Lập trường chính thức của Việt Nam về chủ quyền Hoàng Sa

  • Bởi Khách
    10/07/2014
    429 phản hồi
    Chủ đề: Đối ngoại


    Nhiều tàu Trung Quốc vây ép tàu cá ngư dân Việt Nam ngay trên vùng biển Việt Nam. Ảnh VOV.

    Việt Nam gửi tập tài liệu lập trường của Việt Nam đề nghị lưu hành tại Liên Hợp Quốc ngày 3.7.2014 về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa. Lao Động xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

    Việt Nam bác bỏ toàn bộ, cả trên thực tế cũng như pháp l‎ý, yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa) nêu trong các văn bản kèm theo các thư ngày 22.5.2014 và ngày 9.6.2014 của đại biện Phái đoàn đại diện thường trực Trung Quốc gửi Tổng Thư k‎ý Liên Hợp Quốc lần lượt trong các văn bản A/68/887 và A/68/907.

    Việt Nam khẳng định rằng các yêu sách của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý và lịch sử.

    Các tư liệu lịch sử không thống nhất với tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa

    Trong các trao đổi thời gian gần đây, Trung Quốc đã dẫn chiếu đến một số tư liệu như là bằng chứng lịch sử nhằm chứng minh cho cái gọi là “chủ quyền” của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Tuy nhiên, các “tư liệu” này của Trung Quốc không có nguồn gốc rõ ràng, không chính xác và được Trung Quốc diễn giải một cách tùy tiện. Các tài liệu mà Trung Quốc dẫn chiếu tới không chứng tỏ rằng Trung Quốc đã thiết lập chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa khi quần đảo còn là lãnh thổ vô chủ. Ngược lại, các ghi chép lịch sử cho thấy Trung Quốc hiểu rằng chủ quyền của họ chưa bao giờ bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa.

    Ví dụ như vào thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 19 khi hai tàu Bellona và Umeji Maru bị đắm ở Hoàng Sa và bị ngư dân Trung Quốc cướp tài sản, nhà cầm quyền Trung Quốc tại Quảng Đông đã lập luận rằng quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ bị bỏ rơi, không thuộc về Trung Quốc. Về hành chính, các đảo này không thuộc bất kỳ châu nào của Hải Nam, Trung Quốc và không có cơ quan nào của Trung Quốc có trách nhiệm quản lý quần đảo này. Vì những lý do đó, phía Trung Quốc đã tuyên bố không chịu trách nhiệm về vụ ngư dân cướp tài sản.

    Trong khi đó, Việt Nam đã cung cấp công khai các tài liệu lịch sử xác thực cho thấy Việt Nam đã thiết lập chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa từ khi quần đảo là lãnh thổ vô chủ. Ít nhất từ thế kỷ 17, các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam đã tổ chức các hoạt động khai thác sản vật trên các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, tổ chức đo đạc hải trình và bảo đảm an toàn cho các tàu thuyền của quốc gia khác qua lại tại khu vực quần đảo Hoàng Sa. Các hoạt động này đều đã được ghi nhận trong các văn bản chính thức do các triều đình Việt Nam ban hành là các châu bản hiện đang được lưu giữ tại Việt Nam.

    Sau khi Pháp và Việt Nam ký Hiệp định bảo hộ ngày 15 tháng 3 năm 1874 và ngày 6 tháng 6 năm 1884, Pháp đã thay mặt Việt Nam tiếp tục thực thi chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa và tuyên bố phản đối các hành động xâm phạm của Trung Quốc. Pháp đã tiến hành nhiều hoạt động thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa như xây dựng và vận hành đèn biển và trạm khí tượng, thiết lập các đại lý hành chính thuộc tỉnh Thừa Thiên (An Nam), cấp giấy khai sinh cho công dân Việt Nam sinh ra tại quần đảo này.

    Việc Đô đốc Quảng Đông (Trung Quốc) Lý Chuẩn năm 1909 tiến hành hành động thám hiểm và thăm dò Hoàng Sa là hành động vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa mà Việt Nam đã thiết lập vững chắc và được chính quyền bảo hộ Pháp thay mặt Việt Nam tiếp tục thực thi hữu hiệu. Pháp đã thay mặt Việt Nam phản đối các hành động xâm phạm của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và nêu rõ chủ quyền của Hoàng Sa đã được xác lập bởi Việt Nam. Trước yêu sách của Trung Quốc đối với Hoàng Sa, Pháp đã từng đề nghị Trung Quốc giải quyết vấn đề bằng Trọng tài quốc tế (Công hàm của Pháp gửi Trung Quốc ngày 18 tháng 2 năm 1937), nhưng Trung Quốc đã từ chối.

    Năm 1946, chính quyền Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch lợi dụng bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc đã xâm nhập trái phép đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa. Năm 1947, Pháp đã ra tuyên bố phản đối sự xâm nhập này, yêu cầu hai bên tiến hành đàm phán và giải quyết tại cơ quan tài phán quốc tế nhưng chính quyền Trung Hoa Dân quốc lại một lần nữa từ chối. Chính quyền Tưởng Giới Thạch sau đó đã rút khỏi đảo Phú Lâm.

    Các hội nghị quốc tế không giao quần đảo Hoàng Sa cho Trung Quốc

    Trước và sau khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa đã nhiều lần được đưa ra các hội nghị quốc tế xem xét. Từ ngày 22-26 tháng 11 năm 1943, Hội nghị Cairo với sự tham gia của Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt, Thủ tướng Anh Winston Churchill và Tổng thống Trung Hoa Dân quốc Tưởng Giới Thạch đã ra Tuyên bố Cairo (Cairo Communiqué), đưa ra mục tiêu loại bỏ Nhật Bản ra khỏi tất cả các quần đảo ở Thái Bình Dương mà Nhật Bản đã chiếm đóng từ Chiến tranh thế giới thứ I năm 1914 và tất cả các lãnh thổ Nhật Bản đã chiếm của Trung Quốc như Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ sẽ được trả lại cho Trung Hoa Dân quốc. Tưởng Giới Thạch - đại diện cho Trung Quốc có mặt tại hội nghị - không hề đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

    Hội nghị Potsdam diễn ra từ ngày 17 tháng 7 đến ngày 2 tháng 8 năm 1945 với sự tham gia của lãnh đạo ba nước Hoa Kỳ, Anh và Trung Quốc đã ra Tuyên ngôn Potsdam tái khẳng định những nội dung của Tuyên bố Cairo. Đại diện của Trung Quốc là Tưởng Giới Thạch có mặt tại hội nghị cũng không hề nhắc đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

    Hội nghị hòa bình San Francisco từ ngày 4 đến 8 tháng 9 năm 1951 có 51 nước tham dự; Việt Nam tham gia hội nghị với tư cách là thành viên của Liên hiệp Pháp. Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã tham dự hội nghị trên cương vị Trưởng phái đoàn Việt Nam. Hội nghị San Francisco đã giải quyết vấn đề quy thuộc một số vùng lãnh thổ ở Châu Á – Thái Bình Dương. Tại hội nghị này, Trưởng đoàn Liên Xô Andrei A. Gromyko đã thay mặt Trung Quốc đưa ra đề nghị gồm 13 khoản, trong đó có khoản liên quan đến việc Nhật Bản công nhận chủ quyền của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với một số đảo ở biển Đông, kể cả quần đảo Hoàng Sa. Với 46 phiếu chống, 3 phiếu ủng hộ và 2 phiếu trắng, hội nghị đã bác bỏ đề nghị này của Phái đoàn Liên Xô.

    Ngay sau đó, ngày 07 tháng 9 năm 1951, phát biểu tại Hội nghị, Trưởng phái đoàn Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã tái khẳng định chủ quyền lâu đời của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.. Cả 51 quốc gia đều không phản đối Tuyên bố xác nhận chủ quyền đó của phái đoàn Việt Nam.

    Hội nghị Geneva năm 1954 về việc khôi phục hòa bình ở Đông Dương khẳng định các bên tham gia tôn trọng độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang do các lực lượng của Pháp và quốc gia Việt Nam quản lý. Trung Quốc là một trong những nước tham gia Hội nghị quốc tế về Đông Dương tại Geneva 1954 biết rất rõ điều này và Trung Quốc phải tôn trọng các văn kiện quốc tế của hội nghị đó.

    Điều 1, Hiệp định Paris năm 1973 nói rõ tất cả các nước tôn trọng độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Lúc này hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang do Việt Nam Cộng hòa quản lý và là một bộ phận lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam.

    Tháng 1 năm 1974, Trung Quốc sử dụng vũ lực chiếm đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ngay lúc đó, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đều đã ra tuyên bố bày tỏ quan điểm và phản đối hành động của Trung Quốc. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc họp khẩn cấp về hành động sử dụng vũ lực của Trung Quốc. Theo luật pháp quốc tế về thụ đắc lãnh thổ, việc sử dụng vũ lực chiếm đóng một vùng lãnh thổ thuộc quốc gia khác không thể tạo ra chủ quyền.

    Trung Quốc đã vi phạm nguyên tắc cấm đe dọa và sử dụng vũ lực nên không thể thiết lập được chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa

    Trung Quốc đã hai lần xâm chiếm trái phép Hoàng Sa. Năm 1956, lợi dụng lúc Pháp rút khỏi Việt Nam, Trung Quốc đã xâm chiếm nhóm đảo phía Đông của Hoàng Sa. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc thực sự chiếm đóng một phần quần đảo Hoàng Sa. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã phản đối mạnh mẽ sự chiếm đóng này. Năm 1959, một nhóm binh lính Trung Quốc giả dạng ngư dân âm mưu đổ bộ lên nhóm đảo phía tây quần đảo Hoàng Sa, đã bị lực lượng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đập tan. Tám mươi hai (82) “ngư dân” Trung Quốc đã bị bắt. Cả hai hành động xâm chiếm này diễn ra sau khi vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được khẳng định tại các hội nghị quốc tế như trên mà không gặp phải bất kỳ sự phản đối nào. Năm 1974, lợi dụng tình hình chiến tranh ở Việt Nam, Trung Quốc đã tấn công và chiếm quyền kiểm soát Hoàng Sa từ chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc chiếm đóng bằng vũ lực toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.

    Từ góc độ luật pháp quốc tế, việc chiếm đóng bằng vũ lực lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền là hành vi bất hợp pháp và không thể là cơ sở cho đòi hỏi chủ quyền. Vì vậy, chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa vẫn được duy trì và không bị thay thế bởi sự chiếm đóng bằng vũ lực của Trung Quốc.

    Bị vong lục ngày 12 tháng 5 năm 1988 của Trung Quốc - một văn bản chính thức của Bộ Ngoại giao Trung Quốc - cũng khẳng định rõ một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế là “xâm lược không thể sinh ra chủ quyền” đối với một vùng lãnh thổ. Không có quốc gia nào trên thế giới công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa.

    Việt Nam chưa bao giờ công nhận chủ quyền của Trung Quốc

    Trung Quốc đã cố tình xuyên tạc lịch sử và diễn giải sai lịch sử khi viện dẫn Công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 và một số tài liệu, ấn phẩm được xuất bản ở Việt Nam trước năm 1975 để củng cố yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa. Công thư của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoàn toàn không nhắc gì đến chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa hay Trường Sa. Tuyên bố đó liên quan đến các vùng biển, không giải quyết các vấn đề lãnh thổ. Trên thực tế, những kết luận mà Trung Quốc đưa ra hiện nay đang mâu thuẫn với chính các phát biểu của Trung Quốc, trong đó có phát biểu của chính nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình.

    Tháng 9 năm 1975, 17 năm sau công thư nói trên của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã nói với nhà lãnh đạo Việt Nam Lê Duẩn tại Bắc Kinh rằng “Trung Quốc có đầy đủ tài liệu chứng minh quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) từ xưa đến nay thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Nhưng với nguyên tắc thông qua hiệp thương hữu nghị để giải quyết bất đồng, sau này hai nước sẽ bàn bạc giải quyết”. Bị vong lục của Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 12 tháng 5 năm 1988 đã ghi nhận rõ ràng nội dung phát biểu này của Đặng Tiểu Bình, thể hiện nhận thức của Trung Quốc rằng vấn đề chủ quyền không được dàn xếp có lợi cho phía Trung Quốc qua các phát biểu hay thỏa thuận trước đây. Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng sự thật lịch sử đó và nghiêm túc đàm phán với Việt Nam về vấn đề quần đảo Hoàng Sa.

    Bộ Ngoại giao Việt Nam

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    429 phản hồi

    Ở những quốc gia bình thường, ví dụ như Vương Quốc Anh, hay như Phillipines chẳng hạn, thì tuyên bố lập trường chính thức của quốc gia/chính phủ đại diện điều hành là đích thực chính thức, cứ thế mà làm. Khổ nỗi nước VN dưới thời Việt Cộng thì lại là một quốc gia bất bình thường, trong đó tuyên bố chính thức, công khai chỉ có giá trị tuyên truyền, bịp bợm là chính, còn lập trường, quan điểm, hiệp nghị bán chính thức, lén lút, không công khai mới đích thị là quan điểm "chính thức," có giá trị ràng buộc tuyệt đối, và cả nước cứ thế mà thi hành theo như thế. Cả 2 dossiers của Trung Cộng và Việt Cộng "gửi bảo lưu" tại UN hoàn toàn mang tính tuyên truyền dối trá. Chì khác nhau là ở đối tượng người đọc. Trung Cộng tuyên truyền nhằm bịp người ngoài. Việt Cộng tuyên truyền nhằm bịp, che dấu, mị hoặc người trong nước.

    [quote="bài chủ"]Hội nghị hòa bình San Francisco từ ngày 4 đến 8 tháng 9 năm 1951 có 51 nước tham dự; Việt Nam tham gia hội nghị với tư cách là thành viên của Liên hiệp Pháp. Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã tham dự hội nghị trên cương vị Trưởng phái đoàn Việt Nam.[/quote]

    Nói thế thì nhà nước VNDCCH của ông Hồ chủ tiêm, "đại diện chính thức của cách mạng, của VN độc lập, của quyền lợi nhân" lúc đó ở đâu nhỉ, và đã có những tuyên bố gì?

    [quote="bài chủ"]Ngay sau đó, ngày 07 tháng 9 năm 1951, phát biểu tại Hội nghị, Trưởng phái đoàn Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã tái khẳng định chủ quyền lâu đời của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.. Cả 51 quốc gia đều không phản đối Tuyên bố xác nhận chủ quyền đó của phái đoàn Việt Nam.[/quote]

    Vắng mặt TC là nước tranh chấp trực tiếp, thì 51 quốc gia khác đâu có lý do hay tranh chấp gì mà phản đối hay ủng hộ? Một trong 51 quốc gia đó, Indonesia theo Wikileaks, sau này đã minh định rõ quan điểm của họ là ủng hộ đòi hỏi của Trung Cộng. Vậy chuyện 51 quốc gia không phản đối chả có tí ti giá trị gì ở đây cả. Mang ra đây hoàn toàn mang tính tuyên truyền dối trá xưa nay.

    [quote="bài chủ"]Hội nghị Geneva năm 1954 về việc khôi phục hòa bình ở Đông Dương khẳng định các bên tham gia tôn trọng độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang do các lực lượng của Pháp và quốc gia Việt Nam quản lý. Trung Quốc là một trong những nước tham gia Hội nghị quốc tế về Đông Dương tại Geneva 1954 biết rất rõ điều này và Trung Quốc phải tôn trọng các văn kiện quốc tế của hội nghị đó.

    Điều 1, Hiệp định Paris năm 1973 nói rõ tất cả các nước tôn trọng độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Lúc này hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang do Việt Nam Cộng hòa quản lý và là một bộ phận lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam.[/quote]

    Mèng ui, Việt Cộng có tôn trọng cái nào đâu từ Geneva tới Paris mà đòi tổ sư gia nhà Cộng là Trung Cộng tôn trọng. Cười quá! Bộ VNCH nó buồn đời nên tự tử chết?!!

    [quote="bài chủ"]Năm 1959, một nhóm binh lính Trung Quốc giả dạng ngư dân âm mưu đổ bộ lên nhóm đảo phía tây quần đảo Hoàng Sa, đã bị lực lượng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đập tan. Tám mươi hai (82) “ngư dân” Trung Quốc đã bị bắt. Cả hai hành động xâm chiếm này diễn ra sau khi vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được khẳng định tại các hội nghị quốc tế như trên mà không gặp phải bất kỳ sự phản đối nào. [/quote]

    Hai "hội nghị quốc tế" nào mà ra văn bản khẳng định chủ quyền HS-TS là thuộc VN thế? Nếu được thế thì quá tốt, cứ việc trưng văn bản với chữ ký ra cho bàn dân thiên hạ chiêm ngưởng, vui mừng, hoan hô.

    [quote="bài chủ"]Trung Quốc đã cố tình xuyên tạc lịch sử và diễn giải sai lịch sử khi viện dẫn Công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 và một số tài liệu, ấn phẩm được xuất bản ở Việt Nam trước năm 1975 để củng cố yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa. Công thư của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoàn toàn không nhắc gì đến chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa hay Trường Sa. Tuyên bố đó liên quan đến các vùng biển, không giải quyết các vấn đề lãnh thổ.[/quote]

    Vẫn kiểu lý luận "trẻ con," nhằm chạy tội thoát cái soi của "kính chiếu yêu" của thiên hạ, của lịch sử. Đoạn trên hoàn toàn chứng tỏ "lập trường chính thức" của Việt Cộng chỉ là một bản văn tuyên truyền, nhằm đánh lừa, và mê hoặc dân trong nước, giảm bớt sức ép với đảng CSVN. Với một văn bản lập trường chính thức đầy tự mâu thuẫn như thế thì làm sao thuyết phục ai được, trừ những người muốn "bị" lừa dối. Một văn bản hoàn toàn dùng để "an thần" dân trong nước (domestic consumption).

    [quote=NJ]

    Câu hỏi thứ hai về Chính phủ cm lâm thời CHMNVN:

    ====> Trước khi là Chính phủ cm lâm thời CHMNVN, chỉ là một mặt trận
    có tên là Mặt trận GPMN VN, tự đặt ra một "CP, một "Quốc gia" cho chính họ, mang tên Chính phủ cm lâm thời CHMNVN.

    Điều oái ăm là Mặt trận GPMN VN cũng đã ký tên trong Hiệp định Paris 1973. Chấm dứt chiến tranh, tái lập Hoà bình.

    Hai thành phần trong hiệp định Paris không tôn trọng chữ ký của họ là CQ nước VNDCCH và cái gọi là Chính phủ cm lâm thời CHMNVN.

    Hai thành phần này đã tiếp tục dùng vũ lực tấn công VNCH,

    cho đến ngày 30.4.1975, sau khi Đại tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. "Chính phủ cm lâm thời CHMNVN" đã tiếp tục sống cho đến khi bị bức tử (trong bóng tối) bởi VNDCCH.

    Quá trình thống nhất VN trong năm 1976 KHÔNG giống với quá trình thống nhất nước Đức ( Nước Đức có hội nghị hiệp thương thống nhất đất nước, thảo văn bản hiệp ước thống nhất đất nước, văn bản được quốc hội mỗi bên phê duyệt và cuối cùng hai nhà nước thống nhất với nhau.)

    Câu hỏi được đặt ra ở đây là: Chính phủ cm lâm thời CHMNVN có chủ quyền ở miền Nam hay không,

    khi họ dùng vũ lực để cưỡng chiếm VNCH

    TT VNCN lúc đó đã tuyên bố đầu hàng (để bảo vệ sinh mạng, tài sản cho dân miền Nam)?

    Từ câu hỏi chủ quyền đưa đến vấn đề thừa kế chính thức.

    Nếu Chính phủ cm lâm thời CHMNVN KHÔNG có chủ quyền (vì đã dùng vũ lực cưỡng chiếm) thì việc Thống Nhất VN KHÔNG có giá trị Pháp lý với Quốc Tế, nếu không có chủ quyền thì không có thừa kế.

    NHƯNG, vì, TT VNCH lúc đó đã đầu hàng NÊN Chính phủ cm lâm thời CHMNVN đã tiếp quản ===> có chủ quyền ===> thừa kế.

    Thực tế, thế giới đã từ lâu công nhận nước CHXHCNVN, một VN thống nhất bởi VNDCCH và Chính phủ cm lâm thời CHMNVN. ===> có quyền thừa kế.

    Nguyễn Jung[/quote]

    Việc CPCMLTCHMN Việt Nam chiếm quyền bằng bạo lực có khác gì đảo chính và như vậy là bất hợp pháp. Sau khi chính quyền này nắm quyền bính lại không tổ chức bầu cử tự do. Không có quốc hội thì lại càng bất hợp pháp. Nó không được nhân dân chính thức trao quyền hành lại tự động đi đàm phán việc thống nhất lại là một điều bất hợp pháp nữa. Giả như người ta coi nó là một chính quyền sau đảo chính và chính thể cũ vẫn còn tồn tại thì phải xét tiếp tính hợp pháp của nó và các hành động của nó theo hiến pháp và pháp luật VNCH.

    Việc các nước công nhận không nói lên được tính legitim. Chẳng hạn như vụ Krime mới đây, đã có một số nước công nhận nhưng như vậy chưa phải là hợp pháp theo luật quốc tế. Về tính legitim các bác có thể xem lại trên wiki.

    [quote=Khách Phạm Văn Mai]Bài này chủ yếu mang tính phát ngôn chính trị. Có một số lập luận cần phải được làm sáng tỏ thêm:

    -VNDCCH và VNCH có phải là hai quốc gia độc lập tự chủ và hợp pháp (legitim)? Tình trạng pháp lý của hai quốc gia này có gì khác so với trường hợp Tây Đức và Đông Đức cũng như Bắc Hàn và Nam hàn.
    (Điều này liên quan tới việc HS-TS thuộc chủ quyền của nước nào hay là của VN trước khi bị chia cắt)

    -Chính phủ cm lâm thời CHMNVN có phải là một chính phủ legitim theo như luật pháp quốc tế công nhận? Nếu không phải là một chính phủ legitim thì việc thừa kế VNCH ra sao và với tư cách nào trong việc đàm phán Thống nhất đất nước sau này? Lấy ví dụ việc thống nhất Tây và Đông Đức để tham khảo: Sau khi chế độ CS Đông Đức sụp đổ, ở Đông Đức tiến hành bầu cử quốc hội mới, thành lập chính phủ. Hai nhà nước Tây và Đông Đức tiến hành hội nghị hiệp thương thống nhất đất nước, thảo văn bản hiệp ước thống nhất đất nước, văn bản được quốc hội mỗi bên phê duyệt và cuối cùng hai nhà nước thống nhất với nhau.

    Về chuyện Công hàm PVĐ người ta thường bảo nó không có giá trị pháp lý. Nhưng không nói rõ pháp lý nào? Thực tế là VN cs thừa nhận và tôn trọng chủ quyền của Trung Cộng ở HS và TS để đổi lại TQ cung cấp tiền bạc, lương thực, vũ khí cho Việt nam. Việc này nó giống như việc mua bán trao tay. TQ đã trả tiền và VN cs đã viết giấy biên nhận bàn giao. Liệu cuộc chuyển giao quyền sở hữu này có hợp lệ hay không có lẽ còn phải tranh cãi. Nhưng trong thực tế việc thỏa thuận kết thúc mua bán bằng bắt tay hoặc viết giấy biên nhận vẫn thường xảy ra và được chấp nhận.[/quote]

    Tôi xin phép được viết quan điểm qua hiểu biết của tôi: Quan điểm này tôi đã luôn có, sẽ không thay đổi.

    Câu hỏi thứ nhất của bác về 2QG:

    ==> VNDCCH và VNCH là hai quốc gia độc lập tự chủ và hợp pháp (legitim)! Hai thực thể chính trị được công nhận qua Hiệp định Geneve 1954.
    Tình trạng pháp lý của hai quốc gia này KHÔNG khác so với trường hợp Tây Đức và Đông Đức cũng như Bắc Hàn và Nam hàn (là hậu quả của WW II, kế tiếp là chiến tranh lạnh).

    Câu hỏi thứ hai về Chính phủ cm lâm thời CHMNVN:

    ====> Trước khi là Chính phủ cm lâm thời CHMNVN, chỉ là một mặt trận
    có tên là Mặt trận GPMN VN, tự đặt ra một "CP, một "Quốc gia" cho chính họ, mang tên Chính phủ cm lâm thời CHMNVN.

    Điều oái ăm là Mặt trận GPMN VN cũng đã ký tên trong Hiệp định Paris 1973. Chấm dứt chiến tranh, tái lập Hoà bình.

    Hai thành phần trong hiệp định Paris không tôn trọng chữ ký của họ là CQ nước VNDCCH và cái gọi là Chính phủ cm lâm thời CHMNVN.

    Hai thành phần này đã tiếp tục dùng vũ lực tấn công VNCH,

    cho đến ngày 30.4.1975, sau khi Đại tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. "Chính phủ cm lâm thời CHMNVN" đã tiếp tục sống cho đến khi bị bức tử (trong bóng tối) bởi VNDCCH.

    Quá trình thống nhất VN trong năm 1976 KHÔNG giống với quá trình thống nhất nước Đức ( Nước Đức có hội nghị hiệp thương thống nhất đất nước, thảo văn bản hiệp ước thống nhất đất nước, văn bản được quốc hội mỗi bên phê duyệt và cuối cùng hai nhà nước thống nhất với nhau.)

    Câu hỏi được đặt ra ở đây là: Chính phủ cm lâm thời CHMNVN có chủ quyền ở miền Nam hay không,

    khi họ dùng vũ lực để cưỡng chiếm VNCH

    TT VNCN lúc đó đã tuyên bố đầu hàng (để bảo vệ sinh mạng, tài sản cho dân miền Nam)?

    Từ câu hỏi chủ quyền đưa đến vấn đề thừa kế chính thức.

    Nếu Chính phủ cm lâm thời CHMNVN KHÔNG có chủ quyền (vì đã dùng vũ lực cưỡng chiếm) thì việc Thống Nhất VN KHÔNG có giá trị Pháp lý với Quốc Tế, nếu không có chủ quyền thì không có thừa kế.

    NHƯNG, vì, TT VNCH lúc đó đã đầu hàng NÊN Chính phủ cm lâm thời CHMNVN đã tiếp quản ===> có chủ quyền ===> thừa kế.

    Thực tế, thế giới đã từ lâu công nhận nước CHXHCNVN, một VN thống nhất bởi VNDCCH và Chính phủ cm lâm thời CHMNVN. ===> có quyền thừa kế.

    Nhà nước CHXHCN VN từ ngày thành lập đến nay đã, đang (và sẽ) im lặng, không có một công hàm nào gửi cho thế giới và Trung quốc khẳng định chủ quyền của VN với quần đảo HS-TS, ngoài những lời tuyên bố bằng miệng (để xoa dịu lòng dân) hay những tham khảo lịch sử của các học giả trong, ngoài nước, trong thời gian sau này (khoảng vài năm trở lại).
    Trước đó, người dân không hề biết đến các vấn đề HS-TS, công hàm PVĐ,hội nghị Thành Đô...

    Nhà nước CHXHCN VN đã im lặng, âm thầm từ bỏ chủ quyền trên 2 quần đảo này! Đã đàn áp các cuộc biểu tình chống TQ của dân từ năm 2007, bắt bớ, trù dập người biểu tình đến giờ.

    Tại sao?

    [quote="Khách viếng thăm (khách viếng thăm) gửi lúc 09:00, 13/07/2014 - mã số 122727 "]Điều 1, Hiệp định Paris năm 1973 nói rõ tất cả các nước tôn trọng độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Lúc này hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang do Việt Nam Cộng hòa quản lý và là một bộ phận lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam. " Đồng thời công nhận :"Theo luật pháp quốc tế về thụ đắc lãnh thổ, việc sử dụng vũ lực chiếm đóng một vùng lãnh thổ thuộc quốc gia khác không thể tạo ra chủ quyền. "[/quote]

    Nguyễn Jung

    Tôi chưa đặt vấn đề nội dung.

    Tôi muốn biết, bài viết trên là một nghị quyết, một công hàm, công thư, công văn đã được gửi đến bộ Ngoại giao Trung quốc?

    Hay CHỈ là một bài viết mang tính nội bộ, lưu truyền cho dân Việt Nam?

    Nếu là nghị quyết, công hàm, công thư, công văn ...etc, đề nghị chụp bản chính có hàng chữ CHXHCN VN, Độc lập Tự Do Hanh Phúc, có mộc đỏ, ngày tháng năm và người ký tên, đưa lên mạng.

    Nguyễn Jung

    Bài này chủ yếu mang tính phát ngôn chính trị. Có một số lập luận cần phải được làm sáng tỏ thêm:

    -VNDCCH và VNCH có phải là hai quốc gia độc lập tự chủ và hợp pháp (legitim)? Tình trạng pháp lý của hai quốc gia này có gì khác so với trường hợp Tây Đức và Đông Đức cũng như Bắc Hàn và Nam hàn.
    (Điều này liên quan tới việc HS-TS thuộc chủ quyền của nước nào hay là của VN trước khi bị chia cắt)

    -Chính phủ cm lâm thời CHMNVN có phải là một chính phủ legitim theo như luật pháp quốc tế công nhận? Nếu không phải là một chính phủ legitim thì việc thừa kế VNCH ra sao và với tư cách nào trong việc đàm phán Thống nhất đất nước sau này? Lấy ví dụ việc thống nhất Tây và Đông Đức để tham khảo: Sau khi chế độ CS Đông Đức sụp đổ, ở Đông Đức tiến hành bầu cử quốc hội mới, thành lập chính phủ. Hai nhà nước Tây và Đông Đức tiến hành hội nghị hiệp thương thống nhất đất nước, thảo văn bản hiệp ước thống nhất đất nước, văn bản được quốc hội mỗi bên phê duyệt và cuối cùng hai nhà nước thống nhất với nhau.

    Về chuyện Công hàm PVĐ người ta thường bảo nó không có giá trị pháp lý. Nhưng không nói rõ pháp lý nào? Thực tế là VN cs thừa nhận và tôn trọng chủ quyền của Trung Cộng ở HS và TS để đổi lại TQ cung cấp tiền bạc, lương thực, vũ khí cho Việt nam. Việc này nó giống như việc mua bán trao tay. TQ đã trả tiền và VN cs đã viết giấy biên nhận bàn giao. Liệu cuộc chuyển giao quyền sở hữu này có hợp lệ hay không có lẽ còn phải tranh cãi. Nhưng trong thực tế việc thỏa thuận kết thúc mua bán bằng bắt tay hoặc viết giấy biên nhận vẫn thường xảy ra và được chấp nhận.

    Trung quốc hay Đài loan gì đó đều là Hán tộc luôn nuôi mộng bá quyền từ ngàn xưa trong genre gọi là Trung Hoa trung tâm vũ trụ của chúng nên không có gì lạ ngày xưa Tàu Tưởng (GT) vẽ ra cái bản đồ lưỡi bò và bây giờ Tàu Tập (CB) hiện thực hóa tiếp cái mộng bá quyền. Philippes, Nhật và các nước khác ở Đông Nam Á đều bị cái họa Tàu Tập này nhưng cái may mắn của họ là không giáp biển giáp đất liền với Tàu Tập mà chỉ có Việt Nam thôi. Chơi thân kinh tế với Tàu Tưởng Đài Loan là có ngày đứt tay với Tàu Tập như Phó TT Hoàng Trung Hải cho Tàu Tưởng đặc quyền khai thác ở Hà Tĩnh để Tàu Tưởng đưa hàng ngàn Tàu Tập đến làm việc lao động tay chân trong khi lao động Việt Nam thất nghiệp không có công ăn việc làm. Chưa kể HTH còn cho Tàu Tập khai thác tài nguyên thiên nhiên quặng mỏ, khai thác rừng, thầu xây dự án đường sá, điện lực, ... nhiều không thể kể xiết

    " Ngay sau đó, ngày 07 tháng 9 năm 1951, phát biểu tại Hội nghị, Trưởng phái đoàn Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã tái khẳng định chủ quyền lâu đời của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.. Cả 51 quốc gia đều không phản đối Tuyên bố xác nhận chủ quyền đó của phái đoàn Việt Nam.

    Hội nghị Geneva năm 1954 về việc khôi phục hòa bình ở Đông Dương khẳng định các bên tham gia tôn trọng độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang do các lực lượng của Pháp và quốc gia Việt Nam quản lý. Trung Quốc là một trong những nước tham gia Hội nghị quốc tế về Đông Dương tại Geneva 1954 biết rất rõ điều này và Trung Quốc phải tôn trọng các văn kiện quốc tế của hội nghị đó.

    Điều 1, Hiệp định Paris năm 1973 nói rõ tất cả các nước tôn trọng độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Lúc này hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang do Việt Nam Cộng hòa quản lý và là một bộ phận lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam. " Đồng thời công nhận :"Theo luật pháp quốc tế về thụ đắc lãnh thổ, việc sử dụng vũ lực chiếm đóng một vùng lãnh thổ thuộc quốc gia khác không thể tạo ra chủ quyền. "
    Vậy thử hỏi CS Bắc Việt chiếm hữu miền Nam VN ( VNCH) bằng gì và có tạo ra chủ quyền hay không? Đây là 1 trong 5 yêu sách TQ đưa ra quốc tế, có nghĩa là chúng ta ( VNDCCH và TQ ) cùng là cướp cả mà thôi.

    [quote=Bài chủ]

    Hội nghị hòa bình San Francisco từ ngày 4 đến 8 tháng 9 năm 1951 có 51 nước tham dự; Việt Nam tham gia hội nghị với tư cách là thành viên của Liên hiệp Pháp. Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã tham dự hội nghị trên cương vị Trưởng phái đoàn Việt Nam. Hội nghị San Francisco đã giải quyết vấn đề quy thuộc một số vùng lãnh thổ ở Châu Á – Thái Bình Dương. Tại hội nghị này, Trưởng đoàn Liên Xô Andrei A. Gromyko đã thay mặt Trung Quốc đưa ra đề nghị gồm 13 khoản, trong đó có khoản liên quan đến việc Nhật Bản công nhận chủ quyền của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với một số đảo ở biển Đông, kể cả quần đảo Hoàng Sa. Với 46 phiếu chống, 3 phiếu ủng hộ và 2 phiếu trắng, hội nghị đã bác bỏ đề nghị này của Phái đoàn Liên Xô.
    Ngay sau đó, ngày 07 tháng 9 năm 1951, phát biểu tại Hội nghị, Trưởng phái đoàn Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã tái khẳng định chủ quyền lâu đời của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.. Cả 51 quốc gia đều không phản đối Tuyên bố xác nhận chủ quyền đó của phái đoàn Việt Nam.

    Hội nghị Geneva năm 1954 về việc khôi phục hòa bình ở Đông Dương khẳng định các bên tham gia tôn trọng độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang do các lực lượng của Pháp và quốc gia Việt Nam quản lý. Trung Quốc là một trong những nước tham gia Hội nghị quốc tế về Đông Dương tại Geneva 1954 biết rất rõ điều này và Trung Quốc phải tôn trọng các văn kiện quốc tế của hội nghị đó.

    Điều 1, Hiệp định Paris năm 1973 nói rõ tất cả các nước tôn trọng độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Lúc này hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang do Việt Nam Cộng hòa quản lý và là một bộ phận lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam.

    [/quote]

    Nhà nước CHXHCNVN dựa vào (rất đúng) những hoạt động ngoại giao của Chính phủ Quốc gia Việt Nam (của cựu hoàng BẢO ĐẠI) và chính phủ Việt Nam Cộng hòa (kế thừa trực tiếp và hợp pháp của chính phủ Quốc gia VN) trong việc bảo vệ chủ quyền của VN trên HOÀNG SA (và TRƯỜNG SA). Thế nhưng, cho đến tận hôm nay, mặc dầu đã sử dụng các tài liệu (mật) của VNCH và của QGVN để khẳng định nước VN có chủ quyền không thể chối cãi ở Hoàng Sa, tuyên bố ghi nhận công lao xả thân bảo vệ Hoàng Sa của các chiến sĩ quân đội VNCH trong trận hải chiến với TQ ở Hoàng Sa năm 1974, chính phủ CHXHCNVN vẫn còn ngoan cố ngăn cấm không cho người dân VN trong nước, nhất là người dân miền Nam trước đây thuộc VNCH, được tự do công khai trưng bày và tỏ lòng kính trọng lá cờ Vàng ba sọc đỏ, biểu tượng thiêng liên của hai chế độ Quốc gia VN và VNCH. Đây là một thái độ SAI TRÁI cần phải được hủy bỏ. Vì nếu không, nhà nước CHXNCNVN sẽ tỏ ra đạo đức giả khi một mặt lợi dụng công lao giữ nước của các chế độ Quốc gia VN và VNCH, mặt khác lại không kính trọng và không cho phép người dân VN trong nước cá hai miền Nam Bắc tỏ lòng kính trọng và thương nhớ lá cờ chính nghĩa của dân tộc VN. Lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ hiện nay không còn là quốc kỳ của VNCH (đã sụp đổ từ ngày 30/04/1975) mà chỉ là biểu tượng của người Việt TỰ DO ở hải ngoại trên toàn thế giới. Nhà nước CHXNCHVN và ĐCSVN cần phải noi gương Hoa Kỳ về việc đối xử với lá cờ của miền Nam (nước Mỹ) sau cuộc nội chiến Nam Bắc (nước Mỹ). Việc làm này, không những sẽ khởi đầu cho việc HÒA GIẢI HÒA HỢP DÂN TỘC một cách đúng đắn, chân thật, mà còn nâng cao giá trị các tuyên bố của CHXHCNVN về chủ quyền của VN trên Hoàng Sa và Trường Sa. Không có gì tệ hại hơn việc dựa vào công lao người khác nhưng lại rêu rao chửi bới và khinh thường những biểu tượng cao quý thiêng liêng nhất của họ.

    Pages