Bùi Chí Vinh: Giai thoại của thi sĩ

  • Bởi Admin
    05/02/2009
    1 phản hồi

    MỤC LỤC :

    - PHÁT MINH CỦA THI SĨ
    - GIAI THOẠI CỦA THI SĨ (phần 1)
    - GIAI THOẠI CỦA THI SĨ (phần 2)
    - GIAI THOẠI CỦA THI SĨ (phần 3)
    - GIAI THOẠI CỦA THI SĨ (phần 4)

    - PHÁT MINH CỦA THI SĨ

    Về trí nhớ của tôn sư Lê Quý Ðôn

    Hồi nhỏ tôi rất phục Lê Quý Ðôn, thần đồng về mặt trí nhớ. Theo truyền thuyết ông có thể đọc vanh vách những gì mình chỉ nhìn thoáng qua hoặc nghe qua một lần, ông đã từng cứu bồ một bà chủ quán rượu bị mất sổ ghi nợ chép trên vách vì cháy nhà. Ông cũng đã từng thoát một trận đòn của thân phụ nhờ ứng đối trước mặt khách của cha một bài thơ Ðường Luật về rắn mà câu nào cũng đề cập đến từng chủng loài bò sát.

    Tôi không “xịn” như tiên sinh Lê Quý Ðôn, nhưng theo lời bạn bè thì trí nhớ cũng thuộc hàng cao thủ. Từ lúc 11 tuổi đến nay tôi đã làm trên 1000 bài thơ đủ nội dung thể loại và tự hào thuộc tối thiểu cũng hơn 800 bài mình ưa thích. Khác với bậc trí giả Lê Quý Ðôn, tôi bắt buộc phải thuộc thơ mình vì yếu tố thời thế. Nói hú họa, chẳng may tôi bị bọn cường quyền bạo chúa nào đó bịt miệng thì với trí nhớ trời cho, ít ra tôi cũng để dành một số lượng thơ cần thiết để lại cho thế nhân qua ghi chép hoặc khạc thơ truyền khẩu trong bàn rượu thân hữu.

    Năm nay bước qua tuổi ngũ thập tri thiên mệnh đáng lẽ trí nhớ kém dần, nhưng cũng may roi vọt cuộc đời không ngừng quất vào nên trí nhớ của thi sĩ lần lượt lại khôi phục. Nếu thiên tài Lê Quý Ðôn có bài thơ thất ngôn bát cú câu nào cũng nói về RẮN thì tôi cũng nối chí cha ông bằng bài thơ năm chữ câu nào cũng nói về CHÓ, vừa mua vui trong bàn rượu, vừa được chủ quán cho “xù” trong việc trả tiền. Nhân đây, bằng trí nhớ cá nhân, tôi chép lại bài thơ RẮN của Lê Quý Ðôn và bài thơ CHÓ của tôi để mọi người tủm tỉm cười chơi.

    BÀI THƠ RẮN ĐẦU BIẾNG HỌC

    Chẳng phải LIU ÐIU cũng giống nhà
    RẮN đầu biếng học lẽ không tha
    Thẹn đèn, HỔ LỬA đau lòng mẹ
    Nay thét, MAI GẦM rát cổ cha
    RÁO mép chỉ quen lời lếu láo
    LẰN lưng cam chịu vệt năm ba
    Từ nay TRÂU lỗ siêng năng học
    Kẻo HỔ MANG danh tiếng thế gia

    Sáng sớm nghe tiếng KHUYỂN
    Giữa trưa bén mùi CẦY
    Chiều bước vào quán CẨU
    Chú TUẤT nằm đâu đây

    Tiếng ÐỒNG QUÊ là NAI
    Tiếng giang hồ là CỚM
    Gần MỰC thì chú đen
    Gần đèn thì chú ÐỐM

    Thăm chú nhớ BÁNH TRÁNG
    Mới nhất BẠCH nhì VÀNG
    Nhâm nhi dăm XỊ ÐẾ
    Mới tứ VỆN tam KHOANG

    Về bà Hồ Xuân Hương, thuỷ tổ thơ tiếng lái

    Ngoài trường hợp độc đáo của tôn sư Lê Quý Ðôn về mặt trí nhớ như đã nói ở trên, còn một nhân vật nữa trong văn học sử Việt Nam mà tôi cực kỳ ngưỡng mộ. Ðó là nữ sĩ Hồ Xuân Hương, từng được mệnh danh là “Bà Chúa thơ Nôm”, từng được coi là một trong những người phụ nữ hiếm hoi trên trái đất dám thực hiện nữ quyền một cách triệt để nhất trong thời đại phong kiến trên đe dưới búa bất chấp có thể bị nguy hại đến tính mạng. Tuy nhiên, những danh xưng ấy vẫn chưa đủ để nói về sự mở mang ngôn ngữ của bà. Theo tôi, thiên tài Hồ Xuân Hương còn là thủy tổ làm thơ về tiếng lái, là chưởng môn nhân đầu tiên của môn phái “đảo ngữ” một cách kỳ ảo tạo nên tứ thơ đối nghịch khôn lường mà những người đi sau như Bùi Giáng tha hồ kế thừa để phát huy nghệ thuật chơi chữ.

    Hồ Xuân Hương là một nhà thơ ngôn ngữ hai mặt, người đời thường truyền tụng là thơ “đố tục giảng thanh”. Nhưng thơ tiếng lái của bà lại chơi đòn tréo ngoe là “chuyển thanh sang tục”.

    Một minh chứng trong bài “KIẾP TU HÀNH” như sau:

    Cái kiếp tu hành nặng đá đeo
    Vị gì một chút tẻo tèo teo
    Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc
    Trái gió cho nên phải lộn lèo

    Nếu chịu khó đọc kỹ và có máu giang hồ một chút, ai nấy phải bật cười bởi “đá đeo” tức là “đéo đa”, “trái gió” tức là “chó dái”, “lộn lèo” tức là “lẹo… l”

    Một thí dụ khác trong bốn câu đầu bài thơ “CHÙA QUÁN SỨ ”:

    Quán Sứ sao mà cảnh vắng teo
    Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo?
    Chày kình, tiểu để suông không đấm
    Tràng hạt, vãi lần đếm lại đeo…

    Tương tự bài trước, nếu chiết tự ba chữ “đáo nơi neo” tức là “đéo nơi nao”, “suông không đấm” tức là “đâm không sướng”, “đếm lại đeo” tức là “đéo lại đêm”.

    Sự tài hoa của nữ sĩ họ Hồ biến thành phát minh mở đường cho các thi sĩ. Tôi không có máu ngông cuồng như Bùi Giáng khi xài tiếng lái bắt chước bà, tôi cũng không sử dụng tiếng lái trong chốn phòng the, tôi “thảy” tiếng lái của thế kỷ 21 vào những nỗi đau thế thái nhân tình, những trận phong ba cơm áo tạo nên tiếng cười cay đắng cho những ai đang bị áp bức. Ít nhất tôi cũng thu thập từ truyền khẩu, giai thoại của nhân dân để viết hơn 10 bài thơ tiếng lái, xin chép ra đôi bài sau để mọi người thưởng lãm. Ðó là 2 bài thơ mang tựa “ QUỐC KỲ ” và “ ĐẢO NGỮ HÀNH ”.

    QUỐC KỲ

    CỜ VÀNG thì tình CÀNG VỜ
    CỜ XANH sao rụng CÀNH XƠ xác cành
    CỜ ĐỎ ông CÒ ĐỠ anh
    CỜ HỒNG cái CÒNG HỜ nhanh lắm bồ
    Treo CỜ GÌ đỡ KỲ GIỜ?
    Ê, CỜ TÂY hạ CẦY TƠ ra đời!

    ĐẢO NGỮ HÀNH

    Hành đảo ngữ kể từ GIẢI PHÓNG
    Thi ca làm PHỎNG DÁI niêm vần
    Muốn in báo phải làm đầy tớ
    Nhưng ta nào phải kẻ lòn trôn

    Ta nào phải là ông Hàn Tín
    Phò Lưu Bang phản bạn lừa thầy
    KỸ SƯ vì thế thành CƯ SĨ
    THẦY GIÁO từ đây chịu THÁO GIÀY

    Họp ĐỒNG CHÍ thấy toàn ĐÌ, CHỐNG
    XÔ VIẾT ngày nay khoái XIẾT VÔ
    Hình treo LỘNG KIẾNG như LIỆNG CỐNG
    Ðể thằng TO DỰ hét TỰ DO

    Chú đeo BẢNG ĐỎ mà BỎ ĐẢNG
    Mượn SAO VÀNG che đậy SANG GIÀU
    CĂNG BỒNG nhờ nói CÔNG BẰNG nhỉ
    LƯU MANH nào lại chẳng LANH MƯU?

    Theo CHÍNH PHỦ ai ngờ CHÚ PHỈNH
    Vào CHIẾN KHU thì bị CHÚ KHIÊNG
    Mồm ĐÁNH MỸ mà tâm ĐĨ MÁNH
    TIỀN ĐÂU? chú chặn họng ĐẦU TIÊN

    GIÁO CHỨC đói meo đành DỨT CHÁO
    Làm NHÀ THƠ vô bót NHỜ THA
    THIÊN TÀI không đủ THAI TIỀN hả?
    CẤT ĐUỐC về quê CUỐC ĐẤT à!

    KHIẾN CHÁN ta làm thơ KHÁNG CHIẾN
    Gào THI ĐUA chú bịp THUA ĐI
    LÀM THƠ mà LỜ THAM mới nhục
    THÌ CẤY cày mất đất THẤY KỲ

    LÃNH TỤ sạch nhờ ôm TỦ LẠNH
    BẨN NGƯỜI DO bác BỎ NGƯỜI DÂN
    BÁC ĐI quá sớm thành BI ĐÁT
    NGHỆ SĨ tụi con NGHĨ XỆ quần…

    Về loại thơ “bỏ dấu xuống chữ” của chính tôi

    Sau những cơn sress nặng về cơm áo gạo tiền công danh địa vị phù phiếm hư ảo, con người ta luôn cần có sự thư giãn. Nối tiếp tiền nhân, tôi tự thể nghiệm mình qua kiểu thơ chơi chữ đời mới cho thanh thản tâm hồn. Cụ thể tôi bỏ các dấu gồm “dấu huyền, dấu sắc, dấu hỏi, dấu ngã, dấu nặng” xuống các mẫu tự của 24 chữ cái hoặc các từ để chúng thành thơ.

    Xin giới thiệu cùng các bạn một số bài thơ về chữ A, B, C, các từ bão, quậy, thớ như sau:

    A

    Con gái ta thường kêu bằng: ả
    Ðôi khi đụng “xẩm” đổi thành: a
    Các em xinh đẹp thì ta: á
    Giống Chung Vô Diệm thì ta: ạ
    Á ạ gặp ta cũng phải: à

    B

    Nhìn em, ta muốn: bế
    Muốn bế thì phải: bê
    Bê em như bê: bệ
    Bê bệ dễ rớt: bể
    Ðặt xuống giường, ta: bề

    C

    Trong tình yêu không xài: xể
    Làm như thế hai đứa: xệ
    Thà rằng giận nhau, ta: xê
    Ta đi bộ, em đạp: xế
    Lúc gối chăn, bụng sẽ: xề

    BÃO

    Giữa cuộc đời giông: bão
    Ta ruột xé gan: bào
    Văn miếu nuôi cường: bạo
    Triều đình nuôi hổ: báo
    Mình ta nuôi chiêm: bao

    QUẬY

    Ở biển ta là cá: quẫy
    Sao ngươi đem bỏ mặt: quầy
    Giang hồ có câu phải: quấy
    Lẽ nào ta chịu lăn: quay
    Lẽ nào ta không dám: quậy

    THỚ

    Có con ong: thợ
    Không thèm hít: thở
    Khí hậu đền: thờ
    Cho nên có: thớ
    Mật thành ra: thơ

    19.7.2008


    - GIAI THOẠI CỦA THI SĨ (phần 1)

    Vừa rồi sau khi ra mắt hai tập THƠ TÌNH BÙI CHÍ VINH và THƠ ĐỜI BÙI CHÍ VINH trong nước lẫn trn mạng, tình cờ tôi được nghe một số giai thoại hay hoặc không hay của thiên hạ bàn tán về mình. Đối với tôi, hay hoặc không hay đều vẫn là giai thoại. Nhưng giai thoại phải có cơ sở xác đáng, có thực tế chứng minh, có những người trong cuộc chứng kiến thì giai thoại đó mới trường tồn, truyền khẩu hợp lý và khoa học được. Những giai thoại đồn đại chung quanh hình tích, sự đi đứng, năng khiếu làm thơ ứng khẩu của tôi xuất hiện ngay từ sau giải phóng, lúc tôi còn rất trẻ, đang làm việc tại một tờ báo và chỉ mới 21 tuổi đầu. Giai thoại mỗi ngày mỗi phát triển thêm lúc tôi đi bộ đội, rồi đi giang hồ, rồi làm đủ mọi thứ nghề để sống, thậm chí cả giai thoại lúc tôi bày tỏ chính kiến của mình…

    Trong phạm vi bài viết này tôi xin mở đầu bằng một giai thoại quái đản nhất vừa nghe được. Sự quái đản ở đây tùy nghi ai muốn hiểu sao thì hiểu trong khi câu thơ đồn đại về tôi lại khởi nguồn từ một tình bạn rất đẹp. Cụ thể từ hai câu thơ tam sao thất bổn sau đây :

    “Trọc đầu BÙI làm sao CHÍ ở
    Nhục còn chưa có lấy gì VINH”

    Và họ nói rằng hai câu thơ trên là do Bùi Giáng ứng khẩu tặng tôi trong bàn nhậu lúc tôi đang múa may chữ nghĩa, khiến tôi hoàn toàn tâm phục khẩu phục. Suy nghĩ như thế không riêng gì tôi mà những người quen biết tôi đều phải phì cười. Bởi một lẽ đơn giản, tác giả hai câu thơ trên không phải là Bùi Giáng tiên sinh mà là ông anh Mặc Tuyền, một nhà thơ kiêm kịch tác gia bụi đời làm “chọc quê” tôi khi tôi mạt lộ đang ngồi ở vĩa hè phụ sửa xe cùng anh Phan Văn Bồng tự Bế Văn Bồng mưu sinh kiếm sống vào thời điểm cuối thập niên 80 đói rách. Thời điểm ấy nạn dịch bo bo khoai mì hoành hành, mâm cơm không có gạo trắng mà ăn, Mặc Tuyền cố kiềm chế sự ngông cuồng của tôi nên làm hai câu khá cảm động. Vừa chơi chữ, vừa nói về chữ “nhục”, nhục ở đây có nghĩa là “thịt”, thi sĩ lớn cỡ nào mà đầu cạo trọc và thiếu thịt ăn thì bao tử cũng đói meo và chí khí lẫn chí mén cũng đi chơi chỗ khác.

    Còn Bùi Giáng tiên sinh đương nhiên thuộc về đẳng cấp khác. Ông và tôi không phải huynh đệ hoặc thân thiết tri kỷ nhưng khi gặp nhau chưa bao giờ ông dèm pha biếm nhẽ thế hệ sau mình. Giai thoại giữa tôi và ông độc đáo hơn nhiều. Cách đây hơn 20 năm tôi và Hồ Lê Thuần (con trai cố bí thư Thành Đoàn trước 1975 là Hồ Hảo Hớn) vi hành xuống miệt Gò Vấp chợ Long Hoa lúc nửa đêm. Nhằm vào lúc Bùi Giáng rời chùa Long Huê gần đó ra chợ quậy tưng bừng khói lửa với một cây chổi rách tượng trưng cho ấn kiếm. Gọi là ấn kiếm vì Bùi Giáng luôn vỗ ngực xưng vương bất cứ lúc nào cao hứng. Đêm đó chúng tôi ngồi uống rượu vĩa hè chứng kiến “vua cỏ” Bùi Giáng làm bà con chạy tán loạn và nhìn ông múa chổi tiến về phía chúng tôi. Ong vừa đi vừa khạc thơ rồi dòm trừng trừng vào mặt tôi. Trong cơn say xỉn ngất trời, Hồ Lê Thuần xúi tôi đọc thơ đáp lễ. Thế là người ngồi người đứng xuất khẩu thành thi qua lại liên tục. Không biết Bùi tiên sinh “phê” thơ tôi ra sao, chỉ biết Người tự động quỳ xuống bàn chúng tôi dâng cây chổi rách lên và tuyên bố “Đêm nay Trẫm thay mặt cựu hoàng Bảo Đại giao ấn kiếm cho thế hệ Hồ Chí Minh”. Câu nói đầy tính “chính trị” và đối phó của Bùi Giáng bắt buộc tôi phải nhận cây chổi và làm một bài thơ tặng ông tại chỗ, có chép lại nhét túi ông đàng hoàng, xin mạn phép ghi ra đây để khép lại lời đồn về sự “tâm phục khẩu phục” của tôi trước Bùi Giáng :

    CÁCH LẠY CỦA BÙI GIÁNG

    “Liên tồn, l… tiên, liền tôn”
    Bác Bùi chưa gặp đồng môn đây mà
    Ta hăm bảy tuổi đăng khoa
    Bác hơn sáu chục mới là Trạng Nguyên
    “Bác đi, bi đát” cơn điên
    Để mua trí tuệ “l… tiên, liên tồn”
    “Riêng ta” thành “ra tiên” con
    Lúc say xỉn vỗ hậu môn cười khà
    “Bán dùi Bùi Giáng” xót xa
    “Bình Chí Vui” ta vốn là “Bùi Vinh”
    Bác không màng nhắc triều đình
    Có đâu ta nỡ cố tình làm vua
    Chi bằng giữa chợ say sưa
    Bùi to Bùi nhỏ đi lùa các em
    Kìa sao bác lạy như điên
    Đợi ta đỡ dậy chiêu hiền nữa sao ?!?

    Ngoài ra tôi còn chép cho Bùi tiên sinh bài thơ BÌNH CHÍ VUI khi ông muốn tôi bình tĩnh chí nam nhi trở lại để có thể tồn tại trước bọn sâu bọ làm người. Tôi đã làm bài thơ này theo “môđen “ tiếng lái và chơi chữ của ông :

    BÌNH CHÍ VUI

    “Bùi Chí Vinh, Bình Chí Vui”
    Không bình chí, chắc tiếng cười mất tiêu
    Chí trong bình, chí mốc meo
    Chui ra bình, chí mới nhiều nhục vinh
    Bùi làm thiên hạ giật mình
    Sờ ngay “cái đó” kẻo em mếch lòng
    “Bùi như lạc” nhậu sướng không?
    “Trần như nhộng” Bùi tồng ngồng đái chơi
    Bất bình nên chí chưa vui
    Các em nên gọi ông Bùi Chí Vinh

    Chuyện gặp Nguyễn Đức Sơn giang hồ hơn. Trước đó khi mạn đàm về thi ca cùng đồng nghiệp, tôi luôn luôn khẳng định miền Nam trước giải phóng có 4 chưởng môn nhân đại diện cho 4 trường phái thi ca tiêu biểu. Đó là Bùi Giáng thơ trên trời, Nguyễn Đức Sơn thơ dưới đất, Thanh Tâm Tuyền thơ tự do kiểu Tây phương, Tô Thùy Yên thơ hành cổ điển kiểu Đông phương. Vì thế lần hạnh ngộ Nguyễn Đức Sơn trên cao nguyên Đại Lào sơn lam chướng khí, tôi đã ăn những gì ông tự trồng tự hái và đã đấu khẩu những gì ông muốn.

    Nguyễn Đức Sơn vốn sở trường thơ lục bát và nổi tiếng trước những bài thơ tinh gọn đến mức độ tối thiểu về chữ mà vẫn dào dạt ý tứ. Có bài thơ chỉ hai câu, mỗi câu hai chữ như “Cái lỗ – Tối cổ” đủ nói hết về chế độ mẫu hệ, về nơi khai sinh ra loài người. Có bài thơ chỉ ba câu, mỗi câu một chữ như “Hột – Thì – Le” đủ nói hết về bản chất sinh tồn thiện ác của nhân loại. Và tôi đã mượn những ý thơ độc đáo đó để đưa vô bài thơ làm tặng ông như một thứ giai thoại truyền khẩu :

    ĐỤNG ĐỘ NGUYỄN ĐỨC SƠN

    “Hột thì le” thật đó sao ?
    Ta dân “thảy lỗ” đến chào đồng môn
    Xưa nay hai kẻ du côn
    Ít khi đời sống cô hồn như nhau
    Như miếng trầu khác miếng cau
    Nhưng có cau, chẳng có trầu, như không
    Như không sinh chuyện động phòng
    Hột sao le được “nụ hồng thi ca”
    Như không sinh nở đàn bà
    “Cái lỗ tối cổ” thành ra tầm thường

    Ta thừa văn, bác dư chương
    Hôm nay một chén Hồ Trường chao nghiêng
    “Thiên tài” nhờ lỗ “tai thiền”
    Buồn lên núi hú chẳng phiền Tarzan
    Buồn hái nấm luyện thành sâm
    Buồn quay vào vách thương thầm Đạt Ma
    Buồn hơn xuống động bẻ hoa
    Buồn hơn chút nữa kiếm ta đỡ buồn

    Kiếm ta ta cứ ngông cuồng
    Sánh vai với Nguyễn Đức Sơn cũng kỳ
    “Kỳ “ thì theo “Thiệu” mà đi
    Ta theo bác đã chắc gì tịnh tâm
    Chẳng thà bút vẩy thơ đâm
    Rong chơi đợi trận cát lầm đi qua
    Đừng khen chê trước mặt ta
    Sợ e tiếng gáy làm gà ghét nhau
    Chẳng thà trong cuộc bể dâu
    Cưa nhau chén rượu cho sầu chia hai…

    Riêng đối với Phạm Thiên Thư thì tôi “quậy” theo kiểu bụi đời hơn. Năm 1980 tôi được nghỉ phép mặc đồ bộ đội rách xác xơ đi lang thang cùng Hoàng Linh qua đường Lý Chính Thắng (tức Yên Đỗ cũ). Hoàng Linh là bạn giang hồ của tôi, anh là con trai nhà văn Hoàng Ly và là em vợ Phạm Thiên Thư lúc đó. Anh giới thiệu tôi với Phạm tiên sinh đang mở tiệm hớt tóc và bỏ mối rượu ngay trên đường này.

    Cuộc hội ngộ diễn ra y chang truyện kiếm hiệp của Kim Dung. Ngoài trời mưa tầm tã, bên trong tiệm Phạm tiên sinh ngừng hớt tóc cho vị thân chủ mặt mũi kỳ dị và kéo vị ấy ngồi xuống rót chai rượu màu xanh tiếp tôi và Hoàng Linh. Sau tuần rượu đầu đàm đạo về thơ, vị khách lạ đứng dậy chỉ vào mặt tôi và phán “tuổi Giáp ngọ phải không, sanh vào cuối tháng 9 âm lịch phải không, chào đời nửa đêm phải không?” Rồi ông ta đứng dậy bỏ đi một mạch. Lời phán của kẽ dị nhân khiến tôi hoang mang nhưng hai anh em Phạm Thiên Thư, Hoàng Linh chỉ khẽ gật gù khoái trá. Đến giờ này tôi vẫn chưa hiểu dị nhân đó là ai và tại sao chỉ sau một quẻ Dịch ông ta lại biết ngày giờ năm sinh tháng đẻ của tôi trong khi cả bàn không ai biết. Hôm đó trong lúc cụng ly nghe Phạm tiên sinh thố lộ về cuộc đời trôi nổi lên voi xuống chó của ông làm tôi ngậm ngùi vô tận. Tôi thừa biết họ Phạm sở trường về thơ bốn chữ nên ứng khẩu tặng ông bài thơ cùng thể loại mà ông ưa thích. Bài thơ như sau :

    GHẸO PHẠM THIÊN THƯ

    Rượu Phạm Thiên Thư
    Thơ Bùi hiền sĩ
    Một chén càn khôn
    Đất trời túy lúy

    Tưởng huynh tên “Thị”
    Nên mới vào chùa
    Dè đâu tửu sắc
    Cũng ghiền nam mô

    Huynh giữ một bồ
    Chứa toàn thịt chó
    Ta giữ bồ kia
    Chứa toàn tín nữ

    Vì huynh quân tử
    Như Nhạc Bất Quần
    Ta đành tiểu tử
    Như Điền Bá Quang

    Tiếu Ngạo cung đàn
    Một gian lều cỏ
    Huynh mới bẻ gươm
    Ta còn mãi võ

    “Đoạn Trường” hai chữ
    Huynh ngâm nát lòng
    “Vô Thanh” đâu chứ
    Cửa thiền huynh trông

    Ta con nhà tông
    Giống lông giống cánh
    Quen ngủ chiếu rơm
    Dùng cơm khổ hạnh

    Gặp chiều mưa lạnh
    Chén tạc chén thù
    Đem thơ tặng Phạm
    Đếch cần Thiên Thư !

    Cũng trong thời gian đó tôi lang bạt rất nhiều nơi, làm quen với nhiều người, trong đó có thi sĩ Nguyễn Bắc Sơn từ Phan Thiết vô là tác giả tập thơ CHIẾN TRANH VIỆT NAM VÀ TÔI nổi tiếng. Nguyễn Bắc Sơn có hẹn hò đâu với Trần Mạnh Hảo nên rủ tôi lên chung cư Hội Văn Nghệ số 190 Nam Kỳ Khởi Nghĩa lai rai ba sợi chơi. Khi đi, tôi có rủ thêm Trần Hữu Dũng, Vũ Ngọc Giao là hai chiến hữu giang hồ cùng cạn chén tang bồng hồ thỉ.

    Rượu vào lời ra. Tôi và Nguyễn Bắc Sơn thay phiên nhau khạc thơ chan chát. Có lẽ Nguyễn Bắc Sơn không ngờ tôi là một kẻ hậu sinh chưa hề có tên tuổi trước giải phóng mà khạc thơ quá đã, nên anh “bốc” liền một câu : “Thằng cha Bùi Chí Vinh này làm bài thơ nào cũng hay hết, nhưng thơ họ Bùi là Đồ Long Đao, còn thơ Nguyễn Bắc Sơn ta mới là Ỷ Thiên Kiếm”. Nguyễn Bắc Sơn đâu biết câu phát biểu đó vô tình làm “mồi” cho một bài thơ giai thoại về anh và tôi sau này. Bài thơ được tôi ứng khẩu tại chỗ như sau :

    CÁCH NHẬU VỚI NGUYỄN BẮC SƠN

    “Ta làm thơ bài nào cũng hay”
    Nghe gã Nguyễn Bắc Sơn nói thế
    Té ra gừng già ngươi chưa cay
    Ta chỉ hạt tiêu mà rơi lệ
    Làm thơ ta làm từ bụng mẹ
    Đợi ngươi nổi tiếng là ta sinh
    Sinh sau đẻ muộn giống Hạng Thác
    Cho người Khổng Tử đỡ hợm mình
    Sinh sau đẻ muộn giống chim hạc
    Cho đàn cò đói đỡ ăn đêm

    Nhà ngươi bốc ta cứ như chưởng :
    Rằng thơ ta ngông như Tạ Tốn
    Câu trước câu sau Đồ Long Đao
    Vần dưới vần trên Ỷ Thiên Kiếm
    Đao kiếm dành cho bọn cường hào
    Có đâu đưa vào thơ bố trận
    Tại đời lắm muối nên thơ mặn
    Chứ thiết gì ta nghiệp võ công
    Kìa coi hoàng đế Quang Trung đó
    Đến chết còn ghê chữ má hồng

    Tiếc rằng ngươi không là thiếu nữ
    Thiếu nữ bốc, ta thành vua Trụ
    Nhà ngươi bốc, ta thành bia hơi
    Uống say bọt bay hết lên trời…

    Đối ẩm với Nguyễn Bắc Sơn tại nhà Trần Mạnh Hảo mà quên nhắc đến họ Trần thì quả là điều không phải phép. Khi tôi 15 tuổi tham gia phong trào sinh viên học sinh đấu tranh đô thị ở Sài Gòn thì bộ đội Trần Mạnh Hảo đã siết cò AK ở trong rừng. Ngay giải văn học TPHCM đầu tiên sau giải phóng 1976 – 1977 tôi và Trần Mạnh Hảo đã biết nhau khi anh đoạt giải thơ với tập TIẾNG CHIM GÕ CỬA còn tôi đoạt giải thơ với tập HẠNH PHÚC CÓ THẬT. Tôi với anh còn thân nhau bởi cùng đi lưu diễn đọc thơ các trường đại học cùng với Nguyễn Duy, Văn Lê, Nguyễn Nhật Anh. Phải nói thật tôi thân với Trần Mạnh Hảo hơn những nhà thơ ngoài Bắc khác một phần vì quê quán cha tôi thuộc tỉnh Nam Định, đồng hương với anh.

    Trần Mạnh Hảo và tôi mỗi người đều tạo ra những sóng gió và dư luận riêng bởi cá tính và thơ của mình. Trong bàn nhậu đám đông, tôi và anh luôn luôn giữ vai trò chủ lực trong việc đọc thơ phục vụ bè bạn bằng thơ trí nhớ hoặc thơ ứng khẩu. Ai cũng khẳng định rằng tôi và anh đều có trí nhớ đặc biệt, thuộc lòng bất kỳ bài nào của mình viết ra, cho dù là viết giỡn chơi. Thậm chí giới giang hồ mỗi lần nghe tôi và anh đấu khẩu bằng thơ đều gọi là “Nam Chinh, Bắc Chiến”. Một lần ngồi dưới chân cầu Công Lý trước nhà chị Phương Huệ, có mặt khá đông bá tánh tín đồ Phật Giáo, Trần Mạnh Hảo đã cao hứng đọc oang oang bài thơ chinh phục thiên hạ. Bằng trí nhớ tôi chép ra đây sau một thời gian quá lâu hơn 20 năm, nếu có sơ xuất hoặc thiếu câu nào đoạn nào mong Trần Mạnh Hảo thông cảm :

    PHÙNG PHẬT, SÁT PHẬT

    Phùng Phật phải sát Phật
    Sát Phật, Phật quay về
    Ngộ rồi mà chưa ngộ
    Tỉnh tỉnh mà mê mê

    Thúy Kiều vừa thành Phật
    Mười lăm năm tu hành
    Cõi tâm là cõi Phật
    Lầu không lầu không xanh

    Phật tự thân người đẹp
    Không dưng, sao Phật Bà
    A Di Đà sát Phật
    Phật hóa thành đôi ta !

    Tôi thấy tình hình căng quá bèn giải thoát cho các tín đồ Phật Giáo bằng bài thơ thức ngộ sau đây :

    PHÙNG PHẬT, CỨU PHẬT

    Trần Mạnh Hảo sát Phật
    Giữ lại mình Quan Âm
    Nói theo kiểu phàm tục
    Diệt dục mà sinh dâm
    Nói theo kiểu cờ bạc
    Úp Tây mà lật Đầm
    Nói theo Bùi hiền sĩ
    Muốn vậy chìa hai trăm !

    Bao giờ cũng vậy, những cuộc đấu khẩu thơ giữa tôi và Trần Mạnh Hảo đều làm thiên hạ bật cười nhẹ nhõm tới bến sau khi thần kinh căng thẳng cũng tới bến. Anh em văn nghệ mà. Những người có khả năng khuấy đảo thiên hạ chỉ đếm trên đầu ngón tay, tại sao lại không biết thương nhau bảo vệ nhau trước những cặp mắt cú vọ của đám tiểu nhân rình mò tâu hót ám hại.

    Một giai thoại nữa có liên quan tới Trần Mạnh Hảo khi họ Trần dẫn theo hai vị chức sắc thuộc tỉnh Hà Nam Ninh đến Hội Văn Nghệ 81 Trần Quốc Thảo ăn nhậu và ra câu đối thách thức. Chuyện đó đã hơn 15 năm. Hôm đó tôi đang ngồi uống bia dưới gốc cây đa cùng với Nguyễn Quốc Chánh, Đoàn Vị Thượng … và nhiều anh em văn nghệ khác. Hai bên chào nhau và ráp bàn. Trần Mạnh Hảo tuyên bố “Có một câu đối chúng tôi ra vế mà từ Bắc vô Nam chưa ai đối được hoàn hảo về mặt nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Nếu các bạn trong bàn giải được, chúng tôi cá độ một chầu nhậu thả giàn”.

    Vế đối ra như sau :

    “BATA đi giày vải”

    Phải thú thật là vế ra quá độc. Bởi băng “Hà Nam Ninh” của Trần Mạnh Hảo gồm đúng 3 người, mà cả 3 đều đi giày vải, và giày vải đều mang hiệu BATA. Thế là anh em chiến hữu đều hướng mắt về phía tôi. Trong tình thế chỉ mành treo chuông, tôi gật đầu cái rụp.
    Sau 15 phút động não nhằm xác minh một đơn vị tiểu thủ công nghiệp mang tên “Đại Chúng” chuyên sản xuất dép râu ở Chợ Lớn, tôi hùng hồn đứng dậy đối lại như sau :

    “ĐẠI CHÚNG lết dép râu”

    Câu đối lại đã quá rõ ràng. Khi ba cán bộ đi giày Bata thì đám đông đại chúng nghèo khổ đành phải mang dép râu lết bánh. Thế là sau một hồi tranh cãi gọi điện thoại bàn xác minh cơ sở sản xuất dép lốp Đại Chúng có thật hay không thì băng Trần Mạnh Hảo đành phải chung độ chứ còn phải hỏi.

    Cũng trong giai thoại về câu đối, nhân đây tôi nhắc chuyện này như một nén nhang thắp tặng linh hồn hai vị thuộc giới văn nghệ đã khuất. Đó là hai nhà thơ trào phúng Tú Rua và bác Cử Tạ vốn là hai nhân vật nằm trong hai câu đối của tôi. Chuyện xảy ra vào cuối thập niên 80 khi tôi và Lê Dụng (con trai cố nhạc sĩ Hoàng Việt) đến nhà Tú Rua chơi. Nhà thơ trào phúng Tú Rua vừa là chủ tiệm may đắt khách vừa là một cộng tác viên đắc lực của báo Văn Nghệ TP nơi Lê Dụng công tác. Trong lúc trà dư tửu hậu chén tạc chén thù ông chủ tiệm may Tú Rua cao hứng phán một câu “Nghe đồn Bùi Chí Vinh có khả năng ứng tác về ca từ thi phú cổ điển. Vậy ông có ngon làm hai câu đối nói về chí khí của Tú Rua tôi trong sáng như sao Tua Rua trên bầu trời đêm thì tôi sẵn sàng đãi ông và Lê Dụng suốt một ngày khắp các quán Sài Gòn”. Lời phán của Tú Rua như một tiếng sét đánh ngang mày. Mà đã là sét đánh thì nháng lửa và tung tóe như sao. Bất giác tôi liên tưởng đến bác Cử Tạ phụ trách mục “Ôn Cố Tri Tân” trên báo Long An cuối tuần thường hay bốc thuốc Đông Y ở khu Ông Tạ. Tôi nháy mắt với Lê Dụng như một nhân chứng vàxuất khẩu thành…hai câu đối như sau:

    TÚ RUA “rua” SAO RUA
    CỬ TẠ tạ ÔNG TẠ

    Tôi thấy Lê Dụng khoái trá còn Tú Rua lặng người. Trong ba từ “rua” của vế trên thì chữ “rua” thứ nhì là tiếng Pháp có nghĩa là “bắt tay”. Tương tự trong ba từ “tạ” của vế đáp thì chữ “tạ” thứ nhì thuộc tiếng Hán có nghĩa là “vái chào”. Và kết quả là chúng tôi say xỉn quắc cần câu như thế nào có lẽ các bạn cũng hình dung ra được.

    Cũng trong thập niên 80 tôi thường xuống khu Ong Tạ giao du với gia đình nhà văn Lưu Ngũ và các hảo hớn anh chị sống ngoài vòng pháp luật ở khu vực đó. Lưu Ngũ xuất thân là cựu trung úy Biệt Động Quân của quân đội Sài Gòn sau giải phóng đi học tập cải tạo và trở thành nhà văn bất đắc dĩ nhờ đoạt giải văn học thành phố năm 1976 – 1977 với truyện dài VŨNG LẦY . Anh chán ghét chiến tranh đến mức độ chỉ muốn làm con người, nhưng làm con người giữa thời đại “bo bo” và “xuyên tâm liên” thì quả khó làm sao. Trong một đêm nhậu đã đời với những kẻ “Đảng nghi ngờ, nhân dân chú ý” chúng tôi đã đi lang thang trên đường phố chỉ toàn xe đò chạy bằng than, nhìn thấy những chiếc xích lô kiếp ngựa thồ mà phu xe toàn là cựu chiến binh bộ đội lẫn quân đội chế độ cũ, chúng tôi tiếp tục nhìn thấy những giọt lệ ứa ra từ các mệnh phụ phu nhân, các tiểu thư nghèo khổ phải “đứng đường” đón khách kiếm tiền độ nhật. Bài thơ SINH NGHI HÀNH mở đầu một giai thoại truyền khẩu sau này ra đời từ đó:

    SINH NGHI HÀNH

    Sinh nghi ta viết một bài hành
    Vợ nghi chồng, em út nghi anh
    Cha nghi con cái, bè nghi bạn
    Thủ trưởng thì nghi hết ban ngành
    Láng giềng dòm ngó nghi hàng xóm
    Ngoài đường nghi phố chứa lưu manh
    Ngay ta khi viết bài in báo
    Cũng nghi mình kiếm chác công danh
    Trời ơi, mọi chuyện sinh nghi thật
    Chén kiểu thường nghi kỵ chén sành

    Thời buổi công hầu như chén cứt
    Thiếu chó, mèo ăn cũng rất nhanh
    Mèo ăn cho chó leo bàn độc
    Vừa sủa vừa nhai riết cũng rành
    Trẻ con khát sữa, ai cho bú
    Vú mẹ gầy, sâu rúc nồi canh
    Quang Trung bỏ núi Tây Sơn xuống
    Hoảng hốt vì gương vỡ chẳng lành
    Nguyễn Du chỉ một đêm dạo phố
    Đoạn Trường ngồi viết lại Tân Thanh
    Thúy Kiều phát triển nhiều như thế
    Thảo nào đất nước hóa lầu xanh
    Nhà tù phát triển nhiều như thế
    Kẻ sĩ làm sao dám học hành

    Ta làm thơ mà lòng đứt ruột
    Suốt đời bao tử chạy loanh quanh
    Lãnh tụ nói “đói quên nghi kỵ”
    Ơn ấy ngàn năm sáng sử xanh

    Trước khi tạm ngưng phần đầu bài viết GIAI THOẠI CỦA THI SĨ này, tôi thiết tưởng không có gì ý vị hơn khi nhắc đến một ông bạn phương xa là Nguyễn Lương Vỵ. Hồi còn ở trong nước chưa định cư ở Mỹ, Nguyễn Lương Vỵ sống cùng địa phương với tôi và những lúc buồn bã cô độc, anh thường ghé nhà rủ tôi nhâm nhi chén rượu quên sầu. Anh buồn vì một lý do cực kỳ giản dị : anh là một con người chứ không phải một con thú hoặc một cỗ máy. Thậm chí anh còn rung động nhanh hơn con người bình thường một bậc, bởi anh là… thi sĩ.

    Nguyễn Lương Vỵ thường ngồi bứt tóc trong lúc đánh cờ tướng. Đánh xong bàn cờ là tóc anh rụng như mưa. Anh sống nửa dại nửa khôn nửa tỉnh nửa điên như thế nên phải tự giải thoát mình trong triết lý Phật Giáo. Mỗi lần say xỉn anh thường thuyết giảng cho tôi nghe về tiểu thừa đại thừa, về sắc sắc không không, về cõi luân hồi sát na sát khí… để cho tôi “choáng” mà bớt quậy. Nào dè tôi quậy còn tưng bừng hơn. Tôi có tặng anh bài thơ sau đây trươc khi anh sum họp gia đình bên Mỹ :

    PHẬT SỐNG

    Chư huynh bàn về tu luyện
    Đứa đại thừa, đứa tiểu thừa
    Đứa nào cũng sắp thành Phật
    Chỉ mình ta còn gươm khua

    Đời này nói đến hơn thua
    Biết bao giờ cho hết chuyện
    Ta thấy chư huynh yêu chùa
    Cũng là tự thân bảo hiểm

    Nhưng tu như vậy còn kém
    Biết khôn lựa gốc bồ đề
    Có người tu hang Pắc Bó
    Sau này thành Phật sướng ghê !

    7 - 2008

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi