Nhóm Dịch Thuật Dân Luận

  • Bởi Admin
    15/01/2013
    391 phản hồi



    Nhóm Dịch Thuật Dân Luận được thành lập với mục đích khuyến khích việc dịch các bài vở / tin tức từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại. Thế giới ngày nay đang trở nên "bằng phẳng" hơn, những gì xảy ra cách Việt Nam cả nửa quả địa cầu cũng có thể gây ra những tác động khó tưởng tượng nổi tới cuộc sống của chúng ta. Bằng cách nắm bắt những gì đang diễn ra trên thế giới, cũng như cung cấp cho thế giới thông tin cần thiết về những gì đang xảy ra ở Việt Nam, chúng ta sẽ gặt hái được lợi ích to lớn của một thế giới phẳng.

    Bên cạnh công việc dịch thuật, Nhóm Dịch Thuật sẽ trợ giúp độc giả Dân Luận trong việc học tiếng Anh, qua trả lời các thắc mắc và nâng cao vốn từ vựng. Chúng tôi mong rằng sẽ ngày càng nhiều người Việt Nam có thể sử dụng được ngôn ngữ thông dụng này của thế giới, áp dụng nó để thành công trong cuộc sống cá nhân cũng như để xây dựng một đất nước Việt Nam tươi đẹp hơn.

    Nhóm sẽ do bác Tâm Như làm trưởng nhóm cùng các thành viên tình nguyện trong danh sách dưới đây. Độc giả Dân Luận có nhã hứng tham gia nhóm dịch thuật này, xin đăng ký với Admin hoặc bác Tâm Như qua email [email protected]. Không có giới hạn nào về thành viên tham gia, ngoại trừ bạn phải thật sự muốn tham gia với tinh thần học hỏi, chia sẻ, và làm việc nghiêm túc.

    Một số điều cần chú ý:

    - Trước khi dịch bài, xin thông báo cho cả nhóm ở thread dưới đây để tránh dịch trùng đề tài.

    - Thành viên tham gia Nhóm Dịch Thuật nên đăng ký làm thành viên Dân Luận, như vậy sẽ không phải đợi phản hồi được duyệt.

    - Với các dự án dịch thuật cần sự phối hợp của nhiều thành viên làm việc nhóm, trưởng nhóm sẽ là người quyết định điều phối công việc.

    Các thành viên của nhóm dịch thuật:

    - Tâm Như (trưởng nhóm)
    - Diên Vỹ
    - Innova
    - Hồ Gươm
    - Tqvn2004 (nick Admin)
    - TM1111
    - N.Q. Khải
    - Thien Thanh
    - Thomas (chz4me)
    - Khải Huyền
    - Phong Trần

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    391 phản hồi

    Trích dẫn:
    1 / Năm 1988, trong Chiến Lược Toàn Cầu về Nhà Ở Cho Đến Năm 2000, được thông qua bởi Đại Hội Đồng trong Resolution 43/181,

    Bác Tran Thi Ngự quên chưa dịch chữ Resolution (theo google là nghị quyết ??)

    Trích dẫn:
    5 / Tuy nhiên, mặc dù quan trọng, các tuyên bố trên đã mở ra một trong những vấn đề quan trọng nhất, cụ thể là xác định những tình huống cho phép cưỡng chế di dời và giải thích rõ các sự bảo vệ cần thiết để đảm bảo sự tôn trọng các quy định có liên quan của Công Ước.

    Tôi chỉ đọc lướt nhanh, không rõ những tình huống nào cho phép cưỡng chế di dời ? Và nhà nước VN có áp dụng đúng hay không ? Nếu không thì cơ quan nào (trong và ngoài nước) có thẩm quyền can thiệp/giúp đỡ người dân bị cưỡng chế di dời ?

    Admin viết:
    Chào các bác trong nhóm dịch thuật,

    Tôi có một văn bản của Liên Hiệp Quốc về việc cưỡng chế di dời (forced eviction). Đây là một hiện tượng đang ngày càng trở nên phổ biến ở Việt Nam và người dân đang cần có những khung pháp lý để bảo vệ quyền lợi của mình. Do đó dịch các văn bản luật / công ước quốc tế về cưỡng chế di dời là rất cần thiết:

    http://www.unhchr.ch/tbs/doc.nsf/%28Symbol%29/959f71e476284596802564c3005d8d50?Opendocument

    và (hơi dài):

    http://www.ohchr.org/Documents/Issues/Housing/Guidelines_en.pdf

    Nhờ các bác ra tay dịch giúp tài liệu này để Dân Luận phổ biến tới bà con. Các bài viết liên quan cũng sẽ được hoan nghênh.

    Cảm ơn các bác trước!

    Mến,
    Huân

    Bác Admin,

    Dưới đây là bài dịch tài liệu ngắn (http://www.unhchr.ch/tbs/doc.nsf/%28Symbol%29/959f71e476284596802564c3005d8d50?Opendocument). Tôi dùng từ cưỡng chế di dời (như của bác) để dịch từ forced eviction. Có đôi chổ tôi dùng "cưỡng bức trục xuất." Bác xem lại bài dịch và chỉnh xửa nếu thấy cần.

    Quyền có nhà ở đấy đủ (Art.11.1): Cưỡng chế di dời: 1997/05/20.
    Nhận xét tổng quát số 7 của Công Ước về Quyền Kinh Tế, Xã Hội và Văn Hoá (Covenant on Economic, Social and Cultural Rights). (Nhận xét tổng quát)

    NHẬN XÉT CHUNG Số 7

    Quyền có nhà đầy đủ (Điều 11.1 của Công ước):
    Cuỡng chế di dời

    ( Phiên họp thứ 17, 1997)*

    1. Trong phần nhận xét chung số 4 (1991), Ủy Ban của Công Ước nhận thấy rằng mọi người phải có một mức độ an toàn về quyền hưởng dụng đuợc bảo vệ bởi pháp luật để chống lại cưỡng chế di dời, các sự quấy rối và các đe dọa khác. Ủy ban kết luận rằng cưỡng chế di dời trước hết không phù hợp với các yêu cầu của Công Ước. Sau khi xem xét một số lượng khá lớn các báo cáo về cưỡng chế di dời trong những năm gần đây, gồm cả các trường hợp mà Ủy Ban xác định rằng các nghĩa vụ mà quốc gia thành viên cam kết đã bị vi phạm, Ủy Ban hiện đang tìm cách làm sang tỏ hơn về ý nghĩa của các việc thực hành đó đối với các nghĩa vụ nêu trong Công Ước.

    2. Cộng đồng quốc tế đã công nhận từ lâu rằng vấn đề cưỡng chế di dời là một vấn đề nghiêm trọng. Năm 1976, Hội nghị Liên hợp quốc về định cư của con người lưu ý rằng cần phải đặc biệt chú ý đến việc "chỉ nên thực hiện các hoạt động giải phóng mặt bằng rộng lớn khi việc bảo tồn và phục hồi không khả thi và các biện pháp tái định cư phải được thực hiện."
    1 / Năm 1988, trong Chiến Lược Toàn Cầu về Nhà Ở Cho Đến Năm 2000, được thông qua bởi Đại Hội Đồng trong Resolution 43/181, đã công nhận “nghĩa vụ cơ bản [của chính phủ] là để bảo vệ và cải thiện, chứ không phải làm hư hại hoặc tiêu hủy, nhà ở và các khu dân cư."
    2 / Chương trình nghị sự số 21 nói rằng "mọi người phải được pháp luật bảo vệ để chống lại cưỡng bức di dời một cách bất công khỏi nhà hoặc đất của họ."
    3 / Trong Nghị Trình về Nhà Ở, các quốc gia đã cam kết "bảo vệ tất cả dân chúng không bị cưỡng chế di dời trái với luật pháp, và bảo đảm công lý và việc khôi phục vơi sự quan tâm đến nhân quyền; [ và ] khi trục xuất không thể tránh khỏi, đảm bảo đưa ra các giải pháp thay thế phù hợp."
    4/ Ủy ban Nhân Quyền cũng đã chỉ ra rằng " cuỡng chế di dời là một vi phạm trắng trợn các quyền con người."
    5 / Tuy nhiên, mặc dù quan trọng, các tuyên bố trên đã mở ra một trong những vấn đề quan trọng nhất, cụ thể là xác định những tình huống cho phép cưỡng chế di dời và giải thích rõ các sự bảo vệ cần thiết để đảm bảo sự tôn trọng các quy định có liên quan của Công Ước.

    3. Trong một số khía cạnh, việc sử dụng thuật ngữ "cuỡng chế di dời" có vấn đề. Thuật ngữ này có ý nói đến sự tùy tiện và bất hợp pháp. Tuy nhiên đối với nhiều nhà quan sát, nói đến "cữơng chế di dời” chỉ là thừa, trong khi những người khác đã chỉ trích khái niệm "trục xuất bất hợp pháp" trên căn bản giả định rằng luật pháp đã bảo vệ đầy đủ quyền nhà ở và phù hợp với Công Ước, mà thực tế thì không phải luôn luôn là như vậy. Tương tự như vậy, có ý kiến cho rằng thuật ngữ "trục xuất không công bằng" thậm chí còn có tính chủ quan hơn vì nó đã không đề câp đến bất kỳ khuôn khổ pháp lý nào cả. Cộng đồng quốc tế, đặc biệt là trong bối cảnh của Ủy ban Nhân Quyền, đã chọn từ " cưỡng chế di dời," chủ yếu là vì tất cả các lựa chọn thay thế được đề nghị cũng có những khiếm khuyết như vậy. Thuật ngữ "cưỡng chế di dời" được sử dụng trong Nhận Xét Chung này được định nghĩa là bị di dời vĩnh viễn hoặc tạm thời khỏi nhà hay đất đai đang ở trái với ý muốn của cá nhân, gia đình hay cộng đồng, mà không có sự bảo vệ của luật pháp, hay được tiếp cận với pháp luật hoặc các hình thức sự bảo vệ khác. Tuy nhiên, việc cấm cưỡng chế di dời không áp dụng cho trục xuất được thực hiện bởi lực lượng phù hợp với pháp luật và phù hợp với các quy định của Công Ước Quốc Tế Về Nhân Quyền.

    4. Cưỡng chế di dời rất phổ biến và ảnh hưởng đến người ở cả các nước phát triển và đang phát triển. Do mối lien quan và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quyền con người, cưỡng chế di dời thường xuyên vi phạm các nhân quyền khác. Như vậy, trong khi cuỡng chế di dời rõ ràng vi phạm các quyền được quy định trong Công Ước, việc này cũng có thể đưa đến việc vi phạm các quyền dân sự và chính trị, chẳng hạn như quyền được sống, quyền được an toàn của con người, quyền không bị can thiệp vào đời tư, gia đình và nhà ở, và quyền được thụ hưởng tài sản một cách hoà bình.

    5. Mặc dù việc thực hành cưỡng chế di dời có vẻ xảy ra chủ yếu ở những khu vực đô thị đông dân cư, nó cũng xảy ra cùng với việc cưỡng bức di chuyển dân số, rời chỗ ở trong nước, cưỡng bách di dân trong bối cảnh xung đột vũ trang, di cư tập thể và phong trào tị nạn. Trong tất cả các bối cảnh đó, quyền có nhà ở thích hợp và không thể bị cưỡng bức trục xuất có thể bị vi phạm thông qua một loạt các hành vi hoặc thiếu sót của các quốc gia thành viên. Ngay cả trong trường hợp cần đặt ra các hạn chế về các quyền trên, việc tuân thủ hoàn bộ Điều 4 của Công Ước là cần thiết vì bất cứ hạn chế nào đặt tra phải được "qui định bởi pháp luật khi luật này phù hợp với bản chất của những [quyền về kinh tế , xã hội và văn hóa ] và chỉ nhằm mục đích thúc đẩy phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ."

    6. Nhiều trường hợp cưởng chế di dời có liên hệ đến bạo lực, như di dời do các cuộc xung đột vũ trang quốc tế, xung đột nội bộ và bạo lực công xã hoặc sắc tộc.

    7. Có trường hợp cưỡng chế di dời xảy ra với danh nghĩa phát triển. Di dời có thể được thực hiện do lien quan đến xung đột về quyền sử dụng đất, sự phát triển và các dự án cơ sở hạ tầng, chẳng hạn như việc xây dựng các đập thủy điện, hay các dự án năng lượng với quy mô lớn, các biện pháp thu hồi đất liên quan đến cải tiến đô thị, cải tạo nhà ở, các chương trình làm đẹp thành phố, dọn dẹp đất cho các mục đích nông nghiệp, đầu cơ đất đai không kiềm chế, hoặc tổ chức các sự kiện thể thao lớn như Thế vận hội Olympic .

    8. Về bản chất, nghĩa vụ của quốc gia thành viên Công ước liên quan đến cuỡng chế di dời dựa trên Điều 11.1, đồng thời với các quy định khác có liên quan. Đặc biệt, Điều 2.1 buộc các quốc gia phải sử dụng " tất cả các biện pháp thích hợp" để thúc đẩy quyền có nhà ở thích hợp. Tuy nhiên, với bản chất của việc thực hành cưỡng chế di dời, việc tham khảo Điều 2.1 để đạt được tiến bộ căn cứ vào sự sẵn có của các nguồn lực sẽ hiếm khi có liên quan. Các quốc gia phải hạn chế việc cưỡng bức di dời và đảm bảo rằng pháp luật sẽ được áp dụng đối với các nhân viên chinh phủ hay các thành phần thứ ba thực hiện việc cưỡng bức di dời (như quy định tại khoản 3 ở trên). Hơn nữa , phương pháp này được củng cố bởi Điều 17.1 của Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị vốn bổ sung cho các quyền không bị cưỡng bức đuổi ra khỏi nhà mà không sự bảo vệ thích đáng. Điều khoản đó công nhận, ngoài những điều khác, quyền được bảo vệ chống lại "sự can thiệp tùy tiện hay trái pháp luật" vào nhà ở. Cần ưu ý rằng nhà nước không được cân nhắc đến các nguồn lực sẵn có trong nghĩa vụ đảm bảo sự tôn trọng quyền nhà ở.

    9. Điều 2.1 của Công ước yêu cầu các nước thành viên sử dụng " tất cả các biện pháp thích hợp. " bao gồm cả việc áp dụng các biện pháp lập pháp, để thúc đẩy tất cả các quyền được bảo hộ theo Công ước. Mặc dù Ủy ban đã chỉ ra trong Bình luận chung của số 3 (1990) rằng các biện pháp như vậy không thể thiếu trong mối quan hệ với tất cả các quyền, rõ ràng là pháp luật về chống cưỡng chế di dời phải là cơ sở thiết yếu để xây dựng một hệ thống bảo vệ có hiệu quả. Pháp luật này phải bao gồm các biện pháp ( a) bảo đảm an toàn tốt nhất về thời han của người chiếm dữ nhà và đất, (b ) phù hợp với Công ước và (c) được thiết kế để kiểm soát chặt chẽ các trường hợp theo đó trục xuất có thể được thực hiện. Pháp luật cũng phải áp dụng cho tất cả viên chức hoạt động dưới thẩm quyền của Nhà nước hoặc người có trách nhiệm. Hơn nữa, với xu hướng ở một số quốc gia nhằm giảm thiểu trách nhiệm của chính quyền trong lĩnh vực nhà ở, các quốc gia thành viên phải đảm bảo có luật pháp và các biện pháp phù hợp khác để ngăn chặn, và nếu cần, để trừng phạt việc cưỡng chế di dời mà không có biện pháp bảo vệ thích đáng bởi các cá nhân hoặc cơ quan tư nhân. Do đó, các quốc gia thành viên nên xem xét lại pháp luật và các chính sách có liên quan để đảm bảo rằng chúng phù hợp với các nghĩa vụ phát sinh từ quyền có nhà ở và bãi bỏ hoặc sửa đổi bất kỳ pháp luật hay chính sách nào không phù hợp với các yêu cầu của Công ước.

    10. Phụ nữ, trẻ em, thanh niên, người cao tuổi, người bản địa, người dân tộc và các dân tộc thiểu số, và cá và các nhân hay nhóm dễ gặp nguy cơ tất cả đều phải chiu cuỡng chế di dời nhiều hơn một cách không cân xứng. Đặc biệt trong tất cả các nhóm, phụ nữ dễ bị nguy cơ trước các định chế và các sự kỳ thị áp dụng đối với quyền sở hữu tài sản (kể cả quyền sở hữu nhà), hoặc quyền truy cập tài sản hoặc chỗ ở, và họ đặc biệt có nguy cơ trước hành vi bạo hành hay lâm dụng tình dục nếu họ trở nên vô gia cư. Quy định không phân biệt đối xử của điều 2.2 và 3 của Công ước áp đặt một nghĩa vụ bổ sung cho các Chính phủ để đảm bảo rằng ở nơi trục xuất xảy ra, biện pháp thích hợp phải được thực hiện để đảm bảo không có hình thức phân biệt đối xử xảy ra.

    11. Trong khi một số trục xuất có thể hợp lý, chẳng hạn như trong trường hợp kéo dài tình trạng không thanh toán tiền thuê nhà hoặc các thiệt hại gây ra cho tài sản thuê mà không có lý do chính đáng, các cơ quan liên hệ có phận sự đảm bảo rằng họ thực hiện đúng pháp luật phù hợp với Công ước và những người bị ảnh hưởng có đầy đủ các phương tiện pháp lý và các biện pháp khắc phục.

    12. Cưỡng chế di dời và phá hủy nhà ở như một biện pháp trừng phạt cũng không phù hợp với các tiêu chuẩn của Công ước. Tương tự như vậy, Ủy ban lưu ý đến các nghĩa vụ được quy định trong Công ước Geneva năm 1949 và Nghị định thư sung năm 1977 liên quan đến quy định cấm di dời thường dân và phá hủy tài sản cá nhân bởi vì những điều đó lien hệ đến việc thực hành cưỡng chế di dời.

    13. Các quốc gia thành viên phải đảm bảo, trước khi thực hiện bất kỳ cưỡng chế di dời nào, và đặc biệt là cưỡng chế di dời một số đông, rằng tất cả các lựa chọn thay thế khả thi đã được tìm hiểu trong khi tham vấn với những người bị ảnh hưởng, nhằm tránh, hoặc ít nhất để giảm thiểu, sự cần thiết phải sử dụng vũ lực. Biện pháp khắc phục hoặc thủ tục pháp lý cần được cung cấp cho những người bị ảnh hưởng bởi lệnh di dời. Các quốc gia thành viên cũng phải quan sat để biết rằng các cá nhân được quan tâm có quyền được bồi thường đầy đủ cho bất kỳ tài sản cá nhân hay hang hoá bị ảnh hưởng. Cũng cần thiết để nhắc lại điều 2.3 của Công ước Quốc tế về Các Quyền Dân Sự và Chính Trị yêu cầu các quốc gia thành viên đảm bảo "biện pháp khắc phục có hiệu quả" cho những người mà quyền của họ đã bị vi phạm và các nghĩa vụ của "cơ quan có thẩm quyền để thực thi các biện pháp khắc phục khi được ban hành.”

    14. Trong trường hợp trục xuất được coi là hợp lý, việc trục xuất cần được thực hiện theo đúng các quy định có liên quan tới luật quốc tế nhân quyền và phù hợp với nguyên tắc chung về sự hợp lý và tương xứng. Về vấn đề này, cần phải nhắc lại Bình Luận Chung số 16 của Ủy Ban Nhân Quyền, liên quan đến Điều 17 của Công Uớc Quốc Tế về Các Quyền Dân Sự và Chính Trị quy định rằng sự can thiệp vào nhà ở của một người chỉ có thể diễn ra" trong trường hợp có dự kiến của pháp luật." Ủy Ban nhận thấy rằng pháp luật "phải phù hợp với các quy định, mục đích và mục tiêu của Công Ước và phải được hợp lý trong các trường hợp đặc biệt." Ủy Ban cũng cho thấy "pháp luật có liên quan phải xác định một cách chi tiết các trường hợp chính xác được phép can thiệp.”

    15. Cách bảo vệ thích hợp và theo đúng thủ tục là những khía cạnh thiết yếu của tất cả các quyền con người nhưng nó đặc biệt liên quan đến vấn đề như cưỡng chế di dời vốn liên hệ đến nhiều quyền được nhìn nhận trong cả Công Ước Quốc Tế Về Nhân Quyền. Ủy Ban cho rằng các cách bảo vệ cần được áp dụng trong cưỡng chế di dời bao gồm: (a) một cơ hội để tham khảo ý kiến một cách thành thật với những người bị ảnh hưởng, (b) thông báo đầy đủ và hợp lý đến tất cả những người bị ảnh hưởng trước ngày dự kiến di dời; ( c) thông tin về đề xuất di dời và, nếu có thể, về mục đích khác của việc xử dụng đất đuợc thông báo trong thời gian hợp lý cho những người bị ảnh hưởng; ( d) đặc biệt là khi một số đông người bị di dời nhân viên chính phủ hay các đại diện phải có mặt trong lúc di dời; (e) tất cả những người thực hiện việc di dời phải được xác minh; ( f) di dời không được diễn ra trong lúc thời tiết đặc biệt xấu hoặc vào ban đêm, trừ khi người bị ảnh hưởng đống ý; ( g) cung cấp các biện pháp khắc phục về pháp lý, và ( h) cung cấp, nếu có thể, trợ giúp pháp lý cho những người cần dùng để tìm cách khắc phục từ tòa án.

    16. Trục xuất không nên dẫn đến tình trạng cá nhân trở thành vô gia cư, hay gặp nguy cơ trước các sự vi phạm nhân quyền. Ở những nơi người bị ảnh hưởng không thể tự sinh sống, các quốc gia thành viên phải thực hiện tất cả các biện pháp thích hợp, xử dụng đến mức tối đa các nguồn lực sẵn có nếu có thể được, để đảm bảo việc thay thế nhà ở đầy đủ, tái định cư hoặc truy cập vào đất sản xuất.

    17. Ủy Ban biết được rằng nhiều dự án phát triển trong vùng lãnh thổ của các quốc gia thành viên được tài trợ bởi các tổ chức quốc tế đã dẫn đến việc cưỡng chế di dời. Về vấn đề này, Ủy Ban nhắc lại Bình luận chung số 2 (1990), trong đó nêu ra, ngoài những điều khác, rằng "các cơ quan quốc tế cần nghiêm ngặt tránh tham gia vào các dự án, ví dụ như ...nhằm thúc đẩy hoặc củng cố phân biệt đối xử đối với cá nhân hoặc các nhóm trái với quy định của Công Ước, hoặc liên quan đến di dới với quy mô lớn mà không đưa ra các bảo vệ và bồi thường thích hợp. Mọi nỗ lực phải được thực hiện ở từng giai đoạn của một dự án phát triển để đảm bảo rằng các quyền ghi trong Công Ước phải được quan tâm. 6 /

    18. Một số tổ chức , chẳng hạn như Ngân hàng Thế giới và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã áp dụng các qui định về di dời hoặc tái định cư nhằm hạn chế quy mô và sự đau khổ của con người liên quan đến cưỡng bức trục xuất. Việc áp dụng các qui định thường xảy ra với các dự án phát triển quy mô lớn, như xây dựng đập nước và các dự án năng lượng lớn khác. Tôn trọng đầy đủ các qui định như vậy, trong chừng mực chúng phản ánh các nghĩa vụ nêu trong Công ước, là điều cần thiết cho cả các cơ quan và các quốc gia thành viên của Công Ước. Trong lĩnh vực này Ủy ban nhắc lại Tuyên Bố Vienna và Chương Trình Hành Động có nêu lên rằng "trong khi phát triển thức dẩy việc hưởng thụ các quyền con người, sự thiếu phát triển không thể được viện dẫn để biện minh cho việc xâm phạm các quyền con người được quốc tế công nhận"(Phần I, đoạn. 10).

    19. Để phù hợp với các qui định về báo cáo với Ủy Ban, các quốc gia thành viên được yêu cầu cung cấp các loại thông tin liên quan trực tiếp đến việc thực hành cưỡng bức trục xuất, bao gồm thông tin liên quan đến (a) " số người bị trục xuất khỏi nhà trong vòng năm năm qua và số người hiện đang thiếu bảo vệ pháp lý chống lại trục xuất tùy tiện hoặc các loại trục xuất khác," (b) " pháp luật liên quan đến quyền lợi của người đi thuê về sự an toàn của thời hạn thuê để khỏi bị trục xuất " và (c)" pháp luật cấm bất kỳ hình thức trục xuất nào." 7 /

    20. Thông tin cũng cấn được biết như "các biện pháp thực hiện, ngoài những điều khác, trong các chương trình đổi mới đô thị, các dự án tái phát triển, nâng cấp các vị trí, chuẩn bị cho các sự kiện quốc tế (Thế vận hội và thi đấu thể thao khác, triển lãm, hội nghị, vv) chiến dịch làm đẹp thành phố, v.v., trong đó đảm bảo chống trục xuất hoặc bảo đảm cho trở lại nhà ở dựa trên sự đồng thuận bởi bất kỳ người nào sống ở trong hay gần các khu vực bị ảnh hưởng." 8 / Tuy nhiên, rất ít quốc gia thành viên đưa các thông tin cần thiết vào trong báo cáo của họ gởi cho Ủy ban. Do đó, Ủy ban muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiếp nhận những thông tin đó.

    21. Một vài quốc gia thành viên đã cho biết các thong tin loại đó không có sẵn. Ủy Ban nhắc lại rằng việc giám sát có hiệu quả quyền có nhà ở thích hợp, hoặc là do Chính phủ đuợc quan tâm hoặc do Ủy Ban, sẽ không thể thực hiện đuợc nếu không có việc thâu thập dữ liệu thích hợp và sẽ yêu cầu tất cả các nước thành viên đảm bảo các dữ liệu cần thiết được thu thập và được phản ánh trong các báo cáo do họ đệ trình đình theo Công Ước.

    Admin viết:
    Chào các bác trong nhóm dịch thuật,

    Tôi có một văn bản của Liên Hiệp Quốc về việc cưỡng chế di dời (forced eviction). Đây là một hiện tượng đang ngày càng trở nên phổ biến ở Việt Nam và người dân đang cần có những khung pháp lý để bảo vệ quyền lợi của mình. Do đó dịch các văn bản luật / công ước quốc tế về cưỡng chế di dời là rất cần thiết:

    http://www.unhchr.ch/tbs/doc.nsf/%28Symbol%29/959f71e476284596802564c3005d8d50?Opendocument

    và (hơi dài):

    http://www.ohchr.org/Documents/Issues/Housing/Guidelines_en.pdf

    Nhờ các bác ra tay dịch giúp tài liệu này để Dân Luận phổ biến tới bà con. Các bài viết liên quan cũng sẽ được hoan nghênh.

    Cảm ơn các bác trước!

    Mến,
    Huân

    Bác Admin,

    Tôi xin nhận dịch tài liệu thứ nhất (http://www.unhchr.ch/tbs/doc.nsf/%28Symbol%29/959f71e476284596802564c3005d8d50?Opendocument). Sau đó có thời gian thì sẽ tính tiếp.

    Chào các bác trong nhóm dịch thuật,

    Tôi có một văn bản của Liên Hiệp Quốc về việc cưỡng chế di dời (forced eviction). Đây là một hiện tượng đang ngày càng trở nên phổ biến ở Việt Nam và người dân đang cần có những khung pháp lý để bảo vệ quyền lợi của mình. Do đó dịch các văn bản luật / công ước quốc tế về cưỡng chế di dời là rất cần thiết:

    http://www.unhchr.ch/tbs/doc.nsf/%28Symbol%29/959f71e476284596802564c3005d8d50?Opendocument

    và (hơi dài):

    http://www.ohchr.org/Documents/Issues/Housing/Guidelines_en.pdf

    Nhờ các bác ra tay dịch giúp tài liệu này để Dân Luận phổ biến tới bà con. Các bài viết liên quan cũng sẽ được hoan nghênh.

    Cảm ơn các bác trước!

    Mến,
    Huân

    Admin viết:
    Nhờ các bác trong nhóm chuyển ngữ giúp bài báo sau:

    http://www.theatlantic.com/international/archive/2013/04/vietnam-flawed-on-human-rights-but-a-leader-in-gay-rights/275413/

    Chính quyền Việt Nam chấp nhận quyền của người đồng tính vì nó không trực tiếp đe dọa quyền lực của họ. Trên lĩnh vực này xã hội dân sự đã phát triển khá mạnh và có những tác động đáng kể tới hệ thống chính trị, bao gồm cả vận động hành lang chính giới và các phương thức vận động sự công nhận ngoài xã hội. Qua họ phong trào dân chủ cũng có thể học được điều gì đó trong tình hình Việt Nam hiện nay.

    Ông Clay Shirky có bàn chi tiết về vấn đề này. Trong xã hội khép kín và toàn trị như những nước thuộc khối Warsaw cũ, người dân sử dụng những hành động vô hại đối với chính quyền -- chính quyền không cảm thấy quyền lực bị thách thức, để vận động dân chúng. (0)

    Ở Trung Quốc thì có các nhóm về bảo vệ môi trường. (1)

    Nói rộng ra, nó đòi hỏi xã hội và văn hoá cởi mở và có óc hướng ngoại nhiều hơn. Đại khái là vui chơi flash-mob, faceboook, free-hug, đi xe đạp, đi phượt...dễ dãi.

    Liệu thế hệ lớn lên sau đổi mới, lớn lên sau khi được bỏ cấm vận...sẽ ảnh hưởng đến kinh tế chính trị xã hội ra sao?

    (0): Here Comes Everybody: The Power of Organizing Without Organizations -- Clay Shirky

    (1): The River Runs Black: The Environmental Challenge to China's Future, Second Edition -- Elizabeth C. Economy

    Kính bác Tâm Như,

    Tôi vừa dịch bản tuyên bố chung của TT Obama và CT Trưong Tấn Sang (http://www.whitehouse.gov/the-press-office/2013/07/25/joint-statement-president-barack-obama-united-states-america-and-preside).

    Nếu thuận tiện thì bác cho đăng để bạn đọc tham khảo.

    Cảm ơn bác.



    Tuyên Bố Chung Của TT Barack Obama và CT Trương Tấn Sang

    Tổng thống Barack Obama chào đón Chủ tịch nước Trương Tấn Sang của nước CHXHCN Việt Nam tại Nhà Trắng vào ngày 25 tháng bảy năm 2013. Trong cuộc gặp gỡ, hai vị lãnh đạo khẳng định cam kết để mở ra một giai đoạn mới trong quan hệ song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và lợi ích chung. Chuyến thăm Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đến vào một thời điểm quan trọng đối với cả hai quốc gia, phản ánh một mong muốn chung để xây dựng một mối quan hệ hướng tới tương lai giữa hai nước.

    Tổng thống Obama và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã quyết định thiết lập Quan Hệ Đối Tác Toàn Diện Mỹ-Việt Nam để tạo ra một khuôn khổ toàn diên cho việc thúc đẩy các mối quan hệ. Hai người nhấn mạnh các nguyên tắc của quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam-Hoa Kỳ, bao gồm việc tôn trọng Hiến chương LHQ, luật pháp quốc tế, và các hệ thống chính trị, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của mỗi bên. Hai người tuyên bố rằng Quan Hệ Đối Tác Toàn Diện được nhắm vào việc đóng góp cho hòa bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng của mỗi nước, trong khu vực và trên thế giới. Quan hệ Đối tác Toàn Diện sẽ tạo ra cơ chế hợp tác trong khu vực bao gồm cả quan hệ chính trị và ngoại giao, thương mại và quan hệ kinh tế, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, môi trường và sức khỏe, các vấn đề di sản chiến tranh, quốc phòng, an ninh, bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền, và văn hóa, thể thao và du lịch.

    Hợp tác chính trị và ngoại giao

    Là một phần của Quan Hệ Đối Tác Toàn Diện Việt Nam-Hoa Kỳ, hai bên nhất trí tăng cường trao đổi ở cấp cao cũng như liên lạc ở tất cả các cấp, và tăng cường cơ chế đối thoại và hợp tác. Tổng thống Obama khẳng định sự ủng hộ của Hoa Kỳ cho sự độc lập, chủ quyền, thịnh vượng và hội nhập của Vietnam vào cộng đồng quốc tế. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hoan nghênh sự tăng cường hợp tác của Hoa Kỳ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương để góp phần vào hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực.

    Hai vị Tổng Thống và Chủ Tịch hoan nghênh việc thành lập các cuộc đối thoại thường xuyên giữa hai bộ trưởng ngoại giao, và khuyến khích đối thoại và trao đổi giữa các đơn vị lien quan đến các đảng phái chính trị ở cả hai nước.

    Tổng thống Obama và Chủ tịch Trương Tấn Sang nhất trí tăng cường hợp tác tại các diễn đàn khu vực và quốc tế trong đó có hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (EAS ), và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM +) để hỗ trợ hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Lãnh đạo hai nước khẳng định sự ủng hộ đối với việc giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm nhưng điều được phản ánh trong Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển. Hai vị lãnh đạo cũng khẳng định sự ủng hộ đối với nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ và hàng hải. Hai vị lãnh đạo nhấn mạnh giá trị của việc chấp hành đầy đủ Tuyên Bố Về Cách Ứng Xử Của Các Bên Ở Biển Đông (DOC) và tầm quan trọng của việc phát động các cuộc đàm phán để có được một Luật Về Cách Ứng Xử (COC) có hiệu lực thi.

    Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đánh giá cao Sáng kiến Hạ Lưu Mekong (LMI). Hai nhà lãnh đạo nhất trí rằng hai bên sẽ làm việc cùng với các nước thành viên khác và những người bạn của Hạ Lưu Sông Mekong để tăng cường hơn nữa hợp tác trong khu vực để thúc đẩy sự thịnh vượng và phát triển bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển, tăng cường kết nối, và đáp ứng với những thách thức xuyên quốc gia trong khu vực .

    Hai nhà lãnh đạo đã chỉ đạo các cơ quan có liên quan để kết thúc càng sớm càng tốt một thỏa thuận song phương về việc xây dựng các đại sứ quán và nhiệm vụ mới. Các nhà lãnh đạo khẳng định rằng sự hiện diện ngoại giao của Việt Nam và Hoa Kỳ ở thủ đô của hai nước phải phản ánh sự phát triển của quan hệ song phương của họ.

    Quan hệ thương mại và kinh tế

    Nhắc lại các cuộc thảo luận tại Campuchia trong tháng 11 năm 2012, Tổng thống Obama và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định cam kết của họ để kết thúc một thỏa thuận toàn diện và có tiêu chuẩn cao về Quan Hệ Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) càng sớm càng tốt trong năm nay. Một hiệp định TPP của thế kỷ 21 sẽ thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực, gia tăng phát triển các mục tiêu, và đưa đến việc tạo ra công ăn việc làm tại Hoa Kỳ, Việt Nam, và tất cả các nước TPP, trong khi vẩn tôn trọng sự đa dạng về mức phát triển trong trong bối cảnh của một chương trình toàn diện và cân bằng.

    Hai vị lãnh đạo hoan nghênh những nỗ lực liên tục thúc đấy hơn nửa quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư song phương, và Tổng thống Obama ghi nhận những nỗ lực cải cách của Việt Nam vốn có nền kinh tế đang phát triển. Họ nhấn mạnh giá trị quan trọng của những nỗ lực để thúc đẩy quan hệ song phương, và tầm quan trọng của hợp tác kinh tế như là nền tảng và động lực cho quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam-mới. Hai vị chủ tịch nhất trí tăng cường hợp tác dưói tổ chức U.S.-Vietnam Trade and Investment Framework Agreement (TIFA) Council cũng như theo sáng kiến của ASEAN Enhanced Economic Engagement và APEC để nâng cao sự tham gia kinh tế và thương mại phù hợp với Comprehensive Partnership, và mục tiêu chung trong diển đàn World Trade Organization (WTO), APEC, and ASEAN. Tổng thống Obama hoan nghênh tiến bộ của Việt Nam trong cải cách kinh tế. Tổng thống Obama ghi nhận mối quan tâm của Việt Nam trong việc theo đuổi danh hiệu của một quốc gia có nền kinh tế thị trưnờg, và cam kết làm tăng cường sự tham gia một cách xây dựng của Hoa Kỳ vào cải cách kinh tế ở VN. Hai vị chủ tịch thừa nhận ý định của Việt Nam tham gia Cape Town Convention on International Interests in Mobile Equipment (CTC).

    Cả hai vị lãnh đạo lưu ý tầm quan trọng của quan hệ thương mại ngày càng tăng giữa hai nền kinh tế, và đã đặc biệt đề cập đến: Biên bản ghi nhớ được ký kết giữa PetroVietnam và Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hoa Kỳ để hỗ trợ thương mại và đầu tư trong các lĩnh vực dầu khí và năng lượng tại Việt Nam; dự án Framework Heads Agreement on the Ca Voi Xanh ngoài khơi Việt Nam giữa Tổng công ty Exxon Mobil và Dầu khí Việt Nam; Hiệp định hợp tác giữa Tập đoàn Dầu khí Murphy và Dầu khí Việt Nam Tổng công ty Thăm dò Khai thác (PVEP); biên bản ghi nhớ giữa Công ty Bảo hiểm nhân thọ (MetLife) và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam ( BIDV) và Bộ Tài chính chấp thuận về nguyên tắc cho thành lập một công ty quản lý quỹ của Bảo hiểm ACE Việt Nam. Hai vị chủ tịch hoan nghênh Bộ Nông nghiệp hỗ trợ cho việc xây dựng và đào tạo các chương trình công suất thiết kế để giúp Việt Nam thông qua và áp dụng khoa học và công nghệ vì lợi ích của nông dân Việt Nam, các công ty nông nghiệp, và người tiêu dùng Mỹ. Hai nhà lãnh đạo ghi nhận tầm quan trọng của việc bảo vệ các nhóm dân dễ bị hiểm nguy nhất [thiệt thòi nhất] trong việc theo đuổi phát triển kinh tế, bao gồm cả làm việc cùng làm việc để chống lại lao động trẻ em và lao động cưỡng bức.

    Khoa học và Hợp tác Công nghệ

    Tổng thống Obama và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã thảo luận về tầm quan trọng của hợp tác khoa học và công nghệ. Họ hoan nghênh kỳ họp thứ 8 của Ủy ban Hỗn hợp về Hợp Tác Khoa Học và Công Nghệ sẽ được tổ chức vào mùa thu này, và nhấn mạnh nỗ lực xây dựng mối quan hệ giữa các cộng đồng khoa học ở Hoa Kỳ và Việt Nam để tăng cường quan hệ song phương, đáp ứng với biến đổi khí hậu và các thách thức toàn cầu khác, và gia tăng phát triển kinh tế dựa vào đổi mới. Tổng thống Obama và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định ý định tiếp tục hợp tác khoa học, bao gồm cả trong các lĩnh vực năng lượng hạt nhân dân sự, công nghệ không gian, và nghiên cứu hàng hải. Hai chủ tịch nhấn mạnh sự kết thúc thành công một nỗ lực chung để loại bỏ tất cả uranium có nồng độ cao khỏi Việt Nam. Hai nhà lãnh đạo nhất trí tiếp tục hợp tác để hỗ trợ những khát vọng của Việt Nam cho chương trình năng lượng hạt nhân hòa bình với các tiêu chuẩn cao nhất về an toàn, bảo vệ, và bảo mật.

    Hợp tác giáo dục

    Hi vị chủ tịch nhất trí là cần tăng cường quan hệ giáo dục, văn hóa, và người với người giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Hai bên nhận ra sự gia tăng nhanh chóng số sinh viên Việt Nam đang theo học tại các trường đại học và cao đẳng Hoa Kỳ, và bày tỏ hy vọng rằng nhiều sinh viên Hoa Kỳ sẽ theo đuổi các cơ hội học tập tại Việt Nam. Hai bên đồng ý rằng hợp tác chặt chẽ về giáo dục và đào tạo là yếu tố quan trọng cho giai đoạn tiếp theo của mối quan hệ. Họ cũng lưu ý rằng một chương trình tiếng Anh tốt sẽ giúp Việt Nam cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu thế kỷ 21. Tổng thống Obama và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ghi nhận sự thành công của giáo dục song phương và các sáng kiến trao đổi, đặc biệt là chương trình Fulbright và Chương trình Liên minh giáo dục ngành Kỹ thuật (HEEAP). Hai nhà lãnh đạo ghi nhận sự thành công của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright và Chủ tịch Trương Tấn Sang hoan nghênh sáng kiến thành lập một trường đại học Fulbright tại Việt Nam.

    Môi trường và sức khỏe

    Tổng thống Obama và Chủ tịch Trương Tấn Sang hoan nghênh hợp tác song phương ngày càng tăng để làm giảm hiệu ứng khí thải nhà kính tại Việt Nam thông qua việc quảng bá năng lượng sạch, năng lượng có hiệu quả, và lâm nghiệp bền vững, và tăng cường khả năng phục hồi của Việt Nam với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và các thảm họa tự nhiên, bao gồm cả thông qua chương trình United States Agency for International Development’s (USAID) Clean Energy Program and Forests and Deltas Program. Tổng thống Obama tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ đối với việc cung cấp thêm y tế và các chăm sóc và hỗ trợ cho người khuyết tật, bất kể là do nguyên nhân gì.

    Hai nhà lãnh đạo cũng nhất trí cùng nhau, cùng với các đối tác thông tin thị trường, thúc đẩy nghiên cứu khoa học, xây dựng năng lực, và đối thoại để đảm bảo sức khỏe lâu dài và bền vững của đồng bằng sông Cửu Long và hạ lưu sông Cửu Long. Tổng thống Obama đánh giá cao sự lãnh đạo của Việt Nam vơi tư cách đồng chủ tịch của LMI Environment and Water Pillar, vốn bao gồm hai dự án nghiên cứu chung từ Việt Nam về quản lý tài nguyên nước trong lưu vực. Hai nhà lãnh đạo bày tỏ sự hài lòng với kết luận gần đây của Hiệp định về chăm sóc sức khỏe và hợp tác Khoa học y tế và mong muốn thúc đẩy tăng cường hợp tác y tế công cộng để quảng bá an ninh y tế toàn cầu. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đánh giá cao sự hỗ trợ tiếp tục của chính phủ Mỹ thông qua Kế hoạch Khẩn cấp của Tổng thống về AIDS (PEPFAR) cho những nỗ lực của Việt Nam trong việc xây dựng các hệ thống bền vững cho công tác phòng chống, điều trị và chăm sóc HIV / AIDS.

    Các vấn đề chiến tranh Legacy

    Hai nhà lãnh đạo nhất trí rằng hợp tác sâu rộng trong việc giải quyết các vấn đề di sản chiến tranh nhằm tăng cường tin cậy lẫn nhau đã cho phép cả hai nước phát triển một mối quan hệ nhìn tới tương lai. Tổng thống Obama đánh giá cao sự tiếp tục hợp tác của Việt Nam trong việc cung cấp những kiểm kê đầy đủ nhất mà họ có thể về người Mỹ mất tích trong chiến tranh (MIA). Tổng thống Obama tái khẳng định cam kết của Mỹ hỗ trợ Việt Nam trong nỗ lực tìm kiếm người mất tích của VN. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ghi nhận những đóng góp của Chính phủ Mỹ cho những nỗ lực của Việt Nam làm sạch vật liệu chưa nổ (UXO), hỗ trợ những người bị thương do bom mìn, và ngăn chặn thương vong trong tương lai. Chủ tịch bày tỏ hài lòng với sự tiến bộ của dự án của USAID và Bộ Quốc phòng Việt Nam để làm sạch ô nhiễm dioxin tại sân bay quốc tế Đà Nẵng. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hoan nghênh kế hoạch của Chính phủ Mỹ để tiến hành đánh giá môi trường ô nhiễm dioxin ở căn cứ không quân Biên Hòa.

    Quốc phòng, an ninh

    Hai nhà lãnh đạo đồng ý rằng Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ tiếp tục hợp tác về quốc phòng và an ninh. Họ bày tỏ sự hài lòng với các Bản ghi nhớ về tăng cường hợp tác quốc phòng song phương năm 2011 và khẳng định cam kết thực hiện đầy đủ bản ghi nhớ. Hai lãnh đạo nhất trí tiếp tục các chương trình U.S.-Vietnam Defense Policy Dialogue and the bilateral Political, Security, and Defense dialogue như cơ hội để xem xét các mối quan hệ quốc phòng, an ninh và thảo luận về hợp tác trong tương lai. Hai nhà lãnh đạo nhất trí mở rộng hợp tác cùng có lợi để tăng cường khả năng như tìm kiếm cứu nạn và phòng chống thiên tai. Hai lãnh đạo cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của tăng cường hợp tác trong các vấn đề an ninh phi truyền thống và nhất trí hợp tác chặt chẽ hơn để chống khủng bố, tăng cường hợp tác thực thi pháp luật hàng hải, tội phạm xuyên quốc gia bao gồm cả cươp biển, ma tuý, buôn người và động vật hoang dã và giải quyết cao tội phạm công nghệ cao và an ninh mạng. Tổng thống Obama hoan nghênh quyết định của Việt Nam tham gia vào các hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc và nhấn mạnh mong muốn của Hoa Kỳ hỗ trợ đào tạo và những hỗ trợ khác cho nỗ lực này thông qua các hoạt động hòa bình Sáng kiến toàn cầu (GPOI).

    Thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền

    Hai vị lãnh đaọ ghi nhận những lợi ích của một cuộc đối thoại thẳng thắn và cởi mở để tăng cường hiểu biết lẫn nhau và thu hẹp các khác biệt về nhân quyền. Họ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang báo với Tổng thống Obama nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong việc thúc đẩy nhân quyền và thương tôn luật pháp, và bảo vệ quyền của tín đồ tôn giáo. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng khẳng định Việt Nam đã được chuẩn bị để ký Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn vào cuối năm nay và tuyên bố rằng Việt Nam sẽ mời các Báo cáo viên đặc biệt về tự do tôn giáo và tín ngưỡng trong năm 2014. Hai bên tái khẳng định cam kết của họ để tô trọng Hiến chương LHQ và Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền.

    Văn hóa, Du lịch và Thể thao

    Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama nhấn mạnh tầm quan trọng của tăng cường hợp tác về văn hóa, thể thao và du lịch để tăng cường trao đổi giữa con người với con người và hiểu biết lẫn nhau. Họ ghi nhận sự thành công của cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại Hoa Kỳ và những đóng góp quan trọng của họ cho sự phát triển của quan hệ song phương. Hai nhà lãnh đạo khuyến khích giao lưu giữa con người thông qua các buổi biểu diễn nghệ thuật, hòa nhạc, triển lãm và các sự kiện văn hóa và thể thao khác giữa hai nước.

    Nhờ các bác trong nhóm chuyển ngữ giúp bài báo sau:

    http://www.theatlantic.com/international/archive/2013/04/vietnam-flawed-on-human-rights-but-a-leader-in-gay-rights/275413/

    Chính quyền Việt Nam chấp nhận quyền của người đồng tính vì nó không trực tiếp đe dọa quyền lực của họ. Trên lĩnh vực này xã hội dân sự đã phát triển khá mạnh và có những tác động đáng kể tới hệ thống chính trị, bao gồm cả vận động hành lang chính giới và các phương thức vận động sự công nhận ngoài xã hội. Qua họ phong trào dân chủ cũng có thể học được điều gì đó trong tình hình Việt Nam hiện nay.

    Trích dẫn:
    Giá sách của ông đầy ắp các tuyển tập của của Marx, Engels và Hồ Chí Minh, dấu ấn của một sự nghiệp trung thành với Đảng Cộng sản, nhưng Nguyễn Phước Tường, 77 tuổi, nói rằng ông không còn là một người cả tin nữa

    Góp ý.

    Không rõ ông Tường trả lời phóng viên tờ New York Times bằng tiếng Việt hay tiếng Anh, nhưng tôi nghĩ phóng viên viết lại lời của ông Tường gián tiếp, chứng tỏ có thể chỉ là ý của ông Tường. Vì vậy, "he is no longer a believer" trong câu

    Trích dẫn:
    His bookshelves are filled with the collected works of Marx, Engels and Ho Chi Minh, the hallmarks of a loyal career in the Communist Party, but Nguyen Phuoc Tuong, 77, says he is no longer a believer.

    Read more: http://www.theage.com.au/world/rising-dissent-fractures-oneparty-state-20130424-2iee2.html#ixzz2RXV2bgoO

    ông ta chẳng còn là một tín đồ cộng sản (hay Mác xít) chứ chẳng phải ông ta không còn là một người cả tin nữa.

    Nhờ nhóm dịch thuật mà ng]ời mình biết thêm tình hình thế giới và thế giới cũng hiểu thêm tình hình nước mình. Theo tôi ngoài việc dịch những bài hoàn chỉnh của người mình ra nước ngoài thì nên dịch cả những còm của có ý nghĩa sâu sắc và có tác dụng nào đấy ra tiếng nước ngoài cho thế giới biết tâm tư nguyện vọng của người dân thấp cổ bé họng của Việt Nam đang quằn quại sống dưới gót giầy tàn bạo của chế độ độc đảng độc tài (CS pọi là chuyên chính).

    TM1111 viết:
    Bài này đã được đưa lên BBC Vietnamese, được DL đưa lên bài chủ hôm nay, và đang được bàn qua tán lại dưới đây đấy bác Admin.

    :)

    http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2013/04/130424_nyt_dissent_vn.shtml

    Hôm qua bác TM1111 cho biết bài của BBC đã được đưa lên trang chủ nhưng tôi lại không thấy nên đã nhận lời dịch bài của Fuller. Hôm nay đọc phản hồi của độc giả mới nhìn ra bài này ở trang chủ. Đúng là hồi này đúng là mắt mình kém quá.

    Bác Tâm Như và bác Admin,

    Dưới đây là bản dịch bài viết của Thomas Fuller ở New York Times để tùy nghi DL xử dụng. Nếu có lỗi chổ nào, xin các bác cho biết để tôi sẽ sửa. Xin cám ơn.


    Trong Thời Buổi Khó Khăn, Bất Đồng Chính Kiến Công Khai và Đàn Áp Gia Tằng ở Viet Nam

    Tác giả: Thomas Fuller

    Nguồn: http://www.nytimes.com/2013/04/24/world/asia/vietnam-clings-to-single-party-rule-as-dissent-rises-sharply.html?pagewanted=all&_r=1

    THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, Việt Nam - Giá sách của ông đầy ắp các tuyển tập của của Marx, Engels và Hồ Chí Minh, dấu ấn của một sự nghiệp trung thành với Đảng Cộng sản, nhưng Nguyễn Phước Tường, 77 tuổi, nói rằng ông không còn là một người cả tin nữa. Từng là một cựu cố vấn của hai thủ tướng, ông Tường, như rất nhiều người dân Việt Nam ngày nay, đang bày tỏ mạnh mẽ sự chống đối chính phủ.

    Ông nói trong một cuộc phỏng vấn tại căn hộ của ông ở ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh: "Hệ thống chính trị của chúng tôi bây giờ là chế độ độc đảng chuyên chế. Đã ở từng ở bên trong hệ thống, tôi hiểu tất cả các sai sót của nó, tất cả các thiếu sót của nó, tất cả các suy thoái của nó. Nếu hệ thống không được sửa đồi, nó sẽ tự sụp đổ."

    Phe đã chiến thắng quân đội miền Nam Việt Nam do Mỹ hậu thuẫn vào năm 1975 đang đối mặt với sự tức giận gia tăng trong lúc kinh tế suy thoái và sự chia rẽ do sự tranh chấp giữa những người theo phái bảo thủ muốn duy trì sự chỉ đạo đất nước theo nguyên tắc xã hội chủ nghĩa với sự độc quyền về quyền lực và những người kêu gọi cho một hệ thống đa nguyên hơn và đi theo chủ nghĩa tư bản môt cách toàn diện.

    Có lẽ cái quan trọng nhất là phe chiến thắng đang phải cố gắng chống chỏi với với một xã hội đã có được thông tin tốt hơn và hay chỉ trích hơn vì các tin tức và ý kiến được lan rộng qua mạng Internet, phá hỏng các ý đồ của phương tiện truyền thông do nhà nước kiểm soát.

    Kể từ khi thống nhất đất nước 38 năm trước đây, Đảng Cộng sản đã từng bị thử thách bởi các cuộc xung đột với Trung Quốc và Campuchia, các cuộc khủng hoảng tài chính và những rạn nứt nội bộ. Theo Carlyle A. Thayer, một trong những học giả hàng đầu ở nước ngoài về Việt Nam, sự khác biệt ngày hôm nay là sự chỉ trích các nhà lãnh đạo "đã bùng nổ trên toàn xã hội."

    Tiến sĩ Thayer nói, nếu như trong một môi trường không độc tài, các chia rẽ trong đảng đã thực sự khuyến khích tự do ngôn luận vì các phe phái đang mong muốn bôi nhọ nhau. Ông nói, "Có một sự trái ngược ở Việt Nam. Bất đồng chính kiến đang nở rộ, nhưng cùng một lúc đàn áp cũng [nở rộ] như vậy."

    Khi tiếng nói bất đồng chính kiến đã gia tăng gấp nhiều lần trong 92 triệu người dân Việt Nam, chính phủ đã cố gắng trấn áp. Tòa án đã kết án tù nhiều blogger, nhà báo và các nhà hoạt động, nhưng các chỉ trích, đặc biệt là trực tuyến, vẫn tiếp tục hầu như không suy giảm. Chính phủ ngăn chặn một số trang mạng, nhưng nhiều người Việt xử dụng các phần mềm hoặc những trang web để xoay sở đối phó với kiểm duyệt.

    Trương Huy San, một nhà văn, nhà báo và blogger nổi tiếng cho biết, "Nhiều người đang cố gắng thể hiện mình hơn trước, chỉ trích chính phủ. Và những gì họ đang nói nghiêm trọng hơn nhiều."

    Ông San, người đang làm nghiên cứu sinh ở Đại học Harvard, là tác giả của cuốn "Phe Thắng Cuôc," một cuốn sách mang tính phê phán và toàn diện nhất về lịch sử Việt Nam kể từ năm 1975 được viết bởi bởi một người ở trong nước. Được nhiều người đọc ở Việt Nam, cuốn sách, gồm hai tập được viết dưới bút danh Huy Đức và in không có giấy phép của chính phủ, mô tả các hành vi như khai trừ những đảng viên thiếu trung thành và tịch thu tài sản của các chủ doanh nghiệp ở miền Nam Việt Nam.

    Đối với du khách tình cờ đến Việt Nam, các bằng chứng bề ngoài của phát triển kinh tế khó có thể làm họ hiểu được sự bi quan sâu xa mà nhiều người trong đất nước này đã bày tỏ. Hàng triệu người khi một thập kỷ trước chỉ có cái xe đạp thì nay phóng xe gắn máy ào ào qua các nhà máy và tòa nhà cao tầng dùng làm văn phòng.

    Nền kinh tế nở rộ trong những năm 1990 sau cải cách đã sản sinh ra một hỗn hợp kỳ quặc của một nền kinh tế thị trường với sự giám sát chặt chẽ bởi Đảng Cộng sản của Việt Nam. Ngay cả bây giờ, kinh tế Việt Nam vẫn còn được dự kiến sẽ tăng trưởng khoảng 4 phần trăm đến 5 phần trăm trong năm nay, một phần nhờ vào xuất khẩu mạnh về gạo, cà phê và các sản phẩm nông nghiệp khác.

    Nhưng thị trường bất động sản đang đóng băng do dư thừa công suất, các ngân hàng đang gánh các khoản nợ xấu, báo chí đăng những bài viết về tình trạng thất nghiệp gia tăng, và đất nước này được tổ chức Minh bạch Quốc tế, một tố chức theo dõi tham nhũng toàn cầu, xếp hạng trong những nước có tham nhũng nhiều nhất thế giới(đứng thứ 123 trong danh sách 176 quốc gia, trong đó những nước có thứ hạng thấp thì mức độ tham nhũng thấp hơn).

    Doanh nhân Việt Nam phàn nàn về việc phải chiụ đựng quá nhiều quy định của chính phủ áp đặt bởi một đảng tin rằng nó có thể là đội tiên phong của các doanh nghiệp tư bản chủ nghĩa.

    Peter R. Ryder, Giám đốc điều hành của Indochina Capital, một công ty đầu tư tại Việt Nam cho biết, "Trong 21 năm của tôi ở đây tôi chưa bao giờ thấy mức độ vỡ mộng đối với chính quyền như thế này trong giới trí thức và doanh nhân. Có cuộc tranh luận rất có ý nghĩa trong cộng đồng kinh doanh và trong đảng - những người rất quan tâm về chiều hướng đất nước này đang đi."

    Và nhiều người nói rằng Việt Nam không có phương hướng, bất kể sự cấn cù có vẻ như rất bộc lộ và dân số trẻ.

    Ông Lê Đăng Doanh, một chuyên gia kinh tế hàng đầu, cho biết tại Diễn đàn Kinh tế mùa xuân, một cuộc họp được tổ chức vào đầu tháng Tư bởi Ủy ban Kinh tế của Quốc hội mà ông tham dự và mô tả là "bão tố," các người tham gia "đã tranh nhau để có cơ hội phát biểu." Ông nói đã có rất nhiều lời chỉ trích rằng mặc dù nền kinh tế cần tái cơ cấu sâu rộng, hầu như không có điều gì được thực hiện."

    Ông Doanh nói, "Đó là một cuộc khủng hoảng lòng tin. Mỗi năm đều có những lời hưá rằng tương lai sẽ sẽ tốt hơn, nhưng người ta không thấy nó xảy ra."

    Trung tâm của cơn bão chính trị là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người đã nắm quyền từ năm 2006. Phong cách nóng nảy của ông Dũng và chương trình kinh tế đầy tham vọng thoạt đầu đã giành cho ông sự ủng hộ vì ông đả đột phá khỏi khuôn mẫu của các viên chức ù lì của đảng.

    Nhưng ông làm xa lánh nhiều đảng viên bằng việc bãi bỏ một ban cố vấn được coi là lực lượng dẫn đầu đứng sau chương trình cải cách (và trong ban cố vấn ấy có ông Tường, một học giả về lý thuyết Mác trong số các đảng viên cao cấp khác).

    Quan trọng hơn, chính sách nổi tiếng của ông Dũng, việc đẩy mạnh việc xây dựng các công ty nhà nước theo đường lối của các tập đoàn tư nhân Hàn Quốc, bị phản tác dụng.

    Các nhà kinh tế nói rằng các doanh nghiệp điều khiển bởi những giám đốc điều hành có quan hệ chặt chẽ với hệ thống phân cấp của Đảng Cộng sản đã mở rộng sang nhiều loại kinh doanh mà họ không đủ trình độ để quản lý và đã đầu cơ thị trường chứng khoán và bất động sản. Hai trong số các doanh nghiệp nhà nước lớn nhất gần như sụp đổ và phá sản.

    Ông Tường, một học giả về lý thuyết Mác, cho biết những căng thẳng trong Đảng Cộng sản đã tăng lên bởi những khó khăn về kinh tế.

    Vào tháng Hai, ông đã giúp viết một bức thư ngỏ đến Tổng Bí Thư Đảng Nguyễn Phú Trọng, kêu gọi thay đổi Hiến pháp để "đảm bảo rằng quyền lực thực sự thuộc về nhân dân." Ông vẫn chưa nhận được trả lời.

    Ông Tường nói ông đã sốt sắng thúc đẩy sự thay đổi kể từ ngày ông làm cố vấn cho Thủ tướng Võ Văn Kiệt, người đã giúp cải tổ kinh tế trong những năm 1990.

    Nhưng hôm nay ông cảm thấy áp lực của thời gian. Ông bị ung thư, mặc dù nó cho thấy có thuyên giảm, và ông nói vể căn bệnh như một sự giải phóng trí tuệ thúc đẩy ông nói những điều mà bây giờ ông coi là sự thật.

    "Nói một cách tóm gọn, Marx là một nhà tư tưởng lớn," ông nói. "Nhưng sẽ tốt hơn nếu chúng ta không có Marx."

    Admin viết:
    Không biết các bác trong nhóm dịch thuật có ai đang rảnh không, tôi muốn nhờ các bác dịch giúp bài sau:

    http://www.nytimes.com/2013/04/24/world/asia/vietnam-clings-to-single-party-rule-as-dissent-rises-sharply.html?pagewanted=all&_r=1

    Xin cảm ơn các bác trước!

    Tôi nhận lời dịch bài này. Sẽ bắt đầu tối nay sau đi làm về. Sáng mai sẽ có bài cho DL.

    @TM1111: bài ở BBC chưa được đưa lên trang chủ ờ DL đâu bác.

    Admin viết:
    Không biết các bác trong nhóm dịch thuật có ai đang rảnh không, tôi muốn nhờ các bác dịch giúp bài sau:

    http://www.nytimes.com/2013/04/24/world/asia/vietnam-clings-to-single-party-rule-as-dissent-rises-sharply.html?pagewanted=all&_r=1

    Xin cảm ơn các bác trước!

    Bài này đã được đưa lên BBC Vietnamese, được DL đưa lên bài chủ hôm nay, và đang được bàn qua tán lại dưới đây đấy bác Admin.

    :)

    http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2013/04/130424_nyt_dissent_vn.shtml

    TM1111 viết:
    Sẵn chị Ngự phân tích bài dịch của BBC mới thấy một thảm họa dịch khác: thành ngữ "hang your head in shame" lại được dịch theo kiểu từ-sang-từ (word for word) là "treo cổ trong tủi hổ".

    Thành ngữ này trong tiếng Anh chỉ có nghĩa là "cúi đầu tủi hổ" mà thôi. Sao mà dịch tàn ác quá vậy! BBC bây giờ xuống dốc rồi.

    Theo tự điển Cambridge:

    http://dictionary.cambridge.org/us/dictionary/american-english/hang-your-head?q=hang+head

    hang your head
    Definition
    to be ashamed or unhappy:
    We played a great game – we have no reason to hang our heads.

    Trích dẫn:
    Those of us who were in the antiwar movement in the 60s and 70s should hang our heads in shame...

    ...

    “Những người chúng ta đã từng tham gia vào phong trào phản chiến trong những năm 60 và 70 nên treo cổ trong tủi hổ

    Tôi nghĩ "hang your head in shame" nên cho sốc hơn nữa là: "gục đầu trong tủi hổ". Chữ "gục" tạo hình ảnh hơn chữ "cúi"? Các bác thấy được không?

    Sẵn chị Ngự phân tích bài dịch của BBC mới thấy một thảm họa dịch khác: thành ngữ "hang your head in shame" lại được dịch theo kiểu từ-sang-từ (word for word) là "treo cổ trong tủi hổ".

    Thành ngữ này trong tiếng Anh chỉ có nghĩa là "cúi đầu tủi hổ" mà thôi. Sao mà dịch tàn ác quá vậy! BBC bây giờ xuống dốc rồi.

    Theo tự điển Cambridge:

    http://dictionary.cambridge.org/us/dictionary/american-english/hang-your-head?q=hang+head

    hang your head
    Definition
    to be ashamed or unhappy:
    We played a great game – we have no reason to hang our heads.

    Trích dẫn:
    Those of us who were in the antiwar movement in the 60s and 70s should hang our heads in shame...

    ...

    “Những người chúng ta đã từng tham gia vào phong trào phản chiến trong những năm 60 và 70 nên treo cổ trong tủi hổ

    Tôi đọc bài của tác giả Nguyển Thanh Sơn do bác TM1111 post lại được hai đoạn đầu, đến đoạn (paragraph) thứ 3 thì phải . . . ngừng vì khó đọc quá. Môt đoạn dài tới gần 700 chữ (hơn hai trang đánh máy double-spaced) mà không xuống hàng, cộng với cách viết không được rõ ràng làm rối cả mắt nên tôi đành chịu thua (chắc cũng tại mình già rùi). Dẫu vậy, cũng hiểu ý bác TM1111 muốn nói gì.

    Bữa nay, đọc bên BBC Vietnamese một bài viết mà tôi không biết phải gọi là loại gì (http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2013/04/130424_nyt_dissent_vn.shtml). Đây là một bài không phải là dịch lại (dẩn nguồn nhưng không dẫn link) mà tường thuật lại một bài báo gần như nguyên văn từ The New York Times cộng thêm comments của hai một độc giả. Khi đọc phần comments được dịch ra tiếng Việt, tôi thấy khó hiểu, vì đoạn trên và đoạn dưới có vẻ mhư mâu thuẫn nhau, nên tôi tìm đến bản tin gốc để xem như thế nào.

    Đây là bản dịch của BBC Vietnamese:

    BBC Vietnamese viết:
    Charles ở Slough, Vương quốc Anh, tự vấn phong trào phản đối chiến tranh ở Việt Nam. Độc giả này viết:

    “Những người chúng ta đã từng tham gia vào phong trào phản chiến trong những năm 60 và 70 nên treo cổ trong tủi hổ và nên xin lỗi người dân Việt Nam. Với việc ủng hộ phe cộng sản và gây sức ép lên Quốc hội cắt đứt mọi viện trợ cho miền Nam Việt Nam thì chúng ta đã góp phần đảm bảo cho chiến thắng của ông Hồ Chí Minh và Đảng của ông ta.

    Lại nữa, hãy thử nghĩ xem nếu không có cuộc cách mạng này thì ngày nay Việt Nam đã tốt hơn như thế nào? Ba mươi năm chiến tranh, số người chết không kể xiết, thiệt hại và đau thương vô cùng lớn – tất cả chỉ để đem đến kết cục là một chế độ kinh tế Marxist không khả thi do một Đảng cộng sản suy đồi và tàn bạo lãnh đạo.

    Hãy nghĩ xem giờ này Việt Nam sẽ như thế nào nếu họ trải qua 60 năm thị trường tự do giống như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan và Singapore. Chắc chắn là không hoàn hảo nhưng sẽ tốt hơn nhiều và lại không có chết chóc hay tàn phá.”

    Còn đây là nguyên văn phần tiếng Anh ở NYT:(http://www.nytimes.com/2013/04/24/world/asia/vietnam-clings-to-single-party-rule-as-dissent-rises-sharply.html?pagewanted=1&_r=0)

    Trích dẫn:

    Those of us who were in the antiwar movement in the 60s and 70s should hang our heads in shame and apologise to the Vietnamese people. By supporting the Communists, and by pressuring Congress to cut off all aid to South Vietnam, we guaranteed the victory of Ho Chi Minh and his Party in their revolution.

    And yet, think how much better off Vietnam would be if this revolution had never happened. Thirty years of war, uncounted dead, immense destruction and suffering, all to put in place an unworkable Marxist economic system led by a brutal corrupt communist party.

    Think where Vietnam might be today if they had had sixty years of a free-market economy like Japan, Thailand, South Korea, Singapore, etc. Not perfect, certainly, but so much better, and without all that death and destruction.

    Tôi nghĩ BBC Vietnamese đã dịch sai nghĩa của hai chử "and yet (trong câu "and yet, think how much better off Vietnam would be. . ." = lại nữa, hãy thử nghĩ xem . . .), do đó làm cho ý nghĩa của comment trở nên khó hiểu và mâu thuẫn. Đáng lẽ người dịch phải dịch là "Nhưng hãy thử nghĩ xem. . ."

    Lại thêm cái tựa đề bài viết bằng tiếng Việt: "Bất mãn chưa từng thấy?" trong khi tựa đề nguyên bản bằng tiếng Anh: "In Hard Times, Open Dissent and Repression Rise in Vietnam." Bởi vì đây không phải là bài dịch nên không thể chỉ trích là dịch không chính xác.

    Có thể nào lối viết tin theo kiểu này của BBC là để tránh các chỉ trích về những yếu kém trong kỹ năng dịch thuật?

    Theo tui nghĩ thì khi dịch mình nên đặt vị trí của người đọc ở bản gốc trước. Cảm nhận ra sao? Bản dịch có mang âm hưởng, phong cách đó không?

    Bản dịch nếu Việt quá thì nó có thể làm mất đi bản sắc của bản gốc -- khi đọc bản gốc, thường là tiếng Anh ở đây, nó còn mang theo văn hóa, lối chơi chữ, âm điệu, cấu trúc...

    Bản dịch phải nằm đâu đó ở giữa.

    Bên blog Quê Choa có một bài phê bình chất lượng dịch khá gay gắt nhưng không cãi được, dẫn về cho nhóm Dịch Thuật đọc để học hỏi thêm.

    Khổ, lời nói gió bay, còn dịch ra giấy trắng mực đen thì hết đường chối cãi. Trên đời này có nhiều cao nhân nên ta phải hết sức cẩn trọng.

    http://quechoa.vn/2013/04/23/nhung-thu-ho-mang-hay-la-cau-chuyen-ve-cac-co-ba/

    Những thứ họ mang hay là câu chuyện về “các cô Ba”
    Nguyễn Thanh Sơn-FB

    Không hiểu sao, đọc phản ứng của một số bạn về chất lượng bản dịch của cuốn Những thứ họ mang, mình cứ nghĩ đến các “xiao san” (là từ lóng chỉ vợ bé của các quan tham Trung Quốc). Được ông chồng hờ mua cho chiếc túi hiệu của Louis Vuitton, họ mang đi khoe khoang suốt ngày cho tới khi có người căn cứ vào chất liệu và đường kim mũi chỉ bảo cái túi này chỉ là túi Louis Vuitton làm ở Quảng Châu, rằng họ đã bị lừa vì mua phải đồ giả. Thay vì im lặng cất cái túi ở nhà, các “dì Hai” (dịch một cách máy móc thì xiao san phải là “cô Ba bé nhỏ”) lại gân cổ lên thì mà là “nó cho cái túi mà đeo là tốt rồi” hoặc là “cho dù là hàng fake thì đây cũng là fake xịn”. Cơ khổ!

    Bản dịch Những thứ họ mang là một bản dịch thảm họa. Thảm họa vì những lỗi dịch sai là những lỗi hết sức thông thường và cơ bản, và một học sinh phổ thông được học hành cẩn thận cũng không sai những lỗi ấy. Ở đây không thể nói là “dịch thoáng”, ở đây là những lỗi dịch sai hoàn toàn, và bất cứ một người đọc cẩn thận nào khi đọc những câu tiếng Việt vô nghĩa đều có thể nhận ra được.

    Trước hết, xin nói về những lỗi mà tôi gọi là “dịch mà như không dịch”- đây là những lỗi liên quan đến hiểu biết về văn chương thời chiến của dịch giả cộng thêm lối dịch máy móc từ sang từ mà không tìm hiểu từ tương đương. Có một loạt những ví dụ kiểu “một loại dây đeo quanh thắt lưng có khóa” (trong khi tiếng Việt chỉ gọi đơn giản là cái thắt lưng) như “military payment certificates” được tác giả dịch thành “chứng nhận thanh toán cho quân nhân”, dog-tag” được dịch thành “thẻ ghi tên”, safety pins dịch là “kẹp giấy”, thức ăn nóng thì đựng trong “lon marmite màu xanh lục”, rồi “ insignia of rank” được dịch là “phù hiệu cấp bậc”, rồi ” he’d stolen on R&R in Sydney, Australia” được dịch thành “thó được ở Trung tâm Nghỉ ngơi Giải trí dành cho quân nhân ở Sydney, Úc”. Bất cứ ai quen thuộc với không khí lính trận đều biết không có thứ gọi là “chứng nhận thanh toán cho quân nhân” mà người ta gọi đơn giản là “phiếu quân dụng” hay người dân miền Nam hay gọi là đồng đô-la đỏ, dog-tag được dịch là thẻ bài, safety pins là cái kim băng, cái “lon marmite màu xanh lục” bí hiểm kia chỉ là cái cà-mèn nhiều ngăn của lính Mỹ, cái “phù hiệu cấp bậc” khó hiểu ta gọi đơn giản là “quân hàm”, “on R&R” chỉ nói về hoạt động “nghỉ xả hơi” của lính Mỹ ở nước ngoài (chứ không tồn tại một Trung tâm Nghỉ ngơi Giải trí quái quỉ nào). Khi dịch về vũ khí và khí tài quân đội, dịch giả đơn thuần là tảng lờ những từ anh không hiểu. Ví dụ, trong nguyên tác, tác giả viết “at various times, in various situations, they carried M-14′s and CAR-15′s and Swedish K’s and grease guns and captured AK-47s and ChiCom’s and RPG’s and Simonov carbines and black-market Uzi’s and .38-caliber Smith & Wesson handguns and 66 mm LAW’s and shotguns and silencers and blackjacks and bayonets and C-4 plastic explosives” được dịch thành “có những lúc, trong một số hoàn cảnh, họ mang M14 và CAR15 và súng máy Cark Gustav M/45 của Thuỵ Điển và súng máy hạng nhẹ và AK47 và Chi-Com và súng chống tăng và cạc bin Simonov tịch thu của địch và Uzi và súng lục Smith&Wesson 38 ly và LAW 66 ly và súng ngắn và bộ hãm thanh và dùi cui bọc da và lưỡi lê và thuốc nổ C-4 bằng chất dẻo mua ở chợ đen”. Chưa kể những lỗi dịch sai như từ “chợ đen” chỉ nói về súng Uzi thì lại nói về thuốc nổ C4, thì dịch giả bỏ qua không thèm dịch từ “ChiCom” (vốn nên dịch là Trung Cộng-ChiCom là viết tắt Chinese Communist) dùng để chỉ súng trường K56, từ CAR 15 là một loại tiểu liên cực nhanh, khẩu “cạc bin Simonov” đã quá thông dụng dưới cái tên súng trường CKC, khẩu LAW là súng chống tăng M72, “shotgun” không thể là “súng ngắn” còn thuốc nổ C4 là thuốc nổ dẻo (chứ không phải thuốc nổ bằng chất dẻo). Tất cả các loại máy PRC vốn rất thông dụng ở chiến trường Việt Nam với hai loại, PRC 25 và PRC77 và được gọi là “máy truyền tin” không hiểu sao lại được tác giả sáng tạo thành “radio vệ tinh” (máy PRC77 trong nguyên tác là scrambler radio máy truyền tin phá sóng). Anh Nguyễn Vạn Phú nói về sự hài hước khi dịch helmets và flak jackets (nón sắt và áo giáp, áo chống đạn) thành mũ cối và áo khoác (“Trong cái nóng ban trưa, họ bỏ mũ cối, cởi áo khoác”- lính Mỹ mà đội mũ cối mang áo khoác ra trận cũng là hình ảnh dí dỏm). Ngay cả những thứ đơn giản nhất như “smiling Buddha” cũng được dịch là “tượng Phật cười” một cách rất “ngoại quốc” trong khi nó có một từ tiếng Việt rất đơn giản là tượng Phật Di Lặc.

    Những lỗi thứ hai, tạm gọi là những lỗi dịch do không hiểu đời sống và văn hóa Mỹ, dẫn đến những lỗi dịch hết sức buồn cười. Ví dụ như trong nguyên tác, tác giả viết về “Dr.Scholl foot powder” được dịch giả dịch ra thành “loại thuốc bôi chân của bác sĩ Scholl’s”, trong khi “Dr.Scholl” chỉ là tên thương hiệu của loại thuốc bôi chân cho bớt hôi (nên dịch thành “thuốc bôi chân hiệu Dr.Scholl”), hoặc “Sterno” là loại xăng khô đóng hộp thì được dịch là “đồ Sterno” (cái đồ quỉ quái gì đây?), “The Stars and Stripes” được dịch một cách thản nhiên là “cờ sao vạch” trong khi nó là tờ tạp chí của Quân đội Mỹ, hay “Sunday School”, cái tên mà nếu ai đọc Tom Sawyer đều biết người ta chỉ dịch là “trường Chủ nhật”- nơi dạy giáo lý cho trẻ em-lại được dịch là “trường dòng” vốn là trường đào tạo linh mục, “dope” là cần sa hay ma túy đều được dịch thành thuốc phiện (lấy đâu ra điếu để hút thuốc phiện vậy trời?). Cơ bản nhất, có lẽ là lỗi dịch ở ngay khổ đầu tiên của truyện ngắn, với nguyên tác “she was an English major” được dịch một cách ái ngại thành “nàng học khoa Anh ngữ” (trong khi một học sinh phổ thông cũng hiểu phải dịch là “nàng học khoa Văn” hay “nàng học khoa ngôn ngữ”). Hoặc như câu “hắn mang một đèn pin cỡ mạnh và mang trách nhiệm với sinh mạng của quân lính hắn” tôi cứ băn khoăn cái “đèn pin cỡ mạnh” thì liên quan gì đến sinh mạng của lính. Hóa ra trong nguyên bản là “He carried a strobe fight and the responsibility for the lives of his men”- tôi đoán dịch giả nhìn nhầm chữ “strobe fight” với chữ “strobe light”!

    Chỉ ở truyện ngắn đầu tiên, hơn mười trang viết, tôi đếm được khoảng năm mươi lỗi dịch sai, dịch bớt xén, dich mà như không dịch. Chưa nói về dịch hay hay dở (vốn là thứ rất khó xác định), nhưng với số lượng lỗi sai như thế, liệu đã có thể gọi đây là một thảm họa dịch thuật nữa hay không? Với kiến thức và trình độ cả hai ngôn ngữ như vậy, liệu các tác phẩm khác của dịch giả này sẽ có chất lượng thế nào? Tôi tin rằng nếu cẩn thận đối chiếu kỹ các tác phẩm dịch khác của anh, danh sách những lỗi dịch thuật cơ bản sẽ không chỉ dừng lại ở đây. Và trách nhiệm của nhà xuất bản Nhã Nam, của công tác biên tập ở đâu khi cho ra đời những tác phẩm cẩu thả như thế?

    Cho nên các “xiao –san” ơi (các cô Ba ơi), các cô có thể tự hào về việc mình bị lừa, mình tiêu thụ một sản phẩm nhái dưới qui cách, nhưng đừng nghĩ tất cả các độc giả đều không phân biệt đâu là sản phẩm có giá trị, đâu là sản phẩm giả

    TM1111 viết:
    Cảm ơn bác Admin. Tôi lại vừa sửa lại một vài tiểu tiết cho tốt hơn. Nếu tiện thì nhờ bác post lại trên DL. Bài đã gửi đi nơi khác rồi thì cũng không sao.

    Mến,



    5:50am Thứ Ba ngày 9 tháng 4 năm 2013

    Thưa bác TM1111,

    Bài chuyển ngữ được bác chỉnh sửa, cũng đã được sửa đúng như vậy trên trang Blog và Trang Tin của Dân Luận theo các links sau đây:

    https://danluan.org/khong-gian-blog/20130409/tran-van-huynh-le-thang-long-and-the-journey-for-human-rights

    https://danluan.org/tin-tuc/20130406/tran-van-huynh-le-thang-long-va-hanh-trinh-vi-quyen-con-nguoi#comment-83747

    Thân kính chủc bác một ngày an vui.

    Thân kính

    Tâm Như

    Admin viết:
    Cảm ơn bác TM1111 rất rất nhiều. Tôi đã đưa bài dịch lên Dân Luận và gửi tới các contact quốc tế của tôi.

    Mến,
    Huân

    Cảm ơn bác Admin. Tôi lại vừa sửa lại một vài tiểu tiết cho tốt hơn. Nếu tiện thì nhờ bác post lại trên DL. Bài đã gửi đi nơi khác rồi thì cũng không sao.

    Mến,

    TM1111 viết:
    Admin viết:
    Nhờ các bác chuyển ngữ giúp tôi bài này sang tiếng Anh nhé. Xin cảm ơn trước!

    https://danluan.org/tin-tuc/20130406/tran-van-huynh-le-thang-long-va-hanh-trinh-vi-quyen-con-nguoi

    Tôi xin nhận dịch bài này.

    Xin gửi Nhóm Dịch thuật bài chuyển ngữ tiếng Anh.

    Mến,



    Trần Văn Huỳnh - Lê Thăng Long and the Journey for Human Rights

    To the editors of Dân Luận,

    Today is the birthday of Lê Thăng Long, the co-founder of the Path of Vietnam Movement, a movement for human rights in Vietnam.

    I would appreciate having this article posted on Dân Luận as a birthday present to Long, if that's posible.

    Thank you and regards,

    Trần Văn Huỳnh

    I paid a visit to Thức at the end of March. He told me that April 6th would be Lê Thăng Long’s forty-sixth birthday, and Thức asked me to tell Long that he missed Long very much, and that he missed the days the two of them shared everything they had, from food to clothes (in prison). Thức also missed Lê Công Định and looked forward to the day when they will be together again. Their friendship was so beautiful. I believe it will be a long-lasting friendship to be told to posterity in years to come.

    Long’s wife once remarked that Long spent more time with Thức than with her. Long had been married for eight years before he was put in prison for three years. On the other hand, Long went to school with Thức, worked together with Thức, and was imprisoned with Thức. When Long was released from prison on June 4, 2012, his wife was on a business trip to Europe, and his children were with grandparents in Hà nội. Long served restriction time in Ho Chi Minh City in order to take care of his mother, who was fighting terminal cancer at the time. Long wasted no time. He did not even take time off to see his wife and children. Nor did he take a day of rest. He immediately launched the Path of Vietnam Movement on June 11, 2012, only a week after his release, in order to pick up what the three of them had left off when they were arrested. Long’s wife called from Germany and could not suppress her concerns. Though fully supportive of her husband’s rightful cause, she was also understandably afraid that her husband and she would be prevented from reuniting upon her return to the country (because of what Long was doing). That certainly was a strong possibility.

    Nguyễn Phương Anh, Long’s wife, is a beautiful and talented woman. Having been educated in France since the twelfth grade, she earned her Ph.D. in math at the age of twenty-five. She had great career choices and a bright future to look forward to, but instead chose to return to Vietnam to be Long’s wife, and together with him tried to realize their dreams for the country. Phương Anh helped Long set up a training center at EIS, where he was senior vice president. She later gave up a very good job at the RMIT University (Royal Melbourne Institute of Technology - Australia) to be with her husband, who was assigned to Thailand at the time to grow market share for EIS in that country. A year later she returned to Hà nội with her husband and took a teaching job at the Hanoi University of Science and Technology until her husband was arrested in June 2009. A few months ago (after Long’s release), Phương Anh gave up her teaching position at the Math Department at the university and took her two children to Sài gòn in order to be with her husband. Once again the brave woman set out on a new journey to find a new career in a new place. Despite numerous hardships, Phương Anh is full of pride, confidence, and happiness.

    When Long was arrested, his mother was diagnosed with cancer. The strong-willed mother did not take the government’s distorting propaganda and defamation efforts that generated misguided public opinion very well. She at times blamed her son for what he did. All she wanted was for her son to be released from prison as soon as possible to be by her side, and to cut ties with politics. She knew that her son, a truthful, open-minded person, would not thrive in a corrupt political environment as it existed at present. However, her brief joy in his release was abruptly replaced with harassment from the government again, as a result of Long’s launching of the Path of Vietnam Movement. At numerous times she tried to talk Long into giving up the efforts, for his own safety and for the sake of caring for his aging mother and young children. Though Long loved his mother with all his heart, he was persistent in his ideals and tried to convince her of his calling. During the last months of her life, Long was constantly at her bedside, at home or in the hospital, and took minute care of her. I paid quite a few visits to the mother at the end of her life, and witnessed her pride and complete faith in her only son. I admired her and shared that attitude. She had all the rights to be proud of a son who rendered himself useful to the country.

    A month after his mother’s passing, Long also lost his grandmother. The pain multiplied, but Long endured and stayed his course on the path he had chosen. At the time of Long’s arrest, his daughter was only six and his son only three. Because of the stigma society places on political prisoners and the fear of “reactionaries” it creates in the people, the family had to keep the young children from knowing the truth about their father’s arrest. However, today’s children are more mature than adults think they are. Minh Anh, the little girl, was not satisfied with explanations given her by the family about daddys’ long absence from home and suffered from depression. Nevertheless, it was she who tried to calm down her younger brother Long Quân when the latter confronted his mother with a barrage of questions about what happened to father, to make her admit that father was indeed imprisoned. The story moved me to tears. At the young age of five to seven, the children make up simple arguments to defend their father, because they believe their father was a good person. However, they just could not understand why their father had to wear a prisoner’s garb. Recently, I saw sparkles in the children’s eyes again. That their life is now filled with happiness and with pride in their father gives hope to the good things that lie ahead of them.

    Long always has a happy family, before as well as now. Had he chosen to turn his back to injustices in life, he would have had a peaceful and successful life, a life free from violent waves that threaten to overturn it. Even now, with his wife and children at his side, he still has to face giant waves that threaten to sink the little boat he is trying to steer away from the storm, to arrive at his destination where “human rights must be respected first and foremost”. This journey is certainly full of hardships, but he never lets go of the steering wheel, and overcomes each giant wave that comes his way. And every day he is gathering more and more people who come by his side to join hands. The journey is not confined to one single boat any more. Hundreds, thousands of boats are heading out to the ocean, heading to the same goals for the Vietnamese people.

    Thank you, Lê thăng Long, for allowing me to participate in the journey to find meaning in life for me in my advanced years. I am filled with happiness when I can guide other families of prisoners of conscience to be aware of their rights, so that they can protect themselves and their loved ones when their family members face wrongful allegations. I usually come to visit parents, spouses, and children of those accused, and I have witnessed positive changes in their attitude and in their faith. Once they had been insecure, reclusive, and even ashamed of their loved ones who were political prisoners or “reactionaries”. They are now confident, proud of their loved ones, the courageous and fearless, who utilize their rightful human rights to fight for a bright future for the country. They are also more confident in using their human rights to fight for justice and freedom for their loved ones. They no long submit to power wrongfully imposed on them and let fear push them into suffering in silence, or silently witnessing their loved ones being oppressed, not knowing what to do. They now see that the burden of injustice and wrongdoings will not lessen, as they had been promised or coerced into believing. They now see that the more they accept and fear injustice and wrongdoings, the more such burden will grow and weigh them down.

    The people’s awareness of human rights is clearly developing every day. People come to recognize that those rights are not only self-evident in the pursuit of life, but must also be guaranteed in all other activities. These are seeds of life that will germinate, fast and strong. Millions of such seeds will be sowed in the right environment, the human being. Soon these seeds will multiply and grow. And that’s when the country will achieve freedom and democracy, which will in turn lead to prosperity and civilization.

    Such achievements are obtained through the many brilliant pioneers who fought for many years for a democratic Vietnam. There were forefathers who lost their lives for the sacred cause, but there have been generations of followers who keep on marching to arrive at today’s success. And I believe that Lê Thăng Long’s work makes a big part of today’s success.

    The journey still has numerous obstacles to overcome, but we will certainly arrive at our destination, because presently there are many Lê Thăng Longs around us who participate.

    Long, Happy Birthday! I wish you good health, happiness, and success. May you achieve what you want for the country.

    Thank you for all you have done for human rights, for the country.

    Trần Văn Huỳnh

    Pages