Bùi Chí Vinh: Giai thoại của thi sĩ (phần 2)

  • Bởi Admin
    05/02/2009
    0 phản hồi

    Khi đặt bút viết GIAI THOẠI CỦA THI SĨ tôi không hề nghĩ rằng đây là bài đầu tiên vén màn cuộc đời hoặc hồi ký cá nhân của người viết. Chỉ đơn giản cảm thấy ngứa ngáy tứ chi cảm thấy miệng cần nói ra những điều mình biết được cho nhẹ lòng để đánh tan một số nghi hoặc từ phía người đời. Đơn giản chỉ là như thế. Tôi luôn luôn chủ trương viết về cái đẹp của các nhân vật mình đề cập với cố gắng không đá động đến phần u tối, phần “sống để bụng chết mang theo” của họ. Tôi quan niệm đã coi một người nào đó là bạn, là huynh đệ thì tôi sẽ chỉ chơi với phần ưu điểm mà họ có. Còn chính quyền và ai đó chụp mũ, kết án hành vi của những người tôi đề cập thì là chuyện thiên hạ. Tôi không quan tâm. Tự truyện của tôi chẳng những không đẩy bất kỳ ai đến chân tường mà ngược lại thanh lọc chất người và chất thú dưới ánh mặt trời. Thanh lọc và chiến đấu với bọn bất lương quen thói dìm kẻ sĩ lẫn tráng sĩ xuống tận đáy xã hội .Trên cơ sở đó tôi bắt đầu cuộc ghi chép văn minh và vệ sinh cho phần hai của bài viết này. Đó là khoảng thời gian đẹp đẽ tôi có cơ hội giao du với các chính khách, thân hào nhân sĩ, các kỳ nhân quái khách trong những lãnh vực khác nhau.

    Những năm đầu sau giải phóng khi còn phụ trách biên tập trang văn nghệ cho báo Tuổi Trẻ, tôi có chơi với một người bạn công tác tại Thành Đoàn xuất thân từ phong trào công giáo Thanh Lao Công tên là Nguyễn Trì tự Trương Hùng Thái. Nguyễn Trì tuy làm cách mạng nhưng có máu giang hồ hảo hớn mê truyện Bình Xuyên, truyện 108 anh hùng Lương Sơn Bạc hơn là mê “Thép Đã Tôi Thế Đấy” của Paven. Tôi thường xuống khu Bà Quẹo, Bình Hưng Hòa ngao du sơn thủy cùng Nguyễn Trì và đọc thơ uống rượu cho bá tánh hâm mộ nghe. Trong một lần say khướt, hai đứa tôi kéo ra quán ngã tư miệt Tân Kỳ Tân Quý uống nước chanh “giải cảm”. Không ngờ ở bàn kế bên một đám anh chị sống ngoài vòng pháp luật đang cụng ly bàn chuyện làm ăn, tất cả đều cởi trần xâm mình vằn vện và chửi thề ỏm tỏi. Sau đợt chửi, do chia chác không đều hay sao đó, một vỏ chai bia bị đập bể toang và hai cây mã tấu được thẩy lên bàn cái rầm. Không khí căng thẳng như sắp xảy ra một trận huyết chiến. Tôi và Nguyễn Trì đều hồi hộp thì … một kẻ đẹp trai lầm lì nhất trong bàn gầm lên như sư tử hống để tạo sự chú ý rồi lẳng lặng cầm ly rượu xây chừng vừa uống cạn đưa lên miệng nhai rôm rốp như nhai bánh tráng. Anh chàng nhai hết nửa ly thì lè lưỡi ra cho đồng bọn thấy mớ mảnh thủy tinh vụn nhọn lễu, xong xuôi tiếp tục chiêu một ngụm rượu ực gọn xuống bao tử và nhai tiếp nửa ly còn lại với hai tròng mắt đỏ ngầu. Khỏi phải nói, đám anh chị há hốc mồm kinh hãi mạnh ai nấy thu “đồ nghề” rút lui có lễ độ chứ sao. Bởi đối với một kẻ dám nhai ly khinh thường tính mạng mình thì chuyện nhai xương đối thủ chỉ là đồ bỏ.

    Lúc ra về Nguyễn Trì thều thào với tôi “Thằng đó có võ gồng hoặc võ bùa làm bọn kia sợ chết khiếp”. Tôi bóp mạnh vào tay Trì lầm bẩm “Tao sẽ nhai được như thằng đó. Chỉ có cách đó thì đụng độ mới bớt đổ máu”. Đã nói là làm. Trở về trụ sở cơ quan ở số 12 Duy Tân (bây giờ đổi thành đường Phạm Ngọc Thạch) đêm nào tôi cũng tập nhai ly. Tôi nhai hết những chiếc ly xây chừng nhỏ xíu mà chị hậu cần không hề hay biết. Tôi nhai rồi phun ra chứ không nuốt những mảnh thủy tinh vào bụng. Mới đầu tôi có bị đứt lưỡi, rách môi, trầy nướu tóe máu nhưng dần dà rút được kinh nghiệm, mỗi lần cắn ly tôi cho vành ly chỉ chạm vào phần cứng áp lực giữa hai hàm răng. Khi ly bể toang, tránh phần môi dưới và phần tay cầm bị chỗ nứt xé toạc. Tôi đã nhai từ những chiếc ly nhỏ, ly mỏng dính cho đến những cái ly cối dành uống bia dày cộm. Tôi còn thí nghiệm qua nhai chén sành, chén kiểu, tròng mắt kính… và đều thành công. Có nghĩa là “trăm hay không bằng tay quen” chẳng có bùa ngải, võ gồng, thần quyền nào cả. Nói là nói vậy nhưng để có hứng thú nhai ly, trong bàn nhậu bắt buộc phải xảy ra biến cố. Khi đó tôi tu rượu ừng ực, cơn hứng nổi lên, men nồng bốc hỏa…tôi gần như bị “nhập” trước mắt bè bạn hoặc kẻ thù. Lúc đó thay vì thượng cẳng chân hạ cẳng tay dễ bị tổn thương, tôi đã làm cho chiến hữu khâm phục hoặc kẻ thù im phăng phắc. Chẳng những nhai mà tôi còn nghiền vụn những mảnh thủy tinh nhọn lễu thành cám và nuốt gọn với ý niệm trong đầu “bản thân thủy tinh vốn dĩ là cát mà ra, cát cát cát…”. Tôi đã sống và nhai ly một cách “cõi trên” như thế khi gặp lại Nguyễn Trì khiến hắn hoảng hồn. Những người khác trong giới văn nghệ chứng kiến năng khiếu quái đản đó của tôi cũng không ít, kể cả dân anh chị giang hồ…

    Hơn 15 năm trước tôi và Nguyễn Quốc Chánh đã từng “cứu bồ” nhà thơ Hội Văn Nghệ Cần Thơ Võ Minh Đường, phóng viên báo Tuổi Trẻ Nguyễn Ngọc Vinh trong một chầu nhậu tại quán số 43 đường Đồng Khởi với nội dung “Đường và Vinh bị đám thủy thủ viễn dương và lũ con ông cháu cha đời mới ăn hiếp”. Thế mà Nguyễn Ngọc Vinh sau này cao hứng bày đặt “test” tôi nhai ly tại quán Trống Đồng thuộc khuôn viên Tao Đàn. Bạn bè đã thích thì chìu ngay. Trước sự chứng kiến của khá đông anh em văn nghệ chiều hôm đó tôi đã xỉn quắc cần câu để “nhai” và “nuốt” phân nửa ly bia cối dày cộm chỉ chừa phần đáy và phần tay quai ly. Sẵn đà phấn khích cao độ tôi đã nhai tiếp cặp kính mát của Ngọc Vinh rồi nhả gọng ra, và đến giờ này tôi vẫn còn ân hận…Tôi ân hận bởi những chuyện tầm ruồng trẻ con bồng bột không cân xứng với chí hướng của một kẻ làm thơ dám lập ngôn và đương đầu với những cái lớn hơn trong cuộc đời. Đến giờ này trong bụng tôi đã nuốt tương đương “4 ly lớn thủy tinh” cộng thêm một trận xuất huyết dạ dày suýt qua đời tại bệnh viện Saint Paul chỉ vì đống mảnh chai vớ vẩn. Tôi đã nằm hôn mê 2 ngày 2 đêm tại Saint Paul, được linh mục làm phép Xức Dầu Thánh dành cho người hấp hối, với sự túc trực của bà mẹ nghèo “có công với cách mạng” rưng rưng nước mắt. Có lẽ khi viết những dòng này tôi sẽ từ bỏ luôn ý niệm “biến thủy tinh thành cát” như lời tụng thầm trong mỗi lần nhai.

    Sự khủng hoảng lý tưởng của tôi trong giai đoạn đó được thể hiện qua bài thơ LỘ BẢN CHẤT thường được mọi người yêu cầu đọc lên mỗi lần đối ẩm :

    LỘ BẢN CHẤT

    Tất nhiên đây không phải là lần đầu
    Anh đã cư xử với em như một người phàm tục
    Dù thân thể anh không có gì xuất sắc
    Trán không triết học giống Ăng Ghen, đầu không được hói giống Lênin
    Sự dũng cảm của anh có khi trở thành phản động với Paven
    Và thần kinh anh “mát” làm buồn lòng Các Mác
    Nói chung anh là thằng cha có tử vi không đạt
    Thầy tướng ở Lăng Ong mới liếc đã thở dài
    Cha mẹ sinh con không ai muốn con gầy
    Nhưng anh ốm nhách đến nỗi thành bất hiếu
    Ai cũng muốn người yêu mình có nụ cười hàm tiếu

    Nhưng anh đã cười méo mó rất khó coi
    Chưa kể những đêm say xỉn đã đời
    Anh rất giống kẻ tình nghi hình sự
    Anh cũng hay “kên xì po “ với đám du côn ngoài chợ
    Và thích so găng với những kẻ cầm còi
    Em chỉ cần sáng trí một chút thôi
    Sẽ thấy anh xa huy chương mà rất gần tù tội

    Nhưng đây không phải lần đầu anh lại nói
    Mỗi chúng ta đều có cuộc sống của mình
    Đừng đem nỗi buồn tham nhũng cùng anh
    Rồi hà tiện sự hồn nhiên cần thiết
    Anh không phải là cái phao “Acsimét”
    Để em bám vào lơ lửng đời nhau
    Anh càng không phải là một con sâu
    Lợi dụng tình yêu để thành chú bướm
    Trời sinh hai tay anh dài như vượn
    Vừa để quàng vai vừa để thượng đài
    Trời sinh hai chân anh lắm vết chai
    Đủ đi bộ và đủ tìm nhà trọ
    Buồng phổi anh cháy dần vì thuốc lá
    Trái tim anh hằng khốn nạn vì yêu
    Anh có cái đầu thì thơ chiếm mất tiêu
    Khiến bao tử cứ loét ra vì rượu
    Đó là những điều mà nếu em tham dự
    Đừng bao giờ xâm lược đến đời nhau
    Không ai ưa bọn Hồng Vệ Binh mới lớn chút nào:
    “Em ơi dang ra cho anh làm cách mạng
    Nhích lại gần anh là mất Đoàn mất Đảng”
    Nhưng cũng không ai ưa thứ ái tình ăn trộm
    An cướp ăn xin ăn giựt ăn mày
    Bởi vì ái tình đâu phải dĩa trái cây
    Mà lúc tim đói há mồm ra cắn

    Erich Segan nói “Yêu là đừng hối hận”
    Anh cũng tiếp lời : Yêu là phải chịu chơi
    Lúc yêu nhau mình đã rất lắm lời
    Nên lúc đối thoại em làm ơn tiết kiệm
    Ở đời sống anh là thằng gác kiếm
    Thì với ái tình anh không muốn rửa tay
    Đời sống gờm nhau ngôn ngữ “tao mày”
    Trong tình ái gọi tiếng “em” mát ruột
    Ở đời sống người ta cần phong tước
    Trong ái tình anh chỉ thích làm dân
    Em là Thảo Bích Dung Phương Nhạn Thu Vân
    Kim Đào Liễu Phụng Giang… gì cũng mặc
    Miễn là chúng ta tôn trọng ngầm nguyên tắc
    Anh là đàn ông, em là đàn bà
    Chúng ta khác nhau từ lúc lọt lòng ra

    Nên đây không phải lần đầu anh phẫn nộ
    Nhưng trong tình yêu nếu em làm toán đố
    Thì xin mời em mai cắp sách đến trường
    Anh vốn sợ giáo điều như sợ bảng cửu chương
    Đừng xoa đầu anh như xoa đầu đứa trẻ
    Đừng bắt chước nữ hoàng đi săn nô lệ
    Đừng để anh phải chửi tục thật kỳ
    Thà mang tiếng Mã Giám Sinh còn hơn là ôm hận Trương Chi !

    Cũng cần mở ngoặc đơn chỗ này, giữa một xã hội mà tuổi trẻ không dám yêu nhau, sẵn sàng vì địa vị mà sống giả dối với nhau theo kiểu “em ơi dang ra cho anh làm cách mạng, nhích lại gần anh là mất Đảng mất Đoàn” như thế, tôi đã sống trong cảnh hiểm nguy rình rập thường xuyên. Tại nhiều quán nhậu khác nhau tôi đã từng bị đám xã hội đen lẫn xã hội đỏ bao vây đe dọa bằng bạo lực “hội đồng”, từng bị vài tên “tiểu sát tử” xông qua bàn khiêu khích với ý đồ buộc tôi phải tử chiến để gài vào hành vi phạm pháp dân sự, nhưng tôi đều vượt qua những “lỗ chân trâu” đó. Tôi không dại gì “thí mạng” mình trong những trò hề chính trị rẻ tiền. Có lẽ các anh Cung Tích Biền, Hồ Thành Đức hiểu sự liều lĩnh của con người tôi hơn ai hết, khi tôi đi bộ đội về phép dám mang lựu đạn của đơn vị để đi cầm cố cho các anh lấy tiền đãi nhậu bạn bè. Dù sao ba cái chuyện “anh hùng rơm” ấy giờ đã xưa như trái đất.

    Thời điểm sau khi bị buộc cởi áo lính cũng là thời tôi thê thảm nhất. Đi đâu tôi cũng nghe đồn rằng cấp trên “cấm đăng bài Bùi Chí Vinh trên báo bằng… miệng” nếu kẹt quá vì phải phục vụ yêu cầu của quần chúng thì “chỉ đăng Thơ Tình và duy nhất Thơ Tình”. Tôi phải tồn tại mưu sinh bằng một nghề mới là… làm thơ bóng đá. Thuở ấy Hồ Nguyễn phụ trách tờ Long An Bóng Đá và tờ Long An Cuối Tuần rất ưu ái tài nghệ làm thơ đa hệ và hoàn cảnh bi đát của tôi bèn đề nghị cứ mỗi số báo ra tôi phải có một bài thơ về thể thao hoặc trào phúng hài hước. Nhờ vậy tôi đã chế tạo thêm một trường phái mới về thơ là THƠ BÓNG ĐÁ với hơn 300 bài thơ đã đăng báo kể từ 1978 đến nay. Hơn 300 bài thơ trên đã được nhà báo Huy Vĩnh công nhận như một thứ kỷ lục Việt Nam trong cuốn GUINESS THỂ THAO do anh là tác giả. Những bài thơ thành một loại biên niên sử ghi chép các giải World Cup, Euro lẫn các giải vô địch Việt Nam mà sau này nếu có dịp tôi sẽ in ra. Bây giờ tạm giới thiệu cùng các bạn hai bài thơ về bóng đá tiêu biểu :

    ANH VÀ QUẢ BÓNG

    Đời sống có gì hơn quả bóng
    Tay trơn không níu được bao giờ
    Hạnh phúc có hơn gì quả bóng
    Lủng mấy lần xì hết ước mơ

    Vậy mà anh vẫn rất trẻ thơ
    Thấy bóng lăn là chân động đậy
    Bóng lăn đến một nơi nào vậy
    Sao bàn chân mãi ở bậc thềm ?

    Bàn chân có lúc cạnh chân em
    Khi hai đứa dìu nhau trên sỏi
    Bàn chân có lúc lạ chân em
    Khi trên cỏ : banh và đồng đội

    Biết nói thế nào về cái lưới
    Về xà ngang, cột dọc, khung thành
    Hay chỗ đó lọt vào nông nỗi
    Quả bóng tình em buốt ngực anh

    Quả bóng tròn như thể công danh
    Anh chụp suốt một đời không dính
    Chỉ thương thầm những cọng cỏ xanh
    Không lớn nổi trên sân mùa lạnh

    Sau trận đấu khán đài hiu quạnh
    Như Charlot, anh hát một mình
    Có ngọn cỏ biết yêu buồn quá
    Níu giày anh để đến thăm em

    HOAN HÔ BRAZIL

    Không riêng mình anh, tất cả đã sẵn sàng
    Mọi nhà thơ bắt đầu cầm lấy viết
    Các nhạc sĩ đều chuẩn bị dây đàn
    Những phòng tranh sửa soạn trưng bày không kiểm duyệt

    Bảy ngành nghệ thuật đã họp nhau ra nghị quyết
    Phiên họp cuối cùng là hai chữ : Brazil
    “Nghệ thuật thứ tám” khiến hành tinh khủng khiếp
    Brazil Brazil như máu thịt của mình

    Brazil Brazil trống ngực đập bình bình
    Khi quả bóng lăn, cầu thủ đều chơi nhạc
    Quả bóng rơi đều lên mỗi trái tim
    Rap Rock, Disco phải chuồn đi chỗ khác

    Quả bóng Brazil làm loài người biết hát
    Anh biết làm thơ và em biết nhảy đầm
    Quả bóng Brazil cho địa cầu bóng mát
    Mọi thứ đầu hàng kể cả chiến tranh

    Quả bóng Brazil lặn trong ngực anh
    Lúc nổi lên thành bài thơ em đang đọc
    Em đã biết gì về sông Amazon
    Nơi mặt trời Brazil sừng sững mọc

    Ở đó có đứa bé da đen ôm mặt khóc
    Đập bể máy thu thanh vì quả bóng bị “xì”
    Để mười năm sau thành ông vua thứ nhất
    Mở đầu thời kỳ vương quốc Pêlê

    Ở đó sân gôn trên đường phố vĩa hè
    Những “Pêlê nhỏ” mê banh hơn vào lớp
    Học kiểu nhà trường, tiền đạo dễ bị “me”
    Không thể sút những đường banh khó nhất

    Sút Parabol, sút Hypebol, sút nổ tung hình học
    Pythagore sống lại cũng hoảng hồn
    Đội đầu căng, đội đầu thẳng, đội đầu chìm, đội đầu khép góc
    Socrate có đội mồ cũng chẳng thể đội đầu hơn

    Ở đó em ơi không có hoàng hôn
    Tên họ Vava, Didi, Garincha… có nghĩa là buổi sáng
    Cúp “Nữ Thần Vàng” trở thành của hồi môn
    Cho kẻ cầu hôn ba lần chiến thắng

    Ở đó người ta quyên sinh sau mỗi lần bại trận
    Các cô gái gọi Pêlê và nguyền rủa căm thù
    Quốc Hội ngưng họp chuyển sang phần “quốc táng”
    Cờ rũ treo ba ngày, toàn Nam Mỹ âm u

    Anh sẽ kể với em về trận thua Uruguay
    Bảy người chết vì đứt tung mạch máu
    Hàng ngàn người phát điên, hàng triệu người mếu máo
    Bệnh viện thiếu lương y vì bác sĩ cũng… từ trần

    Quả bóng chính là tôn giáo của Brazil
    Đó cũng là đạo mà anh đang theo đuổi
    Em đừng ngạc nhiên trên chiếc giường đám cưới
    Sẽ có quả banh da làm biên giới giữa hai người

    Chỉ trừ khi em biết đặt bóng vào môi
    Bằng không chắc anh sẽ suốt đời ở góa
    Cám ơn Pêlê và “một ngàn một trăm trái phá”
    Dạy anh biết yêu em và phát triển tín đồ

    Sau màn bóng đá là tiếng đồn về khả năng chuyển hệ từ thơ sang văn xuôi của tôi. Phải công nhận rằng khi dựa lưng vào chân tường tôi chuyển hệ thật nhanh, phản xạ nghề nghiệp để mưu sinh và để tự tồn tại. Lúc sinh con trai đầu lòng năm 1990, NXB Long An qua trung gian Mặc Tuyền đặt hàng tôi viết tiểu thuyết YỂU ĐIỆU THỤC NỮ. Đây là tiểu thuyết đầu tay của tôi được hoàn thành trong vòng đúng 15 ngày. YỂU ĐIỆU THỤC NỮ hao hao như một kiểu tự truyện, vừa ra đời lập tức được bán hết, được một NXB khác tái bản, và được Hãng Phim Giải Phóng kết hợp với Đài Truyền Hình Cần Thơ thực hiện thành phim nhựa màu 35 ly Agfa đầu tiên trong thời điểm đó. Phim do ông Huy Thành đạo diễn với dàn diễn viên trẻ tuổi ăn khách Lê Công Tuấn Anh, Thành Lộc, ca sĩ Ngọc Sơn, Diễm Hương, Kim Khánh, Thế Anh… chiếu rộng rãi khắp các rạp trên toàn quốc. Phim YỂU ĐIỆU THỤC NỮ sau đó được một Việt Kiều mua đứt bản quyền đem sang Mỹ kinh doanh và coi như tuyệt bản ở Việt Nam. Sẵn đà thắng lợi, hàng loạt tiểu thuyết của tôi với đề tài tương tự về giới trẻ tiếp tục xuất hiện trên diễn đàn các báo cho tuổi mới lớn qua hình thức đăng Feuilleton, xuất bản thành sách và sau đó làm phim như TÓC TIÊN, CỎ VEN ĐƯỜNG, MÊNH MÔNG TÌNH BUỒN…

    Năm 1994, ông Nguyễn Thắng Vu giám đốc NXB Kim Đồng lúc đó có vào Sài Gòn gặp tôi và đưa nguyên tác tiếng Đức cuốn TKKG của nhà văn Stefan Wolf lẫn bản dịch tiếng Việt của dịch giả Vũ Hương Giang, đề nghị tôi phóng tác thành bộ truyện trường thiên thiếu niên giang hồ võ hiệp mang hơi hướm ngôn ngữ và cuộc sống thời kỳ hiện đại. Không hiểu ai giới thiệu tôi cho ông, nhưng qua sự tín nhiệm của ông Nguyễn Thắng Vu, tôi thấy có bổn phận phải đưa đến cho độc giả trẻ tuổi Việt Nam đang thiếu thốn thức ăn tinh thần một bộ truyện bổ ích nói lên được ước mơ, khát vọng hành hiệp của các em. Tôi liên tưởng đến phong cách dịch tài hoa của Ngọc Thứ Lang qua cuốn BỐ GIÀ của Maria Puzzo mà tôi từng mê đắm. Thế là 70 cuốn TỨ QUÁI TKKG ra đời gây sóng gió dư luận trong suốt 2 năm với số bản in trung bình mỗi cuốn là 60 ngàn bản hằng tuần, phá mọi kỷ lục về số lượng phát hành lúc đó (và tới tận bây giờ). Sau thành công bất ngờ của TKKG, ông Nguyễn Thắng Vu tiếp tục đặt hàng tôi bộ truyện đặc sản Việt Nam mang tựa NĂM SÀI GÒN và bộ truyện này trong năm 1997 cũng tiếp tục gây chấn động dư luận với 40 cuốn, mỗi cuốn ra hằng tuần có số lượng in trung bình 20 ngàn bản, cũng là con số kỷ lục của một bộ sách Việt Nam cùng với KÍNH VẠN HOA của Nguyễn Nhật Anh. Bộ truyện NĂM SÀI GÒN đã thực hiện thành phim truyền hình năm 2006 – 2007 với bước đầu 15 tập mang tên NGŨ QUÁI SÀI GÒN chiếu trên màn ảnh nhỏ khắp cả nước. Bí quyết duy nhất của tôi khi viết những bộ truyện bán chạy có lẽ không khác gì người tù vượt ngục Henry Charriere phát biểu với báo chí khi viết cuốn PAPILLON. Đó là “Nếu viết hồi ức về cuộc đời kiểu đó có nhiều người mua thì tôi dư sức viết được”. Nghe thì đơn giản nhưng để đạt khái niệm “dư sức viết được” có khi phải đổi bằng máu và nước mắt suốt cả cuộc đời.

    Cũng trong thời gian này tôi còn mở màn cho đầu sách truyện tranh màu của NXB Kim Đồng bằng 15 cuốn HẢI ĐẠI BÀNG nói về tuổi thơ của những đứa trẻ giống tôi ở những khu xóm bùn lầy nước đọng. Tôi chỉ đáng tiếc bộ truyện NĂM SÀI GÒN vì những lý do khác nhau phải “chết non” ở tập 40, trong khi tôi chuẩn bị cho năm nhân vật của mình đi chu du vòng quanh thế giới cho đến cuốn 70. Bộ truyện kết thúc đột ngột kéo theo bao nhiêu là thư từ và nước mắt của những độc giả trẻ tuổi khắp ba miền đất nước đổ về tôi như một lời trách móc.

    Năm 1994 với tôi có khá nhiều biến cố. Ngoài chuyện “ăn nên làm ra” trong lãnh vực văn xuôi, tôi còn tham dự Hội Nghị Nhà Văn Trẻ toàn quốc tổ chức tại Hà Nội. Theo lịch trình của Ban Tổ Chức đại hội thì tôi và Phan Thị Vàng Anh sẽ phát biểu về thơ và về văn. Trên diễn đàn, thay vì đọc diễn văn tôi lại hùng hồn bày tỏ nguyện vọng khí phách của một người cầm bút cô độc qua bài thơ TUYÊN NGÔN THI. Bài thơ làm choáng váng hai hàng ghế đầu của giới lãnh đạo chính trị, văn hóa ngồi phía dưới. Nhưng ngược lại tạo nên sự phấn khích tột độ chưa từng có của đa số những người cầm bút trẻ hôm đó. Tôi đã nhận được những tràng pháo tay vang dội, những cuộc đề nghị phỏng vấn riêng của báo chí, truyền hình, tuy nhiên điều quan trọng nhất là bài TUYÊN NGÔN THI không bao giờ được xuất hiện nguyên văn trên mặt báo. Nó mãi mãi tồn tại như một giai thoại độc nhất vô nhị tại thủ đô Văn Miếu cho đến lúc mạng Internet xuất hiện trên toàn cầu :

    TUYÊN NGÔN THI

    Bằng sáng tác của mình – Tôi đánh tan những điều nghi hoặc – Tôi trồng cỏ khắp nơi trên mặt đất – Chuẩn bị cho cổ tích loài bò – Tôi nắm tay Whitman, tôi quàng cỏ Rousseau – Đem cỏ bao vây triều đình và nhà ngục – Đem cỏ tấn công bọn vua quan phàm tục – Làm rêu mọc đầy râu, làm hoang phế mọi lâu đài – Tôi sẽ dùng cỏ trong thơ đeo lủng lẳng ở vành tai – Thay các trang sức, các huân chương hèn mọn – Tôi sẽ tròng vào khuôn mặt háo danh một sợi dây thòng lọng – Được tết bằng cỏ mọc ở nơi mất vệ sinh duy nhất trên đời – Còn loài cỏ đẹp mà tôi hằng chúc tụng – Chính là vòng nguyệt quế thơ tôi.

    Bằng sáng tác của mình – Tôi thực sự ăn mày phép lạ – Tôi thương Rimbaud, tôi mê Remarque quá – Các bạn đi bộ khắp Châu Au không có một mái nhà – Tôi cũng đã mõi giò trên lộ Nguyễn Du – Gối quỵ xuống lề đường Cao Bá Quát – Tôi đạp lên xương sườn hai nhà thơ Việt Nam có cuộc đời đầy bất trắc – Nghe nhói đau ở phía dạ dày – Thế kỷ trước tôi, ở Tiên Điền ở Quốc Oai, hai người đồng nghiệp – Tôi chắc đã từng tê buốt chỗ này đây.

    Bằng sáng tác của mình – Tôi tăng tuổi thọ cho người sắp chết – Tôi giúp đỡ những ai thất nghiệp – Phát chẩn thi ca để kiếm việc làm – Với trẻ nhi đồng, tôi cẩn thận hỏi han – Xin được tháp tùng lên bầu trời mà Giê Su, Thích Ca dành cho con nít – Với đàn bà, tôi tỏ ra ưa thích – Xin được phiêu lưu xuống hỏa ngục nàng dành – Tôi đã cạo đầu và dài tóc rất nhanh – Đã khiếm nhã và cực kỳ lễ phép – Tôi đỏ tôi đen vô cùng khắc nghiệt – Cách ăn mặc trong thơ như y phục tắc kẻ – Nếu có lần nào áo quần đứt cúc – Đó cũng là lần tôi tập si mê.

    Bằng sáng tác của mình – Tôi xuất bản không cần trang bị – Sách vở cung đình đang chờ cân kí – Tôi cân kí lô cái lưỡi của mình – Dù vua chúa triều thần tiểu tiện lên các phát minh – Dặn tôi uốn lưỡi bảy lần thì cho nói – Uốn một lần coi như tốt nghiệp nghề múa rối – Lần thứ hai đạt danh hiệu hát tuồng – Lần thứ ba chuẩn bị phong quan – Lần bốn lần năm thì tha hồ chức tước – Uốn đến lần cuối cùng hẳn quyền to cả nước – Vì cái lưỡi bẩm sinh đã bị bảy lũy thừa – Cũng may là tôi không biết dạ biết thưa – Nên cái lưỡi vần còn nguyên mùi vị – Mỗi lần lưỡi cong là nhảy ra thằng thi sĩ.

    Bằng sáng tác của mình – Tôi nhổ nước bọt vào những điều lừa mị – Tôi hôn thiết tha người con gái nghèo làm đĩ – Và bạt tai đứa công chúa hợm mình – Tôi cho Lệnh Hồ Xung nói tục với Doanh Doanh – Và Trương Vô Kỵ gọi Triệu Minh bằng ả – Tôi theo phò người giang hồ quân tử – Và tẩy chay đám quyền quý nịnh thần – Tôi sẵn sàng đạp xích lô đến chỗ hẹn với tình nhân – Và mặc quần rách dìu nàng đi ăn phở – Tôi sẽ trò chuyện với nàng bằng ngôn ngữ dân đen mạt lộ – Và đối thoại với vua quan bằng ngôn ngữ thiên tài – Tôi sẽ làm cho các nhà bác học – Thấy mình còn cận thị trước tương lai.

    Bằng sáng tác của mình – Tôi bắt tay bè bạn anh em – Bắt tay các tiệc tùng giai cấp – Cám ơn chút rượu về khuya cho tôi cảm giác – Cám ơn bữa ăn mẹ cha dưa mắm rau cà – Cám ơn những bài thơ sinh đôi sinh ba – Đẻ khó nhọc như từng lon gạo chợ – Cám ơn những người tôi yêu không thành chồng thành vợ – Và hỡi kẻ thù tôi nữa, cám ơn !

    Cũng bài thơ TUYÊN NGÔN THI năm 1995 kỷ niệm 20 năm giải phóng một lần nữa tôi có dịp đọc tại Nhà Văn Hóa Thanh Niên thành phố khi cùng với 19 đồng nghiệp khác được biểu dương về sự nghiệp sáng tác văn học. Hôm đó có mặt các vị chức sắc, đầu ngành thành phố ngồi dưới, người bạn Đỗ Trung Quân trong vai trò MC đã cao hứng giới thiệu tôi lên đọc bài thơ mà anh gọi là “danh bất hư truyền” này. Một lần nữa bài TUYÊN NGÔN THI gây hiệu ứng dây chuyền mạnh mẽ với khán giả đến nỗi Đỗ Trung Quân bị “văng miểng”. Tôi nghe anh em văn nghệ đồn là họ Đỗ bị rờ gáy khuyến cáo còn tôi có quan chức đề nghị là “Nếu chịu chơi dám ăn dám nói như vậy thì trả lại ba triệu đồng giải thưởng cho nhà nước”. Trời đất, giải thưởng là do nhân dân đóng thuế mà ra (trong đó có cả tôi) ấy là chưa kể ba triệu bạc lì xì cho 20 năm lao động đổ mồ hôi chất xám của một thi sĩ thua xa số tiền hối lộ của một cán bộ bất lương mỗi ngày, thì xin lỗi… còn lâu tôi mới ngu ngốc nhả lại những đồng tiền xương máu của chính tôi từng đóng thuế.

    Nhiều người cho rằng tôi có tài tiên tri. Họ nói rằng tôi có khả năng đoán việc sắp xảy ra cho vận mệnh đất nước từ những bài thơ thời sự mang tính dụ ngôn. Chẳng hạn các bài thơ như CON ĐĨA, TÂM SỰ CỦA NGƯỜI MÁY… Bài thơ CON ĐĨA tôi đã chớm thai nghén ý tưởng từ những chuyến viễn du ra Bắc, tiếp xúc với các giới thân hào nhân sĩ trí thức ngoài đó, để rồi thấy rằng dòng sông Bến Hải oan nghiệt hơn cả một cuộc chiến tranh 30 năm. Sự đứt khúc tạo nên hai chủ nghĩa xuất phát ngược chiều nhau không dễ gì hàn gắn chỉ trong vài thế hệ.Tôi xin chép bài thơ ra đây:

    CON ĐỈA

    Đất nước đứt làm đôi
    Như đứt đôi con đỉa
    Mỗi con lớn lên không hề ngắm nghía
    Phía phần đuôi đau nhức của mình

    Lịch sử dùng phẫu thuật văn minh
    Nối hai chú ký sinh làm một
    Rồi thả lại vào ao nhưng đỉa không bơi được
    Bởi hai cái đầu quay hai hướng khác nhau

    Đất nước tôi như hai phần con đỉa
    Dính liền bằng…lưỡi dao !

    Năm 1994 ra Bắc tôi không còn cơ hội gặp Lưu Quang Vũ, người anh em giang hồ tài hoa quen biết sau giải phóng qua sự giới thiệu của Lưu Trọng Văn. Đơn giản là vì anh đã chết một cách bất đắc kỳ tử. Bất đắc kỳ tử đến độ cái chết của anh đến bây giờ vẫn còn là một dấu hỏi với quá nhiều lời giải đáp. Khi anh mất , tôi có làm vài câu thơ tưởng niệm về hai vở kịch nổi tiếng của anh là NHÂN DANH CÔNG LÝ và TÔI VÀ CHÚNG TA như sau :

    CÔNG LÝ là một KÝ LÔNG
    Lúc cân, chẳng biết phải NHÂN DANH gì ?

    Mới đầu TÔI VÀ CHÚNG TA
    Đến khi màn khép TAO VÀ CHÚNG BÂY !

    Một người cầm bút khác ngoài Bắc vô Nam tìm gặp tôi là nhà văn Bảo Ninh thành danh với cuốn NỖI BUỒN CHIẾN TRANH. Hôm đó cách đây hơn 15 năm, chiều mưa rả rích ở một quán nhậu trên đường Mạc Đỉnh Chi có tôi, Bảo Ninh, Nguyễn Trọng Tín, Vũ Ngọc Giao, Trần Hữu Dũng… Trong cơn say, hai kẻ hành khất chống nạng bán vé số rong ôm đàn guitar phím lõm hát bài nhạc SƯƠNG TRẮNG MIỀN QUÊ NGOẠI não nùng đến bàn chúng tôi chào mời khách. Tôi bàng hoàng bởi anh chàng cụt giò nghêu ngao vọng cổ có khuôn mặt bầu bĩnh chính là một người lính Sài Gòn cũ trong Xóm Lách mà tôi cư ngụ. Tôi kể chuyện đó cho Bảo Ninh, một người cầm súng ở chiến tuyến ngược lại. Cảm giác rờn rợn và liêu trai ấy đã giúp tôi hoàn thành bài thơ ĐÊM LÍNH CŨ đọc cho bạn bè, và sau đó chép vào sổ tay theo yêu cầu của Bảo Ninh. Không biết người bạn giang hồ phương Bắc giờ này còn lưu những bút tích đó hay không ?

    ĐÊM LÍNH CŨ

    “Lội bùn dơ băng lau lách xuyên đêm”
    Bài nhạc đầy cải lương nói về người lính
    Nam Bắc phân tranh, chiến hào Nguyễn Trịnh
    Điệu Habanara nón sắt úp trên đầu

    “Sương trắng rơi vai tôi ướt rồi sao ?”
    Vai ai ướt, Bắc Kỳ hay Nam Bộ?
    Đời lính thú lưu đồn quên cố thổ
    Một chữ lính viết hoa, bao ngôn ngữ đều thừa

    Gặp lại bạn bè cũ vẫn như xưa
    Thằng nào cũng hát những bài ca tang chế
    Điệu Bolero như một lời trách khẽ
    Tiếng đàn đêm bỗng hóa tiếng than dài

    Phải rồi tiếng đàn quen thuộc ở Chu Lai
    Nắp hầm đầy rêu ta ngồi bưng mặt khóc
    Nghe gõ nhịp điệu sênh tiền lóc cóc
    Nhạc ngựa reo thấp thỏm giọng nam trầm

    Phải rồi tiếng đàn quen thuộc ở Chư Pông
    Dân “sinh Bắc tử Nam” không cần Trương Lương thổi sáo
    Thằng ca sĩ lính Cộng Hòa cụt đầu, cây guitar chảy máu
    Khán giả hét “xung phong” qua tiếng pháo ngậm ngùi

    Phải rồi phải rồi, tiếng đàn quen thuộc ở đây thôi
    Thằng đang là đồng chí, thằng từng là chiến hữu
    Cũng tiếng đàn ấy tưởng xưa mà chẳng cũ
    Dù đứt một dây, gân cổ vẫn nghẹn ngào

    Mười năm mới gặp nhau, mỗi đứa một cơn đau
    Cởi áo binh chủng sao hồn còn vằn vện
    Nói gì đây khi rửa tay gác kiếm
    Chỉ biết lặng im chờ thái độ tiếng đàn

    Nhưng tiếng đàn của binh nhì thì không chọn lọc giống sĩ quan
    Lại Habanara, lại Bolero, lại những bài hát ấy
    Không phải Tango, không phải Valse quý phái
    Mà rất rưng rưng con mắt kẻ giang hồ

    Giải phóng về ta bỏ súng làm thơ
    Bạn bè tàn phế phải ăn mày hát dạo
    Tiếng đàn từ đó trở thành ra giọt máu
    Máu đã ứa ra không thể ứa hai lần

    Không thể quay đầu trước xương máu nhân dân
    Và đóng ngược vào đời mình đinh nhọn
    Cám ơn lời ca và tiếng đàn chưa muộn
    Đã đánh thức ta sau mười tuổi công hầu

    Theo tôi, sự tiên tri và cảnh báo những bi kịch của thời đại không chỉ dành độc quyền cho cá nhân tôi mà là tài sản tinh thần chung của các thi sĩ có tài năng bẩm sinh, từng trãi vốn sống và chịu sự vùi dập sóng gió của định mệnh. Vấn đề là kẻ nào “dám ăn dám nói dám viết đầu tiên”. Những kẻ đi tiền phong trong lãnh vực thơ tiên tri đều có sứ mạng thiêng liêng như các thánh tông đồ trong Thiên Chúa Giáo hoặc các hành giả trong Phật Giáo. Họ có thể tử đạo vì thơ của mình nhưng tên tuổi họ mãi mãi bất tử trong lòng quần chúng.

    Trong những người khuyến khích tôi làm thơ “thời sự” để lưu lại cho đời sau ngoài các bậc tiền bối như Trang Thế Hy, Sơn Nam, Kiên Giang, Phạm Thiên Thư, Cung Tích Biền… còn có những chính khách “VIP” như Trần Bạch Đằng, Huỳnh Bá Thành…

    Năm 1981 khi rời khỏi bộ đội, tôi bắt đầu phát hiện những thằng “Cuội” trong các lãnh vực chính trị, kinh tế, khoa học, văn hóa… Chúng tồn tại và phát triển bằng hệ thống vây cánh mới, vừa liên minh vừa sẵn sàng tiêu diệt lẫn nhau nhằm bảo vệ quyền lợi riêng. Chỉ tội nghiệp chú Cuội của Hằng Nga quá trong sáng trước bài thơ này:

    CUỘI

    Sáu năm ta mới rành chú Cuội
    Chê gốc đa, Cuội ở văn phòng
    Chê cuốc bộ, Cuội trèo xế hộp
    Ở rừng về Cuội sợ đau chân

    Cuội quên hết muối mè, cơm nắm
    Thực đơn bảy món Cuội cười khà
    Căng bụng Cuội hô hào nghị quyết
    Kế hoạch nào cũng xạo bỏ cha

    Ai cũng biết mặt trăng có Cuội
    Nhưng Cuội mặt trăng khác địa cầu
    Đứa nào Cuội “dạ dày dân tộc”
    Đẻ con không lỗ đít về sau !

    Một bài thơ khác cũng mang tựa đề một chữ, được tôi đọc trong bàn nhậu của một Mạnh Thường Quân bất đắc chí thách thức tôi làm bài thơ về đề tài CỨT. Với vị đại gia bất đắc dĩ đó, bàn tiệc ê hề sơn hào hải vị chỉ tương đương một đống phân. Tôi đã khạc như sau :

    CỨT

    Con gì ăn không ỉa
    Cứt voi toàn bã mía
    Cứt chim lắm cào cào
    Cứt loài người ra sao ?

    Lấy giùm ta kính lúp
    Phân tích văn minh cứt
    Cứt nhiều nhờ ăn no
    Cứt ít nhờ bo bo

    Đói thì đầu gối bò
    Bò mỗi thời mỗi khác
    Bò làm sao ra cứt
    Có cứt là có cơm

    Thường ta rặn thấy rơm
    Trong rơm thấy thóc sạn
    Giận dạ dày khốn nạn
    Không ị ra bánh mì

    Cục cứt nhiều trọng lượng
    Để dành cho vua quan
    Riêng cứt ta lõng bõng
    Phải thuộc về nhân dân !

    Như đã đề cập về mối quan hệ của tôi với các chính khách như Trần Bạch Đằng, Huỳnh Bá Thành… Kỷ niệm tiếp theo xem như một nén nhang thắp viếng linh hồn hai người đã khuất. Năm 1988 tôi lập gia đình tổ chức đám cưới ở Hội Liên Hiệp Thanh Niên do Huỳnh Tấn Mẫm chủ tịch Hội làm “chủ xị”. Quan khách có cấp bậc cao nhất tham dự lúc đó là Trần Bạch Đằng đương nhiên ở cương vị “chủ hôn”. Bàn của ông Trần Bạch Đằng tức ông Tư Anh có mặt nhiều vị lãnh đạo cấp Thành Phố . Lúc lên phát biểu, chú Trần Bạch Đằng có nhắc nhở vợ tôi rằng “Lấy thằng Vinh là con phải trang bị một khẩu súng để bóp cò lúc cần thiết”. Câu nói vừa hài hước vừa mang tính ẩn dụ đã thắt chặt tình chú cháu hơn bao giờ hết, thậm chí pha chút tình phụ tử bởi tôi là một đứa trẻ mồ côi cha từ năm 17 tuổi (cha tôi chết năm 1971 vì những vết thương do bị tra tấn trong nhà tù khi hoạt động cách mạng). Những lần đến nhà ông, lúc đi với Nguyễn Quốc Chánh lúc đi với vợ con, hai chú cháu đều tranh luận nhiều chuyện nảy lửa. Nguyễn Quốc Chánh khoái đấu khẩu với “chú Tư Anh” về chính trị, còn tôi chỉ thích lạm bàn quanh vấn đề văn nghệ chuyên môn và nhân cách kẻ sĩ. Vài lần thấy chú Tư đăm chiêu trước sự phát biểu cực đoan của Chánh, tôi có quay qua hội ý với thím Tư (là cô Chơn, cựu Thứ trưởng Bộ Tư Pháp, vợ ông Trần Bạch Đằng) thì thím Tư Ánh cười hiền hậu “Không sao đâu con à. Thím rất thích được nghe tuổi trẻ phản biện về chính trị”. Khi tôi ví von Trần Bạch Đằng là một Nguyễn Trãi thời nay nhưng thiếu minh chúa Lê Lợi thì ông có vẻ chột dạ. Ông hỏi tôi “Mày nghĩ về Nguyễn Trãi ra sao ?” thì tôi đọc bài thơ này cho ông nghe khiến ông rất hể hả:

    SỰ NHẸ DẠ CỦA NGUYỄN TRÃI

    Sử cho hay Nguyễn Trãi bị tru di
    Cốt đạo Nho mà không rành Khổng Tử
    Thân chưa tu đã muốn bình thiên hạ
    Trị quốc thua cái váy của đàn bà

    Ta cũng muốn làm ông tướng bình Ngô
    Tưởng thời này khác thời xưa chúa đất
    Ngờ đâu minh quân chỉ yêu mến công thần
    Lúc hạt gạo vẫn còn nguyên hạt thóc

    Gạo thành cơm để dành cho hoàng tộc
    Lúa nổi thóc trôi đám tiện dân nghèo
    Nghĩ mà thương những anh chàng đánh giặc
    Tuổi về hưu còn mài kiếm trăng treo

    Ta đốt binh thư ra ngủ ở chuồng heo
    Sợ sự thông thái làm mình mê nghiệp bá
    Rồi lỡ tay đi cướp ấn công hầu
    Mùi cứt lợn lại chồng lên lịch sử

    Chẳng thà một lòng quăng con trủy thủ
    Ngồi khạc thơ coi lũ cá hóa rồng
    Kìa Nguyễn Công Trứ xưa còn rành tục ngữ :
    “Cùng thì tắc biến, biến thì thông”.

    Còn với sư huynh Huỳnh Bá Thành, tôi lại có nhiều kỷ niệm khác. Cuối thập niên 80 anh Huỳnh Bá Thành lúc đó là Tổng Biên Tập báo Công An TP lôi tôi về viết mảng văn hóa văn nghệ của tờ báo khi tôi đang thất nghiệp. Trong cương vị mới tôi đã làm được “rất nhiều chuyện” với anh, trừ chuyện thơ. Anh nói “Chú mày lo viết truyện dài Feuilleton và làm phim cho hãng Người Bảo Vệ mới thành lập của báo. Riêng THƠ ĐỜI thì cứ ghi chép theo kiểu thời sự hàng ngày để thế hệ sau này đọc và biết những gì xảy ra của nước ta thời điểm đó. Có điều chừng nào anh chết thì chú mày mới in THƠ ĐỜI nhé”.

    Thưa hương hồn anh Huỳnh Bá Thành, tôi đã làm những gì anh khuyến cáo và dặn dò. Có lẽ dưới suối vàng anh hẳn còn nhớ những đêm anh em tâm sự cụng ly nhau, tôi đã làm anh khinh khoái và nhẹ lòng biết bao nhiêu trước những bài thơ theo thể Hành về nỗi đau cơm áo gạo tiền của nhân dân thống khổ. Trong phạm vi bài viết này, tôi xin chép lại bài thơ phổ biến nhất anh đã từng nghe và được các nhạc sĩ giang hồ chuyển thành ca khúc với ca từ tam sao thất bổn. Đó là bài XÍCH LÔ HÀNH.

    XÍCH LÔ HÀNH

    Tưởng mình ta đạp xích lô
    Nào hay phố xá ngựa thồ như nêm
    Buộc cho ta miếng băng đen
    Để cho cặp mắt làm quen mù lòa
    Xỏ giàm vào mõm nữa cha
    Để cho số tuổi ta già theo răng
    Giật cương đi, hõi mấy thằng
    Ê sao nước mắt chợt lăn xuống cằm

    Ta đi dụ khị người phàm
    Thấy huynh hiền sĩ từ quan lên rừng
    Dạ dày ta nhảy lung tung
    Nhảy dăm phút nữa dám khùng nghe cha
    Cũng may vừa tới ngã ba
    Cô em yểu điệu tà tà leo lên
    Lưng ta khòm giống cái yên
    Chổng mông em cỡi, mùi thiền nhấp nhô

    “Ba đồng một cuốc, mại dzô”
    Có con ngựa đực vừa ho vừa gào
    Ta thồ ngang động hoa đào
    Thấy dăm kỹ nữ chém nhau giành bề
    Thồ ngang đống rác thúi ghê
    Thấy bầy tiểu tử chửi thề giành moi
    Thồ ngang khách sạn em ơi
    Chó ngồi ăn nhậu, còn người ăn xin

    Nhưng mà chớ có rùng mình
    Tại ta kéo thắng chưa linh em à
    Gân chân lõm tựa ổ gà
    Mặt xương bụng lép đếch ma nào ngồi
    Mới ra nghề tưởng khơi khơi
    “Bác Hồ ngó thẳng” đâu chơi gà mờ
    Dạ dày lại đánh lô tô
    Mồm ta méo xệch bên bờ tử sinh

    Như là thiếu phụ tắt kinh
    Ruột xe có chữa thình lình, chết cha
    Té ra trong cõi người ta
    Ruột lô ruột xịn khéo là ghét nhau
    Đếm tiền còn thiếu xu hào
    Đếm ta thấy chớm bệnh lao mất rồi
    Vá giùm chút bạn hiền ơi
    Chiếc xe cà chớn của thời cà chua !

    Cũng bài thơ này và bài VE CHAI HÀNH được tôi đọc cho ông Võ Văn Kiệt thời ông làm Bí Thư Thành Ủy Sài Gòn khi ông mời nhóm sáng tác của báo Tuổi Trẻ trong đó cĩ tơi đến nhà dùng bữa cơm thân mật. Trong lúc trà dư tửu hậu, ông nghe báo cáo rằng có một nhà thơ nổi loạn chuyên làm “Thơ Đen” truyền khẩu trong nhân dân. Các đồng nghiệp khác có vẻ lo âu nhưng tôi thản nhiên công khai hóa nỗi niềm mình trước vị lãnh đạo cao nhất của thành phố. Nghe xong ông Kiệt vỗ tay gật gù khoái trá khiến bầu không khí bớt căng thẳng. Tôi không biết ông nghĩ về tôi ra sao chứ những chính sách của ông ban hành sau này với giới trí thức và văn nghệ sĩ “dám ăn dám nói” rõ ràng bị… siết chặt hơn.

    Một kỷ niệm có dính dáng tới ông là tôi vài lần chở nhà văn Sơn Nam đậu trước biệt thự nhà ông để lão tiền bối Sơn Nam gõ cửa xin “viện trợ” của đồng chí cũ thời cùng chung tỉnh ủy Long Châu Hà. Những lúc đó tôi thấy thương kiếp nhà văn của ông Sơn Nam vô cùng. Ngày xưa vua chúa phải hạ mình đi cầu hiền sĩ còn thời nay hiền sĩ phải đi cầu cạnh ngược lại. Đúng là kiếp cầm bút bọt bèo giữa bể dâu chính trị.

    Nói là nói vậy chứ trong cửa tử luôn luôn có cửa sinh. Đã là một nhà văn nhà thơ đứng về phía nhân dân thì buổi giao thời chủ nghĩa với những cảnh “bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương” như thế bao giờ cũng là môi trường thuận lợi nhất để ra đời những tác phẩm lớn. Chỉ trừ khi bản thân người cầm bút bất tài và thích đổ thừa. Cũng may trong cuộc đời lang bạt giang hồ tôi luôn được tiếp xúc với nhiều kỳ nhân dị sĩ trên các lãnh vực nghệ thuật khác nhau để “hâm nóng” sáng tác.

    Chẳng hạn trong hội họa tôi có dịp giao du với những họa sĩ, điêu khắc gia vừa có tài năng vừa hào khí ngất trời trong… bàn rượu, đủ để làm được bài thơ HỌA HÀNH. Đó là các họa sĩ từng vẽ chân dung tôi mà tôi còn lưu giữ như Nguyễn Trung, Nguyễn Trọng Khôi, Khánh Trường, Vi Vi Võ Hùng Kiệt. Đó còn là các bậc đàn anh tên tuổi khác như Hiếu Đệ, Rừng, Nguyên Khai, Hồ Thành Đức, Hồ Hữu Thủ, Trịnh Thanh Tùng…

    HỌA HÀNH

    Làm thơ mà quậy toàn họa sĩ
    Là “thi hữu họa, họa hữu thi”
    Ai dám bảo đó điều cấm kỵ
    Ngày xưa Lý Bạch quậy Vương Duy

    Lý Bạch quậy Vương Duy còn đỡ
    Ta nâng ly toàn đụng dân gầm
    Mỗi tên cầm cọ chừng dăm vợ
    Nói gì tiểu thiếp đến chào sân

    Mỗi tên cầm cọ dăm người mẫu
    Chữ mẫu nghe đâu giống mẹ hiền
    Các em làm mẫu, ta làm phụ
    Phụ mẫu kề nhau dễ đảo điên

    Mà cật vấn chi nhau chữ sex
    Picasso biết được mất lòng
    Chagal biết được đâm xích mích
    Họa pháp làm sao cọ khỏi run

    Cọ run thì cũng như ngòi viết
    Người mẫu, nàng thơ có khác gì
    Có em trường phái đều thua hết
    Tranh cởi trần, chữ cởi dâm thi

    Đọc dâm thi chỉ cần manh giấy
    Xem tranh phải ngó lại túi tiền
    Tội nghiệp bạn chọn nghề quý phái
    Gỗ, lụa, màu… giá rẻ vài “thiên”

    Ơi, Khôi, Trung, Đệ, Trường, Khai, Đức…
    Hội họa ngày nay xuống chợ trời
    Tranh ảnh quốc doanh bày như rác
    Gác cọ, mình đi uống rượu chơi…

    Chẳng hạn trong âm nhạc, môn phái gần gũi với thi ca nhất, tôi tha hồ “đi bụi” với nhạc sĩ Trần Quang Lộc, Lã Văn Cường, Vũ Ngọc Giao, Nguyễn Hải… Cách đi bụi với mỗi người cũng khác nhau. Năm 1975, lúc còn làm biên tập viên trang văn nghệ báo Tuổi Trẻ tôi gần như là cặp bài trùng với họa sĩ “đa hệ” Nguyễn Trọng Khôi, bởi Khôi là họa sĩ trình bày đầu tiên của tờ báo vừa có thể sáng tác nhạc. Anh có đặc điểm là hát rất hay bằng giọng “têno” bài MỘT CÕI ĐI VỀ của Trịnh Công Sơn lúc bài nhạc này bị cấm. Trong bàn nhậu bạn bè, tôi phun thơ giang hồ liên tục còn anh kết thúc bằng bài hát BÀI CHÒI về người chồng nhà quê bị vợ phụ rẫy khiến ai nấy bật cười ha hả. Năm 1977 tôi bắt đầu quen với Lã Văn Cường như một cặp bài trùng thứ hai. Cuộc hội ngộ của chúng tôi ly kỳ như… phim. Lã Văn Cường thách tôi cứ sau một bài thơ là Cường sẽ hát đáp lễ bài nhạc do Cường sáng tác. Và trên thực tế Cường đã thực hiện đúng như vậy. Tôi đọc 50 bài thơ và Cường hát đủ 50 bài nhạc cho đến lúc cả đám trong bàn đều quắc cần câu. Với Vũ Ngọc Giao thì đượm mùi tráng sĩ hơn. Năm 1978 khi nằm ở Ban Tổ Chức Thành Đoàn chuẩn bị lên đường nhập ngũ, tôi đã cùng Vũ Ngọc Giao nhạc sĩ guitar cổ điển một thơ một nhạc ngả nghiêng phục vụ công chúng xó chợ lề đường dọc khu Bà Lê Chân, Trần Quang Khải… trong những quán nghệ sĩ thời đó của Huy Tưởng và cà phê Hạ Trắng. Sau này đi bộ đội về tôi lại tiếp tục “bài trùng” với nhạc sĩ kiêm ngâm sĩ Nguyễn Hải của xứ Ngũ Hành Sơn và với Trần Quang Lộc, người sáng tác bài VỀ ĐÂY NGHE EM với những giai điệu và ca từ rất đỗi tình tự dân tộc ngọt ngào. Đây là thời gian tôi làm thơ về đề tài âm nhạc nhiều nhất. Bài guitar sau đây là một ví dụ tiêu biểu :

    GUITAR

    Một bài thơ cho cây đàn
    Như bài hát cuộc đời ban cho mình
    Như là lúc mới làm quen
    Anh không dại dột yêu em bằng lời
    Anh ôm guitar lả lơi
    “Tout L’ amour” dạo hết thời con trai
    Trong vườn hoa giấy vừa bay
    Khi rơi xuống ở trong tay hồi nào
    Trong tay hoa ở rất lâu
    Trong anh, em ở bạc đầu chưa xa

    Cám ơn nhạc cám ơn hoa
    Cám ơn phụ nữ sinh ra loài người
    Cám ơn tất cả lứa đôi
    Biết nghe âm nhạc nói lời mối mai
    Biết anh mỗi bận so dây
    Là em đang dạo gót hài trong anh
    “Love is blue” tình yêu xanh
    Thiếu guitar sẽ trở thành đen thui…

    Chẳng hạn bên điện ảnh, tôi từng hạnh ngộ và la cà với rất nhiều người, những người có bụng “lân tài” giúp đỡ tôi về mặt tinh thần lẫn cơm áo cũng không ít. Tôi có thể kể tên đến cố đạo diễn Hồng Sến, cố diễn viên Lê Chánh, đạo diễn Hồ Ngọc Xum, tài tử đẹp trai Nguyễn Chánh Tín… Các huynh đệ khác như Lê Cung Bắc, Châu Đen, Phạm Thùy Nhân…

    Với đạo diễn Hồng Sến thuở còn sinh tiền mỗi lần có cha ông lên thăm là ông luôn nhớ đến tôi. Ong đãi tiệc bắt tôi đọc hai bài thơ ÔNG GIÀ RỪNG SÁT và ÔNG GIÀ BẮT RẮN cho phụ thân ông thưởng lãm. Các bạn thử tưởng tượng Hồng Sến hơn tôi gần 20 tuổi thì “ông cụ” của ông phải bô lão đến chừng nào. Thế mà khi đọc xong hai bài thơ trên, đôi mắt “bô lão” của ông ướt như trẻ con. Đến giờ này tôi vẫn hãnh diện về những buổi đọc thơ cho gia đình đạo diễn Hồng Sến lúc ông còn sống.

    Với Nguyễn Chánh Tín thì lại hoàn toàn bất ngờ. Chúng tôi làm quen nhau ở nhà họa sĩ kiêm diễn viên Lê Chánh trên đường Vườn Chuối đầu thập niên 80. Thuở ấy tất cả đều nghèo, trên mâm rượu chỉ có “xị sô” Gò Đen, Cây Lý và me xoài cóc ổi. Thuở ấy Nguyễn Chánh Tín đã là một ca sĩ phòng trà thành danh và là diễn viên điện ảnh có khuôn mặt “mỹ nam tử” hút hồn phụ nữ, còn tôi là một thi sĩ giang hồ bụi bặm. Thuở ấy chỉ cần “ngửi” nhau qua một bài nhạc có đẳng cấp hay qua một bài thơ khẩu khí độc đáo là mọi người đã thương nhau như ruột thịt. Thuở ấy đẹp đến nỗi mãi hơn 20 năm sau này tôi mới tái ngộ Nguyễn Chánh Tín mà hai người vẫn nhớ như in những bài thơ đã đọc, những bài nhạc đã hát ngày xưa lúc anh Lê Chánh còn sống. Chính kỷ niệm gắn bó hơn 20 năm trước đã kết dính tôi và Nguyễn Chánh Tín thành “cặp bài trùng” hiện nay trong điện ảnh. Hiện nay chúng tôi đang hợp tác làm việc cùng nhau qua thương hiệu một hãng phim tư nhân được thành lập vào năm 2007 mang tên là CHÁNH TÍN FILM. Tôi đảm nhận việc viết kịch bản phim còn Nguyễn Chánh Tín làm đạo diễn. Chúng tôi chủ trương khôi phục dòng phim kinh dị đã mất tích từ sau giải phóng bằng hàng loạt phim nhựa ngắn 45 phút chiếu các rạp lớn trên toàn quốc và phát hành đĩa DVD tại Bắc Mỹ và Châu Au. Chúng tôi đã thực hiện liên tiếp 4 phim mang tựa NGÔI NHÀ BÍ ẨN, SUỐI OAN HỒN, CHẾT LÚC NỬA ĐÊM, BỐN THÍ NGHIỆM TRONG ĐÊM TÂN HÔN và hiện lên kế hoạch làm 2 phim kinh dị, hành động mang tựa NỢ MÁU, SÁT THỦ ra mắt công chúng trong và ngoài nước vào dịp Tết Nguyên Đán sắp tới.

    Cuộc đời Nguyễn Chánh Tín cũng thăng trầm không kém gì tôi. Anh từng vượt biên nhiều lần và bị bắt một lần để đời. Nếu không nhờ ông Dương Đình Thảo, giám đốc Sở Văn Hóa Thông Tin Thành Phố lúc đó bảo lãnh đóng phim VÁN BÀI LẬT NGỬA của Trần Bạch Đằng thì chắc bây giờ còn lâu anh mới tái xuất giang hồ cùng tôi lần nữa. Lần được ông Dương Đình Thảo “cứu bồ” đó, Nguyễn Chánh Tín đã gây dấu ấn xuất sắc trong làng điện ảnh nước nhà với vai diễn trung tá tình báo Nguyễn Thành Luân, một nhân vật ảo từ nhân vật có thật là trung tá Phạm Ngọc Thảo. Nếu ai đó “chụp mũ” anh vì anh tham gia một cuốn phim “Việt Cộng” thì họ đã quá lầm. Thật ra Nguyễn Chánh Tín chỉ là một thanh niên Việt Nam yêu nước đến tận cùng không hề phân biệt chủ nghĩa quốc gia hay cộng sản. Nhân nhắc đến ông Dương Đình Thảo, một chính khách của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam từng xuất hiện ở Hội Đàm Paris Bốn Bên, không riêng gì Nguyễn Chánh Tín, bản thân tôi cũng là người chịu ơn ông. Chính ông Sáu Thảo tức Dương Đình Thảo đã cùng anh Huỳnh Bá Thành, Vũ Quang Hùng lo hộ khẩu cho tôi khi tôi nằm quân lao H39 vì dám chống lại cấp chỉ huy độc đoán trong quân đội.

    Kỷ niệm về tôi với ông Sáu Thảo thật thơ mộng và mang mùi vị Lương Sơn Bạc. Khoảng đầu thập niên 80 phái đoàn Văn Nghệ Sĩ và Báo Chí Thành Phố do ông Dương Đình Thảo dẫn đầu có rủ tôi theo xuống đất Duyên Hải tức Cần Giờ. Đêm đó trước công chúng đông đảo bao gồm công nhân lâm trường và học viên các trường Thanh Niên Xây Dựng Cuộc Sống Mới, ông Sáu Thảo có đọc diễn văn khích lệ tinh thần và các nghệ sĩ sân khấu khác có biễu diễn vài tiết mục phục vụ họ. Chỉ có điều tiếng vỗ tay và sự hưởng ứng quá rời rạc. Ông Sáu Thảo liền quay sang tôi “Lần này phải nhờ đến tài xuất khẩu thành thơ của Bùi Chí Vinh đó”.

    Dĩ nhiên là tôi nhận lời “chữa cháy” ngay lập tức. Tôi liên tưởng đến cảnh ngộ những người vượt biên và những người săn đuổi kẻ vượt biên ngay trên đất Cần Giờ, nơi được mệnh danh là “Siberia” của Sài Gòn này. Tôi liên tưởng đến những lần cụng ly với những người bí ẩn hâm mộ thơ tôi tại quán rượu nhà sàn “ÔNG THẦY” nằm chơi vơi mé biển. Tôi liên tưởng đến chính đời mình đời Nguyễn Chánh Tín đời của nhiều anh em giang hồ hảo hán ôm mộng làm cách mạng như Thủy Hử ngày xưa nhưng suốt đời bất thành phải mài kiếm dưới trăng giống tráng sĩ Đặng Dung. Thế là bài thơ LƯƠNG SƠN BẠC ra đời. Bài thơ kéo theo tiếng vỗ tay rầm rộ phấn khích của công chúng phía dưới. Tôi xin chép bài thơ ra đây như một cách tạm thời kết thúc phần hai GIAI THOẠI CỦA THI SĨ :

    LƯƠNG SƠN BẠC

    Lên Duyên Hải gặp Lương Sơn Bạc
    Đứa vác cần câu đứa kéo chài
    Cùng săn cá sấu quanh rừng Sác
    Thả xuồng ghé quán nhậu lai rai

    Người trung niên ta gọi : anh Hai
    Xâm con ó bảy màu trên ngực
    Gió biển nhiều sao ó chưa bay
    Còn đậu chiều nay trong quán cóc
    Hay con ó còn sợ bầy chim cắt
    Mài cựa quanh năm móng vuốt dài
    Hay rượu làm anh Hai xếp cánh
    Công hầu thua một chén đưa cay
    Thảo nào hồi đó huynh Tiều Cái
    Tống tửu vài chung đã rớt đài

    Anh Hai giới thiệu bạn vãng lai
    Đầu trọc như nhà sư họ Lỗ
    Xưa Trí Thâm không chơi rắn hổ
    Tu mười năm chỉ nhớ thịt cầy
    Nay anh Ba tu chùa mãi lộ
    Rắn mãng xà quàng vắt trên vai
    Hà tất phải khà như phun nọc
    Để chạnh lòng đám rắn hổ mây
    Đệ dù sao cũng dòng phàm tục
    Mời chư huynh một chén rượu đầy

    Rượu đầy nào phải là sóng dữ
    Mà biển gầm lên tưởng nứt quầy
    Anh Bốn đi quyền quên luật rượu
    Chém ba dao thua một dao gài
    Lý Quỳ còn cả thời ngang dọc
    Lẽ nào anh Bốn sớm chồn tay
    Đệ dân thành phố chưa quen sóng
    Cũng tiếp tứ ca một chén đầy

    Mà rượu đầy huynh uống chưa say
    Quyền Mai Hoa thiếu gái cũng hoài
    Coi kìa tì nữ cười khiêu khích
    An ái cần chi phải mập gầy
    Nữ tì thừa biết khi lên ngựa
    Anh hùng lỏng gối chẳng hơn ai
    Võ Tòng bất lực nên sát tẩu
    Tội Kim Liên chết uổng tuyền đài
    Phải giống Yến Thanh vào hắc điếm
    Thường động phòng nương tử mới hay
    Nếu cha mẹ không ghiền tửu sắc
    Làm gì có đệ có huynh đây

    Mà đệ gặp huynh mới chục chai
    Chưa đáng mặt mà xưng hảo hán
    Con voi khi sa xuống đầm lầy
    Giọt lệ ngàn năm còn nuốt hận
    Chúng ta những ông thần nước mặn
    Vốn khinh thường áo mão cân đai
    Vốn ghét công hầu như ghét cứt
    Muốn trèo mây như Lý Thiết Quài
    Muốn đạp gió như Tôn Hành Giả
    Lương Sơn trăm lẻ tám thiên tài
    Hôm nay gặp gỡ làm giông bão
    Thêu cờ “trăm lẻ tám thiên tai”…

    10-08-2008

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi