Lập trường chính thức của Việt Nam về chủ quyền Hoàng Sa

  • Bởi Khách
    10/07/2014
    429 phản hồi
    Chủ đề: Đối ngoại


    Nhiều tàu Trung Quốc vây ép tàu cá ngư dân Việt Nam ngay trên vùng biển Việt Nam. Ảnh VOV.

    Việt Nam gửi tập tài liệu lập trường của Việt Nam đề nghị lưu hành tại Liên Hợp Quốc ngày 3.7.2014 về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa. Lao Động xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

    Việt Nam bác bỏ toàn bộ, cả trên thực tế cũng như pháp l‎ý, yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa) nêu trong các văn bản kèm theo các thư ngày 22.5.2014 và ngày 9.6.2014 của đại biện Phái đoàn đại diện thường trực Trung Quốc gửi Tổng Thư k‎ý Liên Hợp Quốc lần lượt trong các văn bản A/68/887 và A/68/907.

    Việt Nam khẳng định rằng các yêu sách của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý và lịch sử.

    Các tư liệu lịch sử không thống nhất với tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa

    Trong các trao đổi thời gian gần đây, Trung Quốc đã dẫn chiếu đến một số tư liệu như là bằng chứng lịch sử nhằm chứng minh cho cái gọi là “chủ quyền” của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Tuy nhiên, các “tư liệu” này của Trung Quốc không có nguồn gốc rõ ràng, không chính xác và được Trung Quốc diễn giải một cách tùy tiện. Các tài liệu mà Trung Quốc dẫn chiếu tới không chứng tỏ rằng Trung Quốc đã thiết lập chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa khi quần đảo còn là lãnh thổ vô chủ. Ngược lại, các ghi chép lịch sử cho thấy Trung Quốc hiểu rằng chủ quyền của họ chưa bao giờ bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa.

    Ví dụ như vào thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 19 khi hai tàu Bellona và Umeji Maru bị đắm ở Hoàng Sa và bị ngư dân Trung Quốc cướp tài sản, nhà cầm quyền Trung Quốc tại Quảng Đông đã lập luận rằng quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ bị bỏ rơi, không thuộc về Trung Quốc. Về hành chính, các đảo này không thuộc bất kỳ châu nào của Hải Nam, Trung Quốc và không có cơ quan nào của Trung Quốc có trách nhiệm quản lý quần đảo này. Vì những lý do đó, phía Trung Quốc đã tuyên bố không chịu trách nhiệm về vụ ngư dân cướp tài sản.

    Trong khi đó, Việt Nam đã cung cấp công khai các tài liệu lịch sử xác thực cho thấy Việt Nam đã thiết lập chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa từ khi quần đảo là lãnh thổ vô chủ. Ít nhất từ thế kỷ 17, các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam đã tổ chức các hoạt động khai thác sản vật trên các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, tổ chức đo đạc hải trình và bảo đảm an toàn cho các tàu thuyền của quốc gia khác qua lại tại khu vực quần đảo Hoàng Sa. Các hoạt động này đều đã được ghi nhận trong các văn bản chính thức do các triều đình Việt Nam ban hành là các châu bản hiện đang được lưu giữ tại Việt Nam.

    Sau khi Pháp và Việt Nam ký Hiệp định bảo hộ ngày 15 tháng 3 năm 1874 và ngày 6 tháng 6 năm 1884, Pháp đã thay mặt Việt Nam tiếp tục thực thi chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa và tuyên bố phản đối các hành động xâm phạm của Trung Quốc. Pháp đã tiến hành nhiều hoạt động thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa như xây dựng và vận hành đèn biển và trạm khí tượng, thiết lập các đại lý hành chính thuộc tỉnh Thừa Thiên (An Nam), cấp giấy khai sinh cho công dân Việt Nam sinh ra tại quần đảo này.

    Việc Đô đốc Quảng Đông (Trung Quốc) Lý Chuẩn năm 1909 tiến hành hành động thám hiểm và thăm dò Hoàng Sa là hành động vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa mà Việt Nam đã thiết lập vững chắc và được chính quyền bảo hộ Pháp thay mặt Việt Nam tiếp tục thực thi hữu hiệu. Pháp đã thay mặt Việt Nam phản đối các hành động xâm phạm của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và nêu rõ chủ quyền của Hoàng Sa đã được xác lập bởi Việt Nam. Trước yêu sách của Trung Quốc đối với Hoàng Sa, Pháp đã từng đề nghị Trung Quốc giải quyết vấn đề bằng Trọng tài quốc tế (Công hàm của Pháp gửi Trung Quốc ngày 18 tháng 2 năm 1937), nhưng Trung Quốc đã từ chối.

    Năm 1946, chính quyền Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch lợi dụng bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc đã xâm nhập trái phép đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa. Năm 1947, Pháp đã ra tuyên bố phản đối sự xâm nhập này, yêu cầu hai bên tiến hành đàm phán và giải quyết tại cơ quan tài phán quốc tế nhưng chính quyền Trung Hoa Dân quốc lại một lần nữa từ chối. Chính quyền Tưởng Giới Thạch sau đó đã rút khỏi đảo Phú Lâm.

    Các hội nghị quốc tế không giao quần đảo Hoàng Sa cho Trung Quốc

    Trước và sau khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa đã nhiều lần được đưa ra các hội nghị quốc tế xem xét. Từ ngày 22-26 tháng 11 năm 1943, Hội nghị Cairo với sự tham gia của Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt, Thủ tướng Anh Winston Churchill và Tổng thống Trung Hoa Dân quốc Tưởng Giới Thạch đã ra Tuyên bố Cairo (Cairo Communiqué), đưa ra mục tiêu loại bỏ Nhật Bản ra khỏi tất cả các quần đảo ở Thái Bình Dương mà Nhật Bản đã chiếm đóng từ Chiến tranh thế giới thứ I năm 1914 và tất cả các lãnh thổ Nhật Bản đã chiếm của Trung Quốc như Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ sẽ được trả lại cho Trung Hoa Dân quốc. Tưởng Giới Thạch - đại diện cho Trung Quốc có mặt tại hội nghị - không hề đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

    Hội nghị Potsdam diễn ra từ ngày 17 tháng 7 đến ngày 2 tháng 8 năm 1945 với sự tham gia của lãnh đạo ba nước Hoa Kỳ, Anh và Trung Quốc đã ra Tuyên ngôn Potsdam tái khẳng định những nội dung của Tuyên bố Cairo. Đại diện của Trung Quốc là Tưởng Giới Thạch có mặt tại hội nghị cũng không hề nhắc đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

    Hội nghị hòa bình San Francisco từ ngày 4 đến 8 tháng 9 năm 1951 có 51 nước tham dự; Việt Nam tham gia hội nghị với tư cách là thành viên của Liên hiệp Pháp. Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã tham dự hội nghị trên cương vị Trưởng phái đoàn Việt Nam. Hội nghị San Francisco đã giải quyết vấn đề quy thuộc một số vùng lãnh thổ ở Châu Á – Thái Bình Dương. Tại hội nghị này, Trưởng đoàn Liên Xô Andrei A. Gromyko đã thay mặt Trung Quốc đưa ra đề nghị gồm 13 khoản, trong đó có khoản liên quan đến việc Nhật Bản công nhận chủ quyền của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với một số đảo ở biển Đông, kể cả quần đảo Hoàng Sa. Với 46 phiếu chống, 3 phiếu ủng hộ và 2 phiếu trắng, hội nghị đã bác bỏ đề nghị này của Phái đoàn Liên Xô.

    Ngay sau đó, ngày 07 tháng 9 năm 1951, phát biểu tại Hội nghị, Trưởng phái đoàn Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã tái khẳng định chủ quyền lâu đời của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.. Cả 51 quốc gia đều không phản đối Tuyên bố xác nhận chủ quyền đó của phái đoàn Việt Nam.

    Hội nghị Geneva năm 1954 về việc khôi phục hòa bình ở Đông Dương khẳng định các bên tham gia tôn trọng độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang do các lực lượng của Pháp và quốc gia Việt Nam quản lý. Trung Quốc là một trong những nước tham gia Hội nghị quốc tế về Đông Dương tại Geneva 1954 biết rất rõ điều này và Trung Quốc phải tôn trọng các văn kiện quốc tế của hội nghị đó.

    Điều 1, Hiệp định Paris năm 1973 nói rõ tất cả các nước tôn trọng độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Lúc này hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang do Việt Nam Cộng hòa quản lý và là một bộ phận lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam.

    Tháng 1 năm 1974, Trung Quốc sử dụng vũ lực chiếm đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ngay lúc đó, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đều đã ra tuyên bố bày tỏ quan điểm và phản đối hành động của Trung Quốc. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc họp khẩn cấp về hành động sử dụng vũ lực của Trung Quốc. Theo luật pháp quốc tế về thụ đắc lãnh thổ, việc sử dụng vũ lực chiếm đóng một vùng lãnh thổ thuộc quốc gia khác không thể tạo ra chủ quyền.

    Trung Quốc đã vi phạm nguyên tắc cấm đe dọa và sử dụng vũ lực nên không thể thiết lập được chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa

    Trung Quốc đã hai lần xâm chiếm trái phép Hoàng Sa. Năm 1956, lợi dụng lúc Pháp rút khỏi Việt Nam, Trung Quốc đã xâm chiếm nhóm đảo phía Đông của Hoàng Sa. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc thực sự chiếm đóng một phần quần đảo Hoàng Sa. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã phản đối mạnh mẽ sự chiếm đóng này. Năm 1959, một nhóm binh lính Trung Quốc giả dạng ngư dân âm mưu đổ bộ lên nhóm đảo phía tây quần đảo Hoàng Sa, đã bị lực lượng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đập tan. Tám mươi hai (82) “ngư dân” Trung Quốc đã bị bắt. Cả hai hành động xâm chiếm này diễn ra sau khi vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được khẳng định tại các hội nghị quốc tế như trên mà không gặp phải bất kỳ sự phản đối nào. Năm 1974, lợi dụng tình hình chiến tranh ở Việt Nam, Trung Quốc đã tấn công và chiếm quyền kiểm soát Hoàng Sa từ chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc chiếm đóng bằng vũ lực toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.

    Từ góc độ luật pháp quốc tế, việc chiếm đóng bằng vũ lực lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền là hành vi bất hợp pháp và không thể là cơ sở cho đòi hỏi chủ quyền. Vì vậy, chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa vẫn được duy trì và không bị thay thế bởi sự chiếm đóng bằng vũ lực của Trung Quốc.

    Bị vong lục ngày 12 tháng 5 năm 1988 của Trung Quốc - một văn bản chính thức của Bộ Ngoại giao Trung Quốc - cũng khẳng định rõ một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế là “xâm lược không thể sinh ra chủ quyền” đối với một vùng lãnh thổ. Không có quốc gia nào trên thế giới công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa.

    Việt Nam chưa bao giờ công nhận chủ quyền của Trung Quốc

    Trung Quốc đã cố tình xuyên tạc lịch sử và diễn giải sai lịch sử khi viện dẫn Công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 và một số tài liệu, ấn phẩm được xuất bản ở Việt Nam trước năm 1975 để củng cố yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa. Công thư của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoàn toàn không nhắc gì đến chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa hay Trường Sa. Tuyên bố đó liên quan đến các vùng biển, không giải quyết các vấn đề lãnh thổ. Trên thực tế, những kết luận mà Trung Quốc đưa ra hiện nay đang mâu thuẫn với chính các phát biểu của Trung Quốc, trong đó có phát biểu của chính nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình.

    Tháng 9 năm 1975, 17 năm sau công thư nói trên của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã nói với nhà lãnh đạo Việt Nam Lê Duẩn tại Bắc Kinh rằng “Trung Quốc có đầy đủ tài liệu chứng minh quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) từ xưa đến nay thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Nhưng với nguyên tắc thông qua hiệp thương hữu nghị để giải quyết bất đồng, sau này hai nước sẽ bàn bạc giải quyết”. Bị vong lục của Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 12 tháng 5 năm 1988 đã ghi nhận rõ ràng nội dung phát biểu này của Đặng Tiểu Bình, thể hiện nhận thức của Trung Quốc rằng vấn đề chủ quyền không được dàn xếp có lợi cho phía Trung Quốc qua các phát biểu hay thỏa thuận trước đây. Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng sự thật lịch sử đó và nghiêm túc đàm phán với Việt Nam về vấn đề quần đảo Hoàng Sa.

    Bộ Ngoại giao Việt Nam

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    429 phản hồi

    Theo các bác lề "phải", lề "trái",cũng như lề "giữa" thì "government" chỉ cần có cơ chế hành pháp (executive branch) là đủ để gọi là "government", hay là phải có đủ tam bộ phân quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, kể cả khi LP và TP chỉ là bù nhìn mà CHMNVN không có lấy nổi?

    Trở lại vấn đề "government" trong Article 1 của MC. Nào! Các bác chuẩn bị tư thế còm phản biện chưa?

    Chào các bác lề "phải", lề "trái",cũng như lề "giữa" ("thanh phan thứ 3 / không liên kết")
    Qua một đêm ngủ thức dậy vào đọc còm sao thấy lèo tèo. Rõ chán!

    [quote=Dương Danh Huy]

    Nhưng những vấn đề như

    1. VNCH và VNDCCH là 1 QG hay 2 QG?
    2. Sau 30/4/1995 VNDCCH và CHMNVN là 1 QG hay 2 QG.
    3. Tòa sẽ cho sự thống nhất của VN là VNDCCH thôn tính VNCH ngày 30/4/75, hay sẽ thừa nhận sự thống nhất CHMNVN + VNDCCH năm 1976?

    Về 1 & 2: dùng các tiêu chuẩn cho "quốc gia" trong công ước Montevideo.[/quote]

    Nếu "dùng các tiêu chuẩn cho "quốc gia" theo công ước Montevideo" thì sau 6/1969 có thể có 3 quốc gia. Và theo ĐCSVN (ĐLĐVN) thì chỉ có hai quốc gia là VNDCCH và CHMNVN, không có cái gọi là "quốc gia VNCH"!

    Dùng 4 tiêu chuẩn cho "quốc gia" theo công ước Montevideo thì CHMNVN là một "quốc gia":

    1. Có dân cư ổn định ===> Dân số: 1973 ước tính 19.370.000 (theo claim của CHMNVN, website đính kèm)

    2. Có lãnh thổ xác định ===> Diện tích: 1973 173.809 km²; (67.108 mi²)

    3. Có chính phủ ===> CP CMLT CHMNVN

    4. Có khả năng quan hệ với các quốc gia khác ===> Có quan hệ với các quốc gia CS.

    http://vi.m.wikipedia.org/wiki/Cộng_hòa_Miền_Nam_Việt_Nam

    [quote=Dương Danh Huy]

    Theo tôi, khi CHXHCNVN khẳng định CQ với HSTS thì đó là đã chọn quan điểm của VNCH, không chọn quan điểm của VNDCCH rồi. Không cần phải gửi công hàm tới LHQ, vv, nói cụ thể mình chọn quan điểm của VNCH, không chọn quan điểm của VNDCCH.[/quote]

    Thế Toà án QT hỏi: Tại sao anh chọn 'quan điểm' của VNCH mà không chọn 'quan điểm' của VNDCCH thì "mình" trả lời ra sao ? ? ?

    Những biểu hiện của quốc gia VNDCCH (trước 7/1976):

    Quốc kỳ: cờ đỏ sao vàng
    Quốc ca: Tiến Quân Ca
    Thủ đô: Hà Nội
    Thủ tướng: Phạm Văn Đồng

    Những biểu hiện của quốc gia CHXHCN VN (sau 7/1976):

    Quốc kỳ: cờ đỏ sao vàng
    Quốc ca: Tiến Quân Ca
    Thủ đô: Hà Nội
    Thủ tướng: Phạm Văn Đồng

    Hai quốc gia trên khác nhau chỗ nào???

    [quote=Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!!]Mục đích của MC là định nghĩa thế nào là qg và quyền của qg ấy, nếu bác muốn hiểu "government" theo nghĩa thật hẹp thì cũng được và cứ dùng thế mà ra tòa. Còn 2 công ước Vienna về thừa kế qg chắc chưa cần đọc, chỉ mới công ước này thôi mà đã thấy "có vấn đề".[/quote]

    Điều kiện của Article 1 là phải có "government", Article 1 không nói phải có "legislature" (cơ quan lập pháp), legislature phải thế nào, cho nên tôi nghĩ sẽ không chính xác nếu nói không có legislature thì không đáp ứng Article 1. Như vậy không phải là dùng nghĩa thật hẹp của "government". Nghĩa của "government" không phải là "government + legislature".

    Do đó, tôi nghĩ không có vấn đề với Article 1, mà chỉ có thể có vấn đề với Article 11.

    Nhưng vấn đề là có lập luận nào khác có ít vấn đề hơn?

    [quote=Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!!]Một mục đích của Article 11 là để phân biệt rõ ràng qg có chủ quyền thực sự và quốc gia bù nhìn. CHMNVN bị "vướng mắc" cả Article 11 & 1 (Provisional Revolution Government of Republic of South Vietnam is a "government"!)[/quote]

    Bác nêu Article 11 là một vấn đề chính đáng.

    Bài này của tôi và đồng tác giả PT Vân đã viết:

    http://boxitvn.blogspot.co.uk/2014/02/vi-sao-can-ban-ve-tinh-quoc-gia-cu...

    đã viết

    "Tuy nhiên, luận điểm 12 này cũng không phải không có rủi ro trước Tòa. Trên thực tế, những sư đoàn chủ lực của Quân Giải phóng miền Nam (quân đội của CPCMLT CHMNVN) là những sư đoàn Quân đội Nhân dân của VNDCH. Chiến dịch Hồ Chí Minh được chỉ đạo bởi VNDCCH. Các lữ đoàn xe tăng tiến vào dinh Độc lập này 30/4/75 treo cờ CHMNVN, nhưng là các đơn vị của VNDCCH. Nếu ra Tòa, vấn đề đó có sẽ có ảnh hưởng gì đến tính pháp lý của việc thống nhất và kế thừa không?"

    Nhưng tôi nghĩ chúng ta cần hiểu là VN khó có lập luận nào để hóa giải các vấn đề từ VNDCCH mà không có rủi ro, và chúng ta chỉ có thể tìm lập luận nào có ít rủi ro nhất.

    Mặt khác, Mỹ và VNCH đã (đành phải) chấp nhận cho CPCMLT ký HĐ Paris như 1 chính thể độc lập. TQ thì công nhận CPCMLT là đại diện hợp pháp cho miền Nam nên khi ra tòa sẽ khó nói CPCMLT là bù nhìn. Và sau 30/4/1975 nhiều QG công nhận CHMNVN.

    Tôi nghĩ không khẳng định được 100% tòa có sẽ kết luận thế nào nhưng tôi đoán khả năng tòa kết luận sau 20/4/75 CHMNVN không phải là 1 QG là dưới 50%.

    [quote=Dương Danh Huy][quote=Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!!]Mới đọc lướt Montevideo Convention nhưng đã thấy một vài điểm không ổn là dù điều 1 nêu ra 4 tiêu chuẩn để được tư cách pháp nhân quốc tế, điều 11 không thừa nhận việc 1 qg này xử dụng vũ lực để chiếm đóng lãnh thổ của 1 qg khác.
    [/quote]

    Dĩ nhiên. Không có gì để ngạc nhiên. Việc không được dùng vũ lực để chiếm lãnh thổ của QG khác là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của LQT (ít nhất là LQT hiện đại).

    Chương 6 của sách của Konrad Buhler phân tích cụ thể về VNCH, VNDCCH, CHMNVN:

    http://books.google.co.uk/books?id=Ty7NAG1Jl-8C&printsec=frontcover&sour...

    Và trả lời câu hỏi 3 chính thể này là 1, 2, hay 3 QG. Nếu tôi đọc hiểu không lầm thì theo những gì trong sách này, "2 QG" là đúng nhất.

    Nếu tôi hiểu không lầm thì tác giả cũng cho rằng QG phía nam vt 17 không bị tiêu diệt ngày 30/4/1975 mà tồn tại cho đến 1976.

    Tác giả cũng đưa ra thông tin nói rằng sau 30/4/75 các cơ quan của LHQ cho CHMNVN tiếp tục các memberships của VNCH trong các cơ quan này.[/quote]

    Theo tác giả thì chỉ có hai QG và sau 30.04.75 thì CHMNVN = VNCH và điều này có được vì do thực tế lúc đó và do có sự công nhận của các nước trên thế giới.

    Bây giờ có sự việc HS và có sự kiện cáo. Nếu một bên đưa ra được bằng chứng là VNDCCH xâm lược VNCH và CHMNVN chỉ là tay sai hoặc chính là VNDCCH thì sự việc sẽ ra sao?
    Chẳng hạn nếu tòa kết luận rằng do sự việc đã lâu và các nước đã công nhận CHMNVN nên không thế có sự thay đổi. Nếu vậy giả như TQ sau đấy sẽ nói là việc chiếm HS cũng đã xảy ra từ lâu và phần lãnh thổ này lúc đó cũng đã được VNDCCH thừa nhận thì bác thấy có hợp lý không?

    Mục đích của MC là định nghĩa thế nào là qg và quyền của qg ấy, nếu bác muốn hiểu "government" theo nghĩa thật hẹp thì cũng được và cứ dùng thế mà ra tòa. Còn 2 công ước Vienna về thừa kế qg chắc chưa cần đọc, chỉ mới công ước này thôi mà đã thấy "có vấn đề".

    Một mục đích của Article 11 là để phân biệt rõ ràng qg có chủ quyền thực sự và quốc gia bù nhìn. CHMNVN bị "vướng mắc" cả Article 11 & 1 (Provisional Revolution Government of Republic of South Vietnam is a "government"!)

    [quote=Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!!]Theo tôi, CHMNVN bị "vướng mắc" ở Article 1 phần government vì thiếu cơ chế lập pháp nên không đúng nghĩa đầy đủ của government. Vì VNCH bị xâm lăng và chiếm đóng bằng quân sự nên CHMNVN - Article 11.[/quote]

    Article 1 chỉ nói "government" thôi, không nói QG đó phải có cơ chế lập pháp thế nào. Mục đích của cư Montevideo và của LQT nói chung là điều chỉnh về các V/đ quốc tế, không phải là về nội bộ bên trong mỗi QG.

    [quote=Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!!]Có lẽ bác hiểu sai Article 1 với Article 11. Article 1 nêu ra 4 tiêu chuẩn pháp nhân quốc tế. Article 11. buộc các nước đã phê chuẩn (contracting) phảI tuân thủ các việc đã ghi trong Article 11.[/quote]

    OK, tôi hiểu lầm là bác nói về Article 1 nên tôi mới nói các tiêu chuẩn trong đó được cho là luật tập quán quốc tế.

    Nguyên tắc trong Article 11 có trong hiến chương LHQ, và đươợc cho là 1 trong những nguyên tắc của LQT. Dù VNCH và VNDCCH không là contracting parties của Montevideo thì cũng không được dùng vũ lực để chiếm đoạt lãnh thổ của nước khác.

    Theo tôi, CHMNVN bị "vướng mắc" ở Article 1 phần government vì thiếu cơ chế lập pháp nên không đúng nghĩa đầy đủ của government. Vì VNCH bị xâm lăng và chiếm đóng bằng quân sự nên CHMNVN - Article 11.

    Có lẽ bác hiểu sai Article 1 với Article 11. Article 1 nêu ra 4 tiêu chuẩn pháp nhân quốc tế. Article 11. buộc các nước đã phê chuẩn (contracting) phảI tuân thủ các việc đã ghi trong Article 11.

    [quote=Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!!]VNDCCH / CHMNVN đều không phải là "contracting states" và convention này không có giá trị gì trong cuộc tranh cãi mấy ngày hôm nay[/quote]

    Theo tôi hiểu các tiêu chuẩn cho QG trong CƯ Montevideo được cho là các tiêu chuẩn của luật tập quán quốc tế cho nên tòa có thể dùng các tiêu chuẩn đó dù có là contracting states hay không.

    Sách LQT đều dùng các tiêu chuẩn đó khi định nghĩa QG.

    VNDCCH / CHMNVN đều không phải là "contracting states" và convention này không có giá trị gì trong cuộc tranh cãi mấy ngày hôm nay

    Không phải bác mà một bác khác lầm. Post của bác không làm tôi hie^?u lầm.

    [quote=VN2006A][quote=Dương Danh Huy]...

    @Các bác khác,

    Quỹ Nghiên cứu Biển Đông không phải là Chương trình Nghiên cứu Biển Đông của Học viện Ngoại giao do ông Trần Trường Thuỷ làm giám đốc.

    [/quote]

    Xin lỗi bác Huy!!!

    Tôi không nhầm giữa "Quỹ NCBĐ" và "Chương trình Nghiên cứu Biển Đông". Nhưng viết gây ra hiểu nhầm. Đã mấy lần tôi dùng từ "nhóm nghiên cứu BĐ" thay vì "Quỹ nghiên cứu BĐ"

    Trong các Post tới, tôi sẽ chú ý hơn!!![/quote]

    [quote=Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!!]Mới đọc lướt Montevideo Convention nhưng đã thấy một vài điểm không ổn là dù điều 1 nêu ra 4 tiêu chuẩn để được tư cách pháp nhân quốc tế, điều 11 không thừa nhận việc 1 qg này xử dụng vũ lực để chiếm đóng lãnh thổ của 1 qg khác.
    [/quote]

    Dĩ nhiên. Không có gì để ngạc nhiên. Việc không được dùng vũ lực để chiếm lãnh thổ của QG khác là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của LQT (ít nhất là LQT hiện đại).

    Chương 6 của sách của Konrad Buhler phân tích cụ thể về VNCH, VNDCCH, CHMNVN:

    http://books.google.co.uk/books?id=Ty7NAG1Jl-8C&printsec=frontcover&sour...

    Và trả lời câu hỏi 3 chính thể này là 1, 2, hay 3 QG. Nếu tôi đọc hiểu không lầm thì theo những gì trong sách này, "2 QG" là đúng nhất.

    Nếu tôi hiểu không lầm thì tác giả cũng cho rằng QG phía nam vt 17 không bị tiêu diệt ngày 30/4/1975 mà tồn tại cho đến 1976.

    Tác giả cũng đưa ra thông tin nói rằng sau 30/4/75 các cơ quan của LHQ cho CHMNVN tiếp tục các memberships của VNCH trong các cơ quan này.

    [quote=Dương Danh Huy]...

    @Các bác khác,

    Quỹ Nghiên cứu Biển Đông không phải là Chương trình Nghiên cứu Biển Đông của Học viện Ngoại giao do ông Trần Trường Thuỷ làm giám đốc.

    [/quote]

    Xin lỗi bác Huy!!!

    Tôi không nhầm giữa "Quỹ NCBĐ" và "Chương trình Nghiên cứu Biển Đông". Nhưng viết gây ra hiểu nhầm. Đã mấy lần tôi dùng từ "nhóm nghiên cứu BĐ" thay vì "Quỹ nghiên cứu BĐ"

    Trong các Post tới, tôi sẽ chú ý hơn!!!

    ARTICLE 11
    The contracting states definitely establish as the rule of their conduct the precise obligation not to recognize territorial acquisitions or special advantages which have been obtained by force whether this consists in the employment of arms, in threatening diplomatic representations, or in any other effective coercive measure. The territory of a state is inviolable and may not be the object of military occupation nor of other measures of force imposed by another state directly or indirectly or for any motive whatever even temporarily.

    ARTICLE 1
    The state as a person of international law should possess the following qualifications: a ) a permanent population; b ) a defined territory; c ) government; and d) capacity to enter into relations with the other states.

    Mới đọc lướt Montevideo Convention nhưng đã thấy một vài điểm không ổn là dù điều 1 nêu ra 4 tiêu chuẩn để được tư cách pháp nhân quốc tế, điều 11 không thừa nhận việc 1 qg này xử dụng vũ lực để chiếm đóng lãnh thổ của 1 qg khác.

    Bây giờ đi đọc tiếp.

    [quote=Dương Danh Huy][quote=Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!!]Muốn nói gì thì nói, nhưng cứ nói đến pháp lý thì các chuyên gia hay không chuyên gia về công pháp quốc tế xin hãy trích dẫn bộ luật và án lệ nếu có để người đọc kiểm chứng đủng sai. Chứ cứ phán như thánh sống thế này thế nọ thì bất cứ ai cũng làm đươc.[/quote]

    Bác nói đúng.

    Nhưng những vấn đề như

    1. VNCH và VNDCCH là 1 QG hay 2 QG?
    2. Sau 30/4/1995 VNDCCH và CHMNVN là 1 QG hay 2 QG.
    3. Tòa sẽ cho sự thống nhất của VN là VNDCCH thôn tính VNCH ngày 30/4/75, hay sẽ thừa nhận sự thống nhất CHMNVN + VNDCCH năm 1976?

    thì khó có án lệ nào tương đồng trực tiếp.

    Về 1 & 2: dùng các tiêu chuẩn cho "quốc gia" trong công ước Montevideo.

    Về 3: Khó có trả lời chắc chắn 100% tòa sẽ phán quyết điều nào. Cá nhân tôi cho rằng tòa sẽ dựa theo thực tế ngoại giao năm 75-76 và thủ tục pháp lý, thay vì lập luận cho rằng CPCMLT CHMNVN chỉ là bù nhìn và VNDCCH đã thôn tính bằng bạo lực cho nên không được thừa kế chủ quyền lãnh thổ phía nam vt 71. (Lập luận đó logically có nghĩa phủ định CHXHCNVN có chủ quyền phía nam vt 17, và tôi đoán là tòa sẽ không đi xa đến mức đó). Điều nữa là TQ đã từng công nhận CPCMLT CHMNVN là đại diện phợp pháp phía nam vt 17, cho nên không thể nại với tòa rằng CPCMLT CHMNVN là bù nhìn và VNDCCH đã thôn tính VNCH.

    Huy[/quote]

    Bác Huy, liệu bác có thể cho biết qua kinh nghiệm luật pháp của bác một chút được không? Chẳng hạn bác đã từng tranh tụng trong những vụ án nào rồi?

    Bác có thể đọc 2 công ước Vienna về thừa kế quốc gia.

    Ngoài ra, còn lập tập quán quốc tế là chủ quyền phải liên tục.

    "there remains considerable doubt and confusion as to the content and application of relevant rules and principles" không có nghĩa có thể tuyên bố tùy tiện mình là hậu duệ kế thừa loạn xạ.

    Nếu như thế thì VN có thể tuyên bố mình thừa kế thẳng từ Đại Việt của nhà Trần để luôn thể ra tòa đòi lại các vùng đất nhà Mạc dâng cho TQ, Pháp nhượng cho TQ, và xóa bỏ HĐ biên giới trên bộ giữa CHXHCNVN và TQ.

    Và như thế thì không biết có phải là tư duy CS gian hùng không?

    [quote=TQVN][quote=Dương Danh Huy]

    Vấn đề kế thừa QG được quy định trong các công vước Vienna về kế thừa quốc gia, và tôi hiểu các cư đó là khi 1 quốc gia mới được thành lập (eg, giành độc lập, thống nhất từ vài QG, chia đôi/ba/... thành vài quốc gia) thì (các) quốc gia mới kế thừa từ (các) QG nó/chúng thay thế.

    Tôi cũng chưa thấy án lệ nào công nhận 1 QG tuyên bố thừa kế trực tiếp từ "QG thế hệ trừ 2" bỏ qua hoàn toàn "QG thế thệ trừ 1". Nếu bác tìm thấy, nhờ bác cho tôi biết.[/quote]

    Bác Huy à! Tôi là dân kỹ thuật, không phải luật pháp nên muốn biết mới hỏi bác, bác hại hỏi lại tôi :-). Vấn đề là bác "phán" như đinh đóng cột còn bảo là theo "LQT". Nếu bác không đưa ra được điều luật gì, khoản mấy (!) thì là bác chỉ suy diễn ra thôi chứ không phải theo "LQT"! Vấn đề "State Succession", theo thời gian, vẫn còn vô số trường hợp "exceptional cases" mà giới luật học thế giới cho rằng "there remains considerable doubt and confusion as to the content and application of relevant rules and principles", cho nên nếu có "new case" thì chưa biết toà sẽ xử ra sao![/quote]

    [quote=Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!!]Muốn nói gì thì nói, nhưng cứ nói đến pháp lý thì các chuyên gia hay không chuyên gia về công pháp quốc tế xin hãy trích dẫn bộ luật và án lệ nếu có để người đọc kiểm chứng đủng sai. Chứ cứ phán như thánh sống thế này thế nọ thì bất cứ ai cũng làm đươc.[/quote]

    Bác nói đúng.

    Nhưng những vấn đề như

    1. VNCH và VNDCCH là 1 QG hay 2 QG?
    2. Sau 30/4/1995 VNDCCH và CHMNVN là 1 QG hay 2 QG.
    3. Tòa sẽ cho sự thống nhất của VN là VNDCCH thôn tính VNCH ngày 30/4/75, hay sẽ thừa nhận sự thống nhất CHMNVN + VNDCCH năm 1976?

    thì khó có án lệ nào tương đồng trực tiếp.

    Về 1 & 2: dùng các tiêu chuẩn cho "quốc gia" trong công ước Montevideo.

    Về 3: Khó có trả lời chắc chắn 100% tòa sẽ phán quyết điều nào. Cá nhân tôi cho rằng tòa sẽ dựa theo thực tế ngoại giao năm 75-76 và thủ tục pháp lý, thay vì lập luận cho rằng CPCMLT CHMNVN chỉ là bù nhìn và VNDCCH đã thôn tính bằng bạo lực cho nên không được thừa kế chủ quyền lãnh thổ phía nam vt 71. (Lập luận đó logically có nghĩa phủ định CHXHCNVN có chủ quyền phía nam vt 17, và tôi đoán là tòa sẽ không đi xa đến mức đó). Điều nữa là TQ đã từng công nhận CPCMLT CHMNVN là đại diện phợp pháp phía nam vt 17, cho nên không thể nại với tòa rằng CPCMLT CHMNVN là bù nhìn và VNDCCH đã thôn tính VNCH.

    Huy

    [quote=Dương Danh Huy]

    Vấn đề kế thừa QG được quy định trong các công vước Vienna về kế thừa quốc gia, và tôi hiểu các cư đó là khi 1 quốc gia mới được thành lập (eg, giành độc lập, thống nhất từ vài QG, chia đôi/ba/... thành vài quốc gia) thì (các) quốc gia mới kế thừa từ (các) QG nó/chúng thay thế.

    Tôi cũng chưa thấy án lệ nào công nhận 1 QG tuyên bố thừa kế trực tiếp từ "QG thế hệ trừ 2" bỏ qua hoàn toàn "QG thế thệ trừ 1". Nếu bác tìm thấy, nhờ bác cho tôi biết.[/quote]

    Bác Huy à! Tôi là dân kỹ thuật, không phải luật pháp nên muốn biết mới hỏi bác, bác hại hỏi lại tôi :-). Vấn đề là bác "phán" như đinh đóng cột còn bảo là theo "LQT". Nếu bác không đưa ra được điều luật gì, khoản mấy (!) thì là bác chỉ suy diễn ra thôi chứ không phải theo "LQT"! Vấn đề "State Succession", theo thời gian, vẫn còn vô số trường hợp "exceptional cases" mà giới luật học thế giới cho rằng "there remains considerable doubt and confusion as to the content and application of relevant rules and principles", cho nên nếu có "new case" thì chưa biết toà sẽ xử ra sao!

    Lấy thí dụ như luật sư NGUYEN LE-HA dẫn ra Vienna Convention of the Law of the Sea khi nói về CH PVD. Ai chịu đi kiểm đọc là biết ngay nóI sai

    lấy thí dụ như nói về "thừa kế" là đề tài tranh cãi suốt sáng trưa chiều tối mấy hôm nay ở trên DL mà không có phe nào chịu dẫn ra là "Thừa Kể" kiểu luật quốc tế gì?

    [quote=Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!!]Muốn nói gì thì nói, nhưng cứ nói đến pháp lý thì các chuyên gia hay không chuyên gia về công pháp quốc tế xin hãy trích dẫn bộ luật và án lệ nếu có để người đọc kiểm chứng đủng sai. Chứ cứ phán như thánh sống thế này thế nọ thì bất cứ ai cũng làm đươc.[/quote]

    Không phải vụ kiện nào cũng phải xử theo tiền lệ. Người ta chỉ dùng tiền lệ khi thích hợp. Có nhiều trường hợp chưa xảy ra trong quá khứ thì phải tranh cãi về luật lệ, về thủ tục, về bằng chứng...

    Trong vấn đề chủ quyền Hoàng sa - Trường sa, nhiều chuyên gia đã dẫn ra một số tiền lệ để hổ trợ cho lập luận của họ. Tuy nhiên có người đồng ý có người không và vì sự việc chưa được đem ra xử, chẳng ai có thể khẳng định quan toà sẽ có phán quyết như thế nào đối với lập luận, lý sự và bằng chứng hổ trợ của hai phía.

    Pages