Thống đốc tuyên chiến với lợi ích nhóm ngân hàng

  • Bởi Hồ Gươm
    08/10/2012
    3 phản hồi
    Chủ đề: Kinh tế

    Ông Nguyễn Văn Bình cho rằng có những ngân hàng chỉ do một, hai cổ đông hoặc một nhóm cổ đông chi phối, dư nợ ngân hàng có đến 70 - 90% phục vụ cho nhóm cổ đông đó.

    Trong chương trình "Dân hỏi - Bộ trưởng trả lời" phát sóng ngày 7/10, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình đã trao đổi về vấn đề lợi ích nhóm và xung quanh những tin đồn về một số lãnh đạo nhà băng trong thời gian qua.

    Là người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước, ông Nguyễn Văn Bình thừa nhận, hệ thống văn bản để quản lý hệ thống ngân hàng không theo kịp tốc độ, trình độ phát triển của các ngân hàng cổ phần dẫn đến gây nhiều lỗ hổng. Ông Bình nhấn mạnh: "Hoạt động thanh tra giám sát không phát huy hiệu quả. Từ chỗ hệ thống phát triển nhanh, nóng, công tác chưa hiệu quả nên có nhiều hệ lụy đặt ra trong ngày hôm nay".


    Thống đốc cho rằng lợi ích nhóm có thể thao túng ngân hàng và ảnh hưởng đến cả hệ thống. Ảnh: Hoàng Hà.

    Một trong những hệ lụy mà ông Bình nhắc đến là vấn đề lợi ích nhóm trong hệ thống ngân hàng. "Có những ngân hàng chỉ do một, hai cổ đông hoặc một nhóm cổ đông chi phối, dư nợ ngân hàng có đến 70 - 90% phục vụ cho nhóm cổ đông đó. Đặc biệt, các nhóm cổ đông này sử dụng vốn không hiệu quả, gây nên thất thoát vốn, buộc ngân hàng phải tái cơ cấu", ông Bình lý giải.

    Thống đốc cũng kết luận: "Lợi ích nhóm là rào cản lớn nhất trong quá trình tái cơ cấu. Nó có thể thao túng ngân hàng và ảnh hưởng đến cả hệ thống".

    Trong lần đăng đàn trả lời dân chúng, ông Bình cũng khẳng định quyết tâm của Ngân hàng Nhà nước trong cuộc chiến chống lợi ích nhóm trong hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, ông Bình cho rằng, ngoài một số bộ phận các ngân hàng nhận thức và cùng phối hợp với ngân hàng Nhà nước, vẫn có một số bộ phận, nhóm cổ đông của các nhà băng câu kết với các phần tử trong nước, phần tử phần động nước ngoài. "Họ câu kết với nhau để đưa ra những thông tin bóp méo thực tế tái cấu trúc ngân hàng để gây hoang mang dư luận để làm cơ quan quản lý chùn bước trong việc xử lý vấn đề này", ông Bình nói.

    Về cuộc chiến chống lợi ích nhóm, ông Bình thông tin thêm, qua đợt kiểm điểm, tự phê bình, ban cán sự Đảng Ngân hàng Nhà nước đã kiểm điểm sâu sắc về vấn đề này. "Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng ghi nhận không có lợi ích nhóm trong ban cán sự Đảng Ngân hàng Nhà nước cũng như từng cá nhân trong ban cán sự Đảng Ngân hàng Nhà nước", ông Bình cho biết và khẳng định sẽ "kiên quyết không lùi bước" trong việc đấu tranh với lợi ích nhóm để xử lý các ngân hàng yếu kém, mang lại sự lành mạnh cho tổ chức tín dụng.

    Cũng tại cuộc trao đổi này, ông Nguyễn Văn Bình cho rằng không nên cho rằng việc các doanh nghiệp gặp khó khăn như hiện nay là do chính sách tiền tệ quá thắt chặt của chúng ta. "Không thể nói chính sách tiền tệ quá chặt mà là được điều hành một cách chặt chẽ, linh hoạt. Việc một số doanh nghiệp gặp khó khăn thì là hệ lụy đã lường đón trước được. Đó là giá phải trả để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và chủ trương tái cấu trúc ngân hàng Việt Nam", ông Bình phân tích.

    Thanh Thanh Lan

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    3 phản hồi

    Agribank 'ôm' cục 'nợ khủng' 3.000 tỷ đồng sau khi Lifepro Việt Nam 'bỏ chạy'!

    Sau khi đầu tư một số hạng mục dự án LuxFashion thì Lifepro Vietnam đột nhiên đóng cửa ngừng hoạt động, để lại cục nợ 3.000 tỷ đồng cho Agribank Nam Hà Nội.

    Dự án LuxFashion do Công ty Liên doanh Lifepro Vietnam (Lifepro Vietnam) làm chủ đầu tư tại cụm công nghiệp Gián Khẩu, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình là một trong những dự án lớn về lĩnh vực may xuất khẩu, với tổng mức đầu tư trên 300 triệu USD.

    Theo Công ty Lifepro Vietnam, mục tiêu chủ yếu của dự án LuxFashion là sản xuất và xuất khẩu quần áo thời trang chất lượng cao có gắn nhãn hiệu thời trang danh tiếng thế giới và trang phục chuyên dụng phòng cháy, chữa cháy…

    Tính đến tháng 6/2012, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nam Hà Nội - Agribank Nam Hà Nội (ngân hàng cho dự án vay vốn) đã giải ngân phần vốn cố định bằng VNĐ và ngoại tệ tương đương 3.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, sau khi đầu tư một số hạng mục dự án thì Lifepro Vietnam đột nhiên đóng cửa ngừng hoạt động. Agribank Nam Hà Nội đã có văn bản gửi Công ty Lifepro Vietnam và các đối tác liên kết trong dự án chuyển toàn bộ dư nợ của công ty sang nợ quá hạn, yêu cầu công ty thu xếp mọi nguồn lực về tài chính trả nợ ngân hàng.

    Không biết Agribank Nam Hà Nội sẽ thu hồi món nợ lớn này thế nào khi giám đốc công ty người nước ngoài đã về nước, tài sản của Lifepro Vietnam chỉ là vài dãy nhà xưởng?

    Theo Quang Dương - Công thương

    Nguồn: Vinacorp.vn

    Nợ xấu ngân hàng từ các khoản tín dụng “thoáng”

    Nợ xấu đang là thực trạng đáng lo ngại cho hệ thống ngân hàng cũng như nền kinh tế.

    Trên danh nghĩa, nợ xấu ngân hàng là nợ đã quá hạn hơn 90 ngày và ngân hàng bắt đầu trích lập dần rủi ro nợ xấu. Tuy nhiên, thực tế thì gần như mọi người đều công nhận rằng chỉ có nợ xấu còn được “giấu”, chưa thể hiện cũng như trích lập dự phòng, chứ hiếm có trường hợp nợ còn có thể thu hồi nhưng lại hạch toán là nợ xấu như quy định.

    Định nghĩa lại nợ xấu

    Nếu để tỷ trọng nợ xấu lớn trên báo cáo sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động ngân hàng. Theo đó, ngân hàng phải trích lập dự phòng lớn khiến cho hiệu quả kinh doanh thấp. Khi hiệu quả kinh doanh thấp, cũng có nghĩa uy tín ngân hàng đã giảm sút dẫn đến hạn chế khả năng huy động tiền gửi. Còn cổ phiếu ngân hàng bị giá thấp sẽ khó phát hành tăng vốn.

    Vì thế, “bất dắc dĩ” thì ngân hàng mới hạch toán nợ xấu. Đây thường là những khoản nợ ngân hàng của đơn vị bị công khai bể nợ, thậm chí Luật pháp đã bước vào tiến hành tố tụng.

    Nhìn vào các khoản nợ xấu, đây là những đơn vị lỗ rất lớn, thậm chí ngưng trệ kinh doanh, không luân chuyển vốn. Những tài sản còn lại của đơn vị “bế tắc trong việc chuyển hóa thành tiền”, không có nguồn tiền nộp vào ngân hàng trả nợ. Điển hình như nợ xấu ngân hàng hơn 1,300 tỷ của Bianfishco (BAF), có đến 1,000 tỷ hoặc hơn là lỗ (theo nhận định của Giám đốc Công ty Mua bán nợ DATC), tài sản còn lại nhiều trăm tỷ nhưng không thể chuyển hóa ra tiền để trả nợ nông dân bán cá.

    Có thể khái niệm nợ xấu ngân hàng là những khoản nợ mà cân đối vốn đối ứng có tỷ trọng đa phần là lỗ, thiểu số còn lại thì bế tắc trong việc chuyển hóa thành tiền.

    Điều kiện hình thành nợ xấu

    Vì sao nợ xấu “nở rộ” vào thời điểm hiện nay và vì sao có sự cách biệt lớn giữa nợ xấu nhiều hay ít giữa các ngân hàng? Nợ xấu chỉ được hình thành khi phải hội đủ hai điều kiện: (1) Vốn tín dụng ngân hàng đưa ra làm ăn phi hiệu quả, “bốc hơi” dần nên không quay lại trả nợ ngân hàng, và (2) Những tài sản thế chấp không đảm bảo an toàn về giá trị để có thể bù đắp rủi ro kinh doanh của đơn vị vay vốn.

    Điều kiện đầu tiên sẽ giải đáp câu hỏi về “nở rộ” nợ xấu ngân hàng hiện nay. Sau gần hai năm thắt chặt tiền tệ với mô hình mặt bằng lãi suất cao, hạn chế phát hành vốn vào lưu thông, sản xuất kinh doanh đình đốn dẫn đến đơn vị kinh doanh vay vốn ngân hàng không tạo được lợi nhuận trả lãi vay. Đồng thời, họ phải dùng chính vốn vay trả lãi, vốn vay “bốc hơi” dần, ngày càng “thu nhỏ lại”, dẫn đến không có khả năng trả nợ và hình thành nợ xấu.

    Có thể thấy, bất động sản là trường hợp điển hình nhất. Vào thời điểm trước đóng băng (2010), nếu ai vay 100 tỷ đồng thì hai năm qua phải trả lãi khoảng 50%, tức 50 tỷ đồng. Như vậy, người vay đã nợ lên đến 150 tỷ trong khi giá bất động sản của thời hoàng kim 100 tỷ đồng nay chỉ còn khoảng 70 tỷ đồng. Người vay đã lỗ đến 80 tỷ đồng, chiếm đa số vốn vay. Trước kia, lãi suất vay vốn vẫn cao nhưng tốc độ tăng giá sản phẩm cao tương ứng nên nợ vay ngân hàng có thể quay lại trả đủ khi bán sản phẩm, nợ xấu không nở rộ như hiện nay.

    Nếu điều kiện đầu tiên là khách quan thì điều kiện thứ hai lại là chủ quan của bộ máy tín dụng từng ngân hàng - Đó là đã không thế chấp an toàn. Dễ nhận thấy, cùng là tín dụng nặng lãi ngoài xã hội nhưng mọi “chủ hụi” gần như bể nợ trong khi các tiệm “cầm đồ” không sao cả.

    Sự khác nhau ở chỗ thế chấp an toàn. Khi vay vốn ngân hàng đưa vào kinh doanh, nếu “thắng to cỡ mấy”, đơn vị tự hưởng và cũng chỉ có nghĩa vụ “trả lãi vay ngân hàng đúng cam kết trong hợp đồng”. Vì thế, khi thua lỗ trong kinh doanh, đơn vị phải tự chịu trách nhiệm, ngân hàng phải bảo toàn vốn cho vay vì đây là sự ủy thác của người gửi tiền khi chấp nhận lãi suất cố định, không mạo hiểm đầu tư.

    Vì thế, thế chấp an toàn là đòi hỏi cần thiết đối với nghiệp vụ tín dụng ngân hàng. Ở ngân hàng có chủ trương xem tín dụng là “cầm đồ cao cấp” sẽ ít gặp nợ xấu. Ở ngân hàng đặt trọng chức năng “hỗ trợ đơn vị phát triển sản xuất kinh doanh” mà chỉ quan tâm sơ sài đến thế chấp sẽ tạo cơ hội cho điều kiện thứ hai hình thành (không thế chấp an toàn), dẫn đến hình thành nợ xấu.

    Nợ xấu nở rộ như thế nào

    Nợ xấu chỉ có thể hình thành khi thế chấp “thoáng”, không an toàn ở những dạng sau:

    Tín chấp, là mô hình ngân hàng sở hữu Nhà nước cho vay doanh nghiệp Nhà nước. Được một vài ngân hàng cổ phần vận dụng khi cho vay doanh nghiệp Nhà Nước và để lại nợ xấu như Vinashin, Vinalines …

    Cho vay nhận thế chấp bằng chính “dự án”. Nhiều người đều biết chi phí thực tế khi triển khai dự án thấp hơn vài chục phần trăm so giá trị dự án theo thiết kế. Số chênh lệch này được người đi vay “phù phép” thành vốn tự có. Như thế, bằng nguồn vốn tự có thấp, đơn vị có thể vay vốn lớn nhờ vào ngân hàng đồng ý “nhận thế chấp chính dự án”.

    Đây là cội nguồn nợ xấu lớn nhất hiện nay khi kinh tế đình đốn, dự án không hiệu quả, giá trị dự án khó thể thu hồi được nợ vay do khó khăn trong chuyển nhượng và có chuyển nhượng cũng lỗ lớn, nợ vay tổn thất.

    Cho vay nhận thế chấp bằng “kho hàng”, khi khui kho thì không còn để thu hồi. Tỷ lệ thu hồi ở kho thủy sản đông lạnh tại Cần Thơ là 0%, ở kho café tại Daklak là dưới 1% (thế chấp 1,000 tấn nhưng khui kho chỉ còn 3.5 tấn). Cho vay nhận thế chấp bằng hóa đơn mua hàng (như thép của Công ty Thái Sơn, Hải Phòng) cũng có thể gặp rủi ro tương tự.

    Cho vay nhận thế chấp bằng cổ phiếu chưa niêm yết. Ai cũng nhìn thấy rủi ro nợ xấu này khi cổ phiếu chuyển xuống giá bèo, bán không ai mua, thậm chí công ty phá sản.

    Cho vay nhận thế chấp bằng máy móc thiết bị. Rủi ro nợ xấu ở chỗ máy móc có thể lạc hậu, không có hiệu quả khi vận hành và như thế, giá trị chuyển từ cao (giá máy) xuống thấp (giá phế liệu).

    Cho vay nhận thế chấp những mảnh đất có diện tích lớn (để định giá cao) ở vùng hẻo lánh, không hề có thanh khoản và khó định giá. Rủi ro sẽ đến khi thanh lý không người mua với giá thu nợ. v.v…

    Một thực tế cũng đáng suy nghĩ là một vài ngân hàng huy động rất lớn nhưng cho vay thế chấp khá kỹ nên nợ xấu và nợ có khả năng mất vốn thấp. Trong khi đó nhiều ngân hàng huy động vốn không lớn nhưng lại cho vay rất thoáng về thế chấp, dẫn đến nợ xấu lớn, khó khăn thanh khoản và tổn thương hoạt động ngân hàng.

    Bên cạnh việc tìm hướng xử lý nợ xấu ngân hàng hiện nay, những bài học về con đường dẫn đến nợ xấu cũng cần được quan tâm nhằm hạn chế việc phát sinh thêm nợ xấu mới trong hệ thống ngân hàng.

    Nguyễn Đình Dũng (Vietstock)

    Nguồn: Vietstock

    Ngân hàng Nhà nước can thiệp 'quá nhiều'

    Thống đốc Bình nói ngành ngân hàng đã phát triển 'quá nóng'

    Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình hôm 7/10 đã có cuộc trả lời phỏng vấn dài trên Truyền hình Việt Nam về cải tổ hệ thống ngân hàng.

    Ông thừa nhận tình trạng "lợi ích nhóm" nhưng nói rằng không có tình trạng này ở Ngân hàng Nhà nước.

    Ông Bình nói sự phát triển của ngành ngân hàng trong những năm vừa qua "quá nóng" và đã xảy ra tình trạng "buông lỏng thanh tra giám sát".

    Theo vị Thống đốc, có những ngân hàng chỉ do một nhóm cổ đông chi phối và 70-90% dư nợ ngân hàng là phục vụ cho chính nhóm cổ đông, vốn "sử dụng vốn ngân hàng không hiệu quả".

    Đây là lý do, ông Bình nói, các ngân hàng như vậy phải tái cơ cấu.

    Mặc dù ông Bình khẳng định không có lợi ích nhóm ở Ngân hàng Nhà nước, một chuyên gia ở Hà Nội, Tiến sỹ Lê Đăng Doanh, nói dư luận vẫn đặt dấu hỏi về các quyết định hành chính của vị Thống đốc liên quan tới chuyện sát nhập các ngân hàng.

    "Hiện nay trong dư luận xã hội đang còn có điều phân vân. Người ta không biết rõ tại sao ngân hàng này lại phải sát nhập với ngân hàng kia mà lại không phải sát nhập với ngân hàng khác.

    "Hiện nay, tôi nghĩ vấn đề khó có thể giải quyết được nếu không có sự công khai minh bạc và thảo luận rõ ràng hơn về quá trình cải cách này.

    "Cái quá trình này muốn được thực hiện một cách dân chủ thì phải đưa ra thảo luận."

    'Tần suất quá nhiều'

    Tiến sỹ Doanh nói cứ khoảng 10 ngày lại có một quyết định hành chính của Ngân hàng Nhà nước và tần suất này là "quá nhiều".

    "Các doanh nghiệp và các ngân hàng rất khó nắm bắt, theo kịp để thực hiện các quyết định thay đổi nhiều và nhanh như vậy."

    Theo ông Doanh, việc sát nhập các ngân hàng trong thời gian vừa qua đã giúp các ngân hàng vượt qua khó khăn nhưng chưa thể biết được tác động của nó về mặt lâu dài.

    Ông cũng nói Ngân hàng Nhà nước nên để các ngân hàng thương mại "tự nguyện" tìm đến với nhau qua cơ chế thị trường.

    Nếu như không làm rõ được vấn đề nợ xấu, vấn đề sở hữu chéo và các vấn đề khác thì tôi nghĩ rằng việc sát nhập một ngân hàng này vào một ngân hàng khác không có ý nghĩa gì nhiều lắm.

    » Tiến sỹ Lê Đăng Doanh

    Đề cập tới các tín hiệu mới đây về sự ổn định trở lại của kinh tế Việt Nam, vị Tiến sỹ nói:

    "Tôi nghĩ rằng các cải thiện của kinh tế vĩ mô của Việt Nam như lạm phát giảm xuống, tỷ giá tương đối ổn định, dự trữ ngoại tệ tăng lên và cán cân thương mại thậm chí có thặng dư thì hiện vẫn đang còn mong manh.

    "Lạm phát giảm xuống là do có sự điều chỉnh trong chính sách tiền tệ và tín dụng, đồng thời cũng do sức mua cạn kiệt.

    "Dự trữ ngoại tệ tăng lên thì do xuất khẩu tăng lên nhưng cũng do nhập khẩu giảm đi rõ rệt và vì vậy tốc độ tăng trưởng cũng giảm đi

    "Điều này không có nghĩa là Việt Nam sẽ tiếp tục giữ được mức ổn định nếu sắp tới đây lại muốn tăng trưởng cao hơn và lại đưa ra một chính sách đầu tư mạnh mẽ hơn và nới lỏng chính sách tín dụng và tiền tệ."

    'Sự thật đắng cay'

    Tiến sỹ Doanh, người từng đứng đầu Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, nói ông chưa nhìn thấy đường hướng cụ thể về việc giải quyết các vấn đề trong ngành ngân hàng.

    Ông nói: "Vấn đề quan trọng hơn là phải có các yêu cầu về sự công khai minh bạch, về sự quản trị ngân hàng và về sự lành mạnh của ngân hàng.

    "Nếu như không làm rõ được vấn đề nợ xấu, vấn đề sở hữu chéo và các vấn đề khác thì tôi nghĩ rằng việc sát nhập một ngân hàng này vào một ngân hàng khác không có ý nghĩa gì nhiều lắm.


    Tiến sỹ Doanh nói cần công bố sự thật về nợ xấu cho dù "đắng cay" tới đâu

    "Tôi thấy rằng trước hết vấn đề nợ xấu ở Việt Nam phải làm rõ quy mô nợ xấu là bao nhiêu, nợ xấu ở đâu, ở ngân hàng nào và nợ xấu đấy thì nó ở doanh nghiệp nhà nước hay ở lĩnh vực bất động sản hay lĩnh vực khác.

    Tiến sỹ Doanh nói hiện đang có các con số khác nhau về nợ xấu ở Việt Nam. Thống đốc Nguyễn Văn Bình đưa ra con số 10% trước Quốc hội, quyền thanh tra Ngân hàng lại dẫn con số 8,6% trong khi hãng đánh giá tín dụng Fitch Ratings đưa ra mức 13%.

    Chỉ với mức khiêm tốn nhất 8,6%, số nợ xấu cũng đã lên tới 10 tỷ đô la.

    Câu hỏi Tiến sỹ Doanh đặt ra là liệu mức nợ xấu được đưa ra đã bao gồm các khoản cho vay giữa các ngân hàng với nhau hay không vì theo ông các ngân hàng "cho nhau vay cũng nhiều lắm".

    Ông cũng nói Việt Nam nên có công ty mua bán nợ để giải quyết tình hình nợ xấu nhưng nhấn mạnh sự cần thiết phải công khai con số nợ xấu chính xác:

    "Tôi nghĩ rằng sự thật cần được nói lên, cần được công bố ra. Càng không công bố sự thật người ta càng nghi ngờ và càng có nhiều đồn đoán hơn.

    "Tôi nghĩ rằng dẫu sự thật có đắng cay đến bao nhiêu chăng nữa thì vẫn nên nói ra đi.

    "Không công bố chỉ làm cho tình hình phức tạp thêm."

    Nguồn: BBC