Khu vực Nhà nước, "khối u ung thư" của một nền kinh tế kiệt quệ

  • Bởi Hồ Gươm
    30/01/2013
    2 phản hồi
    Chủ đề: Kinh tế

    Thanh Phương


    Cảnh chợ Đồng Xuân tại Hà Nội 21/12/2012 (REUTERS)

    Thiếu minh bạch, quản lý kém cõi, tham nhũng, đứng bên trên luật pháp, các tập đoàn Nhà nước của Việt Nam chưa bao giờ bị chỉ trích nặng nề như thế. Khu vực Nhà nước nay được mô tả như là “khối u ung thư” của một nền kinh tế đang gặp khủng hoảng trầm trọng. Đó là nhận định của hãng tin AFP trong bài bình luận đề ngày hôm nay, 30/01/2013.

    Hơn 25 năm sau khi tung ra chính sách mở cửa, chuyển Việt Nam sang nền kinh tế thị trường, chính phủ nay đang đối diện với những doanh nghiệp Nhà nước mà cho tới nay vẫn chưa được cải tổ.

    Trả lời phỏng vấn AFP, tiến sĩ kinh tế Nguyễn Quang A cho rằng “khu vực Nhà nước là một sai lầm tai hại của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ năm 1986 đến nay, chưa bao giờ tình hình kinh tế tồi tệ đến thế.” Ông Nguyễn Quang A mô tả khu vực Nhà nước như là “đứa trẻ được các nhóm lợi ích nuông chiều”. Theo ông, vì quyền lực và quyền lợi của họ, một số người không muốn cải tổ khu vực này, mà bằng mọi giá tìm cách duy trì nguyên trạng.

    AFP nhắc lại là ở Việt Nam hiện có hơn 1.300 doanh nghiệp Nhà nước, chiếm 45% đầu tư, thu hút 60% nguồn tín dụng của các ngân hàng thương mại và sử dụng đến 70% viện trợ phát triển ODA, nhưng lại chỉ đóng góp khoảng 30% tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, theo các số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

    Một số nhà phân tích cho rằng, nếu tính luôn cả các công ty gia công cho khu vực Nhà nước và các doanh nghiệp do cán bộ công chức nắm giữ, khu vực này chiếm tới 70% hoạt động sản xuất.

    Thế mà, khu vực kinh tế quốc doanh ngày càng suy yếu. Các tập đoàn Nhà nước nay nợ tổng cộng 61 tỷ đôla, tức là phân nửa tổng số nợ công của Việt Nam. Sau các tập đoàn như Vinashin, thua lỗ hơn 4,4 tỷ đôla, hay Vinalines, nợ hơn 1 tỷ đôla, trong những tháng qua, có những tin đồn rằng nhiều tập đoàn Nhà nước khác như Tập đoàn Điện lực Việt Nam EVN hay Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam Vinacomin, cũng đang bệnh rất nặng.

    Khi lên cầm quyền vào năm 2006, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, lúc đó được xem như là một nhà cải tổ sáng giá, đã có tham vọng xây dựng những tập đoàn theo kiểu các Chaebol của Hàn Quốc. Nhưng rốt cuộc, những tập đoàn đó đều gian dối sổ sách kế toán, đầu tư bừa bãi, chiến lược mù mờ, một số lãnh đạo tập đoàn thì sống xa hoa không phải bằng tiền lương chính thức của họ.

    Vào tháng 12 năm ngoái, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh đã thừa nhận rằng có đến 30 trong số 85 doanh nghiệp Nhà nước lớn nhất có món nợ cao gấp từ 3 đến 10 lần so với vốn của các doanh nghiệp này.

    Cho nên, theo AFP, chính phủ Hà Nội không còn giải pháp nào để thúc đẩy một guồng máy đang bị tắt nghẽn. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm qua chỉ đạt 5,03%, mức thấp nhất từ 13 năm nay. Lạm phát ở mức 7% vẫn là mối đe dọa đối với Việt Nam. Nói chung, mô hình mang tính lý thuyết “kinh tế thị trường định hướng XHCN” đang chao đảo.

    AFP trích lời một đại biểu Quốc hội, xin được miễn nêu tên, nhận định: “Các doanh nghiệp Nhà nước vẫn cứ van xin trợ cấp của Nhà nước để tồn tại và như vậy đang trở thành một khối u ung thư đối với nền kinh tế. Việc cải tổ rất chậm bởi vì gặp sự chống đối rất mạnh. Hàng tỷ đôla đã bị mất, thế mà chẳng có ai bị đưa ra tòa.”

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Bán tàu, giảm số lượng doanh nghiệp vẫn lỗ hơn 2.400 tỉ đồng

    SGTT.VN - Theo tổng giám đốc Vinalines Nguyễn Cảnh Việt, trong năm 2012, dù đã thu gọn số doanh nghiệp đầu mối từ 87 xuống còn 37, bán đi mười tàu lớn nhưng số lỗ năm qua của tổng công ty vẫn lên đến 2.439 tỉ đồng.

    Năm 2013: “Năm bão”!

    Vinalines bán đi mười tàu lớn

    Tuy nhiên, trong lời kêu gọi cán bộ công nhân viên tổng công ty “đoàn kết, trụ vững” trong năm tới tại buổi lễ triển khai nhiệm vụ năm 2013 diễn ra chiều 29.1, ông Việt còn thừa nhận rằng, năm 2013 tiếp tục sẽ là một năm “bão” khó khăn với tổng công ty này, khi mà báo cáo triển khai nhiệm vụ năm 2013 dẫn các số liệu cho thấy tình hình còn thê thảm hơn.

    Theo báo cáo này thì dự kiến, số lỗ trong năm 2013 của Vinalines vẫn sẽ tiếp tục ở ngưỡng 2.100 tỉ đồng, tổng doanh thu năm tới còn thấp hơn, ước đạt khoảng 20.000 tỉ đồng – bằng 94% năm 2012. Vị tổng giám đốc này cũng nói rằng, không chỉ theo dự báo của doanh nghiệp, mà của lãnh đạo bộ Giao thông vận tải, của những người lãnh đạo trong Chính phủ thì tình hình (thị trường) khó khăn sẽ tiếp tục kéo dài trong khoảng gần năm năm tới, đến năm 2017. Vậy nhưng ông Việt vẫn lạc quan: “Một người thuyền trưởng không thể trở thành thuyền trưởng giỏi khi ra khơi mà không gặp bão. Cơn bão 2013 đang tới, và họ chỉ giỏi khi gặp bão nhưng vẫn đưa con tàu trở về an toàn sau bão”. Theo ông Việt, phải đến năm... 2018, dự kiến tổng công ty sẽ làm ăn được tốt, trả được nợ.

    Cơ sở để người thuyền trưởng của Vinalines lạc quan được ông Việt tiết lộ: Đề án tái cơ cấu tổng công ty đã được Bộ Chính trị thông qua và đang chờ Thủ tướng Chính phủ phê duyệt với năm tiêu chí cụ thể: một là tăng vốn điều lệ của Vinalines 50%, từ hơn 8.000 tỉ lên trên 12.000 tỉ đồng. Hai là cổ phần hoá hệ thống cảng biển, theo đó Nhà nước chỉ còn nắm giữ từ 51 – 65%. “Nguồn tiền từ cổ phần hoá này chúng tôi dự kiến sẽ thu về được 2.000 – 3.000 tỉ đồng”, ông Việt tính toán. Cùng với đó, một tiêu chí quan trọng khác trong đề án tái cơ cấu là (chờ) Chính phủ giao ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các ngân hàng thương mại khoanh nợ, giãn nợ đối với các đơn vị thành viên thuộc Vinalines và cho các công ty được vay vốn với lãi suất thấp trong năm năm để làm vốn lưu động cho đội tàu 143 chiếc (dự kiến khoảng 3.000 tỉ đồng). Ngoài ra, bộ Tài chính cũng chấp thuận đưa Vinalines vào danh sách ưu tiên được vay tiền để cải cách doanh nghiệp của ngân hàng phát triển châu Á ADB với nguồn vay có thể lên tới 150 triệu USD. “Năm 2013 cực kỳ khó khăn, hơn cả năm 2012, thị trường khắc nghiệt hơn, đặc biệt là sức chịu đựng của doanh nghiệp giảm sút… nhưng đó (các tiêu chí trong đề án tái cơ cấu – PV) là cờ, là cán cân để Vinalines vượt qua giai đoạn khó khăn này”, ông Nguyễn Cảnh Việt đánh giá.

    Bán tàu, giảm lỗ

    Các chỉ tiêu đều giảm

    Một số chỉ tiêu cụ thể tại báo cáo về kết quả sản xuất kinh doanh năm 2012 của Vinalines như sau: sản lượng vận tải biển bằng 89% năm trước (2011), đạt 29,8 triệu tấn, tổng doanh thu còn thấp hơn năm ngoái nhiều, bằng 86% năm 2011 với con số đạt 21.203 tỉ đồng, trong đó, khối chủ lực là vận tải đạt gần 9.900 tỉ (bằng 80% năm 2011), khối dịch vụ cũng chỉ bằng 85% năm ngoái với doanh thu hơn 6.900 tỉ. Chỉ có khối cảng biển là tăng 7% so với năm trước, đạt hơn 4.400 tỉ đồng. Nộp ngân sách năm rồi của Vinalines vì vậy mà cũng thấp hơn nhiều năm trước (bằng 67%), với con số vỏn vẹn 674 tỉ đồng.

    Theo lãnh đạo Vinalines, để giảm lỗ, năm qua các đơn vị thuộc tổng công ty đã bán đi mười tàu với tổng trọng tải lên đến 325.000 DWT mà không được bổ sung tàu mới nào mặc dù theo kế hoạch thì năm 2012 tổng công ty dự kiến nhận thêm một tàu 1.800 TEUS và tiếp nhận bảy tàu khác với tổng trọng tải 300.000 DWT trong chương trình tiếp nhận 20 tàu từ tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ Vinashin. Điều này khiến cho trọng tải đội tàu đã giảm đáng kể, còn 143 chiếc với trọng tải khoảng 3 triệu DWT. Tuy nhiên, theo lãnh đạo Vinalines, kế hoạch tái cơ cấu đội tàu năm tới vẫn là quyết liệt bán, thanh lý tàu (tàu già và tàu khai thác không hiệu quả). Cùng với đó là áp dụng linh hoạt hình thức cho thuê định hạn kết hợp khai thác chuyến nhằm đảm bảo hiệu quả tối đa, tận dụng thời gian nhàn rỗi và đặc biệt là giảm áp lực về vốn lưu động. Điều này, theo các chuyên gia hàng hải là rất đáng chú ý bởi trước nay vẫn là điểm yếu của Vinalines khi mà hầu hết các tàu vẫn là cho thuê theo định hạn.

    Xin thôi bảo lãnh cho Vinashinlines

    Đáng chú ý, trong báo cáo công bố tại hội nghị, Vinalines kiến nghị bộ Giao thông vận tải, bộ Tài chính trình Chính phủ xem xét quyết định việc cho Vinalines không tiếp nhận nghĩa vụ bảo lãnh của tập đoàn Vinashin đối với các khoản vay của Vinashinlines (công ty TNHH MTV Vận tải viễn dương Vinashin) và các đơn vị chuyển giao khác từ Vinashin về Vinalines. Vinalines đồng thời kiến nghị bộ Giao thông vận tải xử lý với khoản tiền mà Vinalines đã hỗ trợ Vinashinlines và bốn đơn vị được chuyển giao là công ty TNHH MTV gồm: vận tải Biển Đông, công nghiệp tàu thuỷ Cà Mau, công nghiệp tàu thuỷ Sông Hậu và cảng Năm Căn dưới các hình thức cho vay, bảo lãnh cho vay, ứng tiền sửa chữa tàu… cho phép Vinalines chuyển thành vốn điều lệ của năm đơn vị trên.

    Chí Hiếu

    Theo SGTT

    Những rủi ro kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong năm 2013 là gì?

    (CafeF) Đánh giá về triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2013, các chuyên gia kinh tế cho rằng năm 2013 sẽ không có nhiều đột biến so với năm 2012.

    Sáng nay (ngày 30/1/2013) Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế chính sách – VEPR (ĐHQGHN) đã tổ chức Hội thảo "Rủi ro kinh tế vĩ mô và tầm nhìn chính sách 2013".

    Đánh giá về triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2013, các chuyên gia tham dự hội thảo cho rằng năm 2013 sẽ không có nhiều đột biến so với năm 2012. Có thể có những dấu hiệu cải thiện vào nửa sau của năm, giúp tăng trưởng cả năm 2013 cao hơn năm 2012 nhưng không đánh kể (khoảng 5,2 – 5,3%).

    Lạm phát trong năm 2013 phụ thuộc nhiều vào diễn biến khó dự báo của giá lương thực – thực phẩm, lạm phát lõi và ảnh hưởng trễ của chính sách tiền tệ nới lỏng trong năm 2012.

    Lạm phát có thể trở lại vào năm 2013 khiến mục tiêu lạm phát dưới 6% của Chính phủ đặt ra vào cuối năm 2012 trở nên mong manh. Tăng giá điện vào cuối tháng 12/2012 và sự điều chỉnh tiền lương tối thiểu vào giữa năm 2013 chắc chắn đóng góp vào mức tăng giá trong năm 2013.

    Nhận định của VEPR cũng cho rằng, cán cân thương mại trong năm tới có thể thâm hụt nhẹ trở lại khi có sự phục hồi nhất định trong sản xuất vào cuối năm.

    Tỷ giá VND/USD được kỳ vọng sẽ tăng nhẹ và phụ thuộc vào sự chủ động của NHNN. Điều này cũng phụ thuộc vào khả năng tác động đến chính sách của khối doanh nghiệp xuất khẩu đang rất khó khăn vì giá trị cao của đồng Việt Nam.

    Bên cạnh đó, VEPR dự báo, chính sách điều hành kinh tế sẽ vẫn phụ thuộc nhiều vào các biện pháp hành chính hơn là thị trường. Chính sách tiền tệ có thể tiếp tục được mở rộng một cách thận trọng để đạt được sự kích thích tăng trưởng kinh tế nhưng đồng thời đề phòng lạm phát cao quay lại.

    “Tuy nhiên, vấn đề chính nằm ở khả năng giải quyết nợ xấu và lành mạnh hóa hệ thống tài chính. Điều này có thể được khởi động trong năm 2013 nhưng tốc độ thay đổi có thể còn chậm” – Nghiên cứu nêu.

    Về cải cách DNNN, theo VEPR có thể điều này sẽ được triển khai vào năm 2013, song việc chưa có các quy chế kiểm tra, giám sát cụ thể và thông tư hướng dẫn của các Bộ liên quan trong việc thực hiện Nghị định 99 của Chính phủ về phân công, phân cấp việc thực hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với DNNN và vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp, lại chưa có đề án cụ thể để xử lý nợ xấu tại DNNN sẽ khiến cho việc cải cách khó mà thực sự diễn ra hữu hiệu ngay trong năm 2013.

    Môi trường kinh doanh của Việt Nam không được cải thiện nhiều trong vòng 2 -3 năm trở lại đây đang đặt ra yêu cầu bức thiết phải được thay đổi theo hướng tích cực.

    Theo báo cáo, rất khó kỳ vọng vào khả năng cải cách sâu rộng trên nhiều phương diện. Có thể chỉ có những thay đổi liên quan trực tiếp đến chính sách đối với các khoản đầu tư mới mà thôi.

    Khánh Linh

    Nguồn: CafeF