheo mắt trái được mười lăm phút
    Nên các em thường hất mặt nhún vai
    Trước khi nói : ê, tên cô – dắc

    Tên cô-dắc từng làm em khóc ngất
    Hắn thảy con sâu lên chiếc ghế em ngồi
    Tên cô-dắc từng làm em cười khúc khích
    Hắn nhảy hàng rào Bộ Tư Lệnh đi chơi

    Cũng có thể vì anh đen thui
    Nhậu nhẹt đánh nhau nhiều hơn suy nghĩ
    Nên các em thường chớp mắt cong môi
    Trước khi nói : ê, tên thổ phỉ

    Tên thổ phỉ từng làm em say lúy túy
    Hắn đổ chai “rum” lên mái tóc em mà
    Tên thổ phỉ từng làm em thành bác sĩ
    Hắn rên hừ hừ dù sốt rét sơ sơ

    Mới đây khoảng năm 2004 lúc được nữ đạo diễn Mỹ Khanh mời đóng vai người đào huyệt Hai Màu trong phim XÓM CÀO CÀO tôi bất ngờ gặp lại một trong những cô bộ đội thèm me chua ngày ấy. Cô nàng bây giờ đã là một diễn viên sân khấu và điện ảnh tên tuổi. Cô cũng đóng một vai chủ quán rượu trong phim. Cô nói với tôi tại trường quay : “Hồi đó chiều nào anh cũng đứng dựa bờ tường Bộ Tư Lệnh Thành với đôi mắt buồn hiu. Tụi em đều biết anh là nhà thơ nhưng chưa thấy nhà thơ nào có đôi mắt buồn như vậy. Có lần nhìn anh, em đã khóc”.

    Sau một vài đợt bị khuyến cáo ở Bộ Tư Lệnh Thành, tôi được đáp ứng nguyện vọng là ra đơn vị chiến đấu, nhưng không phải chiến đấu với kẻ thù xâm lược mà lên đảo Long Sơn thuộc Trung Đoàn 10 Rừng Sát. Ở đây tôi sống bằng những giai thoại truyền khẩu về đặc công thủy, về cách đối phó với cá sấu dưới nước, về sự tích lưu lạc hào hùng của những người Bình Xuyên chạy Ngô Đình Diệm trốn ra hải đảo. Tôi tập cách săn kỳ nhông, cách bắt rắn và lột da rắn. Các bạn phải biết là rắn ở đảo Long Sơn nhiều vô kể. Cứ mùa mưa đi trên đường mòn là phải khua gậy để xua chúng. Ngủ trên bộ ván thọc chân xuống giày bố là coi chừng rắn chàm quạp chui ra mổ chết ngắt. Thưởng thức trà buổi sáng nên cảnh giác bởi rắn lục xanh có thể từ trong vòi chui ra. Ngay trên xà nhà nhìn xuống đầu giường nơi tôi nằm ngủ, nhiều lần chứng kiến rắn rồng đu đua phát khiếp. Ông bà nói “Ở nhà rắn rồng, ra đồng hổ ngựa”“những kẻ cần được cải tạo xứng đáng hơn là được cầm súng”. Những chiến sĩ trẻ người Sài Gòn trong đơn vị đặc công thường xuyên bị đàn p bởi họ từ gốc Thanh Niên Xung Phong chuyển qua. Những lúc ấy anh em thường cầu cứu tôi vì tôi là người giỏi chữ nghĩa giỏi ăn nói, có quá trình tham gia cách mạng. Tôi buộc phải thay mặt họ đương đầu với quyền lực độc đoán trong quân đội. Hậu quả là tôi bị nhốt ở quân lao Nhà Bè và sau đó bị áp giải về quân lao H39 của Bộ Tư Lệnh Thành Phố. Cuộc đời quả là một vòng tròn luân hồi tàn nhẫn. Tại quân lao H39 tôi bị biệt giam trong một căn phòng chỉ có một lỗ nhỏ như mắt cáo vừa đủ thò mũi ra thở, muốn nói chuyện với người bên cạnh phải dùng ngón tay gõ morse theo kiểu hướng đạo sinh. Nhờ vậy tôi biết được phòng biệt giam kế bên là một sĩ quan Huyện đội trưởng chuyên tổ chức đánh bãi cho người vượt biên. Thượng bất chính hạ tắc loạn, mầm móng của thời đại suy đồi vô lý tưởng đã bắt đầu xuất hiện. Tôi bị đối xử như một kẻ sắp lãnh án tử hình, bữa ăn gồm nước trà pha muối thay nước mắm với một chén bo bo đầy sạn, cát. Mỗi lần được ra ngoài lao động tắm heo chừng 10 phút là tôi phải giành giựt với lũ heo mọi những cọng rau muống cải thiện dai như đĩa trồng trên đám đất bùn sình. Chỉ cần nuốt mấy cọng rau muống bẩn thỉu ấy là tôi như được hồi sinh. Có lần tôi đã gầm lên với gã thượng sĩ giám thị quân lao rằng tôi sẽ dùng lưỡi lam hoặc răng cắn đứt mạch máu cổ tay tự sát khiến gã hoảng sợ. Gã biết tôi làm thật nên đổi thái độ. Gần đến ngày Tết đột nhiên gã nổi máu “văn hóa” gõ cửa phòng biệt giam xin thơ tôi như viên cai ngục trong truyện ngắn Nguyễn Tuân xin “Chữ Người Tử Tù”. Tôi viết ngay cho gã hai câu đối của Cao Bá Quát khi bi triều Nguyễn giam cầm : “Một chiếc cùm lim chân có Đế – Ba hàng xích sắt bước thì Vương”

    Không biết có phép lạ không mà sau Tết tôi được chuyển qua trại giam dân sự của công an Quận 3. Lý do chuyển thật đơn giản, coi như tôi bị loại ngũ chuyển về địa phương quản lý và trước khi về địa phương thì phải qua trại giam dân sự. Phòng số 7 nơi tôi bị giam bao gồm khoảng 30 người đàn ông trong một diện tích chật hẹp, hẹp đến mức hai hàng người nằm châu đít xếp lớp với nhau, mỗi người bề ngang “1 viên gạch bông” bề dài “4 viên gạch bông”. Tất cả hầu như lõa lồ, trên người chỉ độc chiếc quần xà lỏn hoặc xì líp. Bệnh rận lông có dịp hoành hành, chỉ cần một người bị bệnh hoa liễu hoặc rận lông là lây lan tập thể cực nhanh. Vừa bước vào phòng giam tôi đã phải làm lễ chào Trưởng phòng. Trưởng phòng là một gã đầu hói bụng phệ ngồi chễm chệ trên chiếc chiếu rách duy nhất với hai tên đầu gấu bự con hộ tống. Tôi lầm lì kể sơ về thành tích từ quân lao chuyển qua khiến chúng ái ngại và thất vọng. Chúng chỉ tôi xuống nằm cuối phòng ôm bô nước tiểu tập thể. Tội nghiệp hai thằng tù “con so” vừa mới làm lễ chào sau tôi bị chúng đánh hội đồng tới tấp rồi moi từ ruột dép sa – pô của họ ra miếng vàng Kim Thành dẹp lép nhét vào quần lót Trưởng phòng như một thứ chiến lợi phẩm sung công. Tôi kiên trì chịu đựng đủ loại nước tiểu của bọn du đãng lưu manh trộm cướp đái văng vãi khỏi miệng bô rơi xuống người tôi trong hai ngày. Ngày thứ ba trong lúc hai tên đầu gấu làm “trật tự” chia cơm, tôi bật dậy hét lớn “Ai trong đây từng là bộ đội đứng lên. ĐM, lính mà bị đám trốn lính ăn hiếp là nhục”. Vừa dứt lời tôi đá thốc vào mặt một thằng trật tự, lúc xoay người định “tấp pi” tiếp thằng thứ hai thì hai tên tù “con so” đã thay tôi kết liễu nó nhanh chóng. Tôi nhào tới gã Trưởng phòng mặt mày xanh lét tuyên bố : “Hôm nay đảo chánh Trưởng phòng”. Gã im thin thít cho đến lúc công an trực phòng giam thấy lộn xộn bước vô. Tôi điều đình với viên công an trẻ tuổi rằng phòng 7 mới thay Trưởng phòng và mọi chuyện quan hệ với “bên ngoài” vẫn như cũ.

    Tôi sống như “vua” suốt một tháng. Trong thời gian bị giam có phái đoàn của Hội Trí Thức Yêu Nước do anh Huỳnh Kim Báu làm trưởng đoàn tới thăm, định bảo lãnh tôi nhưng thất bại bởi tôi không phải là nhà trí thức của Hội. Tiếp đó cũng có vài vị chức sắc ở Thành Ủy, Thành Đoàn đến coi hồ sơ tôi với nhiệm vụ tương tự. Ngày thứ 31 ân nhân cứu mạng tôi là một sĩ quan công an quận 3, sau này tôi mới biết là em của anh Tám Nhân, một cán bộ báo Sài Gòn Giải Phóng từng yêu mến tài nghệ làm thơ của tôi lúc tôi còn ở Thành Đoàn. Tại văn phòng viên sĩ quan mà tôi xin miễn nêu tên ở đây, anh cho tôi xem hồ sơ từ bên Trung Đoàn 10 Rừng Sát chuyển qua, trong đó quy chụp tôi bằng những từ ngữ khủng khiếp : “mưu sát cán bộ, cướp đoạt chính quyền” . Anh cười buồn bã “Thật ra chỉ là một cuộc xô xát nội bộ trong đơn vị có thể giải quyết như hành vi dân sự. Hồ sơ này mà lọt vào tay những người muốn hãm hại nhà thơ là nhà thơ tới số”. Tôi cám ơn anh và từ giã trại giam quay trở về mái nhà xưa của mẹ hiền dưới chân cầu Công Lý trong bộ đồ bộ đội xác xơ đầy miếng vá. Từ tư thế một thanh niên đầy nhiệt huyết dám nói dám viết dám sống dám cầm súng và dám chết, tôi trở thành kẻ không hộ khẩu, ngoài vòng pháp luật. Bài thơ HỘ KHẨU HÀNH ra đời từ đó :

    HỘ KHẨU HÀNH

    Thiên hạ đẩy ta về một phía
    Phía ngàn năm không có mái nhà
    Lạy Chúa, đất trời đâu có chật
    Lẽ nào thiếu thốn chỗ dung ta

    Bình sinh ghét nhà cao cửa rộng
    Ai đẻ ra lại thích chửi thề
    Nhưng thiên hạ ưa trò lều chõng
    Thôi thì nói tục chỉ ta nghe

    Thôi thì ở ẩn như là Chúa
    Chẳng cần hộ khẩu để chứng minh
    Ta dù phản đạo quên xem lễ
    Cũng phục Giêsu gan cùng mình

    Giêsu luân lạc, ta lưu lạc
    Chúa sống trong hang, ta chợ trời
    Thiên hạ còn dăm thằng lác đác
    Mang thiên tài đi nói dóc chơi

    Có nói dóc cũng đừng uốn lưỡi
    Uốn bảy lần chi cho thiệt thân
    Để đó mà xây chừng mới khoái
    Rượu ép phê làm mặt đỏ rần

    Rượu ép phê là trời nhỏ xíu
    Chụp, bỏ vào bàn tay lắc chơi
    Thiên hạ muôn đời thèm Văn Miếu
    Ta chỉ cần chỗ ngả lưng thôi

    Viết đến đây tự nhiên tôi muốn sụp lạy mẹ của mình. Bà ngày xưa là một thiếu nữ có nhan sắc, có thể gọi là mỹ nhân qua những tấm ảnh chụp còn lưu giữ. Bà hát rất hay, thuộc nhiều ca dao hò vè và cổ tích. Tôi không thể hiểu vì sao một mỹ nhân sùng đạo như bà lại cống hiến hết tuổi thanh xuân lẫn đời mình cho cách mạng dù sự thu hoạch hoàn toàn trừu tượng. Thế mà mẹ tôi bây giờ vẫn không ân hận, bà giống như Đức Mẹ Maria hay Quan Thế Âm, bà tiếp tục mở cửa đón bất kỳ người bạn giang hồ nào của tôi, từ chính khách, văn nghệ sĩ nổi tiếng cho đến các thành phần hạ lưu mạt hạng. Căn nhà sàn tồi tàn 235/ 95/44 bis Công Lý và căn nhà ngập nước cống 134/109/261 Lý Chính Thắng trước và sau giải phóng từng chứa và nuôi biết bao nhiêu người. Tôi không thể liệt kê hết những kẻ đang làm quan, đang thành đạt hiện nay đã từng leo lên giường bà ngoại tôi ngủ ké. Tôi cũng không cần kể những người bạn say rượu quá chén được mẹ tôi bôi vôi vào gót chân để ngừa trúng gió đột tử. Tôi chỉ nhớ hoài một câu nói của bà lúc tôi trở về từ quân lao. Mẹ tôi nói : “Theo cách mạng bỏ Chúa như thế đủ rồi. Con người không thể vô thần mãi. Chủ Nhật nhớ đi nhà thờ con nhé”. Thưa mẹ, khi viết bài thơ này con vẫn chưa thường xuyên đi nhà thờ, nhưng mỗi lần đọc bài thơ MẸ VÀ CON trong đám đông, con đã làm không ít người rơi nước mắt. Xin chép bài thơ về mẹ của tôi cho các bạn thưởng lãm :

    MẸ VÀ CON

    Như thế này đã bao nhiêu lần
    Con trở về nhà thân thể đầy nam tính
    Mùi rượu, mùi mồ hôi đàn bà, mùi định mệnh
    Bàn tay níu lấy ngôi nhà
    Ngôi nhà thuở ấy mẹ trồng hoa
    Con gái đi qua thành ý tứ
    Con gái đi qua thành tâm sự
    Con gái đi qua thành nhạc thành thơ
    Con thả diều bay cho hết ước mơ
    Ước mơ hết năm 18 tuổi
    Mẹ không còn xoa đầu con nổi
    Mẹ muốn đầu con thờ phượng ông bà
    Mẹ muốn chân con đi đất như cha
    Mẹ muốn bụng con thực thà như mẹ
    Mẹ muốn trái tim con khỏe
    Để yêu thật nhiều người
    Và dạ dày con khỏe
    Để ăn được bầu trời

    Nhưng mẹ ơi để có bầu trời
    Con thụt lùi dưới đất
    Người lớn đội cho con nón sắt
    Thay bàn thờ ông bà
    Người lớn dạy con hái hoa
    Bằng cách siết tay cò súng
    Người lớn phát giày ống
    Không để chân con trần
    Vì đất không mọc cỏ
    Đất nở toàn đạn bom

    Con đi lính Cộng Hòa ba năm
    Ở tù không đếm lượt
    Đầu và chân tay chết
    Chỉ còn sống dạ dày
    Dạ dày chứa ngô khoai
    Vì mẹ muốn con ăn khỏe
    Và vì mẹ muốn con yêu khỏe
    Nên trái tim con mãi mãi còn
    Con mang dạ dày nghèo và trái tim son
    Tháng 4 năm 1975 về gõ cửa
    21 tuổi con giấu hết bao nhiêu binh lửa
    Vào đôi mắt sắp già
    Gặp mẹ con chỉ chừa ra
    Cái bụng thực thà son trẻ
    Cái bụng thực thà giống mẹ

    Nhưng bụng mẹ bụng con thì khác lòng người
    Lòng người như sông ngòi
    Quanh co theo đồi núi
    Lịch sử dạy ông Nguyễn Trãi
    Hết vi thần thì ở ẩn mà làm thơ
    Lịch sử dạy ông Nguyễn Du
    Chưa làm quan thì làm chúng sinh thập loại
    Lịch sử dạy đi dạy mãi
    Mà con không học thuộc lòng
    Trong khi mọi người đổ xô làm cách mạng ở… văn phòng
    Con ngu ngốc thuộc thơ Cao Bá Quát
    “Mặt trời đỏ đi đằng nào “
    Để dân đen rơi nước mắt
    Đầu con thay nón sắt
    Bằng mũ cối triều đình
    Chân con đổi giày đinh
    Bằng những đôi dép lốp
    Ngay ngón tay con cũng chẳng thuộc về con được
    Ngón tay siết cò súng Nga
    Ngón tay từng siết cò súng Mỹ
    Oi ngón tay nào do mẹ sinh ra ?

    Con đi theo giải phóng tám năm
    Nổi lo sợ ở tù không đếm lượt
    Đầu và chân tay hai lần bị chết
    Phải kể thêm sự tắt thở của dạ dày
    Con đem năng khiếu đi mua bán
    Thơ trúng giải mà không hay
    Thơ rẻ hơn cơm gạo
    Thơ mỗi ngày ăn chay
    Tráng sĩ bẻ gươm thành thi sĩ
    Sao mẹ cười con hoài ?

    Sao mẹ cười con hoài
    Để con bông lơn như trẻ nít
    Trong bàn tiệc con làm thơ thích khách
    Chém đầu 18 nịnh quan
    Thời buổi này ai cũng giống công an
    Không đánh xẻng thì đánh giá
    Mẹ vẫn cười con và mỗi ngày may vá
    Tiền công áo 50 đồng
    Tiền công quần 60 đồng
    Trong khi áo quần các em con không đủ mặc
    Mẹ vẫn cười con và mỗi ngày tóc bạc
    Lưng còng theo chủ trương
    Mắt mờ theo nghị quyết
    Tay run theo lập trường

    Mẹ ơi nhớ năm 1984
    Tuổi ba mươi con chưa dám lập gia đình
    Vợ không rõ thành phần lý lịch
    Bạn bè thường tụ tập bất mình
    Nhưng mẹ không bao giờ ban lệnh giới nghiêm
    Mẹ không bao giờ xét giấy
    Mẹ sợ đôi tay con run rẩy
    Rút không ra khỏi túi quần
    Mẹ vẫn nấu cơm và vẫn để dành phần
    Cho bất cứ thằng bạn nghèo nào của con gõ cửa
    Mẹ không cần khuyên con chó sủa
    Con chó sủa biết lựa mặt con người
    Chỉ có con người sủa không lựa mặt
    Con người săn nhau mẹ ơi !

    Bài thơ MẸ VÀ CON trên đây xem như tạm thời kết thúc phần 3 GIAI THOẠI CỦA THI SĨ…

    Tháng 10 – 2008

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi