Lập trường chính thức của Việt Nam về chủ quyền Hoàng Sa

  • Bởi Khách
    10/07/2014
    429 phản hồi
    Chủ đề: Đối ngoại


    Nhiều tàu Trung Quốc vây ép tàu cá ngư dân Việt Nam ngay trên vùng biển Việt Nam. Ảnh VOV.

    Việt Nam gửi tập tài liệu lập trường của Việt Nam đề nghị lưu hành tại Liên Hợp Quốc ngày 3.7.2014 về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa. Lao Động xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

    Việt Nam bác bỏ toàn bộ, cả trên thực tế cũng như pháp l‎ý, yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa) nêu trong các văn bản kèm theo các thư ngày 22.5.2014 và ngày 9.6.2014 của đại biện Phái đoàn đại diện thường trực Trung Quốc gửi Tổng Thư k‎ý Liên Hợp Quốc lần lượt trong các văn bản A/68/887 và A/68/907.

    Việt Nam khẳng định rằng các yêu sách của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý và lịch sử.

    Các tư liệu lịch sử không thống nhất với tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa

    Trong các trao đổi thời gian gần đây, Trung Quốc đã dẫn chiếu đến một số tư liệu như là bằng chứng lịch sử nhằm chứng minh cho cái gọi là “chủ quyền” của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Tuy nhiên, các “tư liệu” này của Trung Quốc không có nguồn gốc rõ ràng, không chính xác và được Trung Quốc diễn giải một cách tùy tiện. Các tài liệu mà Trung Quốc dẫn chiếu tới không chứng tỏ rằng Trung Quốc đã thiết lập chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa khi quần đảo còn là lãnh thổ vô chủ. Ngược lại, các ghi chép lịch sử cho thấy Trung Quốc hiểu rằng chủ quyền của họ chưa bao giờ bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa.

    Ví dụ như vào thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 19 khi hai tàu Bellona và Umeji Maru bị đắm ở Hoàng Sa và bị ngư dân Trung Quốc cướp tài sản, nhà cầm quyền Trung Quốc tại Quảng Đông đã lập luận rằng quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ bị bỏ rơi, không thuộc về Trung Quốc. Về hành chính, các đảo này không thuộc bất kỳ châu nào của Hải Nam, Trung Quốc và không có cơ quan nào của Trung Quốc có trách nhiệm quản lý quần đảo này. Vì những lý do đó, phía Trung Quốc đã tuyên bố không chịu trách nhiệm về vụ ngư dân cướp tài sản.

    Trong khi đó, Việt Nam đã cung cấp công khai các tài liệu lịch sử xác thực cho thấy Việt Nam đã thiết lập chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa từ khi quần đảo là lãnh thổ vô chủ. Ít nhất từ thế kỷ 17, các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam đã tổ chức các hoạt động khai thác sản vật trên các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, tổ chức đo đạc hải trình và bảo đảm an toàn cho các tàu thuyền của quốc gia khác qua lại tại khu vực quần đảo Hoàng Sa. Các hoạt động này đều đã được ghi nhận trong các văn bản chính thức do các triều đình Việt Nam ban hành là các châu bản hiện đang được lưu giữ tại Việt Nam.

    Sau khi Pháp và Việt Nam ký Hiệp định bảo hộ ngày 15 tháng 3 năm 1874 và ngày 6 tháng 6 năm 1884, Pháp đã thay mặt Việt Nam tiếp tục thực thi chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa và tuyên bố phản đối các hành động xâm phạm của Trung Quốc. Pháp đã tiến hành nhiều hoạt động thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa như xây dựng và vận hành đèn biển và trạm khí tượng, thiết lập các đại lý hành chính thuộc tỉnh Thừa Thiên (An Nam), cấp giấy khai sinh cho công dân Việt Nam sinh ra tại quần đảo này.

    Việc Đô đốc Quảng Đông (Trung Quốc) Lý Chuẩn năm 1909 tiến hành hành động thám hiểm và thăm dò Hoàng Sa là hành động vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa mà Việt Nam đã thiết lập vững chắc và được chính quyền bảo hộ Pháp thay mặt Việt Nam tiếp tục thực thi hữu hiệu. Pháp đã thay mặt Việt Nam phản đối các hành động xâm phạm của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và nêu rõ chủ quyền của Hoàng Sa đã được xác lập bởi Việt Nam. Trước yêu sách của Trung Quốc đối với Hoàng Sa, Pháp đã từng đề nghị Trung Quốc giải quyết vấn đề bằng Trọng tài quốc tế (Công hàm của Pháp gửi Trung Quốc ngày 18 tháng 2 năm 1937), nhưng Trung Quốc đã từ chối.

    Năm 1946, chính quyền Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch lợi dụng bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc đã xâm nhập trái phép đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa. Năm 1947, Pháp đã ra tuyên bố phản đối sự xâm nhập này, yêu cầu hai bên tiến hành đàm phán và giải quyết tại cơ quan tài phán quốc tế nhưng chính quyền Trung Hoa Dân quốc lại một lần nữa từ chối. Chính quyền Tưởng Giới Thạch sau đó đã rút khỏi đảo Phú Lâm.

    Các hội nghị quốc tế không giao quần đảo Hoàng Sa cho Trung Quốc

    Trước và sau khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa đã nhiều lần được đưa ra các hội nghị quốc tế xem xét. Từ ngày 22-26 tháng 11 năm 1943, Hội nghị Cairo với sự tham gia của Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt, Thủ tướng Anh Winston Churchill và Tổng thống Trung Hoa Dân quốc Tưởng Giới Thạch đã ra Tuyên bố Cairo (Cairo Communiqué), đưa ra mục tiêu loại bỏ Nhật Bản ra khỏi tất cả các quần đảo ở Thái Bình Dương mà Nhật Bản đã chiếm đóng từ Chiến tranh thế giới thứ I năm 1914 và tất cả các lãnh thổ Nhật Bản đã chiếm của Trung Quốc như Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ sẽ được trả lại cho Trung Hoa Dân quốc. Tưởng Giới Thạch - đại diện cho Trung Quốc có mặt tại hội nghị - không hề đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

    Hội nghị Potsdam diễn ra từ ngày 17 tháng 7 đến ngày 2 tháng 8 năm 1945 với sự tham gia của lãnh đạo ba nước Hoa Kỳ, Anh và Trung Quốc đã ra Tuyên ngôn Potsdam tái khẳng định những nội dung của Tuyên bố Cairo. Đại diện của Trung Quốc là Tưởng Giới Thạch có mặt tại hội nghị cũng không hề nhắc đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

    Hội nghị hòa bình San Francisco từ ngày 4 đến 8 tháng 9 năm 1951 có 51 nước tham dự; Việt Nam tham gia hội nghị với tư cách là thành viên của Liên hiệp Pháp. Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã tham dự hội nghị trên cương vị Trưởng phái đoàn Việt Nam. Hội nghị San Francisco đã giải quyết vấn đề quy thuộc một số vùng lãnh thổ ở Châu Á – Thái Bình Dương. Tại hội nghị này, Trưởng đoàn Liên Xô Andrei A. Gromyko đã thay mặt Trung Quốc đưa ra đề nghị gồm 13 khoản, trong đó có khoản liên quan đến việc Nhật Bản công nhận chủ quyền của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với một số đảo ở biển Đông, kể cả quần đảo Hoàng Sa. Với 46 phiếu chống, 3 phiếu ủng hộ và 2 phiếu trắng, hội nghị đã bác bỏ đề nghị này của Phái đoàn Liên Xô.

    Ngay sau đó, ngày 07 tháng 9 năm 1951, phát biểu tại Hội nghị, Trưởng phái đoàn Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã tái khẳng định chủ quyền lâu đời của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.. Cả 51 quốc gia đều không phản đối Tuyên bố xác nhận chủ quyền đó của phái đoàn Việt Nam.

    Hội nghị Geneva năm 1954 về việc khôi phục hòa bình ở Đông Dương khẳng định các bên tham gia tôn trọng độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang do các lực lượng của Pháp và quốc gia Việt Nam quản lý. Trung Quốc là một trong những nước tham gia Hội nghị quốc tế về Đông Dương tại Geneva 1954 biết rất rõ điều này và Trung Quốc phải tôn trọng các văn kiện quốc tế của hội nghị đó.

    Điều 1, Hiệp định Paris năm 1973 nói rõ tất cả các nước tôn trọng độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Lúc này hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang do Việt Nam Cộng hòa quản lý và là một bộ phận lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam.

    Tháng 1 năm 1974, Trung Quốc sử dụng vũ lực chiếm đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ngay lúc đó, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đều đã ra tuyên bố bày tỏ quan điểm và phản đối hành động của Trung Quốc. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc họp khẩn cấp về hành động sử dụng vũ lực của Trung Quốc. Theo luật pháp quốc tế về thụ đắc lãnh thổ, việc sử dụng vũ lực chiếm đóng một vùng lãnh thổ thuộc quốc gia khác không thể tạo ra chủ quyền.

    Trung Quốc đã vi phạm nguyên tắc cấm đe dọa và sử dụng vũ lực nên không thể thiết lập được chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa

    Trung Quốc đã hai lần xâm chiếm trái phép Hoàng Sa. Năm 1956, lợi dụng lúc Pháp rút khỏi Việt Nam, Trung Quốc đã xâm chiếm nhóm đảo phía Đông của Hoàng Sa. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc thực sự chiếm đóng một phần quần đảo Hoàng Sa. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã phản đối mạnh mẽ sự chiếm đóng này. Năm 1959, một nhóm binh lính Trung Quốc giả dạng ngư dân âm mưu đổ bộ lên nhóm đảo phía tây quần đảo Hoàng Sa, đã bị lực lượng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đập tan. Tám mươi hai (82) “ngư dân” Trung Quốc đã bị bắt. Cả hai hành động xâm chiếm này diễn ra sau khi vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được khẳng định tại các hội nghị quốc tế như trên mà không gặp phải bất kỳ sự phản đối nào. Năm 1974, lợi dụng tình hình chiến tranh ở Việt Nam, Trung Quốc đã tấn công và chiếm quyền kiểm soát Hoàng Sa từ chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc chiếm đóng bằng vũ lực toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.

    Từ góc độ luật pháp quốc tế, việc chiếm đóng bằng vũ lực lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền là hành vi bất hợp pháp và không thể là cơ sở cho đòi hỏi chủ quyền. Vì vậy, chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa vẫn được duy trì và không bị thay thế bởi sự chiếm đóng bằng vũ lực của Trung Quốc.

    Bị vong lục ngày 12 tháng 5 năm 1988 của Trung Quốc - một văn bản chính thức của Bộ Ngoại giao Trung Quốc - cũng khẳng định rõ một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế là “xâm lược không thể sinh ra chủ quyền” đối với một vùng lãnh thổ. Không có quốc gia nào trên thế giới công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa.

    Việt Nam chưa bao giờ công nhận chủ quyền của Trung Quốc

    Trung Quốc đã cố tình xuyên tạc lịch sử và diễn giải sai lịch sử khi viện dẫn Công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 và một số tài liệu, ấn phẩm được xuất bản ở Việt Nam trước năm 1975 để củng cố yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa. Công thư của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoàn toàn không nhắc gì đến chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa hay Trường Sa. Tuyên bố đó liên quan đến các vùng biển, không giải quyết các vấn đề lãnh thổ. Trên thực tế, những kết luận mà Trung Quốc đưa ra hiện nay đang mâu thuẫn với chính các phát biểu của Trung Quốc, trong đó có phát biểu của chính nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình.

    Tháng 9 năm 1975, 17 năm sau công thư nói trên của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã nói với nhà lãnh đạo Việt Nam Lê Duẩn tại Bắc Kinh rằng “Trung Quốc có đầy đủ tài liệu chứng minh quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) từ xưa đến nay thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Nhưng với nguyên tắc thông qua hiệp thương hữu nghị để giải quyết bất đồng, sau này hai nước sẽ bàn bạc giải quyết”. Bị vong lục của Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 12 tháng 5 năm 1988 đã ghi nhận rõ ràng nội dung phát biểu này của Đặng Tiểu Bình, thể hiện nhận thức của Trung Quốc rằng vấn đề chủ quyền không được dàn xếp có lợi cho phía Trung Quốc qua các phát biểu hay thỏa thuận trước đây. Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng sự thật lịch sử đó và nghiêm túc đàm phán với Việt Nam về vấn đề quần đảo Hoàng Sa.

    Bộ Ngoại giao Việt Nam

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    429 phản hồi

    Trích tiếp: ""Moreover, it is important to note that, in principle, international law is indifferent towards the internal political stucture of states, be it based on Western conception of democracy and the rule of law, the sumpremacy of a Communist Party, Islamic perception of state and society, monarrchies or republic".

    QUÁ ĐÚNG: quốc gia VNDCCH có QHBN làm ra HP, quốc gia CHXHCNVN cũng có QHBN làm ra HP, "quốc gia chuyển tiếp" CHMNVN có "government" của TT Huỳnh Tấn Phát làm ra "hiến pháp".

    Xin bác cái link "hiến pháp" của "quốc gia chuyển tiếp" CHMNVN và mời bác DDH ngụy biện tiếp. Độc giả DL đang làm chứng nhân 24 giờ 7 ngày đây!

    Như vậy chính ông Nguyễn Văn Thiệu, TT VNCH đã cho rằng VNCH và VNDCCH de facto là 2 QG, tương tự với trường hợp của Đức và Korea bị chia thành 2 QG.

    [quote=Khách đường xa_old]Lập trường và quan điểm của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

    [quote=NVT] What I maintain is that we'll never accept such a formula, no matter how well disguised. I do not impose any form of government on Hanoi, and I do not want Hanoi to impose any form of government on Saigon. The constitution of North Vietnam says that Vietnam is one, indivisible, from Lao Kai to Ca Mau. The constitution of South Vietnam says the same: Vietnam is one from Ca Mau to Lao Kai etcetera. But a de facto situation remains, and this situation is based on two states. So I always have considered that there are two states in the nation: the state of North Vietnam and the state of South Vietnam, each with its own government, its own parliament, its own constitution. Therefore each of these two states must decide its own political future without interference from the other. Like Germany. Like Korea. Do I make myself clear? I said two states, two states, two states waiting for reunification. When such reunification will come, only God knows. Personally I don’t believe that it will come before 20 years or so. Which is why I have always advocated the admittance of North Vietnam and South Vietnam to the United Nations.[/quote]

    Dịch

    Lập trường của tôi là chúng tôi sẽ không bao giờ chấp nhận một công thức như vậy, bất kể nó được ngụy trang dưới hình thức nào. Tôi không áp đặt bất kỳ hình thức chính phủ nào lên Hà Nội, và tôi không muốn Hà Nội áp đặt bất kỳ hình thức chính phủ nào lên Sài Gòn. Hiến pháp của Bắc Việt nói rằng nước Việt Nam là một, không thể phân chia, từ Lào Cai đến Cà Mau. Hiến pháp của Nam Việt Nam cũng nói như vậy: nước Việt Nam là một từ Cà Mau đến Lào Cai vân vân. Nhưng tình trạng thực tế vẫn tồn tại, và tình trạng này dựa trên sự việc là có hai nhà nước. Vì vậy, tôi luôn luôn coi là có hai nhà nước trong một quốc gia: nhà nước của Bắc Việt Nam và nhà nước của Nam Việt Nam, mỗi nhà nước có chính phủ riêng, quốc hội riêng, và hiến pháp riêng của mình. Do đó mỗi một trong hai nhà nước này phải quyết định tương lai chính trị của riêng mình mà không có sự can thiệp của bên kia. Như Đức. Như Hàn. Tôi nói có rõ ràng không? Tôi nói hai nhà nước, hai nhà nước chờ đợi thống nhất. Bao giờ thống nhất thì có Trời biết. Cá nhân tôi không tin chuyện đó xảy ra trước 20 năm hay khoảng đó. Đây là lý do tại sao tôi đã luôn luôn ủng hộ việc kết nạp cả hai miền Nam Bắc Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc.[/quote]

    -) "Do ai làm ra thì tùy internal political stucture của mỗi qg.". QUÁ ĐÚNG. "hiến pháp" của "quốc gia" CHMNVN do "government" của "Thủ Tướng" Huỳng Tấn Phát làm ra (-:

    Xin bác cái link "hiến pháp" của "quốc gia" CHMNVN

    :-) "Do ai làm ra thì tùy internal political stucture của mỗi qg.". QUÁ ĐÚNG. "hiến pháp" của CPCMLTCHMNVN do "government" của "Thủ Tướng" Huỳng Tấn Phát làm ra (-:

    Xin bác cái link "hiến pháp" của CPCMLTCHMNVN

    Lập trường và quan điểm của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

    [quote=NVT] What I maintain is that we'll never accept such a formula, no matter how well disguised. I do not impose any form of government on Hanoi, and I do not want Hanoi to impose any form of government on Saigon. The constitution of North Vietnam says that Vietnam is one, indivisible, from Lao Kai to Ca Mau. The constitution of South Vietnam says the same: Vietnam is one from Ca Mau to Lao Kai etcetera. But a de facto situation remains, and this situation is based on two states. So I always have considered that there are two states in the nation: the state of North Vietnam and the state of South Vietnam, each with its own government, its own parliament, its own constitution. Therefore each of these two states must decide its own political future without interference from the other. Like Germany. Like Korea. Do I make myself clear? I said two states, two states, two states waiting for reunification. When such reunification will come, only God knows. Personally I don’t believe that it will come before 20 years or so. Which is why I have always advocated the admittance of North Vietnam and South Vietnam to the United Nations.[/quote]

    Dịch

    Lập trường của tôi là chúng tôi sẽ không bao giờ chấp nhận một công thức như vậy, bất kể nó được ngụy trang dưới hình thức nào. Tôi không áp đặt bất kỳ hình thức chính phủ nào lên Hà Nội, và tôi không muốn Hà Nội áp đặt bất kỳ hình thức chính phủ nào lên Sài Gòn. Hiến pháp của Bắc Việt nói rằng nước Việt Nam là một, không thể phân chia, từ Lào Cai đến Cà Mau. Hiến pháp của Nam Việt Nam cũng nói như vậy: nước Việt Nam là một từ Cà Mau đến Lào Cai vân vân. Nhưng tình trạng thực tế vẫn tồn tại, và tình trạng này dựa trên sự việc là có hai nhà nước. Vì vậy, tôi luôn luôn coi là có hai nhà nước trong một quốc gia: nhà nước của Bắc Việt Nam và nhà nước của Nam Việt Nam, mỗi nhà nước có chính phủ riêng, quốc hội riêng, và hiến pháp riêng của mình. Do đó mỗi một trong hai nhà nước này phải quyết định tương lai chính trị của riêng mình mà không có sự can thiệp của bên kia. Như Đức. Như Hàn. Tôi nói có rõ ràng không? Tôi nói hai nhà nước, hai nhà nước chờ đợi thống nhất. Bao giờ thống nhất thì có Trời biết. Cá nhân tôi không tin chuyện đó xảy ra trước 20 năm hay khoảng đó. Đây là lý do tại sao tôi đã luôn luôn ủng hộ việc kết nạp cả hai miền Nam Bắc Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc.

    [quote=Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!!]Lại đề tài CPCMLTCHMNVN là "government" theo c của Article 1 của MD?

    Trích: "Theo tôi hiểu thì constituional autonomy trong LQT nói về sự độc lập của hiến pháp và luật pháp nội bộ của 1 QG: chúng không phải lệ thuộc vào hiến pháp và luật pháp của nước khác, mà cũng không phải lệ thuộc trực tiếp) vào LQT (to some extent, and is a debatable matter)."

    Hỏi: "hiến pháp" ở trên là ai làm ra? "government" theo nghĩa hẹp bác muốn tức là "hành pháp" làm ra "hiến pháp", hay là "government" gồm 3 nhánh trong đó nhánh lập pháp làm ra "hiến pháp"?[/quote]

    Khi nói về constitutional autonomy, Akehurst không nói HP/LP nội bộ do ai làm ra, chỉ nói là chúng phải có constitutional autonomy (không phải lệ thuộc vào hiến pháp và luật pháp của nước khác, vv). Do ai làm ra thì tùy internal political stucture của mỗi qg.

    Và Akehurst cũng nói

    "Moreover, it is important to note that, in principle, international law is indifferent towards the internal political stucture of states, be it based on Western conception of democracy and the rule of law, the sumpremacy of a Communist Party, Islamic perception of state and society, monarrchies or republic [còn tiếp, nhưng hiện không có sách nên không đánh máy thêm được]"

    [quote=TQVN]

    CP lưu vong VNCH?, có đây:

    http://www.danchimviet.info/archives/69896/mạ-dam-về-chinh-phủ-lưu-vong/2012/12

    http://www.cuutuchinhtri.org/CPQGVNLT

    "Tính liên tục" ===> một đứa trẻ cũng dư biết rằng một người bị cướp trấn lột hết, đất mất, nhà tan thành "dân oan", "đi bụi" thì làm sao giữ nhà liên tục được; có nhiều người cho tá túc, công nhận, cờ treo khắp nơi.

    Chính trị thế giới là một "trò chơi" của những cường quốc "to đầu" sử dụng để mặc cả nhau. Khi quyền lợi, tình hình thay đổi thì "liên tục" hay không không thành vấn đề, có thể "manipulate" theo tính gì mà chẳng được![/quote]

    Mấy cái chính phủ VNCH lưu vong của đ/c TQVN không có tính...liên tục!!!

    Bình thường sau khi chạy toé khói, hoàn hồn 1 cái ta phải thành lập CQ lưu vong ngay!? Chậm nhất là năm 1976, sau khi VNDCCH kết hợp với CHMNVN thành CHXHCNVN, phải lập tức phản đối chuyện đó lên LHQ và khẳng định sự tồn tại của VNCH dù là lưu vong.

    Chứ sau khi chạy toé khói lại nằm khểnh hoặc đi cày 2-3 jobs 15-20 năm, đợi nhà cao, cửa rộng, có xe hơi...rồi mới thành lập CQ lưu vong thì ai sẽ công nhận???

    Lại đề tài CPCMLTCHMNVN là "government" theo c của Article 1 của MD?

    Trích: "Theo tôi hiểu thì constituional autonomy trong LQT nói về sự độc lập của hiến pháp và luật pháp nội bộ của 1 QG: chúng không phải lệ thuộc vào hiến pháp và luật pháp của nước khác, mà cũng không phải lệ thuộc trực tiếp) vào LQT (to some extent, and is a debatable matter)."

    Hỏi: "hiến pháp" ở trên là ai làm ra? "government" theo nghĩa hẹp bác muốn tức là "hành pháp" làm ra "hiến pháp", hay là "government" gồm 3 nhánh trong đó nhánh lập pháp làm ra "hiến pháp"?

    Lại đề tài CPCMLTCHMNVN là "government" theo c của Article 1 của MD?

    Trích: "Theo tôi hiểu thì constituional autonomy trong LQT nói về sự độc lập của hiến pháp và luật pháp nội bộ của 1 QG: chúng không phải lệ thuộc vào hiến pháp và luật pháp của nước khác, mà cũng không phải lệ thuộc trực tiếp) vào LQT (to some extent, and is a debatable matter)."

    Hỏi: "hiến pháp" ở trên là ai làm ra? "government" theo nghĩa hẹp bác muốn tức là "hành pháp" làm ra "hiến pháp", hay là "government" gồm 3 nhánh trong đó nhánh lập pháp làm ra "hiến pháp"?

    Bác AMCTC,

    1. Bác tìm đọc quyển "The Creation of States in International Law" của GS James Crawford ĐH Cambridge, trang 472-477, sẽ thấy ông này kết luận VNCH và VNDCCH là 2 QG.

    Bác Google thử Professor James Crawford law sẽ thấy ông này đã là luật sư trong hàng chục phiên tòa quốc tế, trong đó có ICJ, ITLOS, tranh chấp lãnh thổ, biển. Ông này có uy tín về LQT hơn tác giả bác đưa ra nhiều.

    2. Dĩ nhiên là HĐ Geneve nói nó không chia VN thành 2 QG, nhưng tôi cho rằng nó không cấm vĩnh viễn những yếu tố khác chia VN thành 2 QG.

    Bác đọc HĐ ngưng bắn bán đảo Korea cũng sẽ thấy nó chỉ là HĐ ngưng bắn với 1 đường ngưng bắn, nhưng sau đó BTT và NH vẫn thành 2 QG.

    3. Giả sử như TQ thuê James Crawford để chứng minh VNCH và VNDCCH là 2 QG thì sao? VN cãi được không? Không cãi được thì đầu hàng với quan điểm "CHXHCNVN là VNDCCH thôn tính VNCH, không thụ đắc CQ" tự chọn cho mình à?

    4. Bác vẫn chưa trả lời tôi về Akehurst bàn về điều kiện "government" của Montevideo có nói là phải có QH/legislature hay không, nếu có nói thì nói trong câu nào.

    Và sự thật ?

    AGREEMENT ON THE CESSATION OF HOSTILITIES IN VIET-NAM, JULY 20, 1954

    (The Genera Agreements theoretically ended the war between French Union forces and the Vietminh in Laos, Cambodia, and Vietnam. These states were to become fully independent countries, with the last-named partitioned near the 17th parallel into two states pending reunification through "free elections" to be held by July 20, 1956. The United States and Vietnam are not signatories to these agreements.)

    CHAPTER I-PROVISIONAL MILITARY DEMARCATION LINE AND DEMILITARIZED ZONE

    Article 1

    A provisional military demarcation line shall be fixed, on either side of which the forces of the two parties shall be regrouped after their withdrawal, the forces of the People's Army of Viet-Nam to the north of the line and the forces of the French Union to the south.

    The provisional military demarcation line is fixed as shown on the map attached (omitted).

    It is also agreed that a demilitarized zone shall be established on either side of the demarcation line, to a width of not more than 5 kms. from it, to act. as a buffer zone and avoid any incidents which might result in the resumption of hostilities.

    Article 2

    The period within which the movement of all the forces of either party into its regrouping zone on either side of the provisional military demarcation line shall be completed shall not exceed three hundred (300) days from the date of the present Agreement's entry into force.

    Article 3

    When the provisional military demarcation line coincides with a waterway, the waters of such waterway shall be open to civil navigation by both parties wherever one bank is controlled by one party and the other bank by the other party. The joint Commission shall establish rules of navigation for the stretch of waterway in question. The merchant shipping and other civilian craft of each party shall have unrestricted access to the land under its military control.

    Article 4

    The provisional military demarcation line between the two final regrouping zones is extended into the territorial waters by a line perpendicular to the general line of the coast.

    All coastal islands north of this boundary shall be evacuated by the armed forces of the French union, and all islands south of it shall he evacuated by the forces of the People's Army of Viet-Nam.

    Article 5

    To avoid any incidents which might result in the resumption of hostilities, all military forces, supplies and equipment shall be withdrawn from the demilitarized zone within twenty-five (25) days of the present Agreement's entry into force.

    Article 6

    No person, military or civilian, shall be permitted to cross the provisional military demarcation line unless specifically authorized to do so by the Joint Commission.

    Article 7

    No person, military or civilian, shall be permitted to enter the demilitarized zone except persons concerned with the conduct of civil administration and relief and persons specifically authorized to enter by the Joint Commission.

    Article 8

    Civil administration and relief in the demilitarized zone on either side of the provisional military demarcation line shall be the responsibility of the Commanders-in-Chief of the two parties in their respective zones. The number of persons, military or civilian, from each side who are permitted to enter the demilitarized zone for the conduct of civil administration and relief shall be determined by the respective Commanders, but in no case shall the total number authorized by either side exceed at any one time a figure to be determined by the Trung Gia Military Commission or by the Joint Commission. The number of civil police and the arms to be carried by them shall be determined by the Joint Commission. No one else shall carry arms unless specifically authorized to do so by the joint Commission.

    Article 9

    Nothing contained in this chapter shall be construed as limiting the complete freedom of movement, into, out of or within the demilitarized zone of the Joint Commission, its joint groups, the International Commission to be set up as indicated below, its inspection teams and any other persons, supplies or equipment specifically authorized to enter the demilitarized zone by the Joint Commission. Freedom of movement shall be permitted across the territory under the military control of either side over any road or waterway which has to be taken between points within the demilitarized zone when such points are not connected by roads or waterways lying completely within the demilitarized zone.

    CHAPTER II-PRINCIPLES AND PROCEDURE GOVERNING IMPLEMENTATION OF THE PRESENT AGREEMENT

    Article 10

    The Commanders of the Forces on each side, on the one side the Commander-in-Chief of the French Union forces in Indo-China and on the other side the Commander-in-Chief of the People's Army of Viet-Nam, shall order and enforce the complete cessation of all hostilities in Viet-Nam by all armed forces under their control, including all units and personnel of the ground, naval and air forces.

    Article 11

    In accordance with the principle of a simultaneous cease-fire throughout Indo-China, the cessation of hostilities shall be simultaneous throughout all parts of Viet-Nam, in all areas of hostilities and for all the forces of the two parties.

    Taking into account the time effectively required to transmit the cease-fire order down to the lowest echelons of the combatant forces on both sides, the two parties are agreed that the cease-fire shall take effect completely and simultaneously for the different sectors of the country as follows:

    Northern Viet-Nam at 8:00 a. m. (local time) on 27 July 1954
    Central Viet-Nam at 8:00 a. m. (local time) on 1 August 1954
    Southern Viet-Nam at 8:00 a. m. (local time) on 11 August 1954

    It is agreed that Pekin mean time shall be taken as local time.

    From such time as the cease-fire becomes effective in Northern Viet-Nam, both parties undertake not to engage in any large-scale offensive action in any part of the Indo-Chinese theatre of operations and not to commit the air forces based on Northern Viet-Nam outside that sector. The two parties also undertake to inform each other of their plans for movement from one regrouping zone to another within twenty-five (05) days of the present Agreement's entry into force.

    Article 12

    All the operations and movements entailed in the cessation of hostilities and regrouping must proceed in a safe and orderly fashion

    (a) Within a certain number of days after the cease-fire Agreement shall have become effective, the number to be determined on the spot by the Trung Gia Military Commission, each party shall be responsible for removing and neutralizing mines (including river- and sea-mines), booby traps, explosives and any other dangerous substances placed by it. In the event of its being impossible to complete the work of removal and neutralization in time, the party concerned shall mark the spot by placing visible signs there. All demolitions, mine fields, wire entanglements and other hazards to the free movement of the personnel of the Joint Commission and its joint groups, known to be present after the withdrawal of the military forces, shall be reported to the Joint Commission by the Commanders of the opposing forces;

    (b) From the time of the cease-fire until regrouping is completed on either side of the demarcation line:

    (1) The forces of either party shall be provisionally withdrawn from the provisional assembly areas assigned to the other party.

    (2) When one party's forces withdraw by a route (road, rail, waterway, sea route) which passes through the territory of the other party (see Article 24), the latter party's forces must provisionally withdraw three kilometres on each side of such route, but in such a manner as to avoid interfering with the movements of the civil population.

    Article 13

    From the time of the cease-fire until the completion of the movements from one regrouping zone into the other, civil and military transport aircraft shall follow air-corridors between the provisional assembly areas assigned to the French Union forces north of the demarcation line on the one hand and the Laotian frontier and the regrouping zone assigned to the French Union forces on the other hand.

    The position of the air-corridors, their width, the safety route for single-engined military aircraft transferred to the south and the search and rescue procedure for aircraft in distress shall he determined on the spot by the Trung Gia Military Commission.

    Article 14

    Political and administrative measures in the two regrouping zones, on either side of the provisional military demarcation line:

    (a) Pending the general elections which will bring about the unification of Viet-Nam, the conduct of civil administration in each regrouping zone shall be in the hands of the party whose forces are to be regrouped there in virtue of the present Agreement

    (b) Any territory controlled by one party which is transferred to the other party by the regrouping plan shall continue to be administered by the former party until such date as all the troops who are to be transferred have completely left that territory so as to free the zone assigned to the party in question. From then on, such territory shall be regarded as transferred to the other party, who shall assume responsibility for it.

    Steps shall be taken to ensure that there is no break in the transfer of responsibilities. For this purpose, adequate notices shall be given by the withdrawing party to the other party, which shall make the necessary arrangements, in particular by sending administrative and police detachments to prepare for the assumption of administrative responsibility. The length of such notice shall he determined by the Trung Gia Military Commission. The transfer shall he effected in successive stages for the various territorial sectors.

    The transfer of the civil administration of Hanoi and Haiphong to the authorities of the Democratic Republic of Viet-Nam shall be completed within the respective time-limits laid down in Article 15 for military movements.

    (c) Each party undertakes to refrain from any reprisals or discrimination against persons or organizations on account of their activities during the hostilities and to guarantee their democratic liberties.

    (d) From the date of entry into force of the present agreement until the movement of troops is completed, any civilians residing in a district controlled by one party who wish to go and live in the zone assigned to the other party shall be permitted and helped to do so by the authorities in that district.

    Article 16

    The disengagement of the combatants, and the withdrawals and transfers of military forces, equipment and supplies shall take place in accordance with the following principles:

    (a) The withdrawals and transfers of the military forces equipment and supplies of the two parties shall be completed within three hundred (300) days, as laid down in Article 2 of the present Agreement;

    (b) Within either territory successive withdrawals shall be made by sectors, portions of sectors or provinces. Transfers from one regrouping zone to another shall be made in successive monthly installments proportionate to the number of troops to be transferred;

    (c) The two parties shall undertake to carry out all troop withdrawals and transfers in accordance with the aims of the present Agreement, shall permit no hostile act and shall take no step whatsoever which might hamper such withdrawals and transfers. They shall assist one another as far as this is possible

    (d) The two parties shall permit no destruction or sabotage of any public property and no injury to the life and property of the civil population. They shall permit no interference in local civil administration;

    (e) The Joint Commission and the International Commission shall ensure that steps are taken to safeguard the forces in the course of withdrawal and transfer:

    (f) The Trung Gia Military Commission, and later the Joint Commission, shall determine by common agreement the exact procedure for the disengagement of the combatants and for troop withdrawals and transfers, on the basis of the principles mentioned above and within the framework laid down below:

    1. The disengagement of the combatants, including the concentration of the armed forces of all kinds and also each party's movements into the provisional assembly areas assigned to it and the other party's provisional withdrawal from it, shall be completed within a period not exceeding fifteen (15) days after the date when the cease-fire becomes effective.

    The general delineation of the provisional assembly areas is set out in the maps annexed to the present Agreement.

    In order to avoid any incidents, no troops shall be stationed less than 1,500 metres from the lines delimiting the provisional assembly areas.

    During the period until the transfers are concluded, all the coastal islands west of the following lines shall be included in the Haiphong perimeter:

    -meridian of the southern point of Kebao Island
    -northern coast of the Ile Rousse (excluding the island), extended as far as the meridian of Campha-Mines
    -meridian of Champha-Mines.

    2. The withdrawals and transfers shall be effected in the following order and within the following periods (from the date of the entry into force of the present Agreement)

    Forces of the French Union........ Days

    Hanoi perimeter....... 80
    Haiduong perimeter....... 100
    Haipbong perimeter....... 300

    Forces of the People's Army of Viet-Nam.......Days

    Ham Tan and Xuyeninec provisional assembly area....... 80
    Central Viet-Nam provisional assembly area-first instalment..... 80
    Plaine des Jones provisional assembly area....... 100
    Point Camau provisional assembly area........ 200
    Central Viet-Nam Provisional assembly area-last installment.. 300

    CHAPTER III-BAN ON INTRODUCTION OF FRESH TROOPS, MILITARY PERSONNEL, ARMS AND MUNITIONS, MILITARY BASES

    Article 16

    With effect from the date of entry into force of the present Agreement, the introduction into Viet-Nam of any troop reinforcements and additional military personnel is prohibited.

    It is understood however, that the rotation of units and groups of personnel, the arrival in Viet-Nam of individual personnel on a temporary duty basis and the return to Viet-Nam of individual personnel after short periods of leave or temporary duty outside Viet-Nam shall be permitted under the conditions laid down below:

    (a) Rotation of units (defined in paragraph (c) of this Article) and groups of personnel shall not be permitted for French Union troops stationed north of the provisional military demarcation line laid down in Article l of the present Agreement, during the withdrawal period provided for in Article 2.

    However, under the heading of individual personnel not more than fifty (50) men, including officers, shall during any one month be permitted to enter that part of the country north of the provisional military demarcation line on a temporary duty basis or to return there after short periods of leave or temporary duty outside Viet-Nam.

    (b) "Rotation" is defined as the replacement of units or groups of personnel by other units of the same echelon or by personnel who are arriving in Viet-Nam territory to do their overseas service there;

    (c) The units rotated shall never be larger than a battalion-or the corresponding echelon for air and naval forces;

    (d) Rotation shall be conducted on a man-for-man basis, provided, however, that in any one quarter neither party shall introduce more than fifteen thousand five hundred (15,500) members of its armed forces into Viet-Nam under the rotation policy.

    (e) Rotation units (defined in paragraph (c) of this Article) and groups of personnel, and the individual personnel mentioned in this Article, shall enter and leave Viet-Nam only through the entry points enumerated in Article 20 below:

    (f) Each p arty shall notify the Joint Commission and the International Commission at least two days in advance of any arrivals or departures of units, groups of personnel and individual personnel in or from Viet-Nam. Reports on the arrivals or departures of units, groups of personnel and individual personnel in or from Viet-Nam shall be submitted daily to the Joint Commission and the International Commission.

    All the above-mentioned notifications and reports shall indicate the places and dates of arrival or departure and the number of persons arriving or departing.

    (g) The International Commission, through its Inspection Teams, shall supervise and inspect the rotation of units and groups of personnel and the arrival and departure of individual personnel as authorized above, at the points of entry enumerated in Article 20 below.

    Article 17

    (a) With effect from the date of entry into force of the present Agreement, the introduction into Viet- Nam of any reinforcements in the form of all types of arms, munitions and other war material, such as combat aircraft, naval craft, pieces of ordnance jet engines and jet weapons and armoured vehicles, is prohibited.

    (b) It is understood, however, that war material, arms and munitions which have been destroyed, damaged worn out or used up after the cessation of hostilities may be replaced on the basis of piece-for-piece of the same type and with similar characteristics. Such replacements of war material, arms and munitions shall not he permitted for French Union troops stationed north of the provisional military demarcation line laid down in Article 1 of the present Agreement during the withdrawal period provided for in Article 2.

    Naval craft may perform transport operations between the regrouping zones.

    (c) The war material, arms and munitions for replacement purposes prov ided for in paragraph (b) of this Article, shall be introduced into Viet-Nam only through the points of entry enumerated in Article 20 below. War material, arms and munitions to be replaced shall be shipped from Viet-Nam only through the points of entry enumerated in Article 20 below;

    (d) Apart from the replacements permitted within the limits laid down in paragraph of this Article, the introduction of war material, arms and munitions of all types in the form of unassembled parts for subsequent assembly is prohibited;

    (e) Each party shall notify the Joint Commission and the International Commission at least two days in advance of any arrivals or departures which may take place of war material, arms and munitions of all types.

    In order to justify the requests for the introduction into Viet-Nam of arms, munitions and other war material (as defined in paragraph (a) of this Article) for replacement purposes, a report concerning each incoming shipment shall be submitted to the Joint Commission and the International Commission. Such reports shall indicate the use made of the items so replaced.

    (f) The International Commission, through its Inspection Teams, shall supervise and inspect the replacements permitted in the circumstances laid down in this Article, at the points of entry enumerated in Article 20 below.

    Article 18

    With effect from the date of entry into force of the present Agreement, the establishment of new military bases is prohibited throughout Viet-Nam territory.

    Article 19

    With effect from the date of entry into force of the present Agreement, no military base under the control of a foreign State may be established in the regrouping zone of either party; the two parties shall ensure that the zones assigned to them do not adhere to any military alliance and are not used for the resumption of hostilities or to further an aggressive policy.

    Article 20

    The points of entry into Viet-Nam for rotation personnel and replacements of material are fixed as follows:

    -Zones to the north of the provisional military demarcation line: Laokay, Langson, Tien-Yen, Haiphong, Vinh, Dong-Hoi, Muong- Sen;

    -Zone to the south of the provisional military demarcation line: Tourane, Quinhon, Nhatrang, Bangoi, Saigon, Cap St. Jacques, Tanchan.

    CHAPTER IV-PRISONERS OF WAR AND CIVILIAN INTERNEES

    Article 21

    The liberation and repatriation of all prisoners of war and civilian internees detained by each of the two parties at the coming into force of the present Agreement shall be carried out under the following conditions:

    (a) All prisoners of war and civilian internees of Viet-Nam, French and other nationalities captured since the beginning of hostilities in Viet-Nam during military operations or in any other circumstances of war and in any part of the territory of Viet-Nam shall be liberated within a period of thirty (30) days after the date when the cease-fire becomes effective in each theatre.

    (b) The term "civilian internees" is understood to mean all persons who, having in any way contributed to the political and armed struggle between the two parties, have been arrested for that reason and have been kept in detention by either party during the period of hostilities.

    (c) All prisoners of war and civilian internees held by either party shall be surrendered to the appropriate authorities of the other party, who shall give them all possible assistance in proceeding to their country of origin, place of habitual residence or the zone of their choice.

    CHAPTER V-MISCELLANEOUS

    Article 22

    The commanders of the Forces of the two parties shall ensure that persons under their respective commands who violate any of the provisions of the present Agreement are suitably punished.

    Article 23

    In cases in which the place of burial is known and the existence of graves has been established, the Commander of the Forces of either party shall, within a specific period after the entry into force of the Armistice Agreement, permit. the graves service personnel of the other party to enter the part of Viet-Nam territory under their military control for the purpose of finding and removing the bodies of deceased military personnel of that party, including the bodies of deceased prisoners of war. The Joint Commission shall determine the procedures and the time limit for the performance of this task. The Commanders of the Forces of the two parties shall communicate to each other all information in their possession as to the place of burial of military personnel of the other party.

    Article 24

    The present Agreement shall apply to all the armed forces of either party. The armed forces of each party shall respect the demilitarized zone and the territory under the military control of the other party, and shall commit no act and undertake no operation against the other party and shall not engage in blockade of any kind in Viet-Nam.

    For the purposes of the present Article, the word "territory" includes territorial waters and air space.

    Article 25

    The Commanders of the Forces of the two parties shall afford full protection and all possible assistance and co-operation to the Joint Commission and its joint groups and to the international Commission and its inspection teams in the performance of the functions and tasks assigned to them by the present Agreement.

    Article 26

    The costs involved in the operations of the Joint Commission and joint groups and of the International Commission and its inspection Teams shall be shared equally between the two parties.

    Article 27

    The signatories of the present Agreement and their successors in their functions shall be responsible for ensuring and observance and enforcement of the terms and provisions thereof. The Commanders of the Forces of the two parties shall, within their respective commands, take all steps and make all arrangements necessary to ensure full compliance with all the provisions of the present Agreement by all elements and military personnel under their command.

    The procedures laid down in the present Agreement shall, whenever necessary, he studied by the Commanders of the two parties and, if necessary, defined more specifically by the Joint Commission.

    CHAPTER VI--JOINT COMMISSION AND INTERNATIONAL COMMISSION FOR SUPERVISION AND CONTROL IN VIET-NAM

    28. Responsibility for the execution of the agreement on the cessation of hostilities shall rest with the parties.

    29. An International Commission shall ensure the control and supervision of this execution.

    30. In order to facilitate, under the conditions shown below, the execution of provisions concerning joint actions by the two parties, a Joint Commission shall be set up in Viet-Nam.

    31. The Joint Commission shall be composed of an equal number of representatives of the Commanders of the two parties.

    32. The Presidents of the delegations to the Joint Commission shall hold the rank of General.

    The Joint Commission shall set up joint groups the number of which shall be determined by mutual agreement between the parties. The groups shall be composed of an equal number of officers from both parties. Their location on the demarcation line between the regrouping zones shall he determined by the parties whilst taking into account the powers of the Joint Commission.

    33. The Joint Commission shall ensure the execution of the following provisions of the Agreement on the cessation of hostilities:

    (a) A simultaneous and general cease-tire in Viet-Nam for all regular and irregular armed forces of the two parties.

    (b) A re-groupment of the armed forces of the two parties.

    (c) Observance of the demarcation lines between the regrouping zones and of the demilitarized sectors.

    Within the limits of its competence it shall help the parties to execute the said provisions, shall ensure liaison between them for the purpose of preparing and carrying out plans for the application of these provisions, and shall endeavor to solve such disputed questions as may arise between the parties in the course of executing these provisions.

    34. An International Commission shall be set up for the control and supervision over the application of the provisions of the agreement on the cessation of hostilities in Viet-Nam. It shall be composed of representatives of the following States: Canada, India and Poland.

    It shall be presided over by the Representative of India.

    35. The International Commission shall set up fixed and mobile inspection teams, composed of an equal number of officers appointed by each of the above-mentioned States. The fixed teams shall be located at the following points: Laokay, Langson, Tien-Yen, Haiphong, Vinh, Dong-Hoi, Muong-Sen, Tourane, Quinhon, Nhatrang, Bangoi, Saigon, Cap St. Jacques, Tranchau. These points of location may, at a later date, he altered at the request of the Joint Commission, or of one of the parties, or of the International Commission itself, by agreement between the International Commission and the command of the party concerned. The zones of action of the mobile teams shall be the regions bordering the land and sea frontiers of Viet-Nam, the demarcation lines between the re-grouping zones and the demilitarized zones. Within the limits of these zones they shall have the right to move freely and shall receive from the local civil and military authorities all facilities they may require for the fulfilment of their tasks (provision of personnel, placing at their disposal documents needed for supervision, summoning witnesses necessary for holding enquiries, ensuring the security and freedom of movement of the inspection teams etc. . .). They shall have at their disposal such modern means of transport, observation and communication as they may require. Beyond the zones of action as defined above, the mobile teams may, by agreement with the command of the party concerned, carry out other movements within the limits of the tasks given them by the present agreement.

    36. The International Commission shall be responsible for supervising the proper execution by the parties of the provisions of the agreement. For this purpose it shall fulfill the tasks of control, observation, inspection and investigation connected with the application of the provisions of the agreement on the cessation of hostilities, and it shall in particular:

    (a) Control the movement of the armed forces of the two parties, effected within the framework of the regroupment plan.

    (b) Supervise the demarcation lines between the re-grouping areas, and also the demilitarized zones.

    (c) Control the operations of releasing prisoners of war and civilian internees.

    (d) Supervise at ports and airfields as well as along all frontiers of Viet-Nam the execution of the provisions of the agreement on the cessation of hostilities, regulating the introduction into the country of armed forces, military personnel and of all kinds of arms, munitions and war material.

    37. The International Commission shall, through the medium of the inspection teams mentioned above, and as soon as possible either on its own initiative, or at the request of the Joint Commission, or of one the parties, undertake the necessary investigations both documentary and on the ground.

    38. The inspection teams shall submit to the International Commission the results of their supervision, their investigation and their observations, furthermore they shall draw up such special reports as they may consider necessary or as may be requested from them by the Commission. In the case of a disagreement within the teams, the conclusions of each member shall be submitted to the Commission.

    39. If any one inspection team is unable to settle an incident or considers that there is a violation or a threat of a serious violation the international Commission shall be informed; the latter shall study the reports and the conclusions of the inspection teams and shall inform the parties of the measures which should be taken for the settlement of the incident, ending of the violation or removal of the threat of violation.

    40. When the Joint Commission is unable to reach an agreement on the interpretation to be given to some provision or on the appraisal of a fact, the International Commission shall be informed of the disputed question. Its recommendations shall be sent directly to the parties and shall be notified to the Joint Commission.

    41. The recommendations of the International Commission shall be adopted by majority vote, subject to the provisions contained in article 42. If the votes are divided the chairman's vote shall be decisive.

    The International Commission may formulate recommendations concerning amendments and additions which should he made to the provisions of the agreement on the cessation of hostilities in Viet-Nam, in order to ensure a more effective execution of that agreement. These recommendations shall be adopted unanimously.

    42. When dealing with questions concerning violations, or threats of violations, which might lead to a resumption of hostilities, namely:

    (a) Refusal by the armed forces of one party to effect the movements provided for in the regroupment plan;

    (b) Violation by the armed forces of one of the parties of the regrouping zones, territorial waters, or air space of the other party;

    the decisions of the International Commission must be unanimous.

    43. If one of the parties refuses to put into effect a recommendation of the International Commission, the parties concerned or the Commission itself shall inform the members of the Geneva Conference.

    If the International Commission does not reach reach unanimity in the cases provided for in article 42, it shall submit a majority report and one or more minority reports to the members of the Conference.

    The International Commission shall inform the members of the Conference in all cases where its activity is being hindered.

    44. The International Commission shall be set up at the time of the cessation of hostilities in Indo-China in order that it should lie able to fulfill the the tasks provided for in article 36.

    45. The International Commission for Supervision and Control in Viet-Nam shall act in close co-operation with the International Commissions for Supervision and Control in Cambodia and Laos.

    The Secretaries-General of these three Commissions shall be responsible for co-ordinating their work and for relations between them.

    46. The International Commission for Supervision and Control in Viet-Nam may, after consultation with the International Commissions for Supervision and Control in Cambodia and Laos, and having regard to the development of the situation in Cambodia and Laos, progressively reduce its activities. Such a decision must be adopted unanimously.

    47. All the provisions of the present Agreement, save the second sub-paragraph of Article 11, shall enter into force at 2400 hours (Geneva time) on 22 July 1954.

    Done in Geneva at 2400 hours on the 20th of July 1954 in French and in Viet-Namese, both texts being equally authentic.

    For the Commander-in-Chief of the French Union Forces in Indo-China

    Brigadier-General DELTEII.

    For the Commander-in-Chief of the People's Army of Viet-Nam

    TA-QUANG BUU, Indo-China
    Vice-Minister of National Defence of the Democratic Republic of Viet-Nam

    Source: U.S. Congress, Senate, Committee on Foreign Relations, 90th Congress, 1st Session, Background Information Relating to Southeast Asia and Vietnam (3d Revised Edition) (Washington, DC: U.S. Government Printing Office, July 1967), pp. 50-62Và sự thật ?
    AGREEMENT ON THE CESSATION OF HOSTILITIES IN VIET-NAM, JULY 20, 1954

    (The Genera Agreements theoretically ended the war between French Union forces and the Vietminh in Laos, Cambodia, and Vietnam. These states were to become fully independent countries, with the last-named partitioned near the 17th parallel into two states pending reunification through "free elections" to be held by July 20, 1956. The United States and Vietnam are not signatories to these agreements.)

    CHAPTER I-PROVISIONAL MILITARY DEMARCATION LINE AND DEMILITARIZED ZONE

    Article 1

    A provisional military demarcation line shall be fixed, on either side of which the forces of the two parties shall be regrouped after their withdrawal, the forces of the People's Army of Viet-Nam to the north of the line and the forces of the French Union to the south.

    The provisional military demarcation line is fixed as shown on the map attached (omitted).

    It is also agreed that a demilitarized zone shall be established on either side of the demarcation line, to a width of not more than 5 kms. from it, to act. as a buffer zone and avoid any incidents which might result in the resumption of hostilities.

    Article 2

    The period within which the movement of all the forces of either party into its regrouping zone on either side of the provisional military demarcation line shall be completed shall not exceed three hundred (300) days from the date of the present Agreement's entry into force.

    Article 3

    When the provisional military demarcation line coincides with a waterway, the waters of such waterway shall be open to civil navigation by both parties wherever one bank is controlled by one party and the other bank by the other party. The joint Commission shall establish rules of navigation for the stretch of waterway in question. The merchant shipping and other civilian craft of each party shall have unrestricted access to the land under its military control.

    Article 4

    The provisional military demarcation line between the two final regrouping zones is extended into the territorial waters by a line perpendicular to the general line of the coast.

    All coastal islands north of this boundary shall be evacuated by the armed forces of the French union, and all islands south of it shall he evacuated by the forces of the People's Army of Viet-Nam.

    Article 5

    To avoid any incidents which might result in the resumption of hostilities, all military forces, supplies and equipment shall be withdrawn from the demilitarized zone within twenty-five (25) days of the present Agreement's entry into force.

    Article 6

    No person, military or civilian, shall be permitted to cross the provisional military demarcation line unless specifically authorized to do so by the Joint Commission.

    Article 7

    No person, military or civilian, shall be permitted to enter the demilitarized zone except persons concerned with the conduct of civil administration and relief and persons specifically authorized to enter by the Joint Commission.

    Article 8

    Civil administration and relief in the demilitarized zone on either side of the provisional military demarcation line shall be the responsibility of the Commanders-in-Chief of the two parties in their respective zones. The number of persons, military or civilian, from each side who are permitted to enter the demilitarized zone for the conduct of civil administration and relief shall be determined by the respective Commanders, but in no case shall the total number authorized by either side exceed at any one time a figure to be determined by the Trung Gia Military Commission or by the Joint Commission. The number of civil police and the arms to be carried by them shall be determined by the Joint Commission. No one else shall carry arms unless specifically authorized to do so by the joint Commission.

    Article 9

    Nothing contained in this chapter shall be construed as limiting the complete freedom of movement, into, out of or within the demilitarized zone of the Joint Commission, its joint groups, the International Commission to be set up as indicated below, its inspection teams and any other persons, supplies or equipment specifically authorized to enter the demilitarized zone by the Joint Commission. Freedom of movement shall be permitted across the territory under the military control of either side over any road or waterway which has to be taken between points within the demilitarized zone when such points are not connected by roads or waterways lying completely within the demilitarized zone.

    CHAPTER II-PRINCIPLES AND PROCEDURE GOVERNING IMPLEMENTATION OF THE PRESENT AGREEMENT

    Article 10

    The Commanders of the Forces on each side, on the one side the Commander-in-Chief of the French Union forces in Indo-China and on the other side the Commander-in-Chief of the People's Army of Viet-Nam, shall order and enforce the complete cessation of all hostilities in Viet-Nam by all armed forces under their control, including all units and personnel of the ground, naval and air forces.

    Article 11

    In accordance with the principle of a simultaneous cease-fire throughout Indo-China, the cessation of hostilities shall be simultaneous throughout all parts of Viet-Nam, in all areas of hostilities and for all the forces of the two parties.

    Taking into account the time effectively required to transmit the cease-fire order down to the lowest echelons of the combatant forces on both sides, the two parties are agreed that the cease-fire shall take effect completely and simultaneously for the different sectors of the country as follows:

    Northern Viet-Nam at 8:00 a. m. (local time) on 27 July 1954
    Central Viet-Nam at 8:00 a. m. (local time) on 1 August 1954
    Southern Viet-Nam at 8:00 a. m. (local time) on 11 August 1954

    It is agreed that Pekin mean time shall be taken as local time.

    From such time as the cease-fire becomes effective in Northern Viet-Nam, both parties undertake not to engage in any large-scale offensive action in any part of the Indo-Chinese theatre of operations and not to commit the air forces based on Northern Viet-Nam outside that sector. The two parties also undertake to inform each other of their plans for movement from one regrouping zone to another within twenty-five (05) days of the present Agreement's entry into force.

    Article 12

    All the operations and movements entailed in the cessation of hostilities and regrouping must proceed in a safe and orderly fashion

    (a) Within a certain number of days after the cease-fire Agreement shall have become effective, the number to be determined on the spot by the Trung Gia Military Commission, each party shall be responsible for removing and neutralizing mines (including river- and sea-mines), booby traps, explosives and any other dangerous substances placed by it. In the event of its being impossible to complete the work of removal and neutralization in time, the party concerned shall mark the spot by placing visible signs there. All demolitions, mine fields, wire entanglements and other hazards to the free movement of the personnel of the Joint Commission and its joint groups, known to be present after the withdrawal of the military forces, shall be reported to the Joint Commission by the Commanders of the opposing forces;

    (b) From the time of the cease-fire until regrouping is completed on either side of the demarcation line:

    (1) The forces of either party shall be provisionally withdrawn from the provisional assembly areas assigned to the other party.

    (2) When one party's forces withdraw by a route (road, rail, waterway, sea route) which passes through the territory of the other party (see Article 24), the latter party's forces must provisionally withdraw three kilometres on each side of such route, but in such a manner as to avoid interfering with the movements of the civil population.

    Article 13

    From the time of the cease-fire until the completion of the movements from one regrouping zone into the other, civil and military transport aircraft shall follow air-corridors between the provisional assembly areas assigned to the French Union forces north of the demarcation line on the one hand and the Laotian frontier and the regrouping zone assigned to the French Union forces on the other hand.

    The position of the air-corridors, their width, the safety route for single-engined military aircraft transferred to the south and the search and rescue procedure for aircraft in distress shall he determined on the spot by the Trung Gia Military Commission.

    Article 14

    Political and administrative measures in the two regrouping zones, on either side of the provisional military demarcation line:

    (a) Pending the general elections which will bring about the unification of Viet-Nam, the conduct of civil administration in each regrouping zone shall be in the hands of the party whose forces are to be regrouped there in virtue of the present Agreement

    (b) Any territory controlled by one party which is transferred to the other party by the regrouping plan shall continue to be administered by the former party until such date as all the troops who are to be transferred have completely left that territory so as to free the zone assigned to the party in question. From then on, such territory shall be regarded as transferred to the other party, who shall assume responsibility for it.

    Steps shall be taken to ensure that there is no break in the transfer of responsibilities. For this purpose, adequate notices shall be given by the withdrawing party to the other party, which shall make the necessary arrangements, in particular by sending administrative and police detachments to prepare for the assumption of administrative responsibility. The length of such notice shall he determined by the Trung Gia Military Commission. The transfer shall he effected in successive stages for the various territorial sectors.

    The transfer of the civil administration of Hanoi and Haiphong to the authorities of the Democratic Republic of Viet-Nam shall be completed within the respective time-limits laid down in Article 15 for military movements.

    (c) Each party undertakes to refrain from any reprisals or discrimination against persons or organizations on account of their activities during the hostilities and to guarantee their democratic liberties.

    (d) From the date of entry into force of the present agreement until the movement of troops is completed, any civilians residing in a district controlled by one party who wish to go and live in the zone assigned to the other party shall be permitted and helped to do so by the authorities in that district.

    Article 16

    The disengagement of the combatants, and the withdrawals and transfers of military forces, equipment and supplies shall take place in accordance with the following principles:

    (a) The withdrawals and transfers of the military forces equipment and supplies of the two parties shall be completed within three hundred (300) days, as laid down in Article 2 of the present Agreement;

    (b) Within either territory successive withdrawals shall be made by sectors, portions of sectors or provinces. Transfers from one regrouping zone to another shall be made in successive monthly installments proportionate to the number of troops to be transferred;

    (c) The two parties shall undertake to carry out all troop withdrawals and transfers in accordance with the aims of the present Agreement, shall permit no hostile act and shall take no step whatsoever which might hamper such withdrawals and transfers. They shall assist one another as far as this is possible

    (d) The two parties shall permit no destruction or sabotage of any public property and no injury to the life and property of the civil population. They shall permit no interference in local civil administration;

    (e) The Joint Commission and the International Commission shall ensure that steps are taken to safeguard the forces in the course of withdrawal and transfer:

    (f) The Trung Gia Military Commission, and later the Joint Commission, shall determine by common agreement the exact procedure for the disengagement of the combatants and for troop withdrawals and transfers, on the basis of the principles mentioned above and within the framework laid down below:

    1. The disengagement of the combatants, including the concentration of the armed forces of all kinds and also each party's movements into the provisional assembly areas assigned to it and the other party's provisional withdrawal from it, shall be completed within a period not exceeding fifteen (15) days after the date when the cease-fire becomes effective.

    The general delineation of the provisional assembly areas is set out in the maps annexed to the present Agreement.

    In order to avoid any incidents, no troops shall be stationed less than 1,500 metres from the lines delimiting the provisional assembly areas.

    During the period until the transfers are concluded, all the coastal islands west of the following lines shall be included in the Haiphong perimeter:

    -meridian of the southern point of Kebao Island
    -northern coast of the Ile Rousse (excluding the island), extended as far as the meridian of Campha-Mines
    -meridian of Champha-Mines.

    2. The withdrawals and transfers shall be effected in the following order and within the following periods (from the date of the entry into force of the present Agreement)

    Forces of the French Union........ Days

    Hanoi perimeter....... 80
    Haiduong perimeter....... 100
    Haipbong perimeter....... 300

    Forces of the People's Army of Viet-Nam.......Days

    Ham Tan and Xuyeninec provisional assembly area....... 80
    Central Viet-Nam provisional assembly area-first instalment..... 80
    Plaine des Jones provisional assembly area....... 100
    Point Camau provisional assembly area........ 200
    Central Viet-Nam Provisional assembly area-last installment.. 300

    CHAPTER III-BAN ON INTRODUCTION OF FRESH TROOPS, MILITARY PERSONNEL, ARMS AND MUNITIONS, MILITARY BASES

    Article 16

    With effect from the date of entry into force of the present Agreement, the introduction into Viet-Nam of any troop reinforcements and additional military personnel is prohibited.

    It is understood however, that the rotation of units and groups of personnel, the arrival in Viet-Nam of individual personnel on a temporary duty basis and the return to Viet-Nam of individual personnel after short periods of leave or temporary duty outside Viet-Nam shall be permitted under the conditions laid down below:

    (a) Rotation of units (defined in paragraph (c) of this Article) and groups of personnel shall not be permitted for French Union troops stationed north of the provisional military demarcation line laid down in Article l of the present Agreement, during the withdrawal period provided for in Article 2.

    However, under the heading of individual personnel not more than fifty (50) men, including officers, shall during any one month be permitted to enter that part of the country north of the provisional military demarcation line on a temporary duty basis or to return there after short periods of leave or temporary duty outside Viet-Nam.

    (b) "Rotation" is defined as the replacement of units or groups of personnel by other units of the same echelon or by personnel who are arriving in Viet-Nam territory to do their overseas service there;

    (c) The units rotated shall never be larger than a battalion-or the corresponding echelon for air and naval forces;

    (d) Rotation shall be conducted on a man-for-man basis, provided, however, that in any one quarter neither party shall introduce more than fifteen thousand five hundred (15,500) members of its armed forces into Viet-Nam under the rotation policy.

    (e) Rotation units (defined in paragraph (c) of this Article) and groups of personnel, and the individual personnel mentioned in this Article, shall enter and leave Viet-Nam only through the entry points enumerated in Article 20 below:

    (f) Each p arty shall notify the Joint Commission and the International Commission at least two days in advance of any arrivals or departures of units, groups of personnel and individual personnel in or from Viet-Nam. Reports on the arrivals or departures of units, groups of personnel and individual personnel in or from Viet-Nam shall be submitted daily to the Joint Commission and the International Commission.

    All the above-mentioned notifications and reports shall indicate the places and dates of arrival or departure and the number of persons arriving or departing.

    (g) The International Commission, through its Inspection Teams, shall supervise and inspect the rotation of units and groups of personnel and the arrival and departure of individual personnel as authorized above, at the points of entry enumerated in Article 20 below.

    Article 17

    (a) With effect from the date of entry into force of the present Agreement, the introduction into Viet- Nam of any reinforcements in the form of all types of arms, munitions and other war material, such as combat aircraft, naval craft, pieces of ordnance jet engines and jet weapons and armoured vehicles, is prohibited.

    (b) It is understood, however, that war material, arms and munitions which have been destroyed, damaged worn out or used up after the cessation of hostilities may be replaced on the basis of piece-for-piece of the same type and with similar characteristics. Such replacements of war material, arms and munitions shall not he permitted for French Union troops stationed north of the provisional military demarcation line laid down in Article 1 of the present Agreement during the withdrawal period provided for in Article 2.

    Naval craft may perform transport operations between the regrouping zones.

    (c) The war material, arms and munitions for replacement purposes prov ided for in paragraph (b) of this Article, shall be introduced into Viet-Nam only through the points of entry enumerated in Article 20 below. War material, arms and munitions to be replaced shall be shipped from Viet-Nam only through the points of entry enumerated in Article 20 below;

    (d) Apart from the replacements permitted within the limits laid down in paragraph of this Article, the introduction of war material, arms and munitions of all types in the form of unassembled parts for subsequent assembly is prohibited;

    (e) Each party shall notify the Joint Commission and the International Commission at least two days in advance of any arrivals or departures which may take place of war material, arms and munitions of all types.

    In order to justify the requests for the introduction into Viet-Nam of arms, munitions and other war material (as defined in paragraph (a) of this Article) for replacement purposes, a report concerning each incoming shipment shall be submitted to the Joint Commission and the International Commission. Such reports shall indicate the use made of the items so replaced.

    (f) The International Commission, through its Inspection Teams, shall supervise and inspect the replacements permitted in the circumstances laid down in this Article, at the points of entry enumerated in Article 20 below.

    Article 18

    With effect from the date of entry into force of the present Agreement, the establishment of new military bases is prohibited throughout Viet-Nam territory.

    Article 19

    With effect from the date of entry into force of the present Agreement, no military base under the control of a foreign State may be established in the regrouping zone of either party; the two parties shall ensure that the zones assigned to them do not adhere to any military alliance and are not used for the resumption of hostilities or to further an aggressive policy.

    Article 20

    The points of entry into Viet-Nam for rotation personnel and replacements of material are fixed as follows:

    -Zones to the north of the provisional military demarcation line: Laokay, Langson, Tien-Yen, Haiphong, Vinh, Dong-Hoi, Muong- Sen;

    -Zone to the south of the provisional military demarcation line: Tourane, Quinhon, Nhatrang, Bangoi, Saigon, Cap St. Jacques, Tanchan.

    CHAPTER IV-PRISONERS OF WAR AND CIVILIAN INTERNEES

    Article 21

    The liberation and repatriation of all prisoners of war and civilian internees detained by each of the two parties at the coming into force of the present Agreement shall be carried out under the following conditions:

    (a) All prisoners of war and civilian internees of Viet-Nam, French and other nationalities captured since the beginning of hostilities in Viet-Nam during military operations or in any other circumstances of war and in any part of the territory of Viet-Nam shall be liberated within a period of thirty (30) days after the date when the cease-fire becomes effective in each theatre.

    (b) The term "civilian internees" is understood to mean all persons who, having in any way contributed to the political and armed struggle between the two parties, have been arrested for that reason and have been kept in detention by either party during the period of hostilities.

    (c) All prisoners of war and civilian internees held by either party shall be surrendered to the appropriate authorities of the other party, who shall give them all possible assistance in proceeding to their country of origin, place of habitual residence or the zone of their choice.

    CHAPTER V-MISCELLANEOUS

    Article 22

    The commanders of the Forces of the two parties shall ensure that persons under their respective commands who violate any of the provisions of the present Agreement are suitably punished.

    Article 23

    In cases in which the place of burial is known and the existence of graves has been established, the Commander of the Forces of either party shall, within a specific period after the entry into force of the Armistice Agreement, permit. the graves service personnel of the other party to enter the part of Viet-Nam territory under their military control for the purpose of finding and removing the bodies of deceased military personnel of that party, including the bodies of deceased prisoners of war. The Joint Commission shall determine the procedures and the time limit for the performance of this task. The Commanders of the Forces of the two parties shall communicate to each other all information in their possession as to the place of burial of military personnel of the other party.

    Article 24

    The present Agreement shall apply to all the armed forces of either party. The armed forces of each party shall respect the demilitarized zone and the territory under the military control of the other party, and shall commit no act and undertake no operation against the other party and shall not engage in blockade of any kind in Viet-Nam.

    For the purposes of the present Article, the word "territory" includes territorial waters and air space.

    Article 25

    The Commanders of the Forces of the two parties shall afford full protection and all possible assistance and co-operation to the Joint Commission and its joint groups and to the international Commission and its inspection teams in the performance of the functions and tasks assigned to them by the present Agreement.

    Article 26

    The costs involved in the operations of the Joint Commission and joint groups and of the International Commission and its inspection Teams shall be shared equally between the two parties.

    Article 27

    The signatories of the present Agreement and their successors in their functions shall be responsible for ensuring and observance and enforcement of the terms and provisions thereof. The Commanders of the Forces of the two parties shall, within their respective commands, take all steps and make all arrangements necessary to ensure full compliance with all the provisions of the present Agreement by all elements and military personnel under their command.

    The procedures laid down in the present Agreement shall, whenever necessary, he studied by the Commanders of the two parties and, if necessary, defined more specifically by the Joint Commission.

    CHAPTER VI--JOINT COMMISSION AND INTERNATIONAL COMMISSION FOR SUPERVISION AND CONTROL IN VIET-NAM

    28. Responsibility for the execution of the agreement on the cessation of hostilities shall rest with the parties.

    29. An International Commission shall ensure the control and supervision of this execution.

    30. In order to facilitate, under the conditions shown below, the execution of provisions concerning joint actions by the two parties, a Joint Commission shall be set up in Viet-Nam.

    31. The Joint Commission shall be composed of an equal number of representatives of the Commanders of the two parties.

    32. The Presidents of the delegations to the Joint Commission shall hold the rank of General.

    The Joint Commission shall set up joint groups the number of which shall be determined by mutual agreement between the parties. The groups shall be composed of an equal number of officers from both parties. Their location on the demarcation line between the regrouping zones shall he determined by the parties whilst taking into account the powers of the Joint Commission.

    33. The Joint Commission shall ensure the execution of the following provisions of the Agreement on the cessation of hostilities:

    (a) A simultaneous and general cease-tire in Viet-Nam for all regular and irregular armed forces of the two parties.

    (b) A re-groupment of the armed forces of the two parties.

    (c) Observance of the demarcation lines between the regrouping zones and of the demilitarized sectors.

    Within the limits of its competence it shall help the parties to execute the said provisions, shall ensure liaison between them for the purpose of preparing and carrying out plans for the application of these provisions, and shall endeavor to solve such disputed questions as may arise between the parties in the course of executing these provisions.

    34. An International Commission shall be set up for the control and supervision over the application of the provisions of the agreement on the cessation of hostilities in Viet-Nam. It shall be composed of representatives of the following States: Canada, India and Poland.

    It shall be presided over by the Representative of India.

    35. The International Commission shall set up fixed and mobile inspection teams, composed of an equal number of officers appointed by each of the above-mentioned States. The fixed teams shall be located at the following points: Laokay, Langson, Tien-Yen, Haiphong, Vinh, Dong-Hoi, Muong-Sen, Tourane, Quinhon, Nhatrang, Bangoi, Saigon, Cap St. Jacques, Tranchau. These points of location may, at a later date, he altered at the request of the Joint Commission, or of one of the parties, or of the International Commission itself, by agreement between the International Commission and the command of the party concerned. The zones of action of the mobile teams shall be the regions bordering the land and sea frontiers of Viet-Nam, the demarcation lines between the re-grouping zones and the demilitarized zones. Within the limits of these zones they shall have the right to move freely and shall receive from the local civil and military authorities all facilities they may require for the fulfilment of their tasks (provision of personnel, placing at their disposal documents needed for supervision, summoning witnesses necessary for holding enquiries, ensuring the security and freedom of movement of the inspection teams etc. . .). They shall have at their disposal such modern means of transport, observation and communication as they may require. Beyond the zones of action as defined above, the mobile teams may, by agreement with the command of the party concerned, carry out other movements within the limits of the tasks given them by the present agreement.

    36. The International Commission shall be responsible for supervising the proper execution by the parties of the provisions of the agreement. For this purpose it shall fulfill the tasks of control, observation, inspection and investigation connected with the application of the provisions of the agreement on the cessation of hostilities, and it shall in particular:

    (a) Control the movement of the armed forces of the two parties, effected within the framework of the regroupment plan.

    (b) Supervise the demarcation lines between the re-grouping areas, and also the demilitarized zones.

    (c) Control the operations of releasing prisoners of war and civilian internees.

    (d) Supervise at ports and airfields as well as along all frontiers of Viet-Nam the execution of the provisions of the agreement on the cessation of hostilities, regulating the introduction into the country of armed forces, military personnel and of all kinds of arms, munitions and war material.

    37. The International Commission shall, through the medium of the inspection teams mentioned above, and as soon as possible either on its own initiative, or at the request of the Joint Commission, or of one the parties, undertake the necessary investigations both documentary and on the ground.

    38. The inspection teams shall submit to the International Commission the results of their supervision, their investigation and their observations, furthermore they shall draw up such special reports as they may consider necessary or as may be requested from them by the Commission. In the case of a disagreement within the teams, the conclusions of each member shall be submitted to the Commission.

    39. If any one inspection team is unable to settle an incident or considers that there is a violation or a threat of a serious violation the international Commission shall be informed; the latter shall study the reports and the conclusions of the inspection teams and shall inform the parties of the measures which should be taken for the settlement of the incident, ending of the violation or removal of the threat of violation.

    40. When the Joint Commission is unable to reach an agreement on the interpretation to be given to some provision or on the appraisal of a fact, the International Commission shall be informed of the disputed question. Its recommendations shall be sent directly to the parties and shall be notified to the Joint Commission.

    41. The recommendations of the International Commission shall be adopted by majority vote, subject to the provisions contained in article 42. If the votes are divided the chairman's vote shall be decisive.

    The International Commission may formulate recommendations concerning amendments and additions which should he made to the provisions of the agreement on the cessation of hostilities in Viet-Nam, in order to ensure a more effective execution of that agreement. These recommendations shall be adopted unanimously.

    42. When dealing with questions concerning violations, or threats of violations, which might lead to a resumption of hostilities, namely:

    (a) Refusal by the armed forces of one party to effect the movements provided for in the regroupment plan;

    (b) Violation by the armed forces of one of the parties of the regrouping zones, territorial waters, or air space of the other party;

    the decisions of the International Commission must be unanimous.

    43. If one of the parties refuses to put into effect a recommendation of the International Commission, the parties concerned or the Commission itself shall inform the members of the Geneva Conference.

    If the International Commission does not reach reach unanimity in the cases provided for in article 42, it shall submit a majority report and one or more minority reports to the members of the Conference.

    The International Commission shall inform the members of the Conference in all cases where its activity is being hindered.

    44. The International Commission shall be set up at the time of the cessation of hostilities in Indo-China in order that it should lie able to fulfill the the tasks provided for in article 36.

    45. The International Commission for Supervision and Control in Viet-Nam shall act in close co-operation with the International Commissions for Supervision and Control in Cambodia and Laos.

    The Secretaries-General of these three Commissions shall be responsible for co-ordinating their work and for relations between them.

    46. The International Commission for Supervision and Control in Viet-Nam may, after consultation with the International Commissions for Supervision and Control in Cambodia and Laos, and having regard to the development of the situation in Cambodia and Laos, progressively reduce its activities. Such a decision must be adopted unanimously.

    47. All the provisions of the present Agreement, save the second sub-paragraph of Article 11, shall enter into force at 2400 hours (Geneva time) on 22 July 1954.

    Done in Geneva at 2400 hours on the 20th of July 1954 in French and in Viet-Namese, both texts being equally authentic.

    For the Commander-in-Chief of the French Union Forces in Indo-China

    Brigadier-General DELTEII.

    For the Commander-in-Chief of the People's Army of Viet-Nam

    TA-QUANG BUU, Indo-China
    Vice-Minister of National Defence of the Democratic Republic of Viet-Nam

    Source: U.S. Congress, Senate, Committee on Foreign Relations, 90th Congress, 1st Session, Background Information Relating to Southeast Asia and Vietnam (3d Revised Edition) (Washington, DC: U.S. Government Printing Office, July 1967), pp. 50-62

    Nhưng nếu ra tòa và đưa CP lưu vong đó ra để nói từ 30/4/75 đến nay VNCH vẫn còn tồn tại như 1 QG thì khả năng tòa sẽ chấp nhận là bao nhiêu?

    Có cao hơn khả năng tòa chấp nhận CHMNVN là 1 QG (cùng QG, khác tên với VNCH) không?

    [quote=TQVN][quote=VN2006A]

    Chưa tính đến chuyện VNCH đã chết thẳng cẳng!!! vì trong 40 năm qua không hề có 1 chính quyền VNCH lưu vong, để chứng minh nó chưa chết!!![/quote]

    CP lưu vong VNCH?, có đây:

    http://www.danchimviet.info/archives/69896/mạ-dam-về-chinh-phủ-lưu-vong/2012/12

    http://www.cuutuchinhtri.org/CPQGVNLT

    "Tính liên tục" ===> một đứa trẻ cũng dư biết rằng một người bị cướp trấn lột hết, đất mất, nhà tan thành "dân oan", "đi bụi" thì làm sao giữ nhà liên tục được; có nhiều người cho tá túc, công nhận, cờ treo khắp nơi.

    Chính trị thế giới là một "trò chơi" của những cường quốc "to đầu" sử dụng để mặc cả nhau. Khi quyền lợi, tình hình thay đổi thì "liên tục" hay không không thành vấn đề, có thể "manipulate" theo tính gì mà chẳng được![/quote]

    Có người nói "chỉ có 1 quốc gia trên lãnh thổ VN":
    Christoph Giebel
    date Nov 17, 2006 5:23 PM
    subject Re: [Vsg] "Partition" of Viet Nam
    Catharin,

    Well, to begin with, the Geneva Conference in 1954 did not result in
    "partition" at all! So the use of this term already reinforces the
    false framing that is going on all the time in American public
    discourses, namely, the notion of two countries --so-called "North Viet
    Nam" and so-called "South Viet Nam"-- with a border at the 17th
    parallel. (To wit, see CNN's ridiculous description yesterday of the
    Tet offensive as "the Viet Cong's deadly communist push into South
    Vietnam," with its implied, pseudo-legalistic binary.)

    Geneva basically addressed two larger issues, military and political.
    Regarding the former, the DMZ was solely created as a temporary cease
    fire line to disentangle opposing *military* forces, those of the Viet
    Minh/DRVN (who by then controlled an overwhelming portion of the
    country, having to move north of the DMZ) and those of the French
    forces and the fledgling ASVN army (moving south). The political
    solution was envisioned to be the country-wide elections to be held in
    1956. These elections were supposed to result in a unified government,
    rather than the two rival government that had existed since 1945 (DRVN)
    and 1949 (ASVN), both claiming sole legitimate authority over all of
    Viet Nam, of course.

    So Viet Nam was never partitioned into two countries, nor did any of
    the rival governments (with the ASVN replaced by the RVN in 1955) claim
    that to be the case. This is quite different from, say, the two
    Germanys during the Cold War or the secession of the US South in the
    1860s.

    Even if we disregard the rival political claims to government/state
    authority over all of Viet Nam and just focus on actual control over
    territory and population, the notion that Geneva resulted in the *de
    facto* "partition" of Viet Nam into "two entities" is at best
    problematic. First, this is not a result of the Geneva agreements at
    all, which indeed delineated a political process of conflict
    resolution, but of the later decisions by the RVN and the US (both of
    which had refused to sign on to the agreements) not to hold the
    elections that were to result in one all-Vietnamese government and
    state. Second, while the DRVN controlled pretty much the entire
    "entity" north of the DMZ after 1954, the "entity" south of the DMZ was
    never under full control of the Sai Gon government, 1956-1958
    notwithstanding when Ngo Dinh Diem had his best shot at it. Large
    swaths of territory south of the 17th parallel were either continuously
    disputed or controlled by forces opposed to the US and the RVN's claim
    to legitimate authority and either loyal to the DRVN or at least wedded
    to various visions of a revolutionary, unified Viet Nam.

    So, in sum, (1) Geneva in 1954 de iure did not "partition" Viet Nam
    into two countries, and (2) the decision by the RVN/US not to allow
    country-wide elections resulted in the de facto fragmentation of Viet
    Nam into several, certainly not just two, rather fluid "entities" at
    war.

    Regards,
    Christoph

    C. Giebel
    UW-Seattle

    [quote=VN2006A]

    Chưa tính đến chuyện VNCH đã chết thẳng cẳng!!! vì trong 40 năm qua không hề có 1 chính quyền VNCH lưu vong, để chứng minh nó chưa chết!!![/quote]

    CP lưu vong VNCH?, có đây:

    http://www.danchimviet.info/archives/69896/mạ-dam-về-chinh-phủ-lưu-vong/2012/12

    http://www.cuutuchinhtri.org/CPQGVNLT

    "Tính liên tục" ===> một đứa trẻ cũng dư biết rằng một người bị cướp trấn lột hết, đất mất, nhà tan thành "dân oan", "đi bụi" thì làm sao giữ nhà liên tục được; có nhiều người cho tá túc, công nhận, cờ treo khắp nơi.

    Chính trị thế giới là một "trò chơi" của những cường quốc "to đầu" sử dụng để mặc cả nhau. Khi quyền lợi, tình hình thay đổi thì "liên tục" hay không không thành vấn đề, có thể "manipulate" theo tính gì mà chẳng được!

    Ý của bác DD Huy khá rõ ràng, nhưng có lẽ bác là dân vật lý, diễn đạt không theo lối của dân viết báo, nên không lôi cuốn được dân anamit cảm tính. :-)

    Vấn đề chủ yếu có lẽ được gói gọn trong 3 chữ "tính liên tục" trong việc khẳng định/ kế thừa chủ quyền.

    Lịch sử VN cận đại có thể diễn giải đơn giản như sau:

    Vietnam triều Nguyễn -->1954 VNDCCH+VNCH --> 1976 CHXHCNVN

    - Vietnam triều Nguyễn có chủ quyền với HS-TS!!!
    - VNCH có chủ quyền với HS-TS!!!

    Câu hỏi đặt ra:

    - CHXHCNVN có chủ quyền với HS-TS hay không???

    - Nếu CHXHCNVN không có chủ quyền với HS-TS thì ai là "người" có, "người" đó ở đâu???

    - Nếu "người" đó là VNCH đã chết 40 năm thì có được không??? "tính liên tục" trong trường hợp này thế nào??? ngắt quãng 40 năm có được chấp nhận là liên tục hay không, nếu ngay bây giờ VNCH "sống lại"???

    Chưa tính đến chuyện VNCH đã chết thẳng cẳng!!! vì trong 40 năm qua không hề có 1 chính quyền VNCH lưu vong, để chứng minh nó chưa chết!!!

    PS.: "tính liên tục" có lẽ khá quan trọng, vì rất có thể TQ chứng minh được họ đã đến HS-TS trước An Nam!!! Nhưng trong bản đồ triều Thanh không có ghi HS-TS, thì có nghĩa là họ bị mất "tính liên tục"

    Ai cho rằng "tính liên tục" không quan trọng thử thuyết phục độc giả xem thế nào, có thể "tính liên tục" không quan trọng thật??? Nhưng trước hết lập luận phải đứng vững được cái đã!!!

    Trích một đoạn của tác giả Trương Nhân Tuấn, quý vị xem ông ấy đánh tráo thế nào ?

    TNT : Mọi người cho rằng CP LTCHMNVN kế thừa Hoàng Sa từ VNCH. Tôi đặt vấn đề : làm sao chính phủ này có thể « kế thừa » một lãnh thổ đã bị mất ?

    Theo quốc tế công pháp, từ đầu thế kỷ 20 đến nay, danh nghĩa chủ quyền lãnh thổ không thể thiết lập bằng phương cách sử dụng vũ lực. Tức là, nếu « quốc gia » VNCH không bị giải thể (hay được kế thừa), thì cho dầu TQ trên thực tế chiếm hữu được vùng lãnh thổ này, danh nghĩa chủ quyền của nó vẫn do VNCH nắm giữ.

    Nhưng nếu VNCH bị giải thể, không có kế thừa, thì vùng lãnh thổ này sẽ mất vĩnh viễn vào tay TQ.

    Theo tập quán quốc tế (về quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia), khi quốc gia có thay đổi chính thể do biến động chính trị (do đảo chánh, cách mạng …), hay một quốc gia mới được khai sinh (do thống nhất hai quốc gia hay hai vùng lãnh thổ, quốc gia ly khai…), nội hàm của « chủ quyền – souveraineté » thay đổi, việc kế thừa quốc gia sẽ phải đặt ra. CHXHCNVN nằm trong trường hợp này.

    Điều 1 của Nghị quyết của LHQ cho biết ý nghĩa của việc « kế thừa quốc gia » :

    « Sự kế thừa của quốc gia là sự thay thế quốc gia đó trong trách nhiệm về những quan hệ quốc tế liên quan đến lãnh thổ. »

    CP LTCHMNVN, sau 1975, đã thể hiện những hành vi nào để kế thừa « danh nghĩa chủ quyền » Hoàng Sa từ « quốc gia » VNCH ?

    Câu trả lời (thê lương) là không có điều gì cả ! Không có thủ tục bàn giao chính quyền thì không có kế thừa. VNCH bại trận, lãnh thổ do VNCH kiểm soát đơn thuần trở thành lãnh thổ của CHMNVN.

    ----------------
    Ý tôi :

    Ông TNT nói rất rõ : nếu VNCH bị giải thể, không có kế thừa, thì vùng lãnh thổ này sẽ mất vĩnh viễn vào tay TQ.

    Thời điểm 17-1-1974 TQ dùng vũ lực chiếm HS, VNCH buột chống trả để bảo vệ chủ quyền.

    Lúc này, quân đội VNDCCH và “quân đội” MTGPMN ở đâu ?

    Câu trả lời : không những im lặng tuyệt đối mà còn tiếp tay TQ đánh cho VNCH đến chết. !!!

    Hành vi im lặng, đối với quốc tế công pháp, được hiểu như là sự đồng thuận ám thị, rằng hành động của TQ không liên quan gì đến họ.

    Sau khi mất HS, VNCH liên tục phản đối trước Quốc Tế, Liên Xô, Mỹ... cũng phản đối hành vi này của TQ, còn 02 chủ thể VNDCCH và MTGPMN tiếp tục im lặng, còn từ chối ký tên chung với VNCH trong bản tuyên bố để lên án TQ xâm lăng, nói lên điều gì? TQ chiếm đảo của ai đó, không liên quan đến tụi tôi !!!

    Hai đánh một không chột cũng què, đàng này tới 03 thằng : trên cạn bị thằng cu lớn, cu nhỏ đánh (anh em ruột trong nhà), dưới nước bị thằng anh kết nghĩa của 02 thằng anh em đánh, mãnh hổ nan địch quần hồ..

    Ngày 30/4/1975 : tôi chấp nhận cho CHMNVN là hậu duệ của VNCH, ngày này chủ thể VNCH qua đời, không còn tiếp tục phản đối lên án TQ trước Quốc Tế được nữa, hậu duệ của nó cũng KHÔNG, từ ngày này cho đến khi chết nó cũng không hề lên tiếng như đã thấy .

    (Lưu ý : chính hậu duệ của VNCH đã bác bỏ ngoài tai lời dặn dò đòi lại HS : không nghe, không cần, qua tuyên bố ai cũng nghe : ông không có gì để bàn giao lại cho tôi cả)

    Như vậy : CHMNVN đã từ bỏ danh nghĩa chủ quyền pháp lý của mình tại HS, làm sao CHXHCNVN hôm nay có quyền ? Tự nhiên như ruồi ư ? Nhảm !!!

    Chủ quyền không bằng Quyền lực. Mất chủ quyền có thể đòi lại được chứ mất quyền lực là mất tất cả

    (Đây là ý nghĩa Power đã đề cập : nhằm làm rõ năng lực pháp lý và năng lực hành vi của QG theo LQT

    VNCH làm hết cách vẫn không đủ sức bảo vệ chủ quyền mảnh đất thiêng liêng của Tổ Quốc, thằng hậu duệ thì quá kém, nhu nhược, lại bị bóp cổ chết yểu..)

    Có một điều nữa một số bác vô tình hay cố ý không biết:

    Trong LQT, tính quốc gia của 1 QG là liên tục qua các cuộc đổi chế độ/các cuộc cách mạng như thế. Eg, khi Romania lật đổ độc tài Caucescu thì không có chuyện QG cũ chết đi, QG mới ra đời; khi phe cách mạng lật Gaddafi cũng thế, khi Mỹ + đồng minh lật Taliban, Saddam cũng thế. Bác nào không tin thì cứ đi tìm đọc TL LQT về điều này.

    Giả sử ngày 1/1/2015 có 1 cuộc cách mạng hay gì đó ở VN, với bất kỳ hình thức nào đó, lật đổ chế độ, lập ra 1 chế độ mới, đổi tên VN thành CHxxxx VN, thì việc đó cũng không làm cho VN thành 1 QG mới. Sau khi đổi chế độ và đổi tên như thế, trong LQT CHxxxx VN sẽ vẫn là 1 QG với CH XHCNVN.

    Điều này có nghĩa nếu CH XHCNVN bị ràng buộc về CH PVĐ thì CHxxxx VN cũng sẽ bị ràng buộc, nếu CH XHCNVN không có CQ với HS thì CHxxxx VN cũng sẽ không có. Nếu có HĐ nào giữa TQ và CHXHCMVN có tính ràng buộc pháp lý thì CHxxxx VN cũng sẽ bị ràng buộc. Đơn giản là vì theo LQT thì CH XHCNVN và CHxxxx VN chỉ là 2 tên khác nhau của 1 QG.

    Tất nhiên CHxxxx VN có thể dám ra tòa hơn CHXHCN VN (đó là thuộc phạm trù quyết định chính trị của CHxxxx VN và CHXHCN VN), nhưng khả năng thắng/thua trước tòa do những gì đã xảy ra trước ngày đổi chế độ sẽ không khác nhau (đó là thuộc phạm vi LQT).

    Tình trạng nó bi đát như vậy đó. Tôi chỉ là người đưa tin đó (thông tin pháp lý) thôi.

    Các bác cũng nên để ý đến đoạn này Akehurst viết

    "It may be articificial to describe Agfhanistan as an independent state when everybody knew that Afghanistan was forced tp follow Soviet policy on all important questions, however, if international law tried to take into account all the political realities into account, it would be impossible to make a clear distinction between dependent and independent states, because all states, even the strongest, are subject to varrying degrees of pressure and influence from other States."

    Nếu thay Afghanistan sau 1979 (ie trong thời gian LX chiếm đóng và dựng bù nhìn) với CHMNVN sau 30/4/1975 và thay LX với VNDCCH thì ta sẽ có câu sau (tất nhiên là câu khác với câu trên):

    "It may be articificial to describe CHMNVN as an independent state when everybody knew that CHMNVN was forced tp follow VNDCCH policy on all important questions, however, if international law tried to take into account all the political realities into account, it would be impossible to make a clear distinction between dependent and independent states, because all states, even the strongest, are subject to varrying degrees of pressure and influence from other States."

    Câu hỏi là câu trên có hợp lý không?

    Các bác cũng nên để ý đến đoạn này của Akehust:

    Therefore, although sometimes amouunting to little more than mere legal fiction, the vast majority of States are considered to be "independent" in this sense."

    Như vậy, việc CHMNVN "amounting to little more than mere legal fiction" không có nghĩa nó không thể được công nhận là độc lập.

    Ngược lại, khi tôi nói CHMNVN *có thể* (ie không chắc chắn) được công nhận là độc lập, thì không có nghĩa là tôi nói CHMNVN là gì hơn legal fiction, không phải là tôi nói gì tốt về CHMNVN.

    Tôi có thể vừa cho rằng CHMNVN chỉ là legal fiction, vừa có thể nói CHMNVN *có thể* (ie không chắc chắn) được công nhận là độc lập.

    Cuộc thảo luận về từ "government" trong CƯ Montevideo đòi hỏi có những gì đã đi vào lãnh vực political science (như một số phân tích, eg, của bác Khương Việt) và ngôn ngữ (eg Commonwealth English vs American English).

    Nhưng vấn đề ở đây là LQT đòi hỏi những requirements gì cho "government". LQT có thể đòi những requirements khác, political science có thể đòi khác, Commonwealth English có thể có nghĩa khác, American Englisg có thể khác.

    Tôi đã chỉ ra phân tích của sách LQT của Akehurst về LQT nói gì.

    Nếu bác nào post toàn bộ trang 77-97 sách Akehurst, tôi tin tưởng là chúng ta sẽ đồng ý là Akehurst nói về những yếu tố sau:

    1. Government phải có effective control. Akehurst giải thích effective control là thế nào.

    2. The requirements of effective control is not always enforced.

    3. Akehurst viết: "It may be articificial to describe Agfhanistan as an independent state when everybody knew that Afghanistan was forced tp follow Soviet policy on all important questions, however, if international law tried to take into account all the political realities into account, it would be impossible to make a clear distinction between dependent and independent states, because all states, even the strongest, are subject to varrying degrees of pressure and influence from other States. Therefore, although sometimes amouunting to little more than mere legal fiction, the vast majority of States are considered to be "independent" in this sense."

    4. Akehurst viết: "Moreover, it is important to note that, in principle, international law is indifferent towards the internal political stucture of states, be it based on Western conception of democracy and the rule of law, the sumpremacy of a Communist Party, Islamic perception of state and society, monarrchies or republic ..."

    Điều 4 suggest là có những vấn về "government" mà political science quan tâm, nhưng LQT không quan tâm.

    Về "effective control", bác AMCTC trách tôi là chỉ tóm tắt về goverment phải có establish and maintain legal order nhưng bỏ qua in the sense of constitutional autonomy (tôi paraphrase thôi nhé có thể không đúng từng chữ).

    Nhưng constituional autonomy trong LQT là gì?

    Nó có nghĩa là "government" trong CƯ Montevideo phải có cơ quan lập pháp/legislature/QH không? Theo tôi hiểu thì không. Theo tôi hiểu thì constituional autonomy trong LQT nói về sự độc lập của hiến pháp và luật pháp nội bộ của 1 QG: chúng không phải lệ thuộc vào hiến pháp và luật pháp của nước khác, mà cũng không phải lệ thuộc trực tiếp) vào LQT (to some extent, and is a debatable matter).

    Bác nào không tin tôi đã hiểu đúng về constitutional autonomy trong LQT thì có thể tìm đọc thêm, eg,

    http://iclr.upol.cz/wp-content/uploads/2011/03/20_21_Pippan_Christian-17...

    Như vậy, tôi vẫn cho rằng Article 1 của Montevideo và Akehurst không nói là không có quốc hội thì không phải là QG. Bác nào có thể dẫn chứng gì trong phận tích của Akehurst về Montevideo để nói phải có QH/legislature thì mới là QG trong LQT?

    [quote=Khương Việt]Nhìn đầu đề của bài viết, cứ tưởng là chẳng có gì thú vị lắm, nhưng tò mò vì thấy nhiều góp ý quá, nên cũng vào đọc xem cho biết. Đọc sơ qua các góp ý, tôi thấy dường như chúng ta đang bị lún sâu vào vấn đề từ ngữ, ở đó có vẻ như chưa có sự thống nhất về vài định nghĩa của một số từ thông dụng.

    Chẳng hạn như lẫn lộn giữa CHÍNH QUYỀN, hay hệ thống chính quyền, với CHÍNH PHỦ.

    Theo thiển kiến CHÍNH QUYỀN, nên được dùng tương đương với từ Government (Anh) hay Gouvernement (Pháp),chỉ chung một cơ cấu quyền lực để quản trị xã hội của một nước (State). Nói cách khác CHÍNH QUYỀN có 3 thuộc tính; đó là cơ cấu (structure,mechanism),quyền lực (power) thường là quyền lực chính trị, và quản trị (management, control).

    Và tuỳ theo mức độ phân chia quyền lực, hay phân công trách nhiệm,để một chính quyền là quân chủ, quân chủ lập hiến, tổng thống chế, hay nghị viện chế.

    Còn CHÍNH PHỦ, hay NỘI CÁC là từ nên dùng tương đương với từ Cabinet, Executive , hay Administrative Branch trong Anh ngữ. Nói cách khác, Chính phủ chỉ là phần HÀNH PHÁP của một chính quyền.

    Áp dụng sự phân biệt giữa CHÍNH QUYỀN-CHÍNH PHỦ như vậy vào trường hợp Anh Quốc chẳng hạn, chúng ta sẽ thấy rằng ở đó chính quyền bao gồm Nữ hoàng, một national figure hêad, đứng đầu một cách tượng trưng;sau đó đến nghị viện (Parliament)tức nghành lập pháp; và Chính Phủ, tức phần hành pháp. từ Nghị viện mà ra.

    Khi áp dụng vào Mỹ, thì nên gọi là Chính phủ của TT Obama, chẳng hạn, không nên nói là Chính quyền Obama. Khác với ở Anh, Chính phủ, hay cơ quan hành pháp, của Mỹ lại độc lập với Quốc Hội, tức độc lập với cơ quan lập pháp (legislative branch).

    Ngành Tư Pháp là một trong 3 ngành (judicial branch)của một chính quyền. Cũng tuỳ theo cách phân quyền mà Ngành Tư Pháp có mức độ độc lập khác nhau đối với hai ngành kia. Cũng nên phân biệt giữa ngành tư pháp trong một chính quyền với bộ tư pháp của một chính phủ.

    Sỡ dĩ nêu ra góp ý như vậy là vì thấy trong các góp ý đã, do vô tình hay cố ý, lẫn lộn giữa CHÍNH QUYỀN và CHÍNH PHỦ.Có lẽ VN chúng ta nên có một cơ quan, chẳng hạn như một Viện Hàn Lâm Việt Ngữ, để soạn tự điển, trong đó có những định nghĩa thống nhất về từ ngữ cho tất cả các ngành: chính trị, văn hoá, kinh tế, y học, tin học, hành chánh, v.v...[/quote]

    Tôi nghĩ không có sự nhầm lẫn giữa hai ý niệm/thực thể chính quyền và chính phủ ở đây mà là có sự nhầm lẫn tai hại giữa chính quyền/chính phủ và quốc gia/dân tộc. Thực ra, trong những nước độc tài và cộng sản, chính quyền và/là chính phủ bao gồm mọi thứ nên chính quyền đồng nghĩa với quốc gia. Đây là lý do tại sao những người bị nhiễm tuyên truyền của CS quá lâu thường không phân biệt được chính quyền CSVN dù cầm quyền đã lâu và có thể sẽ còn tại vị rất lâu nữa, là chính quyền CSVN không phải quốc gia/tổ quốc Việt nam. Bởi thế họ mới tru tréo vu cho những nhà đấu tranh cho dân chủ là phản quốc khi họ chống lại chính quyền CS tồi tệ hiện nay.

    Ở những nước dân chủ tự do Tây phương, chính quyền cũng là chính phủ vì để lập chính phủ để cầm quyền, các đảng phái hay tổ chức chính trị phải có đa số tại hạ viện nếu theo chế độ đại nghị hay phải được dân bầu trực tiếp theo tổng thống chế. Trong các nước theo chế độ đại nghị, đôi lúc chính quyền, dù có đa số dân biểu tại hạ viện vì thế được chỉ định lập chính phủ, nhưng không có đa số tại thượng viện (hay House of Lords bên Anh) thì cũng điêu đứng vì không toàn quyền ban hành luật lệ hay chính sách trị nước cho đến khi có tuyển cử. Trong trường hợp này, chính phủ hay chính quyền bị què quặt (lame duck) cho đến khi bị thay thế nếu thất cử hay hồi sinh nếu thắng cử sau cuộc tuyển cử mới. Vì có thể bị thay thế sau mỗi cuộc tuyển cử mà chính phủ hay chính quyền tại các nước dân chủ Tây phương thường hay thay đổi nên tạo cảm tưởng có sư khác biệt giữa chính quyền và chính phủ mà thôi.

    Sự phân biệt các nhánh quyền lực trong các xã hội dân chủ Tây phương không có nghĩa là chính quyền khác với chính phủ. Ví dụ: Ngành tư pháp dù độc lập với hành pháp tuy nhiên, phải xét xử theo luật lệ do lập pháp ban hành. Những luật lệ này dù do quốc hội, tức cơ quan lập pháp làm ra, nhưng chính hành pháp tức chính phủ là cơ chế đệ trình những luật lệ này và dùng đa số (cùng đảng hay xu hướng và quyền lợi chính trị với chính phủ) trong quốc hội để thông qua và ban hành.

    Một lấn cấn khác khiến cho có sự tranh cãi đôi khi quá gay gắt và vượt quá giới hạn lịch sự là sự lẫn lộn giữa tuyên truyền chính trị và giá trị pháp lý. Việc này thì rõ như ban ngày đối với những ai có chút hiểu biết và kinh nghiệm về lịch sử Việt nam cận đại nhưng không hiểu sao nhiều người vẫn cứ dùng những tuyên bố có tính cách tuyên truyền chính trị rồi ràng buộc nó với những giá trị pháp lý theo ý họ. Có thể toà án xét xử vụ kiện giữa VN và Tàu về HS-TS đồng ý với họ nhưng viễn tượng quan toà sẽ phán quyết loại bỏ những tuyền truyền chính trị, theo nhiều chuyên viên công pháp quốc tế, rất cao. Vì lẽ này, bản thân tôi dù vẫn cho rằng những lời nói, tuyên bố, chính sách và hành động của đảng và nhà nước CSVN do Hồ Chí Minh và đồng bọn trong quan hệ với Tàu là bán nuớc, tôi nghĩ về mặt pháp lý, chưa chắc gì những tuyên bố đó của chúng sẽ gây bất lợi cho Việt nam tại toà.

    Cái cách tranh luận , ăn nói chợ búa quý vị cũng đã thấy, cá nhân tôi cũng rất tôn trọng hắn khi thảo luận thế nhưng hắn đã làm tôi rất bất ngờ nhìn thấy bộ mặt một thằng an ninh chìm, một công an mạng khi hô hoán admin DL giúp hắn điều tra khui ra IP của tôi, rồi tự nhét chữ người khác vào miệng tôi hay ngược lại (nói ông Trương Nhân Tuấn là tôi cũng không có gì lạ) rất xằng bậy,dù tôi đã khẳng định, hắn vẫn không tin, không cần đính chính hay xin lỗi tôi.

    Tôi cho rằng đây là một kẻ có củ sọ bé như hột é, không đáng để tôn trọng thảo luận, vứt đi.

    Và tôi nghĩ gã này hoang tưởng thật sự, đang tự lẫn lộn trong mớ lùng bùng do chính mình tạo ra.

    Chỉ cần nhìn kỹ sẽ thấy vô số những lỗ hổng do chủ quan kiến thức tưởng đã nắm vững , và tự suy diễn khá nhiều “tôi cho rằng v.v..các quốc gia thừa nhận CHMNVNv.v..nào là LHQ không phản đối v.v..”

    Tôi nêu một vài ý chính về lý sự cùn đã khiến hắn sụp hầm :

    1) Hắn tự sướng (“may quá”) khi cho rằng Tổng Thống VNCH đầu hàng quân giải phóng miền Nam, lá cờ treo trên nóc dinh Độc Lập đó là của MTGPMN :

    - Sự bịp bợm này trong quá khứ đã lừa được khá nhiều người non dạ, các chính phủ, các quốc gia khác, tuy nhiên sau đó thì sự thật đã rõ cả (không dẫn)

    Điểm này TQ dư sức đập tan luận điệu xảo trá bằng vô số bằng chứng, ra Tòa họ đập vào mặt VN quyển Đại Thắng Mùa Xuân là cứng họng rồi, chưa nói đến những điện tín, công văn ngoại giao trao đổi giữa 02 nước CHNDTH và VNDCCH trong suốt thời kỳ từ khi thiết lập bang giao đến nay, nội dung ghi gì trong đó, chắc chắn sẽ lòi thêm ra ánh sáng “thâm cung bí sử”

    (Bí mật “Hội Nghị Thành Đô” vẫn là bảo bối TQ đang nắm trong tay, HS_TS nằm trong đó)

    TQ dư sức chấp cả LHQ dám cãi lại một khi họ trình những bằng chứng mà họ nắm trong tay “quân đội nào đã thật sự chiến thắng, kết thúc Vietnam War” ?

    2) Hắn nói “CHMNVN không có giá trị gì với tôi” tiếp tục là một sự bịp bợm rẻ tiền, không có giá trị thế sao hắn đang làm cái việc gì ? đang cố gắng hết sức, lục lọi tìm những lập luận nào đó có thể giúp cho hắn kết luận cái chậu kiểng có chính danh để thừa kế chủ quyền HS, rồi cái chậu kiểng trao lại quyền thừa kế cho VNCS ngày nay.

    CHMNVN có thể không có giá trị gì với hắn, nhưng rất có giá trị với TQ : Ngô Viễn Phú nhử mồi chỗ này để “thỏ ra ngoài hang” . (Chắc chắn họ Ngô và vô số những quân sư cho Tập Cận Bình đã chuẩn bị đánh sập lưới, hốt gọn ổ đám đệ tử lếu láo)

    3) Lập luận nhiều nước công nhận CHMNVN là một Quốc gia không liên quan gì tới công ước Montevideo.

    Trước 1975 : phe CS có công nhận VNCH ? ngược lại ?

    Một ví dụ dễ hiểu : trong một khu phố, tôi muốn kết bạn với vài ông bạn hàng xóm cạnh nhà, nhưng những ông này không cần tôi làm bạn, tôi cũng vậy, cũng không muốn làm bạn với những ông hàng xóm mà tôi không thích,

    vậy có thể nói tôi có khả năng ngoại giao (với tất cả) hàng xóm không ?
    Ví dụ nữa : Đài Loan ngày nay hầu hết không nhà nước nào trên TG công nhận nó là một Quốc Gia / Nhà Nước. Nhưng theo công ước Montevideo thì Đài Loan là một Quốc gia / Nhà nước.

    Lấy CƯ Montevideo làm thước đo Quốc gia / Nhà nước / Chính phủ (chính thức, bù nhìn) chưa chắc hoàn toàn và duy nhất, điều này đã có rất nhiều ví dụ (không dẫn) do đó quý vị đang thấy những kẻ muốn cứu đảng một bàn thua lúng túng không biết ăn nói thế nào, họ cũng bất chấp các nguyên tắc lấy đạo đức và pháp luật là nền tảng phân minh.

    Chỗ tranh luận này thôi đủ thấy Tòa án QT cũng chưa chắc sử dụng hoàn toàn và duy nhất Quốc gia / Nhà nước.

    Tuy nhiên, quan trọng là nói gì thì nói, một người trong sạch thì sợ gì sự thật ?

    (mệt rồi, đi uống thuốc, về điểm chính yếu “năng lực hành vi của CPLTCHMNVN” xin quý vị tham khảo post 123480 của bác Khương Việt : chỗ đó, chính cái power của nó đã làm cho nó và CHXHCNVN mất chủ quyền HS, ông Tuấn nói đúng, tôi sẽ chứng minh điềm này sau, xin cáo lỗi…mệt quá !)

    [quote=NJ][quote=Dương Danh Huy][quote=NJ]Vâng, hãy để đọc giả DL phán xét.
    Cá nhân tôi đã bị xỏ mũi để tin là CPCMLTCHMNVN là đại diện pháp lý chính thức cho miền Nam sau ngày 30.4.1975.

    Hoá ra không phải vậy. Cám ơn tất cả các bác. Nhất là bác (Ấy Mới Chết Tôi Chứ)

    Nguyễn Jung[/quote]

    Tôi có vài câu hỏi cho bác Jung:

    1. Bác có còn tin VNCH và VNDCCH là 2 QG hay không?

    2. Nếu còn, nhưng bác không cho rằng CPLT CHMNVN là đại diện pháp lý chính thức cho miền Nam sau ngày 30.4.1975, thì bác có cách nào để cho VN ngày nay thừa kế CQ đ/v HSTS từ VNCH?

    (Nếu CPLT CHMNVN không là đại diện pháp lý cho miền Nam sau ngày 30.4.1975 mà chỉ là bù nhìn thì sự thống nhất năm 1976 chỉ là xâm lược bất hợp pháp. Mà xâm lược bất hợp pháp thì không dẫn đến thừa kế chủ quyền.)[/quote]

    1. Dĩ nhiên, là 2 nhà nước (state) theo định nghĩa state, bác đã đưa ra.

    2. Tôi vẫn luôn nghĩ rằng CPCM LT CHMN VN là con đẻ của VNDCCH, trước 30.4.75.

    Sau 30.4. 75, tôi đã nghĩ, CP CMLTCHMN VN là CP hợp pháp cho miền Nam vì TT Dương Văn Minh đã ra lệnh đầu hàng.

    Nhưng nhờ các bác ở đây và cả bác nữa, tôi mới nhận ra là CPCMLT CHMN VN không phải là một state, chỉ là một CP. Dù trước đó tôi cũng đã viết, một CP không có quốc hội, không có Thủ Tướng hay/và Tổng thống.

    3. Đúng, VN được thống nhất bất hợp pháp từ nhà nước VNDCCH và một CP bù nhìn, do chính nhà nước này đẻ ra.

    Có bác đã viết, nhà nước VNDCCH đã quá vội vàng khi thống nhất VN. Thay vì để cho CPCMLTCHMNVN tổ chức bầu cử ở miền Nam, lập ra Quốc hội, toà án để trở thành một nhà nước (state) chính danh. Thì sẽ đưa đến thừa kế VNCH

    Nhưng thống nhất hợp pháp hay không, thì tình trạng bế tắc của nhà nước CHXHCN VN rất rõ ràng:

    Nhà nước này không muốn, không dám kiện TQ. Câu hỏi là tại sao?


    Đây là một sự thật, có rất nhiều nguyên nhân. Có những nguyên nhân rõ ràng như CH PVĐ, và cũng có những nguyên nhân còn là "bí mật quốc gia".

    4. Tôi cũng đã viết:

    Chỉ có sự thay đổi thể chế CT, lập ra một nhà nước khác (state), mới có thể đòi lại được HS-TS.

    VN chỉ mất chủ quyền khi VN tuyên bố từ bỏ nó (như CH PVĐ).

    TQ chiếm HS-TS bằng bạo lực. TQ không có chủ quyền với 2 quần đảo này.

    CH PVĐ chỉ có thể hoá giải, khi có sự thay đổi thể chế chính trị và một nhà nước khác.

    Ngày nào, nhà nước CHXHCNVN còn, ngày đó vấn đề sẽ không thể giải quyết.
    "Chúng ta", người dân có thể thảo luận đến... hết thế kỷ này này cũng không giải quyết được.

    Lập trường của tôi rất rõ ràng và tôi không muốn thảo luận đề tài này nữa.

    Nguyễn Jung[/quote]

    Tôi hoàn toàn đồng ý với bạn Nguyễn Jung. Theo ngu ý của tôi, đứng trên bình diện toán học, học giả DƯƠNG DANH HUY đã phạm lỗi INCONSISTENCY trong lý luận. Một mặt, ông HUY chấp nhận quan điểm của Liên Hiệp Quốc rằng "No territorial acquisition resulting from the threat or use of force shall be recognized as legal" nhưng khi bàn về HÀNH VI của 3 quốc gia (states) VNCH, VNDCCH và TQ, thì ông HUY cho rằng TQ không có chủ quyền trên Hoàng Sa vì đã chiếm HS bằng vũ lực (dựa trên điểm nói trên của LHQ), nhưng ông HUY lại cho rằng CHXHCNVN có chủ quyền trên HS qua chủ quyền có được từ CHMNVN (mà thực chất chỉ là tấm BÌNH PHONG che đậy cho việc xâm lăng VNCH bằng vũ lực của VNDCCH). Nói cách khác, một khi xem VNCH và VNDCCH là hai quốc gia (states) độc lập có chủ quyền, thì việc xâm chiếm VNCH bằng vũ lực của VNDCCH (dù có che đậy, nhưng nay qua ánh sáng lịch sử của nhiều tài liệu, đặc biệt là những THÚ NHẬN của các lão thành cách mạng trong ĐCSVN trong các hồi ký của họ, đã cho thấy MTDTGPMNVN và CHMNVN chỉ là BÙ NHÌN của VNDCCH) đã vi phạm điều trên đây của LHQ y chang như TQ đã vi phạm khi xâm chiếm HS của VN bằng vũ lực.

    Việc Hoa Kỳ, TQ và các nước coi Chính phủ CHMNVN tại Hiệp định Paris 1973 như là một thành phần liên quan trong việc giải quyết chiến tranh VN, theo tôi, khồng đồng nghĩa với việc Chính phủ CHMNVN được thừa nhận là một quốc gia (state) hợp pháp tại Hội nghị này. Do đó, nếu đem ra một tòa án quốc tế phán xét chủ quyền ở HS, khả năng CHMNVN bị kết luận là không phải quốc gia thừa kế VNCH là rất cao, một khi quan tòa cứu xét mọi bằng chứng về việc thành lập và hoạt động của MTGPMNVN và CHMNVN.

    Tôi đặc biệt chia sẻ hoàn toàn với bạn Nguyễn Jung về mục số 4 nói trên và tin tưởng mãnh liệt rằng chỉ có việc thay đổi chế độ hiện hành bằng một chế độ MỚI, nhân danh quyền DÂN TỘC TỰ QUYẾT của hơn 90 triệu dân VN và dựa vào những bằng chứng dồi dào và vững chắc của chủ quyền VN trên HS (và TS), chúng ta mới hy vọng đòi lại được quần đảo HS từ tay TQ. Việc đưa ra tòa án quốc tế với lập luận DỐI TRÁ về tính hợp pháp va thừa kế của chậu kiểng CHMNVN, theo tôi, không có bao nhiêu hy vọng đem lại thắng lợi cho VN. Ngoại trừ những người muốn sử dụng nó như là một liều thuốc AN THẦN để lấp liếm che đậy cho hành vi BÁN NƯỚC của ĐCSVN thì không kể.

    Cảm ơn bác Sóng Thần đã đính chính.

    [quote=Sóng Thần]Tôi mới nhận trả lời của RFA (Radio Free Asia) về bài viết trong đó có nêu ông Trần Trường Thuỷ là giám đốc Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông của Học Viện Ngoại Giao nước CHXHCNVN. Tôi cũng đã tự mình tìm hiểu qua nhiều nguồn và đã có thể kết luận Học Viện Ngoại Giao có Chương Trình Nghiên Cứu Biển Đông, mà ông Trần Trường Thuỷ là một thành viên. Tôi xin lỗi cá nhân ông Dương Duy Huy và bạn đọc Dân Luận khi đã dẫn sai là Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông thuộc Học Viện Ngoại Giao, nước CHXHCNVN. Hiện tại, chưa có nguồn tin nào chứng tỏ điều trên. Tôi cũng đã đề nghị RFA sữa bài viết. Một lần nữa tôi xin đính chính trích dẫn của tôi theo RFA là Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông thuộc Học Viện Ngoại Giao là không đúng. Xin lỗi ông Huy và bạn đọc.[/quote]

    [quote=Dương Danh Huy][quote=NJ]Vâng, hãy để đọc giả DL phán xét.
    Cá nhân tôi đã bị xỏ mũi để tin là CPCMLTCHMNVN là đại diện pháp lý chính thức cho miền Nam sau ngày 30.4.1975.

    Hoá ra không phải vậy. Cám ơn tất cả các bác. Nhất là bác (Ấy Mới Chết Tôi Chứ)

    Nguyễn Jung[/quote]

    Tôi có vài câu hỏi cho bác Jung:

    1. Bác có còn tin VNCH và VNDCCH là 2 QG hay không?

    2. Nếu còn, nhưng bác không cho rằng CPLT CHMNVN là đại diện pháp lý chính thức cho miền Nam sau ngày 30.4.1975, thì bác có cách nào để cho VN ngày nay thừa kế CQ đ/v HSTS từ VNCH?

    (Nếu CPLT CHMNVN không là đại diện pháp lý cho miền Nam sau ngày 30.4.1975 mà chỉ là bù nhìn thì sự thống nhất năm 1976 chỉ là xâm lược bất hợp pháp. Mà xâm lược bất hợp pháp thì không dẫn đến thừa kế chủ quyền.)[/quote]

    1. Dĩ nhiên, là 2 nhà nước (state) theo định nghĩa state, bác đã đưa ra.

    2. Tôi vẫn luôn nghĩ rằng CPCM LT CHMN VN là con đẻ của VNDCCH, trước 30.4.75.

    Sau 30.4. 75, tôi đã nghĩ, CP CMLTCHMN VN là CP hợp pháp cho miền Nam vì TT Dương Văn Minh đã ra lệnh đầu hàng.

    Nhưng nhờ các bác ở đây và cả bác nữa, tôi mới nhận ra là CPCMLT CHMN VN không phải là một state, chỉ là một CP. Dù trước đó tôi cũng đã viết, một CP không có quốc hội, không có Thủ Tướng hay/và Tổng thống.

    3. Đúng, VN được thống nhất bất hợp pháp từ nhà nước VNDCCH và một CP bù nhìn, do chính nhà nước này đẻ ra.

    Có bác đã viết, nhà nước VNDCCH đã quá vội vàng khi thống nhất VN. Thay vì để cho CPCMLTCHMNVN tổ chức bầu cử ở miền Nam, lập ra Quốc hội, toà án để trở thành một nhà nước (state) chính danh. Thì sẽ đưa đến thừa kế VNCH

    Nhưng thống nhất hợp pháp hay không, thì tình trạng bế tắc của nhà nước CHXHCN VN rất rõ ràng:

    Nhà nước này không muốn, không dám kiện TQ. Câu hỏi là tại sao?


    Đây là một sự thật, có rất nhiều nguyên nhân. Có những nguyên nhân rõ ràng như CH PVĐ, và cũng có những nguyên nhân còn là "bí mật quốc gia".

    4. Tôi cũng đã viết:

    Chỉ có sự thay đổi thể chế CT, lập ra một nhà nước khác (state), mới có thể đòi lại được HS-TS.

    VN chỉ mất chủ quyền khi VN tuyên bố từ bỏ nó (như CH PVĐ).

    TQ chiếm HS-TS bằng bạo lực. TQ không có chủ quyền với 2 quần đảo này.

    CH PVĐ chỉ có thể hoá giải, khi có sự thay đổi thể chế chính trị và một nhà nước khác.

    Ngày nào, nhà nước CHXHCNVN còn, ngày đó vấn đề sẽ không thể giải quyết.
    "Chúng ta", người dân có thể thảo luận đến... hết thế kỷ này này cũng không giải quyết được.

    Lập trường của tôi rất rõ ràng và tôi không muốn thảo luận đề tài này nữa.

    Nguyễn Jung

    Nhìn đầu đề của bài viết, cứ tưởng là chẳng có gì thú vị lắm, nhưng tò mò vì thấy nhiều góp ý quá, nên cũng vào đọc xem cho biết. Đọc sơ qua các góp ý, tôi thấy dường như chúng ta đang bị lún sâu vào vấn đề từ ngữ, ở đó có vẻ như chưa có sự thống nhất về vài định nghĩa của một số từ thông dụng.

    Chẳng hạn như lẫn lộn giữa CHÍNH QUYỀN, hay hệ thống chính quyền, với CHÍNH PHỦ.

    Theo thiển kiến CHÍNH QUYỀN, nên được dùng tương đương với từ Government (Anh) hay Gouvernement (Pháp),chỉ chung một cơ cấu quyền lực để quản trị xã hội của một nước (State). Nói cách khác CHÍNH QUYỀN có 3 thuộc tính; đó là cơ cấu (structure,mechanism),quyền lực (power) thường là quyền lực chính trị, và quản trị (management, control).

    Và tuỳ theo mức độ phân chia quyền lực, hay phân công trách nhiệm,để một chính quyền là quân chủ, quân chủ lập hiến, tổng thống chế, hay nghị viện chế.

    Còn CHÍNH PHỦ, hay NỘI CÁC là từ nên dùng tương đương với từ Cabinet, Executive , hay Administrative Branch trong Anh ngữ. Nói cách khác, Chính phủ chỉ là phần HÀNH PHÁP của một chính quyền.

    Áp dụng sự phân biệt giữa CHÍNH QUYỀN-CHÍNH PHỦ như vậy vào trường hợp Anh Quốc chẳng hạn, chúng ta sẽ thấy rằng ở đó chính quyền bao gồm Nữ hoàng, một national figure hêad, đứng đầu một cách tượng trưng;sau đó đến nghị viện (Parliament)tức nghành lập pháp; và Chính Phủ, tức phần hành pháp. từ Nghị viện mà ra.

    Khi áp dụng vào Mỹ, thì nên gọi là Chính phủ của TT Obama, chẳng hạn, không nên nói là Chính quyền Obama. Khác với ở Anh, Chính phủ, hay cơ quan hành pháp, của Mỹ lại độc lập với Quốc Hội, tức độc lập với cơ quan lập pháp (legislative branch).

    Ngành Tư Pháp là một trong 3 ngành (judicial branch)của một chính quyền. Cũng tuỳ theo cách phân quyền mà Ngành Tư Pháp có mức độ độc lập khác nhau đối với hai ngành kia. Cũng nên phân biệt giữa ngành tư pháp trong một chính quyền với bộ tư pháp của một chính phủ.

    Sỡ dĩ nêu ra góp ý như vậy là vì thấy trong các góp ý đã, do vô tình hay cố ý, lẫn lộn giữa CHÍNH QUYỀN và CHÍNH PHỦ.Có lẽ VN chúng ta nên có một cơ quan, chẳng hạn như một Viện Hàn Lâm Việt Ngữ, để soạn tự điển, trong đó có những định nghĩa thống nhất về từ ngữ cho tất cả các ngành: chính trị, văn hoá, kinh tế, y học, tin học, hành chánh, v.v...

    [quote=TQVN][quote=Dương Danh Huy]

    Tôi có vài câu hỏi cho bác Jung:

    1. Bác có còn tin VNCH và VNDCCH là 2 QG hay không?

    2. Nếu còn, nhưng bác không cho rằng CPLT CHMNVN là đại diện pháp lý chính thức cho miền Nam sau ngày 30.4.1975, thì bác có cách nào để cho VN ngày nay thừa kế CQ đ/v HSTS từ VNCH?

    (Nếu CPLT CHMNVN không là đại diện pháp lý cho miền Nam sau ngày 30.4.1975 mà chỉ là bù nhìn thì sự thống nhất năm 1976 chỉ là xâm lược bất hợp pháp. Mà xâm lược bất hợp pháp thì không dẫn đến thừa kế chủ quyền.)[/quote]

    Bác Huy muốn cho rằng người Việt nào muốn được cho là yêu nước, muốn VN vẫn còn chủ quyền đối với HS và TS thì phải theo/chấp nhận CHMNVN là "quốc gia" hợp pháp.

    [/quote]

    Tôi chỉ muốn tìm luập luận nào mạnh nhất (hay ít yếu nhất) cho CQ HSTS thôi. Ngoài điều đó, CHMNVN không có giá trị gì với tôi. Nếu bác ai tìm được lập luận nào mạnh hơn để thừa kế HSTS từ VNCH, tôi sẽ theo ngay.

    [quote=TQVN]
    Nếu nói sau 30/4/75 CHMNVN là "quốc gia" hợp pháp thì trước đó là bất hợp pháp (vô số tài liệu và sự thật chứng minh CPLT CHMNVN chỉ là puppet "government" của VNDCCH).
    [/quote]

    Ai nói trước 30/4/75 CPLT CHMNVN là bất hợp pháp, terrorist thì tôi cũng thấy gì cần phản đối hay tán thành.

    Điều quan trọng là tôi cho rằng sau 30/4/1975 nó đã không bị TG nói chung và LHQ cho là bù nhìn, thống nhăm 1976 không bị TG nói chung và LHQ cho là cho là xâm lăng, và chúng ta có thể dùng những điều đó, vậy thôi.

    [quote=TQVN]
    "Gia chủ" VNCH bị xâm lăng mất lãnh thổ nhưng chủ quyền không mất, nên khi "gia chủ" xuất hiện thì có quyền đòi lại (và đã đòi lại khi vừa bị chiếm đoạt bằng vũ lực) dù "gia chủ" vắng mặt một thời gian vì nhà bị chiếm đoạt không có chỗ ở (như "dân oan").[/quote]

    Nhưng tôi e rằng

    1. Nếu 1 VNCH bị VNDCCH chiếm toàn bộ lãnh thổ một cách bất hợp pháp,
    2. trong 40+ năm (ie sau 30/4/1975) VNDCCH/CHXHCNVN không có CQ với HS
    3. trong 40+ năm đó VNCH cũng không có CP lưu vong được ai công nhận (như các nhóm kháng chiến CPC chống Hun Sen) => trong 40+ năm đó VNCH không có CP nào để khẳng định CQ với HS
    4. không biết tới đời nào QG VNCH mới được khôi phục lại
    5. tới lúc đó, x chục năm sau 1975, khả năng là tòa sẽ cho rằng CQ với HS đã rơi vào tay TQ rồi.

    Nhưng tùy mỗi người thôi. Tôi cho lập luận của tôi là mạnh hơn cho HS. Bác có thể cho lập luận của bác là mạnh hơn. Chún ta có tranh cãi thì tranh cãi pháp lý thôi.

    [quote=Dương Danh Huy]

    Tôi có vài câu hỏi cho bác Jung:

    1. Bác có còn tin VNCH và VNDCCH là 2 QG hay không?

    2. Nếu còn, nhưng bác không cho rằng CPLT CHMNVN là đại diện pháp lý chính thức cho miền Nam sau ngày 30.4.1975, thì bác có cách nào để cho VN ngày nay thừa kế CQ đ/v HSTS từ VNCH?

    (Nếu CPLT CHMNVN không là đại diện pháp lý cho miền Nam sau ngày 30.4.1975 mà chỉ là bù nhìn thì sự thống nhất năm 1976 chỉ là xâm lược bất hợp pháp. Mà xâm lược bất hợp pháp thì không dẫn đến thừa kế chủ quyền.)[/quote]

    Bác Huy muốn cho rằng người Việt nào muốn được cho là yêu nước, muốn VN vẫn còn chủ quyền đối với HS và TS thì phải theo/chấp nhận CHMNVN là "quốc gia" hợp pháp. Nếu nói sau 30/4/75 CHMNVN là "quốc gia" hợp pháp thì trước đó là bất hợp pháp (vô số tài liệu và sự thật chứng minh CPLT CHMNVN chỉ là puppet "government" của VNDCCH). "Gia chủ" VNCH bị xâm lăng mất lãnh thổ nhưng chủ quyền không mất, nên khi "gia chủ" xuất hiện thì có quyền đòi lại (và đã đòi lại khi vừa bị chiếm đoạt bằng vũ lực) dù "gia chủ" vắng mặt một thời gian vì nhà bị chiếm đoạt không có chỗ ở (như "dân oan").

    [quote=NJ]Vâng, hãy để đọc giả DL phán xét.
    Cá nhân tôi đã bị xỏ mũi để tin là CPCMLTCHMNVN là đại diện pháp lý chính thức cho miền Nam sau ngày 30.4.1975.

    Hoá ra không phải vậy. Cám ơn tất cả các bác. Nhất là bác (Ấy Mới Chết Tôi Chứ)

    Nguyễn Jung[/quote]

    Tôi có vài câu hỏi cho bác Jung:

    1. Bác có còn tin VNCH và VNDCCH là 2 QG hay không?

    2. Nếu còn, nhưng bác không cho rằng CPLT CHMNVN là đại diện pháp lý chính thức cho miền Nam sau ngày 30.4.1975, thì bác có cách nào để cho VN ngày nay thừa kế CQ đ/v HSTS từ VNCH?

    (Nếu CPLT CHMNVN không là đại diện pháp lý cho miền Nam sau ngày 30.4.1975 mà chỉ là bù nhìn thì sự thống nhất năm 1976 chỉ là xâm lược bất hợp pháp. Mà xâm lược bất hợp pháp thì không dẫn đến thừa kế chủ quyền.)

    [quote=TQVN][quote=Dương Danh Huy]

    Và trên thực tế 2001-2005 Afghanistan không có legislature cũng vẫn là một quốc gia.[/quote]

    Bác không thể so sánh trường hợp của Afghanistan với trường hợp của Việt Nam trước 30/4/1975, nhất là bác muốn cho rằng trước 30/4/1975 Việt Nam có 2 quốc gia (Afghanistan luôn có 1); còn nếu bác cho rằng government trong Montevideo Convention, tiêu chuẩn government không cần bao gồm legislature (+ Court) thì từ 6/1969 trong lãnh thổ Việt Nam có 3 "quốc gia". Hơn nữa, từ năm 2005 Afghanistan bắt đầu có legislature theo kiểu Tây phương, còn trước đó Afghanistan có legislature kiểu Hồi Giáo (Hội đồng Hồi Giáo).[/quote]

    1. Tôi đang đang tranh luận với bác AMCTC về câu hỏi: Việc CHMNVN sau 20/4/75 không có QH có nghĩa CHMNVN sau 30/4/75 không phải là QG vì không đáp ứng được điều 1 của cư Montevideo không?

    Tôi đang so sánh Afghanistan 2001-2005 với CHMNVN sau 30/4/75, cụ thể ở điểm cả 2 đều chỉ có CP, không có QH.

    2. Theo tôi hiểu (?) sau 2001 chế độ Taliban bị lật hết, và từ đó đến 2005 Afghanistan không có legislature, chỉ có CP. => Chỉ có government không có legislature cũng có thể là QG.

    3. Điều tôi đã nói trong tranh luận này là việc "CH MNVN có phải là QG hay không?":

    1. không dựa trên có QH hay không, mà là ở
    2. CP có effective control hay không,
    3. CP có độc lập hay không,
    4. và ở điểm (2), (3) có được công nhận hay không.

    Pages