Nhóm Dịch Thuật Dân Luận

  • Bởi Admin
    15/01/2013
    391 phản hồi



    Nhóm Dịch Thuật Dân Luận được thành lập với mục đích khuyến khích việc dịch các bài vở / tin tức từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại. Thế giới ngày nay đang trở nên "bằng phẳng" hơn, những gì xảy ra cách Việt Nam cả nửa quả địa cầu cũng có thể gây ra những tác động khó tưởng tượng nổi tới cuộc sống của chúng ta. Bằng cách nắm bắt những gì đang diễn ra trên thế giới, cũng như cung cấp cho thế giới thông tin cần thiết về những gì đang xảy ra ở Việt Nam, chúng ta sẽ gặt hái được lợi ích to lớn của một thế giới phẳng.

    Bên cạnh công việc dịch thuật, Nhóm Dịch Thuật sẽ trợ giúp độc giả Dân Luận trong việc học tiếng Anh, qua trả lời các thắc mắc và nâng cao vốn từ vựng. Chúng tôi mong rằng sẽ ngày càng nhiều người Việt Nam có thể sử dụng được ngôn ngữ thông dụng này của thế giới, áp dụng nó để thành công trong cuộc sống cá nhân cũng như để xây dựng một đất nước Việt Nam tươi đẹp hơn.

    Nhóm sẽ do bác Tâm Như làm trưởng nhóm cùng các thành viên tình nguyện trong danh sách dưới đây. Độc giả Dân Luận có nhã hứng tham gia nhóm dịch thuật này, xin đăng ký với Admin hoặc bác Tâm Như qua email BanBienTap@danluan.org. Không có giới hạn nào về thành viên tham gia, ngoại trừ bạn phải thật sự muốn tham gia với tinh thần học hỏi, chia sẻ, và làm việc nghiêm túc.

    Một số điều cần chú ý:

    - Trước khi dịch bài, xin thông báo cho cả nhóm ở thread dưới đây để tránh dịch trùng đề tài.

    - Thành viên tham gia Nhóm Dịch Thuật nên đăng ký làm thành viên Dân Luận, như vậy sẽ không phải đợi phản hồi được duyệt.

    - Với các dự án dịch thuật cần sự phối hợp của nhiều thành viên làm việc nhóm, trưởng nhóm sẽ là người quyết định điều phối công việc.

    Các thành viên của nhóm dịch thuật:

    - Tâm Như (trưởng nhóm)
    - Diên Vỹ
    - Innova
    - Hồ Gươm
    - Tqvn2004 (nick Admin)
    - TM1111
    - N.Q. Khải
    - Thien Thanh
    - Thomas (chz4me)
    - Khải Huyền
    - Phong Trần

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    391 phản hồi

    Nhờ các bác chuyển ngữ giúp tôi bài này sang tiếng Anh nhé. Xin cảm ơn trước!

    https://danluan.org/tin-tuc/20130406/tran-van-huynh-le-thang-long-va-hanh-trinh-vi-quyen-con-nguoi

    Về việc dịch cuốn sách sang tiếng Anh thì đây là một cuốn giới thiệu về cuộc đời và các tư tưởng của anh Trần Huỳnh Duy Thức. Nó khá dày, gần 300 trang nên cần có nhiều người tham gia. Được phát hành dưới dạng ebook nên nếu nhận lời là các bác có thể tiến hành dịch ngay được. Hiện tại đã có 3 người nhận lời, nhưng tôi vẫn cần có thêm người tham gia dự án này. Sau khi nhóm dịch xong sẽ có người đứng ra đọc lại và hiệu đính.

    Phiên Ngung viết:

    Việtnam nhìn hết ham!

    Những nhà đầu tư ngoại quốc ngày càng mất niềm tin vào thị trường mà họ từng đổ tiền vào vì mức độ cải cách chậm chạp và tình trạng tham nhũng ngày càng cao.

    ..................

    http://www.business-standard.com/article/opinion/vietnam-s-lost-charm-113040300462_1.html



    4:54am Thứ Năm ngày 4 tháng 4 năm 2013

    Thưa bác Phiên Ngung,

    Bài chuyển ngữ "Vietnam's Lost Charm - Việt Nam Hết Ham!" đã được mang vào trang chủ theo link đính kèm dưới đây:

    https://danluan.org/tin-tuc/20130404/barun-roy-viet-nam-nhin-het-ham

    Cảm ơn nhiệt tình của bác.

    Thân kính chúc bác Thân Tâm Thường An Lạc.

    Thân kính,

    Tâm Như

    Admin viết:
    Nhờ các bác đăng ký dịch giúp bài này nhé:

    http://www.business-standard.com/article/opinion/vietnam-s-lost-charm-113040300462_1.html

    Xin cảm ơn trước. Về cuốn sách, tôi sẽ giới thiệu kỹ hơn sau.



    *

    *

    Việtnam nhìn hết ham!

    Những nhà đầu tư ngoại quốc ngày càng mất niềm tin vào thị trường mà họ từng đổ tiền vào vì mức độ cải cách chậm chạp và tình trạng tham nhũng ngày càng cao.

    Việt nam đang có vấn đề gì đấy. Bỗng dưng họ chẳng còn là miếng mồi ngon cho đầu tư ngoại quốc như xưa nữa. Trong 3 năm liên tiếp, Việt nam đã không đạt được mục tiêu đầu tư ngoại quốc (FDI) và chính quyền, qua những phát biểu gần đây của một số bộ trưởng, đang lo sốt vó. Họ sợ nếu đà đầu tư cứ suy giảm sẽ ảnh hương xấu đến sự tăng trưởng kinh tế và nếu tăng trưởng bị trì trệ, giới đầu tư ngoại quốc lại càng e ngại đầu tư thêm.

    Điều này trở thành một vòng luẩn quẫn tai hại và Việt nam phải tự trách mình mà thôi. Họ nghĩ rằng họ là quốc gia đặc biệt vì quá khứ của họ. Họ nghĩ rằng bất luận thế nào thì thế giới vẫn phải ve vãn họ. Tuy nhiên thương nhân không thể chờ đợi mãi được. Nếu bạn không sẵn sàng thì họ sẽ tìm đến những cánh đồng thương mại xanh tốt hơn. Và đây chính là trường hợp đang xảy ra cho Việt nam. Trong khi họ dậm chân tại chổ trong việc thúc đẩy cải cách, những môi trường cạnh tranh xưa đã ra tay cải cách và những quốc gia mới xuất hiện cũng ra sức để tranh dành những món tiền đầu tư.

    Không phải là nguồn đầu tư sẽ cạn kiệt, nhưng những cam kết đầu tư mới thì đang chậm lại trong khi đó những kế hoạch đầu tư cũ đang bị đóng băng. Năm ngoái, với mục tiêu đầu tư tứ 15 -17 tỷ Mỹ kim, những cam kết đầu tư mới giảm xuống 13 tỳ Mỹ kim, ít hơn số đầu tư 14,7 tỳ Mỹ kim đầu tư cho năm trước, tức là quá ít so với 18,1 tỷ Mỹ kim cam kết đầu tư cho năm 2010. Theo Hội nghị Đầu tư và Phát triển Liên Hiệp quốc (UNCTAD) ngay cả nếu căn cứ trên tỷ lệ hối đoái hiện hành, tổng số đầu tư ngoại quốc FDI vào Miến điện tăng 90% và Cam bốt tăng 104,3% vào năm ngoái so với năm trước. Hẵn nhiên, tổng số tiền đầu tư vào hai nước này vẫn còn thấp hơn Việt nam tuy nhiên tỷ số gia tăng là diều đáng ngại (cho VN). Năm ngoái, Miến điện gia tăng số tiến đầu tư 100% so với năm 2011.


    Nhật bản là quốc gia đầu tư nhiều nhất vào Việt nam. Họ đã đăng ký tổng cộng 1.859 kế hoạch tất cả với tổng số đầu tư cam kết lên đến 29 tỷ Mỹ kim. Tuy nhiên, vào thời điểm này, họ thích mở rộng đầu tư đến những quốc gia như Miến điện, Nam dương và Mã lai á bởi vì theo họ, Việt nam không còn có giá trị cạnh tranh như những nước khác nữa. Kinh tế ổn định, lạm phát được kiểm soát, hệ thống ngân hàng được tổ chức tốt hơn trước, tuy nhiên thiếu và thạm nhũng đang lan tràn. Ngoài ra, những vấn đề gây quan ngại cho giới đầu tư như lương bổng tăng, vật liệu và thiệt bị khó tìm, công nhân có tay nghề khan hiếm, thủ tục hải quan phức tạp, hạ tầng cơ sở yếu kém mà chính quyền hầu như vẫn chưa có giải đáp khả thi. Việt nam thiếu ngay cả những dịch vụ căn bản như trưng dụng đất và giải phóng mặt bằng cho những kế hoạch đầu tư.

    Trường hợp lạ lùng của công ty Tatas là một thí dụ điển hình về các vấn nạn tại Việt nam. Năm năm trước, vào tháng 5/2008, công ty sắt thép Tata Steel ký một thỏa thuận với Tập đoàn sắt thép Việt Nam để xây một nhà máy 5 tỷ Mỹ kim với công suất 4,5 triệu tấn mỗi năm, tại Khu Kinh tế Vũng Áng, Hà tĩnh. Năm năm trôi qua và dự án này vẫn chưa có một mặt bằng trong khi mặt bằng đáng lẽ dành cho công ty này đã được giao cho một công ty cạnh tranh khác.


    Thực sự câu chuyện này có quái gỡ hơn thế. Tata cần khoảng 1,200 mẫu đất để xây dựng nhà máy và ủy ban nhân dân tỉnh ước tính sẽ cần 200 triệu Mỹ kim để xây dựng. Tuy nhiên họ bảo họ không có vốn và họ muốn công ty Tata đài thọ. Hẵn nhiên công ty Tata từ chối vì theo luật pháp Việt nam, giải phóng mặt bằng là nhiệm vụ của nhà nước. Công ty Tata đã ký một Thỏa ước với Tập đoàn Sắt Thép Việt nam để xây dựng một nhà máy nghiền thép lạnh cùng tỉnh. Cả hai dự án sẽ kéo dài trong vòng 10 năm. Tuy nhiên, mặc dầu Việt nam vẫn cứ bảo họ cần dự án đầu tư của công ty Tata, chẳng ai biết được số phận của những dự án đó sẽ ra sao!

    Trưng dụng đất và giải phóng mặt bằng là những vấn nạn làm chậm đà đầu tư của ngoại quốc FDI trong những năm gần đây. Ngoài ra, còn những nghi vấn về sự minh bạch trong hệ thống pháp lý và quyền sở hữu trí tuệ. Giới đầu tư mong muốn một môi trường làm ăn minh bạch, luật pháp rõ rằng để đối phó với tình trạng sản nghiệp, quyết định về chính sách mau chóng. Họ cũng nghi ngờ về thái độ của chính quyền đang nghiêng về những đầu tư công nghệ cao trong khi những yêu cầu cơ bản cho việc đầu tư vẫn chưa đáp ứng được hoàn toàn. Truyền thông Việt nam chỉ trích tiến trình lập pháp chậm như rùa. Chính quyền không thể chỉ cứ ban hành luật bằng nghị định và quốc hội chẳng ý thức được mức độ cần kíp của nó.

    Thật đáng tiếc vì Á châu vẩn là nơi giới đầu tư ngoại quốc chọn lựa cho dẫu có sự trì trệ trong việc thu nhập đầu tư toàn cầu. Những số liệu của UNCTAD cho thấy trong tổng số 1,311 nghìn tỷ Mỹ kim đầu tư FDI vào năm ngoái, (18% thấp hơn năm trước), những nền kinh tế đang phát triển thu được 680 tỷ Mỹ kim đầu tư, và Á châu chiếm được 399 ty Mỹ kim của tổng số đầu tư vào các quốc gia đang phát triển. Quan trọng hơn, phần lớn số đầu tư này được các quốc gia Đông Á thu nhận (213,1 tỷ Mỹ kim bao gồm 120 tỷ Mỹ kim cho Trung quốc) và Đông Nam Á (106,5 tỷ Mỹ kim). Trong tình trạng đó, việc Việt nam dậm chân tại chổ xem ra quái đản. Người ta nghĩ rằng, đáng lẽ ra họ phải quan ngại hơn để bảo vệ những thành quả ban đầu và gia tăng hiệu năng để đối phó với tình trạng gia tăng cạnh tranh về mối lợi đầu tư ngoại quốc.



    Barun Roy viết:
    Vietnam's lost charm

    Foreign investors are losing faith in their sought-after destination on the back of slow reforms and rising corruption

    Something has gone wrong for Vietnam. It finds it's no longer the same darling of foreign investors it used to be. For three years in succession, it has failed to reach its foreign direct investment (FDI) targets and the government, judging from recent remarks by its ministers, is worried. If the slide continues, they fear, there will be an adverse impact on economic growth, and if economic growth falters, investors could become even more hesitant.

    This forms a vicious circle, and for being caught in it, Vietnam has only itself to blame. It thought it was special because of its past, and the world would be wooing it no matter what. But business never waits for too long; if you aren't ready for it, it'll simply head for the next green pasture. That's exactly what's happening in Vietnam's case. While it drags its feet in pushing or upgrading reforms, its old competitors are all tidying up their acts and new ones have arrived to stake their own claims.

    Not that the tap is going dry, but new commitments are surely slower in coming while old ones are in the ice box. Last year, against a target of $15-17 billion, new commitments fell off to $13 billion, which was smaller than $14.7 billion received the year before, which, in turn, was much smaller than $18.1 billion committed in 2010. According to the United Nations Conference on Trade and Development (UNCTAD), even at current exchange values, FDI inflows to Myanmar rose 90 per cent and to Cambodia 104.3 per cent last year from the year before. Of course, both are way behind Vietnam in absolute terms, but it's the rate of growth that matters and last year's rise for Myanmar came on the heels of a 100 per cent jump in 2011.

    The Japanese are Vietnam's biggest investors, having registered 1,859 projects so far with total commitments of $29 billion. But right now, they're more interested in expanding in countries like Myanmar, Indonesia and Malaysia because, they believe, Vietnam isn't as competitive as the others. The economy is stable, inflation is under control, the banking system is better organised than earlier, but efforts aren't "good enough" and corruption is on the rise. Then there are issues that worry all investors, like salary increases, finding raw materials and components, dearth of skilled workers, complicated customs procedures, and inadequate infrastructure, for which the government still has no credible answers. It's lacking even in basic services like acquiring land and clearing project sites.

    The strange case of the Tatas is a good example of what's wrong with Vietnam. Five years ago, in May 2008, Tata Steel signed an agreement with Vietnam Steel Corporation to build a $5 billion plant, having a capacity of 4.5 million tons a year, in the Vung Ang Economic Zone in Vietnam's Ha Tin Province. Five years on, the project is still without a site while a location previously meant for it has been handed to a competitor.

    The real story is more bizarre. Tata needs around 4,000 acres for the plant, which the provincial authorities have estimated will need some $200 million to be readied for construction. But they say they don't have the money and want Tata to pay. Of course, Tata has refused since, under Vietnamese law, land clearance is the government's job. Tata had signed another memorandum of understanding with Vietnam Steel to set up a cold rolling mill in the same province. Both projects were to have been phased over 10 years. But, though the Vietnamese keep saying they want the Tata investment, nobody knows what's going to be its fate.

    Acquisition and clearance of sites are among the biggest problems that have slowed down the pace of FDI in Vietnam recently. Besides, there are questions like legal transparency and intellectual property rights. Investors want a transparent business environment, firm laws on how to deal with insolvencies, faster policy decisions. They're sceptical also of the government's increasing inclination towards hi-tech investments even when basic investor requirements haven't been entirely met. Vietnamese media have slammed the legislative process as snail-paced. The government can't rule always by decrees, and the National Assembly has little sense of urgency.

    It's all very unfortunate, since Asia remains a favourite FDI destination despite a slowdown in global inflows. UNCTAD figures show that of the $1.311 trillion global FDI last year (18.3 per cent lower than the year before), developing economies drew in $680 billion, and Asia accounted for $399 billion of the developing-country total. More significantly, most of the Asian pie was shared by East Asia ($213.1 billion, including $120 billion for China alone) and Southeast Asia ($106.5 billion). That being the case, Vietnam's foot-dragging is strange. One would have thought it would be extra-anxious to preserve the head start it has had and improve on it in the face of stiffening competition.

    http://www.business-standard.com/article/opinion/vietnam-s-lost-charm-113040300462_1.html

    Admin viết:
    Chào các bác trong nhóm dịch thuật,

    Con Đường Việt Nam cần chuyển ngữ gấp một cuốn sách trong tháng 4 này sang tiếng Anh, các bác có thể giúp không? Người tham gia dịch cuốn sách sẽ được thanh toán theo mức đề nghị, nhưng cần phải đảm bảo tiến độ theo cam kết. Nếu có bác nào có thể giúp được xin gửi email về cho tôi theo địa chỉ huannc(c)gmail.com. Cảm ơn các bác!

    Mến,
    Huân

    Có lẽ bác Admin cho biết thêm chi tiết như sách về thể loại gì, bao nhiêu trang hay bao nhiêu chữ, có bản điện tử không, mục đích sách sử dụng sách làm gì, v.v., thì những ai muốn xung phong dịch dễ quyết định hơn. (Nếu là sách giấy thì tìm mua được hay chờ được gửi bưu điện đến nhà cũng phải sang giữa tháng 4 rồi, và giở từng tờ giấy để rồi dịch lại trên máy rất lâu, trong khi mở bản điện tử rồi ngăn monitor ra làm đôi, nửa Việt nửa Anh để dịch thì đỡ mất thì giờ hơn nhiều, v.v.)

    Dịch một bài viết hay bản tin trên DL có thể dễ dãi thoải mái một chút, không cần thật chỉnh hay thật hay, còn dịch sách phải nghiêm túc hơn nhiều và phải có chất lượng. Ông Dương Tường nổi tiếng dịch hay trong nước mà phải mất 3 năm mới dịch xong quyển Lolita, đến khi xuất bản lại bị bắt lỗi vì cụm từ "On the dotted line, I'm Delores" ông dịch kiểu word-for-word là "trên hàng kẻ chấm, em là Delores", báo chí bàn tán sôi nổi một thời.

    Có thể tôi quá thận trọng, mong rằng có những thành viên khác vừa nhanh vừa giỏi có thể xung phong đảm nhận.

    Chào các bác trong nhóm dịch thuật,

    Con Đường Việt Nam cần chuyển ngữ gấp một cuốn sách trong tháng 4 này sang tiếng Anh, các bác có thể giúp không? Người tham gia dịch cuốn sách sẽ được thanh toán theo mức đề nghị, nhưng cần phải đảm bảo tiến độ theo cam kết. Nếu có bác nào có thể giúp được xin gửi email về cho tôi theo địa chỉ huannc(c)gmail.com. Cảm ơn các bác!

    Mến,
    Huân

    Đây là nơi quy tụ nhiều người dịch. Tôi gặp lại người quen là bác Diên Vỹ ở diễn đàn này.

    Trần Quốc Việt

    maile viết:

    Em đã đăng ký lại với VN Forum, tên maile nhưng không gửi đi được. Em cũng đã gửi mail than phiền với ban quản trị. Sẽ tiếp tục thử xem.

    Anh vừa xem qua bên kia. Em đăng ký là maileW đúng không??? Anh hỏi cho chắc chắn, không lỡ anh nói chuyện nhầm với người khác lại cứ tưởng là nói chuyện với em, thì dễ rắc rối:-)

    Anh gửi PN rồi đấy!

    Thân,

    VN2006A viết:

    He he, khó chiều em nhỉ??? "đòi" thông tin của anh, anh đồng ý thì lại kêu em quên mất tên login.

    Lúc nào nhớ ra, hoặc có hứng lập tên mới thì báo cho anh biết. Anh không lợi dụng để "điều tra" em đâu mà sợ!!!

    Cùng lắm là "tìm hiểu" chút xíu thôi. :-)

    Em đã đăng ký lại với VN Forum, tên maile nhưng không gửi đi được. Em cũng đã gửi mail than phiền với ban quản trị. Sẽ tiếp tục thử xem.

    Tâm Như viết:

    10:25am Chủ Nhật ngày 31 tháng 3 năm 2013

    Thưa bác Trần Thi Ngự,

    Bài chuyển ngữ "Việt Nam: Đề Xuất Sửa Đổi Hiến Pháp Đi Ngược Lại Luật Pháp Quốc Tế" đã được sửa từng chữ theo đúng yêu cầu của bác.

    Thân mời bác đọc lại.

    Riêng phần này:

    Cần thiết và tương xứng: Các quốc gia phải chứng minh "một cách cụ thể và cho từng cá nhân bản chất chính xác của mối đe dọa, và sự cần thiết và tương xứng của các biện pháp (để giới hạn), đặc biệt bằng cách thiết lập một mối liên TRỰC TIẾP GIỮA các biện pháp và mối đe dọa." Hơn nữa, những hạn chế không được quá rộng và phải là những phương tiện hạn chế tối thiểu được dùng để đạt được chức năng bảo vệ.

    Tôi thấy nhóm từ "...mối liên trực tiếp giữa..."

    Trong câu: "...mối liên trực tiếp giữa các biện pháp và mối đe dọa...", vẫn còn chút gì đó chưa nêu rõ nghĩa của nguyên câu.

    Tôi mạn phép đề nghị: " ...một liên kết trực tiếp giữa các biện pháp và mối đe dọa."

    Thân kính gửi bác đoạn văn tôi mạo muội chuyển ngữ:

    " Necessary and proportionate: States must demonstrate in a "specific and individualised fashion the precise nature of the threat, and the necessity and proportionality of the specific action taken, in particular by establishing a direct and immediate connection between the expression and the threat." Moreover, the restriction must not be overly broad and must be the least restrictive means available for achieving the protective function."

    "Cần thiết và tương xứng: Các quốc gia phải chứng minh "một cách cụ thể cho từng cá nhân (biết) bản chất đích thực của mối đe dọa, sự cần thiết và tương xứng của những biện pháp cụ thể, đặc biệt bằng cách thiết lập một liên kết trực tiếp giữa những biện pháp và mối đe dọa." Hơn nữa, sự hạn chế không nên vượt quá mức, và phải là những phương tiện hạn chế tối thiểu được dùng để nắm bắt đúng vai trò bảo vệ."

    Thân kính chúc bác một ngày Chủ Nhật bình an

    Thân kính,

    Tâm Như

    Cám ơn bác Tâm Như đã "phát hiện" ra một lỗi nữa bị tôi bỏ sót như nêu ra ở trên. Cách chỉnh sửa bác đề nghị rất chính xác. Một lần nữa, cảm ơn bác.

    duong qua viết:
    Phần tiếng Anh xin lỗi các bác tôi vẫn chưa dịch xong, xin sẽ cố gắng trong ngày hôm nay rồi gửi lên để các bác duyệt sau.
    Khách ghé thăm viết:
    Tôi dịch bài này ra tiếng Anh rồi đây. Quý vị xem có thể dùng được không thì tuỳ nghi sử dụng.



    12:50pm Chủ Nhật ngày 31 tháng 5 năm 2013

    Thưa bác duong qua,

    Bài chuyển ngữ "Vụ Đoàn Văn Vươn: Mẹ già 85 tuổi kêu cứu - Letter Of Petition In Misery To Call For Help." đã được mang vào trang Tin và trang Blog theo links:

    https://danluan.org/tin-tuc/20130326/vu-doan-van-vuon-me-gia-85-tuoi-keu-cuu#comment-82738

    https://danluan.org/khong-gian-blog/20130409/letter-of-petition-in-misery-to-call-for-help-0

    Cảm ơn bác đã đóng góp cho nhóm Dịch Thuật Dân Luận với cả tâm tình.

    Thân kính chúc một ngày mới như nguyện.

    Thân kính,

    Tâm Như

    maile viết:
    @ Bác Tâm Như, bản chuyển ngữ này đã xong. Bác có toàn quyên sử dụng, nếu muốn.



    11:39am Chủ Nhật ngày 31 tháng 3 năm 2013

    Thưa bác Mai Lê,

    Bài chuyển ngữ "Vụ Đoàn Văn Vươn: Mẹ già 85 tuổi kêu cứu - Offener Brief mit der Bitte um Hilfe"

    Đã được mang vào trang chủ và trang blog theo links sau đây:

    https://danluan.org/tin-tuc/20130326/vu-doan-van-vuon-me-gia-85-tuoi-keu-cuu#comment-83082

    https://danluan.org/khong-gian-blog/20130409/offener-brief-mit-der-bitte-um-hilfe

    Cảm ơn nhiệt tình đóng góp của bác Mai Lê.

    Thân mến chúc bác một nửa ngày Chủ Nhật còn lại an vui.

    Thân mến,

    Tâm Như

    Tran Thi Ngự viết:
    Kính bác Tâm Như,

    Bữa nay đọc lại bài dịch văn bản của Tổ Chức Điều 19 ở trong chủ, tôi nhận ra một số lỗi đánh vần và nhất là lỗi typo làm ý nghĩa của câu văn trở nên khó hiểu hay bị sai lệch. Tôi đã sửa lại những lỗi ấy trong phần "quote" sau đây, và dùng chữ hoa và in đâm (capital and bold) để bác dễ nhận thấy. Nhờ bác vui lòng sửa những lổi ấy trong bài đăng ở trang chủ. Cám ơn bác.



    10:25am Chủ Nhật ngày 31 tháng 3 năm 2013

    Thưa bác Trần Thi Ngự,

    Bài chuyển ngữ "Việt Nam: Đề Xuất Sửa Đổi Hiến Pháp Đi Ngược Lại Luật Pháp Quốc Tế" đã được sửa từng chữ theo đúng yêu cầu của bác.

    Thân mời bác đọc lại.

    Riêng phần này:

    Cần thiết và tương xứng: Các quốc gia phải chứng minh "một cách cụ thể và cho từng cá nhân bản chất chính xác của mối đe dọa, và sự cần thiết và tương xứng của các biện pháp (để giới hạn), đặc biệt bằng cách thiết lập một mối liên TRỰC TIẾP GIỮA các biện pháp và mối đe dọa." Hơn nữa, những hạn chế không được quá rộng và phải là những phương tiện hạn chế tối thiểu được dùng để đạt được chức năng bảo vệ.

    Tôi thấy nhóm từ "...mối liên trực tiếp giữa..."

    Trong câu: "...mối liên trực tiếp giữa các biện pháp và mối đe dọa...", vẫn còn chút gì đó chưa nêu rõ nghĩa của nguyên câu.

    Tôi mạn phép đề nghị: " ...một liên kết trực tiếp giữa các biện pháp và mối đe dọa."

    Thân kính gửi bác đoạn văn tôi mạo muội chuyển ngữ:

    " Necessary and proportionate: States must demonstrate in a "specific and individualised fashion the precise nature of the threat, and the necessity and proportionality of the specific action taken, in particular by establishing a direct and immediate connection between the expression and the threat." Moreover, the restriction must not be overly broad and must be the least restrictive means available for achieving the protective function."

    "Cần thiết và tương xứng: Các quốc gia phải chứng minh "một cách cụ thể cho từng cá nhân (biết) bản chất đích thực của mối đe dọa, sự cần thiết và tương xứng của những biện pháp cụ thể, đặc biệt bằng cách thiết lập một liên kết trực tiếp giữa những biện pháp và mối đe dọa." Hơn nữa, sự hạn chế không nên vượt quá mức, và phải là những phương tiện hạn chế tối thiểu được dùng để nắm bắt đúng vai trò bảo vệ."

    Thân kính chúc bác một ngày Chủ Nhật bình an

    Thân kính,

    Tâm Như

    maile viết:

    ...

    Trang Vietnamforum anh dẫn, em cũng đã vô nhiều lần, trước những lần về VN để nhặt tin tức. Qua trang này em có quen với một chàng Đức, lấy vợ VN, về VN làm hướng dẫn viên du lịch. Lâu rồi em cũng không vô nữa, quên mất tiêu tên login. Và chàng có còn sống ở VN không em cũng không biết.

    He he, khó chiều em nhỉ??? "đòi" thông tin của anh, anh đồng ý thì lại kêu em quên mất tên login.

    Lúc nào nhớ ra, hoặc có hứng lập tên mới thì báo cho anh biết. Anh không lợi dụng để "điều tra" em đâu mà sợ!!!

    Cùng lắm là "tìm hiểu" chút xíu thôi. :-)

    Kính bác Tâm Như,

    Bữa nay đọc lại bài dịch văn bản của Tổ Chức Điều 19 ở trong chủ, tôi nhận ra một số lỗi đánh vần và nhất là lỗi typo làm ý nghĩa của câu văn trở nên khó hiểu hay bị sai lệch. Tôi đã sửa lại những lỗi ấy trong phần "quote" sau đây, và dùng chữ hoa và in đâm (capital and bold) để bác dễ nhận thấy. Nhờ bác vui lòng sửa những lổi ấy trong bài đăng ở trang chủ. Cám ơn bác.

    Tran Thi Ngự viết:
    Thưa bác Admin, dưới đây là bài dịch (khi nhận không biết là nó dài quá xá):




    Việt Nam: Đề Xuất Sửa Đổi Hiến Pháp Đi Ngược Lại Luật Pháp Quốc Tế

    Tổ Chức Điều 19 cảnh báo rằng các đề nghị sửa đổi Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (Dự thảo Hiến pháp) không bảo đãm các quyền cơ bản của con người, nhất là quyền tự do phát biểu và tự do thông tin. Việc bảo vệ cho các quyền này phải được xây dựng một cách toàn diện hơn và bằng ngôn ngữ chính xác hơn, và các sự giới hạn rộng rãi và có tính phân biệt đối xử phải được loại bỏ.

    Tồ Chức Điều 19 hoan nghênh sáng kiến của Quốc hội để sửa đổi Hiến pháp của Việt Nam và công khai lưu hành Dự thảo Hiến pháp để có tham vấn rộng rãi. Chúng tôi hoan nghênh cơ hội được đóng góp sự phân tích của chúng tôi vào việc sửa đổi Hiến Pháp, và hy vọng rằng đây là sự hỗ trợ cho Chính phủ Việt Nam và các bên có liên quan khác trong nước để hiểu về những nghĩa vụ của Việt Nam theo luật nhân quyền quốc tế.

    Mặc dù có rất nhiều thiếu sót trong các đề nghị sửa đổi hiến pháp trong đó có những điều sẽ được THẢO luận dưới đây, các phiên bản dự thảo có một số biểu hiện tích cực, cụ thể là:

    • Phần mở đầu khẳng định sự tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, sự phát huy dân chủ, và sự tôn trọng chính phủ của dân, vì nhân dân và do nhân dân.
    • Chương thứ hai được dành cho sự công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người (Điều 15,1).
    • Các quyền mới được thêm vào trong bản dự thảo Hiến pháp bao gồm: quyền thưởng thức và tham gia vào đời sống văn hoá (Điều 44), quyền tự do lựa chọn ngôn ngữ để giao tiếp (Điều 45), và quyền sống trong một "môi trường tươi mát" ( Điều 46).

    Hiệu Lực Quốc Nội Của Luật Nhân Quyền Quốc Tế

    Bản Dự thảo Hiến pháp đã không xác định tư cách pháp lý của các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết và phê chuẩn và có nghĩa vụ thực hiện thông qua luật pháp trong nước. Hơn nữa, không có điều nào quy định cụ thể quyền hạn để ký kết và phê chuẩn các hiệp ước quốc tế. Đặc biệt, Tổ chức Điều 19 ghi nhận rằng Việt Nam là một thành phần tham gia Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) nhằm bảo vệ quyền tự do phát biểu và tự do thông tin ở Điều 19.

    Dự thảo hiến pháp phải có một cam kết rõ ràng để đảm bảo rằng các hiệp ước và thỏa thuận quốc tế đã được ký kết và phê chuẩn có hiệu lực pháp lý trong nước, và chỉ có thể bị bãi bỏ, sửa đổi hoặc bị đình chỉ theo cách thức quy định trong chính các hiệp ước đó.

    Các Quyền Tự Do Phát Biểu Và Thông Tin, Tự Do Hội Họp Một Cách Ôn Hòa và Tự Do Lập Hội

    Dự thảo hiến pháp giới hạn sự bảo vệ các quyền tự do phát biểu và thông tin và các quyền liên quan ở Điều 26 theo trong các qui định sau đây:

    Công dân có quyền tự do phát biểu ý kiến và ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông báo, và có quyền hội họp, lập hội và tổ chức các cuộc đình công theo quy định của pháp luật.


    Tổ chức Điều 19 có quan ngại là nhiều quyền riêng biệt được bao gồm trong một điều khoản, và không có đủ sự bảo vệ riêng cho mỗi quyền. Chúng tôi đề nghị sự bảo vệ riêng cho các quyền: i) tự do có ý kiến, ii) quyền tự do ngôn luận; iii) tiếp cận thông tin; iv) tự do báo chí, và v) quyền tự do hội họp một cách ôn hoà và tự do lập hội.

    Những thiếu sót sau đây đối với Điều 26 của Dự thảo Hiến pháp cũng phải được giải quyết:

    • Mỗi quyền phải được đảm bảo cho tất cả mọi người, không phân biệt quốc tịch.

    • Quyền tự do phát biểu ý kiến được bảo vệ theo quy định tại Điều 19 (1) của ICCPR, nên được bảo vệ một cách vô điều kiện. Không pháp luật hoặc quy định hiến pháp nào cho phép hạn chế về quyền có ý kiến. Hơn nữa, không người nào có thể bị giảm các quyền của họ vì các ý kiến thực sự của họ, hay ý kiến đưọc cho là của họ.

    • Quyền tự do diễn đạt được bảo vệ bởi Điều 19 (2) của ICCPR, phải được giải thích rộng rãi và qui định rằng quyền này:

    o Bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin;
    o Bảo vệ tất cả các loại ý tưởng , bao gồm: chính luận, bình luận về vấn đề của cá nhân và các vấn đề công cộng, trao đổi ý kiến, thảo luận về nhân quyền, báo chí, diễn đạt văn hóa và nghệ thuật, giảng dạy, và diễn thuyết tôn giáo. Thậm chí nó còn bao gồm sự diễn đạt có thể được coi là rất phản cảm;
    o Được ÁP dụng không có giới hạn;
    o Có thể được thực hiện thông qua bất kỳ phương tiện truyền thông do cá nhân lựa chọn, bao gồm nhưng không nhất thiết chỉ gồm những loại sau đây: truyền thông bằng tiếng nói, viết và in; diển đạt bằng nghệ thuật; và phương tiện truyền thông bằng nghe-nhìn, điện tử và Internet.


    • Quyền “được thông tin" cần phải được soạn lại để rõ ràng bảo vệ “quyền đưọc tiếp cận thông tin.” Tổ chức Điều 19 nhắc lại rằng Uỷ Ban Nhân quyền, TRONG PHẦN NHẬN XÉT CHUNG SỐ 34, đã qui định:

    Để quyền quyền tiếp cận thông tin có hiệu lực, các quốc gia thành viên cần chủ động đưa ra trong công chúng các thông tin của Chính phủ liên quan đến lợi ích công cộng. Các quốc gia thành viên phải THỰC HIỆN ĐỂ đảm bảo việc tiếp cận những thông tin như vậy được dễ dàng, nhanh chóng, hiệu quả và thiết thực. Các quốc gia thành viên cũng phải ban hành các thủ tục cần thiết theo đó một người có thể truy cập thông tin bằng cách xử dụng luật về quyền tự do thông tin. Các thủ tục này qui định việc xử lý kịp thời các yêu cầu về thông tin bằng luật lệ rõ ràng phù hợp với Công Uớc. Lệ phí cho việc yêu cầu cung cấp thông tin không được tạo thành một trở ngại bất hợp lý cho việc truy cập thông tin. Các nhà chức trách nên cung cấp lý do khi từ chối việc truy cập thông tin. Phải chuẩn bị sẵn để giải quyết khiếu nại do việc từ chối quyền TRUY CẬP THÔNG TIN cũng như trong trường hợp không đáp ứng yêu cầu cung cấp thong tin.

    Để đối chiếu, hãy xem Điều 56 của Hiến pháp Thái Lan (1997) , Điều 35 của HIẾN PHÁP Kenya (2010), và Điều 32 của HIẾN PHÁP Nam Phi (1996):

    • Quyền "hội họp" nên được sửa lại là "quyền tự do hội họp một cách hòa bình" để phản ánh Điều 21 của ICCPR. Nếu có thể, bản Hiến pháp nên qui định ĐƯƠNG NHIÊN ủng hộ việc hội họp hay lập hội, và qui định nhà nước có nghĩa vụ tạo điều kiện thuận lợi và bảo vệ các cuôc hội họp công khai tại địa điểm và thời gian do người tổ chức lựa chọn. Để so sánh, hãy xem tại Điều 39 của Hiến pháp Romania (1991).

    • Quyền "tự do báo chí" phải được thực hiện toàn diện hơn. Nó sẽ bao gồm: các sự bảo vệ phương tiện truyền thông tự do và độc lập trực tuyến cũng như không trực tuyến, bảo đảm sự độc lập biên tập; bảo vệ quyền của các nhà báo giữ kín nguồn gốc của tin tức, bảo vệ các phương tiện truyền THÔNG bằng in ấn hay trực tuyến khỏi bất cứ YÊU cầu đăng ký hay giấy phép; và các quy định để đảm bảo sự độc lập và tính đa nguyên của ngành phát thanh truyền hình. Để so sánh, hãy xem Điều 34 của HIẾN PHÁP Kenya (2010).

    • Quyền "lập hội" cũng phải đảm bảo quyền thành lập công đoàn độc lập với chính phủ, và nên qui định thêm rằng không có người nào bị bắt buộc phải tham gia một hiệp hội ngược lại với ý nguyện của họ.

    • Quyền tự do học thuật và nghiên cứu CŨNG cần được xem xét (Điều 43 của Dự thảo Hiến pháp) cùng với việc bảo vệ quyền tự do DIỄN đạt. Đề so sánh, hãy xem Điều 16 của HIẾN PHÁP Nam Phi (1996), và Điều 33 của HIẾN PHÁP Kenya (2010).

    • Các quyền tham gia vào đời sống văn hoá (hiện tại Điều 44 của Dự Thảo Hiến pháp) và quyền được giao tiếp bằng ngôn ngữ tự chọn (hiện tại Điều 45 của dự thảo Hiến pháp) CŨNG nên được xem xét trong phạm vi bảo vệ các quyền tự do ngôn luận.

    Những hạn chế về quyền tự do phát biểu và thông tin, và tự do lập hội và hội họp một cách hòa bình

    Một số lượng đáng kể các quy định trong Dự thảo Hiến pháp cho phép đặt ra nhiều giới hạn trên tất cả các quyền quy định tại Chương 2 khiến nó không đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.

    Điều 15 của dự thảo Hiến pháp quy định rằng tất cả các quyền con người được ”công nhận, tôn trọng, bảo vệ và đảm bảo theo Hiến pháp và pháp luật" (Điều 15.1) và có thể bị hạn chế “trong trường hợp cần thiết cho mục đích quốc phòng, an ninh quốc gia , trật tự xã hội, đạo đức và sức khỏe cộng đồng" (Điều 15,2). Quy định này có vẻ như để áp dụng cho việc giải thích của tất cả các bảo đảm trong Chương 2, nhưng nó không qui định rõ ràng là chỉ giới hạn cho Chương 2. Trong khi các trường hợp khẩn cấp có thể được tuyên bố theo quy định tại Điều 75.14Điều 79.8 của dự thảoHiến pháp, tác động của sự tuyên bố này đối với sự bảo vệ các quyền con người không được xác định.

    Các giới hạn tại Điều 15 đã không phân biệt giữa: quyền KHÔNG thể bị giới hạn một cách hợp pháp (ví dụ như quyền tự do ý kiến, Điều 19 (1), ICCPR), và các quyền có thể bị thu hẹp một cách có giới hạn (ví dụ như quyền tự do diển đạt, Điều 19 (2) và (3), ICCPR), và cuối cùng là các quyền không thể được coi thường trong trường hợp khẩn cấp (được liệt kê tại Điều 4 (2), ICCPR). Điều 15 (2) của bản dự thảo Luật phải được sửa đổi để làm cho rõ ràng các sự khác biệt giữa các loại bảo vệ nhân quyền khác nhau để phù hợp với quy định của ICCPR.


    Những hạn chế về quyền tự do phát biểu và thông tin, và quyền tự do hội họp hòa bình, chỉ được giới hạn theo qui định về thử nghiệm ba phần qui định tại Điều 19 (3) và Điều 21 của ICCPR. Những sự hạn chế phải:

    • Theo quy định của pháp luật: bất cứ luật nào hạn chế quyền tự do ngôn luận phải “được xây dựng với độ chính xác đủ để cho một cá nhân điều chỉnh hành vi của mình một cách phù hợp và nó phải được với công chúng biết đến."

    • Có một mục đích hợp pháp: tôn trọng các quyền và thanh danh của người khác, bảo vệ an ninh quốc gia hay trật tự công cộng, hoặc bảo vệ sức khỏe hay đạo lý cộng đồng. Ngoài ra, quyền tự do hội họp một cách hòa bình cũng có thể bị hạn chế để bảo vệ an toàn công cộng.

    • Cần thiết và tương xứng: Các quốc gia phải chứng minh "một cách cụ thể và cho từng cá nhân bản chất chính xác của mối đe dọa, và sự cần thiết và tương xứng của các biện pháp (để giới hạn), đặc biệt bằng cách thiết lập một mối liên TRỰC TIẾP GIỮA các biện pháp và mối đe dọa." Hơn nữa, những hạn chế không được quá rộng và phải là những phương tiện hạn chế tối thiểu được dùng để đạt được chức năng bảo vệ.

    Khi tất cả các quyền chỉ được đảm bảo trong phạm vi qui định bởi Hiến pháp hay luật pháp thì sẽ không hợp pháp, nhất là khi hiến pháp hay luật pháp không tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế. Sự qui định "theo Hiến pháp và pháp luật" phải được xóa bỏ trong Điều 5.1 vì nó làm cho việc thụ hưởng các quyền hiến định bị phụ thuộc vào việc lập pháp vốn có thể làm xói mòn các quyền này trong tương lai.

    Từ "Đạo đức xã hội" tại Điều 5.2 nên được hiểu trong phạm vi giới hạn của khái niệm này theo quy định của luật nhân quyền quốc tế và không được giải thích nhằm đưa đến những hạn chế rộng rãi về quyền này. Nhà nước có trách nhiệm chứng minh rằng các hạn chế quyền tự do ngôn luận để bảo vệ "đạo đức xã hội" là cần thiết để duy trì sự tôn trọng đối với các giá trị cơ bản của cộng đồng. Trong khi các quốc gia ít bị phê bình trong việc này, việc các quốc gia được quyền quyết định không cho phép việc viện dẫn đạo đức xã hội để biện minh cho hành động kỳ thị, để kéo dài thành kiến, hay khuyến khích cố chấp. Các cơ quan nhân quyền quốc tế đã lưu ý rằng các khái niệm về đạo đức được phát triển không ngừng, và bất cứ hạn chế nào đều "phải được dựa trên các nguyên tắc là không được bắt nguồn từ một truyền thống duy nhất", và "phải được hiểu trong sự phổ quát toàn cầu của nhân quyền và nguyên tắc không phân biệt đối xử ".

    Hơn nữa Điều 15.2 phải tham chiếu đặc biệt vào yêu cầu là ngoài vấn đề "cần thiết" trong việc theo đuổi một mục tiêu hợp pháp, các hạn chế cũng phải được quy định trong pháp luật một cách tương xứng.

    Liên quan đến quyền tự do tôn giáo, khoản thứ hai của Điều 25.3 quy định rằng không ai có thể "lợi dụng tín ngưỡng và tôn giáo để hành động trái với pháp luật và các chính sách nhà nước." Một lần nữa, quy định này có thể đưa đến sự giải thích rộng rãi và được sử dụng để hạn chế tự do tôn giáo hay tín ngưỡng, cũng như quyền tự do phát biểu và tự do thông tin. Tổ Chức Điều 19 đề nghị xoá khoản thứ hai trong Điều 25.3.

    Tổ chức Điều 19 còn quan tâm tới một số các quy định bổ sung có thể được viện dẫn để hạn chế hơn nữa các quyền cơ bản, bao gồm quyền tự do phát biểu và thông tin, quyền tự do hội họp một cách hòa bình và lập hội:

    Điều 16 là một điều khoản mới và nghiêm cấm việc lạm dụng quyền con người và quyền dân sự để vi phạm lợi ích của đất nước và dân tộc, các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác."

    Những cái gọi là "lợi ích của đất nước và dân tộc, các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác" có nghĩa rất rộng và mơ hồ đối với việc thụ hưởng các quyền con người khiến nó không phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Tố Chức Điều 19 đề nghị chỉnh sửa Điều 16 đã để phản ánh Điều 5 (1) của ICCPR vốn qui định rằng không một điều khoản nào trong Công ước cho phép một quốc gia, một nhóm hoặc bất kỳ cá nhân nào được quyền tham gia vào các hoạt động nhằm mục đích "tiêu hủy" của các quyền và tự do. Điều quan trọng là quy định này áp dụng đối với Nhà nước cũng như bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân, và đặt ngưỡng giới hạn đặc biệt cao cho "tiêu hủy" hơn là "can thiệp" hoặc "vi phạm".

    Điều 11.2 của dự thảo Hiến pháp quy định về hình phạt nghiêm trọng cho "tất cả các hành động trực tiếp chống lại sự độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chống lại việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của mọi người." Tương tự như vậy, Điều 47 qui định “các nghĩa vụ trung thành đối với quê hương của mình [sic] ", và xác định rằng" phản bội tổ quốc là tội nặng nhất," và Điều 69 qui định tham gia quốc phòng là nhiệm vụ của tất cả mọi người.

    Mối quan hệ giữa các quy định kể trên và sự đảm bảo các quyền trong chương thứ hai không rõ ràng. Tố Chức Điều 19 nhắc lại rằng bất kỳ hạn chế nào đối với quyền tự do phát biểu và thông tin, hay quyền tự do hội họp một cách hòa bình để bảo vệ an ninh quốc gia phải được qui định một cách giới hạn (chật hẹp) để phù hợp với phép thử nghiệm ba phần theo Điều 19 (3) hoặc Điều 21 của ICCPR. Những hạn chế đó không hợp pháp trừ khi chúng có mục đích xác thật và chứng minh được hiệu quả của chúng là để bảo vệ sự tồn tại của một quốc gia, hoặc sự toàn vẹn lãnh thổ chống lại việc sử dụng hoặc đe dọa bằng vũ lực từ một nguồn bên ngoài, chẳng hạn như là một mối đe dọa quân sự, hoặc một nguồn nội bộ, chẳng hạn như kích động bạo lực để lật đổ chính phủ. Để biết thêm thông tin, hãy xem Nguyên Tắc Johannesburg về An Ninh Quốc Gia, Tự Do Ngôn Luận, và Tiếp Cận Thông Tin (Điều 19, năm 1996)

    Tổ Chức Điều 19 khuyến cáo xóa Điều 11.2, Điều 47, và Điều 69 để bảo vệ quyền tự do phát biểu và thông tin, cũng như các quyền tự do hội họp một cách hòa bình và lập hội.

    Điều 20 quy định rằng "quyền của một công dân không thể tách rời với nhiệm vụ." Trong khi một số quyền đi cùng với trách nhiệm, việc bảo vệ các quyền con người không được dựa trên điều kiện thực hiện các nhiệm vụ.

    Tổ Chức Điều 19 đề nghị xóa Điều 20 của dự thảo Hiến pháp.

    Điều 64.5 quy định rằng "tất cả các hoạt động trong các lĩnh vực văn hoá, thông tin làm tổn hại lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam; và sự tuyên truyền các tư tưởng và ấn phẩm phản động, đồi trụy phải bị nghiêm cấm. Mê tín dị đoan được loại trừ.”

    Quy định này ở trong Chương 3, và do đó có mối quan hệ đến sự bảo đảm các quyền trong Chương 2, không được rõ ràng. Trong mọi trường hợp, nó hoàn toàn không tương ứng với các tiêu chuẩn quốc tế về quyền tự do ngôn luận. Quyền tự do ngôn luận bao gồm tất cả các hình thức thể hiện, bao gồm cả biểu hiện bằng nghệ thuật thông qua bất kỳ phương tiện truyền thông do cá nhân lựa chọn. Bất kỳ hạn chế nào về nội dung của nghệ thuật phải được chứng minh theo thử nghiệm ba phần quy định tại Điều 19 (3) của ICCPR. Tố Chức Điều 19 đề nghị bãi bỏ Điều 64.5

    • Tổ Chức Điều 19 quan tâm đến quyền khiếu nại, và tố cáo Nhà nước ở Điều 31.3 vốn qui định việc cấm "lạm dụng" quyền này để "khiếu nại, tố cáo với mục đích vu khống và gây tổn hại cho người khác."

    Trong khi quyền tự do ngôn luận có thể bị hạn chế để bảo vệ quyền của người khác theo quy định tại Điều 19 (3) của ICCPR, các hạn chế đó phải phù hợp với các thử nghiệm ba phần đã nêu ở trên và các hình phạt dùng để bảo vệ danh tiếng phải được biết trước trong qui định của luật dân sự. Hơn nữa, phát biểu chính trị phải được bảo vệ nhiều hơn và chỉ có thể bị giới hạn trong một số trường hợp ngoại lệ. Luật hình sự về phỉ báng không bao giờ được sử dụng để bảo vệ cán bộ hay tố chức đối với những lời chỉ trích hoặc bảo vệ họ khỏi sự giám sát. Tổ Chức Điều 19 đề nghị xóa Điều 31.3.



    Không phân biệt đối xử

    Điều 17.2 qui định rằng "không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội bởi bất kỳ lý do nào". Tuy nhiên, nhiều quy định trong Hiến pháp đã mâu thuẫn với các đảm bảo chống lại sự phân biệt đối xử.

    Sự bảo vệ những quyền trong Chương 2 của Dự thảo Hiến pháp được đặt trên căn bản của quyền công dân, vốn được định nghĩa như là một người có quốc tịch Việt Nam (Điều 18.1). Ngoài quyền tự do ngôn luận và thể hiện quan điểm (ở trên), những quyền tương tự như vậy cũng bao gồm quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 17.1), và cấm tra tấn (Điều 22).

    Những người ngoại quốc bị phân biệt đối xử một cách rõ rệt. Điều 51 qui định, nhưng không sử dụng ngôn ngữ về quyền, là Nhà nước chỉ có nghĩa vụ bảo vệ tính mạng, tài sản người nước ngoài và "lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật Việt Nam."

    Tất cả các quyền qui định trong ICCPR, với ngoại lệ của quyền bầu cử (Điều 25, ICCPR), phải được đảm bảo cho tất cả mọi người một cách không phân biệt trong phạm vi lãnh thổ và quyền tài phán của bất kỳ quốc gia nào (Điều 2 (1), ICCPR) .

    Các quy định về không phân biệt đối xử cũng nên qui định các đặc tính được bảo vệ để cấm phân biệt đối xử trên những đặc tính đó. Căn cứ để bảo vệ chống lại sự phân biệt đối xử nên bao gồm nhưng không chỉ giới hạn vào: chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay quan điểm về các vấn đề khác, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tình trạng tài sản, lúc sinh ra hay các tình trạng khác (Điều 2 (1) ICCPR). Căn cứ để bảo vệ chống lại sự phân biệt đối xử theo quy định của luật nhân quyền quốc tế cũng được hiểu là bao gồm tuổi tác, khuyết tật, khuynh hướng tình dục và giới tính. Các quốc gia chỉ có thể phân biệt đối xử đối vơí người ngoại quốc khi liên quan đến quyền bầu cử theo quy định tại Điều 25 của ICCPR (xem: Ủy ban HR, Tổng luận số 15).

    Tổ Chức Điều 19 khuyến cáo Dự thảo Hiến pháp đảm bảo rằng tất cả các quyền phải ĐƯỢC BẢO VỆ cho tất cả mọi người trên cơ sở không phân biệt đối xử và có một danh sách bao gồm rộng rãi các căn cứ được bảo vệ. Điều 51 và các quy định khác vốn hạn chế việc thụ hưởng các các quyền trên cơ sở quốc tịch ngoài quyền bầu cử phải được bãi bỏ.

    Tố Tụng Công Bằng và Việc Tước Đoạt Tự Do

    Điều 32 (Điều 72 được sửa đổi và bổ sung) quy định các quyền trong tố tụng hình sự, trong đó có quyền "ĐƯỢC XÉT XỬ BỞI tòa án theo pháp luật."

    Tổ Chức Điều 19 cho thấy theo tiêu chuẩn quốc tế, bao gồm Điều 14 và Điều 15 của ICCPR, mọi người đều có quyền được xét xử công bằng trong các vụ án hình sự, vốn kéo theo quyền "được xét xử bởi một tòa án có năng lực, độc lập và vô tư được thành lập theo quy định của pháp luật," công khai và trong một khoảng thời gian hợp lý. Do đó, để theo đúng tiêu chuẩn quốc tế, thì hệ thống tư pháp trong nước, ngoài các thành phần khác, phải có các thành phần sau đây:

    Độc lập: nếu sự độc lập của ngành tư pháp không đuợc đảm bảo, việc xử dụng hệ thống tư pháp như là một cơ chế để bảo vệ quyền của cá nhân trở nên ít hữu ích. Các Nguyên Tắc Cơ Bản Về Độc Lập Xét Xử của Liên Hợp Quốc đặt ra một số yêu cầu cần phải có đối với một tòa án được coi là 'độc lập': a) điều kiện phục vụ và nhiệm kỳ, b) cách thức bổ nhiệm và giải nhiệm, và c) mức độ ổn định và sự bảo vệ chống lại các áp lực sách nhiễu từ bên ngoài. Sự tồn tại của một tòa án không nên phụ thuộc vào quyết định của ngành hành pháp mà phải được dựa trên sự ban hành của cơ quan lập pháp.

    Vô Tư: phải có sự vô tư trong nghĩa khách quan (xem xét liệu các thẩm phán có được cung cấp các đảm bảo về thủ tục đầy đủ để loại trừ bất kỳ sự nghi ngờ chính đáng về thiên vị), cũng trong nghĩa chủ quan (không nên có biểu hiện bề ngoài của sự vô tư).

    Những nguyên tắc này chưa phản ánh đầy đủ tại Điều 32. Tổ Chức Điều 19 khuyến nghị Dự thảo Hiến pháp nên qui định một cách rõ ràng rằng tất cả mọi người có quyền được được xét XỬ bởi một phiên toà có năng lực, công khai và bởi một tòa án được thành lập theo quy định của pháp luật, với tất cả các bảo đảm về thủ tục theo quy định của luật nhân quyền quốc tế.

    Kết luận

    Tổ Chức Điều 19 hoan nghênh sáng kiến của Quốc hội để sửa đổi Hiến pháp của Việt Nam, nhưng nhấn mạnh rằng điều này phải được coi là một cơ hội để tăng cường sự bảo vệ các quyền cơ bản chứ không phải là một cơ hội để làm giảm đi các quyền này. Về mặt này, chúng tôi kêu gọi Quốc hội xem xét các khuyến nghị của chúng tôi và đảm bảo rằng văn bản của Dự thảo Hiến pháp được phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về quyền tự do phát biểu và tự do thông tin.

    @ Bác Tâm Như, bản chuyển ngữ này đã xong. Bác có toàn quyền sử dụng, nếu muốn.



    Offener Brief mit der Bitte um Hilfe.

    An
    alle Vietnamesen,
    alle Aktivistinnen und Aktivisten für Gerechtigkeit, Wahrheit, Frieden,
    alle Katholiken, alle Führungskräfte der katholischen Kirche in Vietnam
    und an alle, die im Dienst der vietnamesischen Regierung stehen und das gute Gewissen haben.

    Ich bin Trần Thị Mạp, 85 Jahre alt.
    Mutter von Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý, Đoàn Văn Sịnh, Phan Thị Báu, Nguyễn Thị Thương und Grossmutter von Đoàn Văn Vệ.
    Meine Kinder und mein Enkelkind sind Opfer einer rechtswidrigen Aktion der Behörde Stadt Hải Phòng, die die Enteignung unseres Lands in Cống Rộc, Gemeide Vinh Quang, Berirk Tiên Lãng, Stadt Hải Phòng durchgeführt hat.

    Sehr geehrte Damen und Herren,

    Ich bin eine 85 Jahre alte Mutter. Ich schreibe diesen Brief mit sehr starken seelischen Schmerzen, um den folgenden Sachverhalt zu äußern und um Hilfe für meine Kinder zu bitten:

    Dem Appell der Regierung gefolgt, haben meine Kinder all ihre Energie, Ressourcen aufgeopfert und teilweise unter Einsatz ihres Lebens, um das Sumpfgebiet in der Küstennähe ins landwirtschaftliche Nutz-Areal zu sanieren.
    Nach Jahrzehnten harter Anstrengungen ist die Shrimps-Farm in dem Wattenmeer entstanden. Es hat das Blut meiner Kinder und das Leben meines Enkels aufgenommen.

    Als der gebildete Aquakultur-Bereich kurz vor der Ernte war, kamen plötzlich viele willkürliche, rechtswidrige, unsittliche Verrichtungen der Behörde Tiên Lãng und Hải Phòng mit dem Ziel: Den Erfolg meiner Kinder zu rauben, das fruchtbare, gute, ertragreiche Land samt der Ernte zu beschlagnahmen.

    Der Höhepunkt war am frühen Morgen des Tages 5. Januar 2012. Ein gewaltiges Aufgebot von Polizisten, Soldaten und Beamten strömte unserem Land zu, belagerte uns, sperrte uns ein, schoss, plünderte unser Vermögen inklusive Immobilien, Wohnungen, selbst die außerhalb der Grenze der Zwangsmaßnahme liegen.

    Diese unerwartete und unverhältnismäßige Aktion der Beamten von Tiên Lãng und Hải Phòng hat das ganze Hab und Gut meiner Kinder zerstört und deren Leben gefährdet. Diese Operation hat meine Kinder und mein Enkel zur Selbstverteidigung
    erregt, um ihr Leben und ihr Eigentum zu schützen.

    All diese Ereignisse wurden von den Medien ausführlich berichtet und sind noch in der Öffentlichkeit bekannt.

    Der Premierminister selbst sagte kurz danach:
    “ Die Aktion von Behörde Tiên Lãng, Hải Phong war rechtswidrig und sittenwidrig „.

    Dennoch hat die Volksstaatsanwaltschaft der Stadt Hải Phòng mit der Anklage Nr. 10/CT-P1A 2013.04.01 gegen meine Kinder „ wegen des Mordes und Widerstand gegen Beamten im Dienst " erhoben. Die Handlung der ersten Instanz wird von 2. bis 5. April 2013 und von 8. bis 10. April 2013 in Amtsgericht Hai Phong Stadt stattfinden.

    Viele Bürgerinnen und Bürger, meine Familie und ich- wir entrüsten uns über diese Anklage und möchten bekräftigen:

    - Meine Kinder sind gute, ehrliche Bürger. Personen, die nie gegen Gesetze verstoßen haben.

    - Am 5. Januar 2012 war mein Sohn -Doan Van Vuon- während des Vorfalls gar nicht am Tatort anwesend.

    - Andere Kinder und das Enkelkind waren im Wattenmeer unterwegs. Auch sie wurden von der Polizei-Truppe verhaftet und verprügelt. Andere Bürgerinnen und Bürger, die in der Nähe waren, hatten mit eigenen Augen verfolgt und könnten das bezeugen.

    Diese Zwangsmaßnahme ist rechtswidrig gewesen. Die Behörde der Stadt Hải Phòng hat mit ihrer Aktion praktisch den Hausfriedensbruch begangen. Meine Kinder haben sich lediglich aus Notwehr verteidigt. Sie haben sich nicht gegen die Staatsgewalt widersetzt.

    Die Behörde der Stadt Hải Phòng hat keine rechtliche Grundlage, unser Land zu beschlagnahmen.

    Das eingeleitete Gerichtsverfahren gegen meine Kinder ist völlig in der Diskrepanz zu unseren Verfassung und Gesetzen.
    Dieser Prozess hat weder ethische Werte noch sittliche Normen.

    Dies ist eine Konspiration, um das Verbrechen, die Rechtverletzung, die die Behörde Tiên Lãng, Hải Phòng begangen hat, zu legalisieren.

    Ich möchte alle fragen, die gutes Gewissen haben, ob es menschenwürdig ist? Ob die vietnamesische Regierung seinen Bürgerinnen und Bürgern solches Unrecht antun und sich damit legitimieren möchte?

    Deshalb möchte ich alle Menschen mit gutem Gewissen und Verantwortung bitten, meinen Kindern zu helfen.
    Retten Sie bitte meinen Kindern das Leben vor diesen üblen, dunklen Machenschaften.

    Ich wiederhole, dass meine Kinder niemanden umbrachten und sich niemals gegen die Staatsgewalt widersetzten.

    Unterstützen Sie bitte meine Kinder.
    Erretten Sie bitte die unschuldigen Opfer aus der Not.
    Sprechen Sie bitte aus
    Handeln Sie bitte.

    Hải Phòng, den 26/3/2013.



    @ Anh Sáu:
    - Die Enteignung tự nó đã là Zwang, chẳng có ai tự mình làm mất chủ quyền đất của mình hết.
    - Vollstreckungsbeamten chỉ dùng khi có quyết định của tòa án, người bị phạt không thi hành, không nộp phạt. Vì vậy em đã dùng câu anh đề nghị, Beamten im Dienst. ( Dienst này có hợp pháp hay phục vụ ai, lại là chuyện khác ).
    - Em thay động từ bewegen bằng eregen (= aus der Fassung bringen) nghĩa là không có chủ ý. Thay beginnen với begehen.

    Trang Vietnamforum anh dẫn, em cũng đã vô nhiều lần, trước những lần về VN để nhặt tin tức. Qua trang này em có quen với một chàng Đức, lấy vợ VN, về VN làm hướng dẫn viên du lịch. Lâu rồi em cũng không vô nữa, quên mất tiêu tên login. Và chàng có còn sống ở VN không em cũng không biết.

    maile viết:
    ...

    1. Ich bin Trần Thị Mạp, 85 Jahre alt.
    Mutter von Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý, Đoàn Văn Sịnh, Phan Thị Báu, Nguyễn Thị Thương und Grossmutter von Đoàn Văn Vệ. Meine Kinder und mein Enkelkind sind Opfer einer rechtswidrigen Aktion der Behörde Stadt Hải Phòng, die die Enteignung unseres Lands in Cống Rộc, Gemeide Vinh Quang, Berirk Tiên Lãng, Stadt Hải Phòng durchgeführt hat.

    * không thể waren -quá khứ-, vì họ vẫn còn là -sind- nạn nhân

    2. Als der gebildete Aquakultur-Bereich kurz vor der Ernte war, kamen plötzlich viele willkürliche, rechtswidrige, unsittliche Verrichtungen der Behörde Tiên Lãng und Hải Phòng mit dem Ziel: Den Erfolg meiner Kinder zu rauben, das fruchtbare, gute, ertragreiche Land samt der Ernte ins Staatseigentum überzuführen.
    * có thể viết zu überführen!

    Der Höhepunkt war am frühen Morgen des Tages 5. Januar 2012. Ein gewaltiges Aufgebot von Polizisten, Soldaten und Beamten strömte unserem Land zu, belagerte uns, sperrte uns ein, schoss, plünderte unser Vermögen inklusive Immobilien, Wohnungen, selbst die außerhalb der Grenze der Zwangsmaßnahme liegen.

    3. Diese unerwartete und unverhältnismäßige Aktion der Beamten von Tiên Lãng und Hải Phòng hat das ganze Hab und Gut meiner Kinder zerstört und deren Leben gefährdet. Diese Operation hat meine Kinder und mein Enkel zur Selbstverteidigung bewogen, um ihr Leben und ihr Eigentum zu schützen.

    4. Dennoch hat die Volksstaatsanwaltschaft der Stadt Hải Phòng mit der Anklage Nr. 10/CT-P1A 2013.04.01 gegen meine Kinder „ wegen des Mordes und Widerstand gegen Beamten, die ihre Pflicht durchführten. " erhoben. Die Handlung der ersten Instanz wird von 2. bis 5. April 2013 und von 8. bis 10. April 2013 in Amtsgericht Hai Phong Stadt stattfinden.

    5. - Diese Zwangsmaßnahme ist rechtswidrig gewesen. Die Behörde der Stadt Hai Phong hat mit ihrer Aktion praktisch den Hausfriedensbruch begonnen. Meine Kinder haben sich lediglich aus Notwehr verteidigt. Sie haben sich nicht gegen die Staatsgewalt eingesetzt.

    6. Dies ist eine Konspiration, um das Verbrechen, die Rechtverletzung, die die Behörde Tiên Lãng, Hải Phong begonnen hat, zu legalisieren.

    ...

    Anh có vài ý kiến, đánh số thứ tự:

    1. Enteignung nên đổi thành Zwangsräumung hoặc Zwangsenteignung.

    2. ins Staatseigentum überzuführen nghe có vẻ là việc tốt của chính quyền. Thực tế là Beschlagnahme, để làm gì thì chưa biết? có vào ngân sách nhà nước không lại càng không rõ.

    3. Anh chữa lại câu "...dazu bewogen" và lưu ý đã "bewogen" là có tính toán!!! đang bị ghép tội chống chính quyền, mà lại thêm chống có tính toán là rất bất lợi. Nếu vì không kiềm chế chống lại thì lại khác!?

    4. gegen Beamten, die ihre Pflicht durchführten đổi thành gegen Beamten im Dienst cho gọn.

    5. Anh không rõ ý của em tại sao lại dùng begonnen (beginnen?) theo anh thì dùng begehen (begangen), tức là làm việc xấu:

    http://canoo.net/services/Controller?input=begehen

    6. cũng như vậy: begehen chứ có lẽ anh không dùng beginnen.

    PS.: ngoài lề, em biết cái này không:

    http://www.vietnam-freunde-forum.com/

    Nói thế thôi, chứ lâu lắm rồi anh không vào, nhưng vừa thử, thấy vẫn login được. Ngoài ra còn 1 vài chỗ khác, nhưng cho chuyên ngành, như foodwatch của em vậy.

    Anh vừa ngó lại, thêm vào:

    phần 4 gegen Beamten, die ihre Pflicht durchführten có lẽ thành gegen Vollstreckungsbeamten?

    và phần 5: gegen die Staatsgewalt eingesetzt theo ý anh cũng không chuẩn bằng widersetzen gegen Staatsgewalt.

    @anh Sáu, em đã sửa lá thư này. Một phần dựa theo lời góp ý của bác NJ, phần khác giữ lại ý của anh, của em. Em có tự thay đổi một số câu, chữ cho đúng với ý của lá thư mà không diễn dạt theo ý cá nhân.
    Anh xem lại những chỗ em in đậm, sau đó giao lại cho bác Tâm Như quyết định.
    Cho em tên trang Forum Đức nào đó. Em không hứa, tùy theo điều kiện của thời gian mới biết được.



    offener Brief mit der Bitte um Hilfe.

    An
    alle Vietnamesen,
    alle Aktivistinnen und Aktivisten für Gerechtigkeit, Wahrheit, Frieden,
    alle Katholiken, alle Führungskräfte der katholischen Kirche in Vietnam
    und an alle, die im Dienst der vietnamesischen Regierung stehen und das gute Gewissen haben.

    Ich bin Trần Thị Mạp, 85 Jahre alt.
    Mutter von Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý, Đoàn Văn Sịnh, Phan Thị Báu, Nguyễn Thị Thương und Grossmutter von Đoàn Văn Vệ. Meine Kinder und mein Enkelkind sind Opfer einer rechtswidrigen Aktion der Behörde Stadt Hải Phòng, die die Enteignung unseres Lands in Cống Rộc, Gemeide Vinh Quang, Berirk Tiên Lãng, Stadt Hải Phòng durchgeführt hat.

    * không thể waren -quá khứ-, vì họ vẫn còn là -sind- nạn nhân

    Sehr geehrte Damen und Herren,

    Ich bin eine 85 Jahre alte Mutter. Ich schreibe diesen Brief mit sehr starken seelischen Schmerzen, um den folgenden Sachverhalt zu äußern und um Hilfe für meine Kinder zu bitten:

    Dem Appell der Regierung gefolgt, haben meine Kinder all ihre Energie, Ressourcen aufgeopfert und teilweise unter Einsatz ihres Lebens, um das Sumpfgebiet in der Küstennähe ins landwirtschaftliche Nutz-Areal zu sanieren. Nach Jahrzehnten harter Anstrengungen ist die Shrimps-Farm in dem Wattenmeer entstanden. Es hat das Blut meiner Kinder und das Leben meines Enkels aufgenommen.

    Als der gebildete Aquakultur-Bereich kurz vor der Ernte war, kamen plötzlich viele willkürliche, rechtswidrige, unsittliche Verrichtungen der Behörde Tiên Lãng und Hải Phòng mit dem Ziel: Den Erfolg meiner Kinder zu rauben, das fruchtbare, gute, ertragreiche Land samt der Ernte ins Staatseigentum überzuführen.
    * có thể viết zu überführen!

    Der Höhepunkt war am frühen Morgen des Tages 5. Januar 2012. Ein gewaltiges Aufgebot von Polizisten, Soldaten und Beamten strömte unserem Land zu, belagerte uns, sperrte uns ein, schosse, plünderte unser Vermögen inklusive Immobilien, Wohnungen, selbst die außerhalb der Grenze der Zwangsmaßnahme liegen.

    Diese unerwartete und unverhältnismäßige Aktion der Beamten von Tiên Lãng und Hải Phòng hat das ganze Hab und Gut meiner Kinder zerstört und deren Leben gefährdet. Diese Operation hat so bewirkt, dass sich meine Kinder und mein Enkel zur Selbstverteidigung bewegt (bewogen) haben, um ihr Leben und ihr Eigentum zu schützen.
    All diese Ereignisse wurden von den Medien ausführlich berichtet und sind noch in der Öffentlichkeit bekannt.

    Der Premierminister selbst sagte kurz danach:
    “ Die Aktion von Lokalbehörde Tien Lang, Hai Phong war rechtswidrig und sittenwidrig „.

    Dennoch hat die Volksstaatsanwaltschaft der Stadt Hải Phòng mit der Anklage Nr. 10/CT-P1A 2013.04.01 gegen meine Kinder „ wegen des Mordes und Widerstand gegen Beamten, die ihre Pflicht durchführten. " erhoben. Die Handlung der ersten Instanz wird von 2. bis 5. April 2013 und von 8. bis 10. April 2013 in Amtsgericht Hai Phong Stadt stattfinden.

    Viele Bürgerinnen und Bürger, meine Familie und ich- wir entrüsten uns über diese Anklage und möchten bekräftigen:

    - Meine Kinder sind gute, ehrliche Bürger. Personen, die nie gegen Gesetze verstoßen haben.

    - Am 5. Januar 2012 war mein Sohn -Doan Van Vuon- während des Vorfalls gar nicht am Tatort anwesend.

    - Andere Kinder und das Enkelkind waren im Wattenmeer unterwegs. Auch sie wurden von der Polizei-Truppe verhaftet und verprügelt. Andere Bürgerinnen und Bürger, die in der Nähe waren, hatten mit eigenen Augen verfolgt und könnten das bezeugen.

    - Diese Zwangsmaßnahme ist rechtswidrig gewesen. Die Behörde der Stadt Hai Phong hat mit ihrer Aktion praktisch den Hausfriedensbruch begonnen. Meine Kinder haben sich lediglich aus Notwehr verteidigt. Sie haben sich nicht gegen die Staatsgewalt eingesetzt.

    Die Behörde der Stadt Hải Phòng hat keine rechtliche Grundlage, unser Land zu beschlagnahmen.

    Das eingeleitete Gerichtsverfahren gegen meine Kinder ist völlig in der Diskrepanz zu unseren Verfassung und Gesetzen. Dieser Prozess hat weder ethische Werte noch sittliche Normen.

    Dies ist eine Konspiration, um das Verbrechen, die Rechtverletzung, die die Behörde Tiên Lãng, Hải Phong begonnen hat, zu legalisieren.

    Ich möchte alle fragen, die gutes Gewissen haben, ob es menschenwürdig ist? Ob die vietnamesische Regierung seinen Bürgerinnen und Bürgern solches Unrecht antun und sich damit legitimieren möchte?

    Deshalb möchte ich alle Menschen mit gutem Gewissen und Verantwortung bitten, meinen Kindern zu helfen.
    Retten Sie bitte meinen Kindern das Leben vor diesen üblen, dunklen Machenschaften.

    Ich wiederhole, dass meine Kinder niemanden umbrachten und sich niemals gegen die Staatsgewalt widersetzten.

    Unterstützen Sie bitte meine Kinder.
    Erretten Sie bitte die unschuldigen Opfer aus der Not.
    Sprechen Sie bitte aus
    Handeln Sie bitte.

    Hải Phòng, den 26/3/2013.

    maile viết:
    @anh Sáu,
    Anh đã si nghĩ xong chưa hay đợi đến ngày mơi bàn tiếp?
    Em thấy bác NJ " hình như " (chữ của anh) có lý à nha.

    Anh khôn chúa. Không bao giờ khai thông tin cá nhân nhưng lại cứ tìm cách điều tra em. Lờ không trả lời kỹ thuật gì! Mà tên thật của anh là gì thế?

    Gia đình em không đi đâu cả. Nhưng sáng sớm hôm nay em theo lũ con nít trong Gemeinde đi gõ lóc cóc trên các nẽo đường ở đây, gây ồn ào, inh ỏi, đánh thức mọi người. Nhưng chẳng ai dám than phiền cả, tục lệ mờ. Một năm mới có một lần. Sau đó đi gom trứng. Vui quá là vui. Chỉ có mấy người lớn đi theo để trông chừng.

    Em Mai và bác NJ,

    Bác NJ không phải vô lý khi cho rằng Roman viết bằng Präteritum hay plusquamperfekt.

    Bác NJ cũng có lý khi cho rằng perfekt là nói về các sự kiện có liên quan đến thời điểm hiện tại.

    Nhưng bác NJ không đúng khi cho rằng viết Bericht không dùng präteritum.

    Cháu nhà anh có dạo phải viết Aufsatz, thể loại Bericht, nên anh có ngó qua và biết các loại như Bericht phải viết phần lớn dưới präteritum.

    Người ta có phân biệt giữa tiếng nói (gesprochene) và tiếng viết (geschriebene), anh đưa tạm 3 link cho mọi người tham khảo, chú ý link thứ 3 là 1 pdf-datei:

    http://www.mein-deutschbuch.de/lernen.php?menu_id=108
    http://www.belleslettres.eu/artikel/prateritum-imperfekt-perfekt.php
    http://www.dinkela.de/zineedit/data/Helferlein/zeitformen.pdf

    @em Mai: sao em lại nghĩ là anh muốn điều tra em???
    muốn biết tên thật của anh được ngay thôi, nhưng có lẽ không trên DL.

    anh làm việc như đã nói trong Automobilzulieferindustrie, cụ thể anh làm về những chi tiết liên quan đến powertrain, cho xe cộ nhưng loại to, nặng, chạy không cần đường Offroad-Fahrzeuge.

    Anh có tham gia 1 forum Đức, nếu em muốn hay có hứng, anh em mình có thể "tâm sự" bên ấy.

    PS.: anh vừa mới phải dẫn bọn nhóc đi tìm Tapeten để chuẩn bị tapezieren lại phòng của chúng.

    Tran Thi Ngự viết:
    Bác Admin hay bác Tâm Như có thể thêm phần Ghi chú giới thiệu Tổ Chức Điều 19 (http://www.article19.org/pages/en/who-we-are.html) được tóm tắt như sau:

    Tổ Chức Điều 19 (Article 19) được thành lập năm 1987 tại New York (Hoa Kỳ) dưới sự bảo trợ của gia đình nhà từ thiện J. Roderick MacArthur, và lấy tên gọi theo Điều 19 của Tuyên Ngôn Nhân Quyền Quốc Tế về quyền tự do tư tường và ngôn luận. Tổ Chức Điều 19 có văn phòng tại Bangladesh, Brazil, Kenya, Mexico, Tunisia, Senegal and Anh Quốc, and có sự hợp tác với 90 tổ chức trên toàn thế giới.

    Công việc của Tổ Chức Điều 19 bao gồm viêc bảo vệ quyền tự do ngôn luận và phát biểu ở bất cứ nơi nào quyền này bị đe doạ bằng cách: 1) theo dõi, nghiên cứu, xuât bản, ủng hộ và vận động việc ra các tiêu chuẩn và giúp đở trong các vụ thưa kiện; 2) Cố vấn cho việc thiết lập luật pháp nhằm bảo vệ quyền tự do phát biểu để bảo đảm sự trong sáng và tăng gia tham gia của công dân; 3) Vận đồng sự bảo vệ tính đa nguyên, độc lập và đa dạng trong truyền thông.



    9:42am Thứ Bảy ngày 30 tháng 5 năm 2013

    Thưa bác Trần Thi Ngự,

    Cảm ơn nhiệt tình đóng góp của bác.

    BBT đang đưa bài ra trang chủ, và thêm phần chú thích này.

    Thân kính chúc bác cuối tuần an vui.

    Thân kính,

    Tâm Như

    Bác Admin hay bác Tâm Như có thể thêm phần Ghi chú giới thiệu Tổ Chức Điều 19 (http://www.article19.org/pages/en/who-we-are.html) được tóm tắt như sau:

    Tổ Chức Điều 19 (Article 19) được thành lập năm 1987 tại New York (Hoa Kỳ) dưới sự bảo trợ của gia đình nhà từ thiện J. Roderick MacArthur, và lấy tên gọi theo Điều 19 của Tuyên Ngôn Nhân Quyền Quốc Tế về quyền tự do tư tường và ngôn luận. Tổ Chức Điều 19 có văn phòng tại Bangladesh, Brazil, Kenya, Mexico, Tunisia, Senegal and Anh Quốc, and có sự hợp tác với 90 tổ chức trên toàn thế giới.

    Công việc của Tổ Chức Điều 19 bao gồm viêc bảo vệ quyền tự do ngôn luận và phát biểu ở bất cứ nơi nào quyền này bị đe doạ bằng cách: 1) theo dõi, nghiên cứu, xuât bản, ủng hộ và vận động việc ra các tiêu chuẩn và giúp đở trong các vụ thưa kiện; 2) Cố vấn cho việc thiết lập luật pháp nhằm bảo vệ quyền tự do phát biểu để bảo đảm sự trong sáng và tăng gia tham gia của công dân; 3) Vận đồng sự bảo vệ tính đa nguyên, độc lập và đa dạng trong truyền thông.

    Admin viết:
    Tran Thi Ngự viết:
    Kính bác Tâm Như,

    Tôi mới đọc bài "Vietnam: Proposed Constitutional Amendments Go Against International Law" đăng trên trang web của Tổ Chức Điều 19 (Article 19.org) ở đây: http://www.article19.org/resources.php/resource/3680/en/vietnam:-proposed-constitutional-amendments-go-against-international-law. Bài này có tính thời sự cao và đã được dịch và đăng trên trang Cùng Viết Hiến Pháp. Tuy nhiên, tôi đọc bản dịch thấy cách hành văn hơi lủng củng nên sẽ dịch lại để DL xử dụng.

    Tôi cũng đang tính nhờ Nhóm Dịch Thuật DL dịch bài này, ai dè bác Ngự đã nhận trước rồi. Xin cảm ơn bác Ngự!

    Thưa bác Admin, dưới đây là bài dịch (khi nhận không biết là nó dài quá xá):




    Việt Nam: Đề Xuất Sửa Đổi Hiến Pháp Đi Ngược Lại Luật Pháp Quốc Tế

    Tổ Chức Điều 19 cảnh báo rằng các đề nghị sửa đổi Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (Dự thảo Hiến pháp) không bảo đãm các quyền cơ bản của con người, nhất là quyền tự do phát biểu và tự do thông tin. Việc bảo vệ cho các quyền này phải được xây dựng một cách toàn diện hơn và bằng ngôn ngữ chính xác hơn, và các sự giới hạn rộng rãi và có tính phân biệt đối xử phải được loại bỏ.

    Tồ Chức Điều 19 hoan nghênh sáng kiến của Quốc hội để sửa đổi Hiến pháp của Việt Nam và công khai lưu hành Dự thảo Hiến pháp để có tham vấn rộng rãi. Chúng tôi hoan nghênh cơ hội được đóng góp sự phân tích của chúng tôi vào việc sửa đổi Hiến Pháp, và hy vọng rằng đây là sự hỗ trợ cho Chính phủ Việt Nam và các bên có liên quan khác trong nước để hiểu về những nghĩa vụ của Việt Nam theo luật nhân quyền quốc tế.

    Mặc dù có rất nhiều thiếu sót trong các đề nghị sửa đổi hiến pháp trong đó có những điều thảo sẽ được luận dưới đây, các phiên bản dự thảo có một số biểu hiện tích cực, cụ thể là:

    • Phần mở đầu khẳng định sự tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, sự phát huy dân chủ, và sự tôn trọng chính phủ của dân, vì nhân dân và do nhân dân.
    • Chương thứ hai được dành cho sự công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người (Điều 15,1).
    • Các quyền mới được thêm vào trong bản dự thảo Hiến pháp bao gồm: quyền thưởng thức và tham gia vào đời sống văn hoá (Điều 44), quyền tự do lựa chọn ngôn ngữ để giao tiếp (Điều 45), và quyền sống trong một "môi trường tươi mát" ( Điều 46).

    Hiệu Lực Quốc Nội Của Luật Nhân Quyền Quốc Tế

    Bản Dự thảo Hiến pháp đã không xác định tư cách pháp lý của các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết và phê chuẩn và có nghĩa vụ thực hiện thông qua luật pháp trong nước. Hơn nữa, không có điều nào quy định cụ thể quyền hạn để ký kết và phê chuẩn các hiệp ước quốc tế. Đặc biệt, Tổ chức Điều 19 ghi nhận rằng Việt Nam là một thành phần tham gia Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) nhằm bảo vệ quyền tự do phát biểu và tự do thông tin ở Điều 19.

    Dự thảo hiến pháp phải có một cam kết rõ ràng để đảm bảo rằng các hiệp ước và thỏa thuận quốc tế đã được ký kết và phê chuẩn có hiệu lực pháp lý trong nước, và chỉ có thể bị bãi bỏ, sửa đổi hoặc bị đình chỉ theo cách thức quy định trong chính các hiệp ước đó.

    Các Quyền Tự Do Phát Biểu Và Thông Tin, Tự Do Hội Họp Một Cách Ôn Hòa và Tự Do Lập Hội

    Dự thảo hiến pháp giới hạn sự bảo vệ các quyền tự do phát biểu và thông tin và các quyền liên quan ở Điều 26 theo trong các qui định sau đây:

    Công dân có quyền tự do phát biểu ý kiến và ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông báo, và có quyền hội họp, lập hội và tổ chức các cuộc đình công theo quy định của pháp luật.


    Tổ chức Điều 19 có quan ngại là nhiều quyền riêng biệt được bao gồm trong một điều khoản, và không có đủ sự bảo vệ riêng cho mỗi quyền. Chúng tôi đề nghị sự bảo vệ riêng cho các quyền: i) tự do có ý kiến, ii) quyền tự do ngôn luận; iii) tiếp cận thông tin; iv) tự do báo chí, và v) quyền tự do hội họp một cách ôn hoà và tự do lập hội.

    Những thiếu sót sau đây đối với Điều 26 của Dự thảo Hiến pháp cũng phải được giải quyết:

    • Mỗi quyền phải được đảm bảo cho tất cả mọi người, không phân biệt quốc tịch.

    • Quyền tự do phát biểu ý kiến được bảo vệ theo quy định tại Điều 19 (1) của ICCPR, nên được bảo vệ một cách vô điều kiện. Không pháp luật hoặc quy định hiến pháp nào cho phép hạn chế về quyền có ý kiến. Hơn nữa, không người nào có thể bị giảm các quyền của họ vì các ý kiến thực sự của họ, hay ý kiến đưọc cho là của họ.

    • Quyền tự do diễn đạt được bảo vệ bởi Điều 19 (2) của ICCPR, phải được giải thích rộng rãi và qui định rằng quyền này:

    o Bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin;
    o Bảo vệ tất cả các loại ý tưởng , bao gồm: chính luận, bình luận về vấn đề của cá nhân và các vấn đề công cộng, trao đổi ý kiến, thảo luận về nhân quyền, báo chí, diễn đạt văn hóa và nghệ thuật, giảng dạy, và diễn thuyết tôn giáo. Thậm chí nó còn bao gồm sự diễn đạt có thể được coi là rất phản cảm;
    o Được ap dụng không có giới hạn;
    o Có thể được thực hiện thông qua bất kỳ phương tiện truyền thông do cá nhân lựa chọn, bao gồm nhưng không nhất thiết chỉ gồm những loại sau đây: truyền thông bằng tiếng nói, viết và in; diển đạt bằng nghệ thuật; và phương tiện truyền thông bằng nghe-nhìn, điện tử và Internet.


    • Quyền “được thông tin" cần phải được soạn lại để rõ ràng bảo vệ “quyền đưọc tiếp cận thông tin.” Tổ chức Điều 19 nhắc lại rằng Uỷ Ban Nhân quyền, trong số nhận xét chung 34, đã qui định:

    Để quyền quyền tiếp cận thông tin có hiệu lực, các quốc gia thành viên cần chủ động đưa ra trong công chúng các thông tin của Chính phủ liên quan đến lợi ích công cộng. Các quốc gia thành viên phải sao để đảm bảo việc tiếp cận những thông tin như vậy được dễ dàng, nhanh chóng, hiệu quả và thiết thực. Các quốc gia thành viên cũng phải ban hành các thủ tục cần thiết theo đó một người có thể truy cập thông tin bằng cách xử dụng luật về quyền tự do thông tin. Các thủ tục này qui định việc xử lý kịp thời các yêu cầu về thông tin bằng luật lệ rõ ràng phù hợp với Công Uớc. Lệ phí cho việc yêu cầu cung cấp thông tin không được tạo thành một trở ngại bất hợp lý cho việc truy cập thông tin. Các nhà chức trách nên cung cấp lý do khi từ chối việc truy cập thông tin. Phải chuẩn bị sẵn để giải quyết khiếu nại do việc từ chối quyền truy cập vào thông tin cũng như trong trường hợp không đáp ứng yêu cầu cung cấp thong tin.

    Để đối chiếu, hãy xem Điều 56 của Hiến pháp Thái Lan (1997) , Điều 35 của Hiến pháp của Kenya (2010), và Điều 32 của Hiến pháp của Nam Phi (1996):

    • Quyền "hội họp" nên được sửa lại là "quyền tự do hội họp một cách hòa bình" để phản ánh Điều 21 của ICCPR. Nếu có thể, bản Hiến pháp nên qui định coi như ủng hộ việc hội họp hay lập hội, và qui định nhà nước có nghĩa vụ tạo điều kiện thuận lợi và bảo vệ các cuôc hội họp công khai tại địa điểm và thời gian do người tổ chức lựa chọn. Để so sánh, hãy xem tại Điều 39 của Hiến pháp Romania (1991).

    • Quyền "tự do báo chí" phải được thực hiện toàn diện hơn. Nó sẽ bao gồm: các sự bảo vệ phương tiện truyền thông tự do và độc lập trực tuyến cũng như không trực tuyến, bảo đảm sự độc lập biên tập; bảo vệ quyền của các nhà báo giữ kín nguồn gốc của tin tức, bảo vệ các phương tiện truyền thong bằng in ấn hay trực tuyến khỏi bất cứ yếu cầu đăng ký hay giấy phép; và các quy định để đảm bảo sự độc lập và tính đa nguyên của ngành phát thanh truyền hình. Để so sánh, hãy xem Điều 34 của Hiến pháp của Kenya (2010).

    • Quyền "lập hội" cũng phải đảm bảo quyền thành lập công đoàn độc lập với chính phủ, và nên qui định thêm rằng không có người nào bị bắt buộc phải tham gia một hiệp hội ngược lại với ý nguyện của họ.

    • Quyền tự do học thuật và nghiên cứu củng cần được xem xét (Điều 43 của Dự thảo Hiến pháp) cùng với việc bảo vệ quyền tự do diển đạt. Đề so sánh, hãy xem Điều 16 của Hiến pháp của Nam Phi (1996), và Điều 33 của Hiến pháp của Kenya (2010).

    • Các quyền tham gia vào đời sống văn hoá (hiện tại Điều 44 của Dự Thảo Hiến pháp) và quyền được giao tiếp bằng ngôn ngữ tự chọn (hiện tại Điều 45 của dự thảo Hiến pháp) củng nên được xem xét trong phạm vi bảo vệ các quyền tự do ngôn luận.

    Những hạn chế về quyền tự do phát biểu và thông tin, và tự do lập hội và hội họp một cách hòa bình

    Một số lượng đáng kể các quy định trong Dự thảo Hiến pháp cho phép đặt ra nhiều giới hạn trên tất cả các quyền quy định tại Chương 2 khiến nó không đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.

    Điều 15 của dự thảo Hiến pháp quy định rằng tất cả các quyền con người được ”công nhận, tôn trọng, bảo vệ và đảm bảo theo Hiến pháp và pháp luật" (Điều 15.1) và có thể bị hạn chế “trong trường hợp cần thiết cho mục đích quốc phòng, an ninh quốc gia , trật tự xã hội, đạo đức và sức khỏe cộng đồng" (Điều 15,2). Quy định này có vẻ như để áp dụng cho việc giải thích của tất cả các bảo đảm trong Chương 2, nhưng nó không qui định rõ ràng là chỉ giới hạn cho Chương 2. Trong khi các trường hợp khẩn cấp có thể được tuyên bố theo quy định tại Điều 75.14Điều 79.8 của dự thảoHiến pháp, tác động của sự tuyên bố này đối với sự bảo vệ các quyền con người không được xác định.

    Các giới hạn tại Điều 15 đã không phân biệt giữa: quyền có thể bị giới hạn một cách hợp pháp (ví dụ như quyền tự do ý kiến, Điều 19 (1), ICCPR), và các quyền có thể bị thu hẹp một cách có giới hạn (ví dụ như quyền tự do diển đạt, Điều 19 (2) và (3), ICCPR), và cuối cùng là các quyền không thể được coi thường trong trường hợp khẩn cấp (được liệt kê tại Điều 4 (2), ICCPR). Điều 15 (2) của bản dự thảo Luật phải được sửa đổi để làm cho rõ ràng các sự khác biệt giữa các loại bảo vệ nhân quyền khác nhau để phù hợp với quy định của ICCPR.


    Những hạn chế về quyền tự do phát biểu và thông tin, và quyền tự do hội họp hòa bình, chỉ được giới hạn theo qui định về thử nghiệm ba phần qui định tại Điều 19 (3) và Điều 21 của ICCPR. Những sự hạn chế phải:

    • Theo quy định của pháp luật: bất cứ luật nào hạn chế quyền tự do ngôn luận phải “được xây dựng với độ chính xác đủ để cho một cá nhân điều chỉnh hành vi của mình một cách phù hợp và nó phải được với công chúng biết đến."

    • Có một mục đích hợp pháp: tôn trọng các quyền và thanh danh của người khác, bảo vệ an ninh quốc gia hay trật tự công cộng, hoặc bảo vệ sức khỏe hay đạo lý cộng đồng. Ngoài ra, quyền tự do hội họp một cách hòa bình cũng có thể bị hạn chế để bảo vệ an toàn công cộng.

    • Cần thiết và tương xứng: Các quốc gia phải chứng minh "một cách cụ thể và cho từng cá nhân bản chất chính xác của mối đe dọa, và sự cần thiết và tương xứng của các biện pháp (để giới hạn), đặc biệt bằng cách thiết lập một mối liên trực tiếp thể giữa các biện pháp và mối đe dọa." Hơn nữa, những hạn chế không được quá rộng và phải là những phương tiện hạn chế tối thiểu được dùng để đạt được chức năng bảo vệ.

    Khi tất cả các quyền chỉ được đảm bảo trong phạm vi qui định bởi Hiến pháp hay luật pháp thì sẽ không hợp pháp, nhất là khi hiến pháp hay luật pháp không tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế. Sự qui định "theo Hiến pháp và pháp luật" phải được xóa bỏ trong Điều 5.1 vì nó làm cho việc thụ hưởng các quyền hiến định bị phụ thuộc vào việc lập pháp vốn có thể làm xói mòn các quyền này trong tương lai.

    Từ "Đạo đức xã hội" tại Điều 5.2 nên được hiểu trong phạm vi giới hạn của khái niệm này theo quy định của luật nhân quyền quốc tế và không được giải thích nhằm đưa đến những hạn chế rộng rãi về quyền này. Nhà nước có trách nhiệm chứng minh rằng các hạn chế quyền tự do ngôn luận để bảo vệ "đạo đức xã hội" là cần thiết để duy trì sự tôn trọng đối với các giá trị cơ bản của cộng đồng. Trong khi các quốc gia ít bị phê bình trong việc này, việc các quốc gia được quyền quyết định không cho phép việc viện dẫn đạo đức xã hội để biện minh cho hành động kỳ thị, để kéo dài thành kiến, hay khuyến khích cố chấp. Các cơ quan nhân quyền quốc tế đã lưu ý rằng các khái niệm về đạo đức được phát triển không ngừng, và bất cứ hạn chế nào đều "phải được dựa trên các nguyên tắc là không được bắt nguồn từ một truyền thống duy nhất", và "phải được hiểu trong sự phổ quát toàn cầu của nhân quyền và nguyên tắc không phân biệt đối xử ".

    Hơn nữa Điều 15.2 phải tham chiếu đặc biệt vào yêu cầu là ngoài vấn đề "cần thiết" trong việc theo đuổi một mục tiêu hợp pháp, các hạn chế cũng phải được quy định trong pháp luật một cách tương xứng.

    Liên quan đến quyền tự do tôn giáo, khoản thứ hai của Điều 25.3 quy định rằng không ai có thể "lợi dụng tín ngưỡng và tôn giáo để hành động trái với pháp luật và các chính sách nhà nước." Một lần nữa, quy định này có thể đưa đến sự giải thích rộng rãi và được sử dụng để hạn chế tự do tôn giáo hay tín ngưỡng, cũng như quyền tự do phát biểu và tự do thông tin. Tổ Chức Điều 19 đề nghị xoá khoản thứ hai trong Điều 25.3.

    Tổ chức Điều 19 còn quan tâm tới một số các quy định bổ sung có thể được viện dẫn để hạn chế hơn nữa các quyền cơ bản, bao gồm quyền tự do phát biểu và thông tin, quyền tự do hội họp một cách hòa bình và lập hội:

    Điều 16 là một điều khoản mới và nghiêm cấm việc lạm dụng quyền con người và quyền dân sự để vi phạm lợi ích của đất nước và dân tộc, các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác."

    Những cái gọi là "lợi ích của đất nước và dân tộc, các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác" có nghĩa rất rộng và mơ hồ đối với việc thụ hưởng các quyền con người khiến nó không phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Tố Chức Điều 19 đề nghị chỉnh sửa Điều 16 đã để phản ánh Điều 5 (1) của ICCPR vốn qui định rằng không một điều khoản nào trong Công ước cho phép một quốc gia, một nhóm hoặc bất kỳ cá nhân nào được quyền tham gia vào các hoạt động nhằm mục đích "tiêu hủy" của các quyền và tự do. Điều quan trọng là quy định này áp dụng đối với Nhà nước cũng như bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân, và đặt ngưỡng giới hạn đặc biệt cao cho "tiêu hủy" hơn là "can thiệp" hoặc "vi phạm".

    Điều 11.2 của dự thảo Hiến pháp quy định về hình phạt nghiêm trọng cho "tất cả các hành động trực tiếp chống lại sự độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chống lại việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của mọi người." Tương tự như vậy, Điều 47 qui định “các nghĩa vụ trung thành đối với quê hương của mình [sic] ", và xác định rằng" phản bội tổ quốc là tội nặng nhất," và Điều 69 qui định tham gia quốc phòng là nhiệm vụ của tất cả mọi người.

    Mối quan hệ giữa các quy định kể trên và sự đảm bảo các quyền trong chương thứ hai không rõ ràng. Tố Chức Điều 19 nhắc lại rằng bất kỳ hạn chế nào đối với quyền tự do phát biểu và thông tin, hay quyền tự do hội họp một cách hòa bình để bảo vệ an ninh quốc gia phải được qui định một cách giới hạn (chật hẹp) để phù hợp với phép thử nghiệm ba phần theo Điều 19 (3) hoặc Điều 21 của ICCPR. Những hạn chế đó không hợp pháp trừ khi chúng có mục đích xác thật và chứng minh được hiệu quả của chúng là để bảo vệ sự tồn tại của một quốc gia, hoặc sự toàn vẹn lãnh thổ chống lại việc sử dụng hoặc đe dọa bằng vũ lực từ một nguồn bên ngoài, chẳng hạn như là một mối đe dọa quân sự, hoặc một nguồn nội bộ, chẳng hạn như kích động bạo lực để lật đổ chính phủ. Để biết thêm thông tin, hãy xem Nguyên Tắc Johannesburg về An Ninh Quốc Gia, Tự Do Ngôn Luận, và Tiếp Cận Thông Tin (Điều 19, năm 1996)

    Tổ Chức Điều 19 khuyến cáo xóa Điều 11.2, Điều 47, và Điều 69 để bảo vệ quyền tự do phát biểu và thông tin, cũng như các quyền tự do hội họp một cách hòa bình và lập hội.

    Điều 20 quy định rằng "quyền của một công dân không thể tách rời với nhiệm vụ." Trong khi một số quyền đi cùng với trách nhiệm, việc bảo vệ các quyền con người không được dựa trên điều kiện thực hiện các nhiệm vụ.

    Tổ Chức Điều 19 đề nghị xóa Điều 20 của dự thảo Hiến pháp.

    Điều 64.5 quy định rằng "tất cả các hoạt động trong các lĩnh vực văn hoá, thông tin làm tổn hại lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam; và sự tuyên truyền các tư tưởng và ấn phẩm phản động, đồi trụy phải bị nghiêm cấm. Mê tín dị đoan được loại trừ.”

    Quy định này ở trong Chương 3, và do đó có mối quan hệ đến sự bảo đảm các quyền trong Chương 2, không được rõ ràng. Trong mọi trường hợp, nó hoàn toàn không tương ứng với các tiêu chuẩn quốc tế về quyền tự do ngôn luận. Quyền tự do ngôn luận bao gồm tất cả các hình thức thể hiện, bao gồm cả biểu hiện bằng nghệ thuật thông qua bất kỳ phương tiện truyền thông do cá nhân lựa chọn. Bất kỳ hạn chế nào về nội dung của nghệ thuật phải được chứng minh theo thử nghiệm ba phần quy định tại Điều 19 (3) của ICCPR. Tố Chức Điều 19 đề nghị bãi bỏ Điều 64.5

    • Tổ Chức Điều 19 quan tâm đến quyền khiếu nại, và tố cáo Nhà nước ở Điều 31.3 vốn qui định việc cấm "lạm dụng" quyền này để "khiếu nại, tố cáo với mục đích vu khống và gây tổn hại cho người khác."

    Trong khi quyền tự do ngôn luận có thể bị hạn chế để bảo vệ quyền của người khác theo quy định tại Điều 19 (3) của ICCPR, các hạn chế đó phải phù hợp với các thử nghiệm ba phần đã nêu ở trên và các hình phạt dùng để bảo vệ danh tiếng phải được biết trước trong qui định của luật dân sự. Hơn nữa, phát biểu chính trị phải được bảo vệ nhiều hơn và chỉ có thể bị giới hạn trong một số trường hợp ngoại lệ. Luật hình sự về phỉ báng không bao giờ được sử dụng để bảo vệ cán bộ hay tố chức đối với những lời chỉ trích hoặc bảo vệ họ khỏi sự giám sát. Tổ Chức Điều 19 đề nghị xóa Điều 31.3.



    Không phân biệt đối xử

    Điều 17.2 qui định rằng "không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội bởi bất kỳ lý do nào". Tuy nhiên, nhiều quy định trong Hiến pháp đã mâu thuẫn với các đảm bảo chống lại sự phân biệt đối xử.

    Sự bảo vệ những quyền trong Chương 2 của Dự thảo Hiến pháp được đặt trên căn bản của quyền công dân, vốn được định nghĩa như là một người có quốc tịch Việt Nam (Điều 18.1). Ngoài quyền tự do ngôn luận và thể hiện quan điểm (ở trên), những quyền tương tự như vậy cũng bao gồm quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 17.1), và cấm tra tấn (Điều 22).

    Những người ngoại quốc bị phân biệt đối xử một cách rõ rệt. Điều 51 qui định, nhưng không sử dụng ngôn ngữ về quyền, là Nhà nước chỉ có nghĩa vụ bảo vệ tính mạng, tài sản người nước ngoài và "lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật Việt Nam."

    Tất cả các quyền qui định trong ICCPR, với ngoại lệ của quyền bầu cử (Điều 25, ICCPR), phải được đảm bảo cho tất cả mọi người một cách không phân biệt trong phạm vi lãnh thổ và quyền tài phán của bất kỳ quốc gia nào (Điều 2 (1), ICCPR) .

    Các quy định về không phân biệt đối xử cũng nên qui định các đặc tính được bảo vệ để cấm phân biệt đối xử trên những đặc tính đó. Căn cứ để bảo vệ chống lại sự phân biệt đối xử nên bao gồm nhưng không chỉ giới hạn vào: chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay quan điểm về các vấn đề khác, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tình trạng tài sản, lúc sinh ra hay các tình trạng khác (Điều 2 (1) ICCPR). Căn cứ để bảo vệ chống lại sự phân biệt đối xử theo quy định của luật nhân quyền quốc tế cũng được hiểu là bao gồm tuổi tác, khuyết tật, khuynh hướng tình dục và giới tính. Các quốc gia chỉ có thể phân biệt đối xử đối vơí người ngoại quốc khi liên quan đến quyền bầu cử theo quy định tại Điều 25 của ICCPR (xem: Ủy ban HR, Tổng luận số 15).

    Tổ Chức Điều 19 khuyến cáo Dự thảo Hiến pháp đảm bảo rằng tất cả các quyền phải đượcbảo vệ cho tất cả mọi người trên cơ sở không phân biệt đối xử và có một danh sách bao gồm rộng rãi các căn cứ được bảo vệ. Điều 51 và các quy định khác vốn hạn chế việc thụ hưởng các các quyền trên cơ sở quốc tịch ngoài quyền bầu cử phải được bãi bỏ.

    Tố Tụng Công Bằng và Việc Tước Đoạt Tự Do

    Điều 32 (Điều 72 được sửa đổi và bổ sung) quy định các quyền trong tố tụng hình sự, trong đó có quyền "được xử tòa án theo pháp luật."

    Tổ Chức Điều 19 cho thấy theo tiêu chuẩn quốc tế, bao gồm Điều 14 và Điều 15 của ICCPR, mọi người đều có quyền được xét xử công bằng trong các vụ án hình sự, vốn kéo theo quyền "được xét xử bởi một tòa án có năng lực, độc lập và vô tư được thành lập theo quy định của pháp luật," công khai và trong một khoảng thời gian hợp lý. Do đó, để theo đúng tiêu chuẩn quốc tế, thì hệ thống tư pháp trong nước, ngoài các thành phần khác, phải có các thành phần sau đây:

    Độc lập: nếu sự độc lập của ngành tư pháp không đuợc đảm bảo, việc xử dụng hệ thống tư pháp như là một cơ chế để bảo vệ quyền của cá nhân trở nên ít hữu ích. Các Nguyên Tắc Cơ Bản Về Độc Lập Xét Xử của Liên Hợp Quốc đặt ra một số yêu cầu cần phải có đối với một tòa án được coi là 'độc lập': a) điều kiện phục vụ và nhiệm kỳ, b) cách thức bổ nhiệm và giải nhiệm, và c) mức độ ổn định và sự bảo vệ chống lại các áp lực sách nhiễu từ bên ngoài. Sự tồn tại của một tòa án không nên phụ thuộc vào quyết định của ngành hành pháp mà phải được dựa trên sự ban hành của cơ quan lập pháp.

    Vô Tư: phải có sự vô tư trong nghĩa khách quan (xem xét liệu các thẩm phán có được cung cấp các đảm bảo về thủ tục đầy đủ để loại trừ bất kỳ sự nghi ngờ chính đáng về thiên vị), cũng trong nghĩa chủ quan (không nên có biểu hiện bề ngoài của sự vô tư).

    Những nguyên tắc này chưa phản ánh đầy đủ tại Điều 32. Tổ Chức Điều 19 khuyến nghị Dự thảo Hiến pháp nên qui định một cách rõ ràng rằng tất cả mọi người có quyền được được xét sử bởi một phiên toà có năng lực, công khai và bởi một tòa án được thành lập theo quy định của pháp luật, với tất cả các bảo đảm về thủ tục theo quy định của luật nhân quyền quốc tế.

    Kết luận

    Tổ Chức Điều 19 hoan nghênh sáng kiến của Quốc hội để sửa đổi Hiến pháp của Việt Nam, nhưng nhấn mạnh rằng điều này phải được coi là một cơ hội để tăng cường sự bảo vệ các quyền cơ bản chứ không phải là một cơ hội để làm giảm đi các quyền này. Về mặt này, chúng tôi kêu gọi Quốc hội xem xét các khuyến nghị của chúng tôi và đảm bảo rằng văn bản của Dự thảo Hiến pháp được phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về quyền tự do phát biểu và tự do thông tin.

    @anh Sáu,
    Anh đã si nghĩ xong chưa hay đợi đến ngày mơi bàn tiếp?
    Em thấy bác NJ " hình như " (chữ của anh) có lý à nha.

    Anh khôn chúa. Không bao giờ khai thông tin cá nhân nhưng lại cứ tìm cách điều tra em. Lờ không trả lời kỹ thuật gì! Mà tên thật của anh là gì thế?

    Gia đình em không đi đâu cả. Nhưng sáng sớm hôm nay em theo lũ con nít trong Gemeinde đi gõ lóc cóc trên các nẽo đường ở đây, gây ồn ào, inh ỏi, đánh thức mọi người. Nhưng chẳng ai dám than phiền cả, tục lệ mờ. Một năm mới có một lần. Sau đó đi gom trứng. Vui quá là vui. Chỉ có mấy người lớn đi theo để trông chừng.

    VN2006A viết:

    Cám ơn bác NJ đã góp ý!!!

    1 vài điểm tôi đồng ý, 1 vài điểm khác lại không. Generell khi viết lại, trình bày lại thì dùng präterium hoặc plusquamperfekt. "sind Opfer" tôi để thành "waren" vì là Opfer của 1 Aktion, mà Aktion đó qua rồi, và cũng vì thế mà "durchführte". Mặc dù hậu quả của nó/Aktion đó kéo đến tận bây giờ.

    Tương tự cái Appell của chính quyền và hưởng ứng lời kêu gọi đó cũng qua từ lâu rồi.

    "Ernte" lẽ ra nên dùng là 1. Ernte hoặc ertragsfähig, và nó là 1 lần duy nhất đã qua, chứ không có thêm những lần tiếp theo.

    "Staatsgewalt" vì nếu tôi không nhầm có cả bộ đội vào nữa ạ!

    Tôi đang bận 1 chút, sẽ nghĩ thêm và trả lời bác sau!

    Đây là một bức thư không phải là một Roman.
    Präterium hoặc Plusquamperfekt thường chỉ dùng trong Roman.
    Bericht, Bewerbung, offener Brief thì dùng Infinitive Perfekt hay Indikativ Perfekt vì mối liên quan đến hiện tại.

    Tôi thấy bác và mailê là người thẳng thắn, nên góp ý.

    Nguyễn Jung

    Tran Thi Ngự viết:
    Kính bác Tâm Như,

    Tôi mới đọc bài "Vietnam: Proposed Constitutional Amendments Go Against International Law" đăng trên trang web của Tổ Chức Điều 19 (Article 19.org) ở đây: http://www.article19.org/resources.php/resource/3680/en/vietnam:-proposed-constitutional-amendments-go-against-international-law. Bài này có tính thời sự cao và đã được dịch và đăng trên trang Cùng Viết Hiến Pháp. Tuy nhiên, tôi đọc bản dịch thấy cách hành văn hơi lủng củng nên sẽ dịch lại để DL xử dụng.

    Tôi cũng đang tính nhờ Nhóm Dịch Thuật DL dịch bài này, ai dè bác Ngự đã nhận trước rồi. Xin cảm ơn bác Ngự!

    NJ viết:

    Thêm vài góp ý khác.

    Nhiều chữ được sử dụng theo thể Präterium, Plusquamperfekt như dưới đây, cần nên đổi qua Präsens, Infinitiv Perfekt hay Indikativ Perfekt, vì vụ án này vẫn còn liên quan đến hiện tại:

    -- Meine Kinder und mein Enkelkind waren Opfer.
    Chữ waren sai, phải dùng thì hiện tại, sind.

    -- die die Beraubung unseres Lands in Cống Rộc, Gemeide Vinh Quang, Berirk Tiên Lãng, Stadt Hải Phòng durchführte. Nên sửa lại là durchgeführt hat.

    -- Dem Appell der Regierung gefolgt, hatten meine Kinder all ihre Energie.
    nên đổi qua: .... gefolgt, haben meine Kinder all...... -
    hatten là Plusquamperfekt, việc đã qua, không còn xẩy ra nữa.
    Cũng vậy, câu này nên chia làm 2 vế: Es hat das Blut meiner Kinder und das Leben meines Enkels aufgenommen và không dùng hatte. Một cháu, con anh Vươn hay anh Quý đã chết trong đầm!

    -- -- Als der gebildete Aquakultur-Bereich kurz vor der Ernte war, kamen....; nên sửa lại, kurz vor der Ernte gewesen ist, sind.........gekommen.

    .............

    vân vân và vân vân.

    Nguyễn Jung

    Cám ơn bác NJ đã góp ý!!!

    1 vài điểm tôi đồng ý, 1 vài điểm khác lại không. Generell khi viết lại, trình bày lại thì dùng präterium hoặc plusquamperfekt. "sind Opfer" tôi để thành "waren" vì là Opfer của 1 Aktion, mà Aktion đó qua rồi, và cũng vì thế mà "durchführte". Mặc dù hậu quả của nó/Aktion đó kéo đến tận bây giờ.

    Tương tự cái Appell của chính quyền và hưởng ứng lời kêu gọi đó cũng qua từ lâu rồi.

    "Ernte" lẽ ra nên dùng là 1. Ernte hoặc ertragsfähig, và nó là 1 lần duy nhất đã qua, chứ không có thêm những lần tiếp theo.

    "Staatsgewalt" vì nếu tôi không nhầm có cả bộ đội vào nữa ạ!

    Tôi đang bận 1 chút, sẽ nghĩ thêm và trả lời bác sau!

    VN2006A viết:

    Thêm vài góp ý khác.

    Nhiều chữ được sử dụng theo thể Präterium, Plusquamperfekt như dưới đây, cần nên đổi qua Präsens, Infinitiv Perfekt hay Indikativ Perfekt, vì vụ án này vẫn còn liên quan đến hiện tại:

    -- Meine Kinder und mein Enkelkind waren Opfer.
    Chữ waren sai, phải dùng thì hiện tại, sind.

    -- die die Beraubung unseres Lands in Cống Rộc, Gemeide Vinh Quang, Berirk Tiên Lãng, Stadt Hải Phòng durchführte. Nên sửa lại là durchgeführt hat.

    -- Dem Appell der Regierung gefolgt, hatten meine Kinder all ihre Energie.
    nên đổi qua: .... gefolgt, haben meine Kinder all...... -
    hatten là Plusquamperfekt, việc đã qua, không còn xẩy ra nữa.
    Cũng vậy, câu này nên chia làm 2 vế: Es hat das Blut meiner Kinder und das Leben meines Enkels aufgenommen và không dùng hatte. Một cháu, con anh Vươn hay anh Quý đã chết trong đầm!

    -- -- Als der gebildete Aquakultur-Bereich kurz vor der Ernte war, kamen....; nên sửa lại, kurz vor der Ernte gewesen ist, sind.........gekommen.

    .............

    vân vân và vân vân.

    Nguyễn Jung

    maile viết:

    Mèn ơi, sao anh perfekt vậy? Anh giỏi tiếng Đức còn hơn cả tiếng Việt! Anh dịch hay hơn cả thông dịch viên tuyên thệ.
    Mơi mốt dzìa hưu, dzìa Freiburg làm thông dịch viên tuyên thệ cho nhà nước nha. Anh làm về kỹ thuật mà về kí gi?

    He he, Mai quá khen anh rồi! Tiếng Đức của anh bình thường, với lại anh sửa của em nên dễ hơn là người viết. Ah, giờ anh mới nhìn qua, có lẽ Hilfebrief nên đổi thành offener Brief mit der Bitte um Hilfe.

    Uhm, Freiburg và Umgebung khá đẹp, lại là vùng nóng nhất Đức, sang Pháp hay Thụy sỹ đều gần. Mai mốt về hưu dọn xuống Freiburg. Không hiểu lúc ấy phải chống gậy chưa, mắt chắc là kém.

    Ra đường gặp "cụ bà" nào cao cỡ chừng 1m70, mắt xanh lá cây, tóc nâu sáng (liệu lúc ấy có còn nâu sáng?) sẽ chào "cụ" và hỏi "cụ" có phải là em Mai Lê, hồi trẻ hay "cãi" nhau với anh trên Dân Luận không?

    :-))

    Ostern em và gia đình có đi đâu chơi không?

    PS.: anh làm trong Automobilzulieferindustrie.

    VN2006A viết:
    maile viết:
    Hilfebrief, Hilferuf.

    An
    alle Vietnamesen,
    alle Aktivistinnen und Aktivisten für Gerechtigkeit, Wahrheit, Frieden,
    alle Katholiken, alle Führungskräfte der katholischen Kirche in Vietnam
    und an alle, die im Dienst der vietnamesischen Regierung stehen und das gute Gewissen haben.

    Ich bin Trần Thị Mạp, 85 Jahre alt.

    Mutter von Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý, Đoàn Văn Sịnh, Phan Thị Báu, Nguyễn Thị Thương und Grossmutter von Đoàn Văn Vệ. Meine Kinder und mein Enkelkind waren Opfer einer rechtswidrigen Aktion der Lokalbehörde, die die Beraubung unseres Lands in Cống Rộc, Gemeide Vinh Quang, Berirk Tiên Lãng, Stadt Hải Phòng durchführte.

    Sehr geehrte Damen und Herren,

    Ich bin eine 85 Jahre alte Mutter. Ich schreibe diesen Brief mit sehr starken seelischen Schmerzen, um den folgenden Sachverhalt zu äußern und um Hilfe für meine Kinder zu bitten:

    Dem Appell der Regierung gefolgt, hatten meine Kinder all ihre Energie, Ressourcen aufgeopfert und teilweise unter Einsatz ihres Lebens, um das Sumpfgebiet in der Küstennähe ins landwirtschaftliche Nutz-Areal zu sanieren. Nach Jahrzehnten harter Anstrengungen entstand jetzt die Shrimps-Farm in dem Wattenmeer. Es hatte das Blut und das Leben meiner Kinder und Enkel aufgenommen.

    Als der gebildete Aquakultur-Bereich kurz vor der Ernte war, kamen plötzlich viele willkürliche, rechtswidrige, unsittliche Aktionen von der Lokalbehörde Tien Lang mit dem Ziel: den Erfolg meiner Kinder zu rauben, das fruchtbare, gute, ertragreiche Land samt der Ernte zu beschlagnahmen.

    Der Höhepunkt war am frühen Morgen des Tages 5/1/2012. Ein großes Aufgebot von Polizisten, Soldaten und Beamten strömte unserem Land zu, belagerte uns, sperrte uns ein, schosse, plünderte unser Vermögen inklusive Immobilien, Wohnungen, selbst die außerhalb der Grenze der Zwangsmaßnahme liegen.

    Diese unerwartete und unverhältnismäßige Aktion der Lokalbeamten gegen meine Kinder, deren Hab und Gut zerstörte und deren Leben gefährdete, zwang meine Kinder und mein Enkel zur Selbstverteidigung um ihr Leben und ihr Eigentum zu schützen.

    All diese Ereignisse wurden von den Medien ausführlich berichtet und waren in der Öffentlichkeit bekannt.

    Der Premierminister selbst sagte kurz danach:

    “ Die Aktion von Lokalbehörde Tien Lang, Hai Phong war rechtswidrig und sittenwidrig! „

    Dennoch erhob die Staatsanwaltschaft der Stadt Hai Phong mit der Anklage Nr. 10/CT-P1A 2013.04.01 gegen meine Kinder wegen versuchten Mordes, und wegen Widerstand gegen die Staatsgewalt ". Die Handlung der ersten Instanz wird von 2. bis 5. April 2013 und von 8. bis 10. April 2013 in Amtsgericht Hai Phong Stadt stattfinden.

    Viele Bürgerinnen und Bürger, meine Familie und ich- wir entrüsten uns über diese Anklage und möchten bekräftigen:

    - Meine Kinder sind gute, ehrliche Bürger. Personen, die nie gegen Gesetze verstoßen hatten.

    - Am 5. Januar 2012 war mein Sohn -Doan Van Vuon- während des Vorfalls gar nicht am Tatort anwesend.

    - Andere Kinder und das Enkelkind waren im Wattenmeer unterwegs. Auch sie wurden von der Polizei-Truppe verhaftet und verprügelt. Andere Bürgerinnen und Bürger, die in der Nähe waren, hatten mit eigenen Augen verfolgt und könnten das bezeugen.

    - Die Zwangsmaßnahme war rechtswidrig. Die Lokalbehörde hatte kein rechtliche Grundlage, unser Land zu beschlagnahmen. Die Lokalbehörde der Stadt Hai Phong beging mit ihrer Aktion praktisch den Hausfriedensbruch. Meine Kinder verteidigten sich lediglich aus Notwehr. Sie widersetzten sich nicht gegen die Staatsgewalt.

    Das eingeleitete Gerichtsverfahren gegen meine Kinder ist völlig in der Diskrepanz zu unseren Verfassung und Gesetzen. Dieser Prozess hat weder ethische Werte noch sittliche Normen.
    Dies ist eine Konspiration, um das Verbrechen, die Rechtverletzung -die die Behörde Tien Lang, Haiphong begangen hatte- zu legalisieren.

    Ich möchte alle fragen, die gutes Gewissen haben, ob es menschenwürdig ist? Ob die vietnamesische Regierung seinen Bürgerinnen und Bürgern solches Unrecht antun und sich damit legitimieren möchte?

    Deshalb möchte ich alle Menschen mit gutem Gewissen und Verantwortung bitten, meinen Kindern zu helfen. Retten Sie bitte meinen Kindern das Leben vor diesen üblen, dunklen Machenschaften.
    Ich wiederhole, dass meine Kinder niemanden umbrachten und sich niemals gegen die Staatsgewalt widersetzten.

    Unterstützen Sie bitte meine Kinder.
    Erretten Sie bitte die unschuldigen Opfer aus der Not.
    Sprechen Sie bitte aus
    Handeln Sie bitte.

    Hải Phòng, den 26/3/2013.



    Vài góp ý.

    - Lokalbehörde, không chính xác. TP Hải Phòng trực thuộc trung ương. Chính xác hơn nên dịch là Behörde Stadt Hải Phòng,vì Đại Tá Ca thân chinh từ HP xuống chỉ huy " trận đánh đẹp có thể viết thành sách ".

    -- " entstand jetzt die Shrimps-Farm ". Chữ entstand là Präterium, một quá khứ đã qua. Anh Vươn đã hoàn thành quá trình xây dựng và đầm này vẫn còn tồn tại. Nên dùng Infinitiv Perfekt, hay Indikativ Perfekt, ist entstanden.

    -- Ein großes Aufgebot. Cụm từ này đúng, nhưng nhẹ nhàng trong ý. Nên dùng chữ gewaltig. Ein gewaltiges Aufgebot nhấn mạnh nghĩa của mục đích cưỡng chiếm. Không cân bằng khi cho một lực lượng hùng hổ đi cưỡng chiếm đất.

    -- die Staatsgewalt hay Staatsmacht không đúng lắm. Nên dùng chữ exekutive Gewalt.

    -- Cáo trạng của viện kiểm sát Nhân dân HP, buộc cho Đoàn Văn Vươn tội " giết người " Mord chứ không phải là " thử tìm cách giết người " wegen versuchten Mordes ".
    Đối với luật pháp, hai tội này có hai chứng cớ khác nhau. Giết người là đã có người chết. Tìm cách giết người thì không có ai chết, nhiều nhất là bị thương. Nhà nước Việt Nam cố tình đánh lận con đen. Cụ Mạp viết rõ là cáo trạng buộc tội giết người. Khi chuyển ngữ cần phải để nguyên cách viết, suy nghĩ của người viết. Tội giết người bị kết án rất nặng có thể là chung thân. Nhưng versuchter Mord chỉ bị nhiều nhất 20 năm tù (theo luật pháp Đức).

    Nguyễn Jung

    Pages