Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước: Không thể trì hoãn

  • Bởi Hồ Gươm
    24/07/2012
    2 phản hồi
    Chủ đề: Kinh tế

    (Chinhphu.vn) - Nghị quyết 26/NQ-CP ngày 9/7/2012 của Chính phủ mới đây tiếp tục đưa ra thông điệp yêu cầu các tập đoàn, tổng công ty nhà nước khẩn trương xây dựng đề án tái cơ cấu, trong đó có đề án thoái vốn đầu tư ra ngoài lĩnh vực kinh doanh chính (bao gồm cả các khoản đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết không liên quan đến ngành nghề kinh doanh chính).


    Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam

    Một lần nữa Chính phủ khẳng định, việc thoái vốn đầu tư ra ngoài lĩnh vực kinh doanh chính của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là một nội dung quan trọng của quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước.

    Từ nay đến 2015, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước phải hoàn thành việc thoái vốn đầu tư không thuộc ngành nghề kinh doanh chính theo nguyên tắc thị trường, bảo đảm công khai, minh bạch, bảo toàn ở mức cao nhất phần vốn và tài sản của nhà nước.

    Ý kiến của một số chuyên gia nhận định, việc thực hiện một chủ trương lớn, đúng đắn của Chính phủ dường như đang gặp thách thức, khi các tập đoàn, tổng công ty nhà nước tìm cách trì hoãn, thậm chí né tránh việc thoái vốn đã đầu tư vào các lĩnh vực ngoài ngành nghề chính.

    Trong Đề án tái cấu trúc Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam vừa trình Chính phủ, đơn vị này xin được bổ sung ngành đầu tư khu công nghiệp là lĩnh vực kinh doanh chính, trong khi đây là lĩnh vực đầu tư ngoài ngành nghề chính mà Tập đoàn phải hoàn tất thoái vốn trước năm 2015 theo chỉ đạo của Chính phủ.

    Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) vẫn đề xuất xin được giữ lại phần vốn tại lĩnh vực bảo hiểm và tài chính.

    Theo lý giải của Chủ tịch Hội đồng thành viên PetroVietnam Phùng Đình Thực, Tổng công ty cổ phần Tài chính Dầu khí (PVFC) được hình thành từ năm 2000, không như các đơn vị tài chính khác thành lập theo phong trào, mục đích của việc thành lập công ty này nhằm thu xếp vốn cho Petrovietnam, đó là nhiệm vụ cần thiết, do vậy Petrovietnam kiến nghị phương án thoái vốn xuống 20%.

    Tương tự với Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Dầu khí (PVI) Petrovietnam cũng đề nghị đến năm 2015 thoái vốn xuống còn 18%, đây là doanh nghiệp bảo hiểm chuyên ngành được hình thành từ năm 1986 thực hiện trách nhiệm tham gia quản lý rủi ro các tài sản công trình dầu khí.

    Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam lại có lý lẽ khác hơn, Petrolimex dùng các định chế tài chính để sử dụng các dịch vụ thuần tuý, chứ không cân đối nguồn vốn.

    Khác với việc đi đầu tư ngoài ngành, Petrolimex thành lập công ty bảo hiểm Pijico cách đây 17 năm và đây gần như cũng là công ty bảo hiểm đầu tiên ở Việt Nam hoạt động có hiệu quả, việc thoái vốn Tập đoàn phải tính làm sao để đảm bảo hài hoà bởi ở đây còn có cả quyền lợi của cổ đông.

    Báo cáo của Kiểm toán Nhà nước mới công bố tuần qua cho thấy: Tính đến cuối năm 2010 tổng vốn đầu tư tài chính ngoài ngành của các đơn vị được kiểm toán là hơn 37.700 tỷ đồng, cá biệt có đơn vị đầu tư ra ngoài ngành tới 12% vốn điều lệ.

    Mặc dù tỷ lệ đầu tư ngoài ngành so với tổng tài sản, vốn điều lệ của các tập đoàn, tổng công ty không lớn nhưng theo báo cáo của Kiểm toán Nhà nước điều này đã ảnh hưởng nhiều tới hoạt động kinh doanh chính và thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao.

    Kiểm toán Nhà nước cũng kiến nghị cần đẩy nhanh thoái vốn với những khoản đầu tư không hiệu quả cũng như giám sát chặt quá trình thoái vốn này.

    Còn theo Tổng Kiểm toán Nhà nước Đinh Tiến Dũng, một trong những ưu tiên trong quá trình thực hiện kế hoạch kiểm toán hàng năm đối với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước tới đây đó là sẽ kiểm toán việc thực hiện thoái vốn của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước có đúng với phương án được các cấp thẩm quyền phê duyệt và việc thoái vốn có bảo đảm các quy định pháp luật hay không.

    Theo Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Nguyễn Đình Cung: Khi chốt thời điểm các tập đoàn, tổng công ty phải hoàn tất thoái vốn đầu tư ngoài ngành nghề chính trước năm 2015, Chính phủ đã cân nhắc kỹ lưỡng. Hơn nữa, từ nay đến năm 2015, thời gian còn khá nhiều, trong khi việc tổ chức triển khai thoái vốn mới chỉ ở giai đoạn đầu, do vậy không thể vội vàng đưa ra kiến nghị giãn thời gian thực hiện. “Mới chỉ bắt đầu vào việc mà đã ngại khó, ngại khổ, thì một chính sách dù ưu việt đến mấy cũng khó phát huy hiệu quả như mong muốn của người làm chính sách”, ông Nguyễn Đình Cung nhấn mạnh.

    Bộ Công Thương, một bộ quản lý đa ngành và “nắm giữ” nhiều tập đoàn, tổng công ty cho biết: Bộ cũng đã dự thảo xong đề án Đẩy mạnh cơ cấu, sắp xếp doanh nghiệp Nhà nước thuộc Bộ.

    Tính đến ngày 1/7/2012 , Bộ Công Thương có 18 đơn vị nắm giữ 100% vốn nhà nước (bao gồm 5 tập đoàn, 2 tổng công ty 91; 3 tổng công ty 90 và 8 công ty TNHH một thành viên). Ngoài ra có 13 đơn vị, doanh nghiệp đã cổ phần, Bộ Công Thương đại diện chủ sở hữu phần vốn Nhà nước.

    Bộ Công Thương cho biết Bộ sẽ phối hợp với các bộ, ngành để xây dựng chính sách tổng thể và tạo cơ chế cho các tập đoàn, tổng công ty linh hoạt trong việc thay đổi cơ cấu vốn tại các doanh nghiệp.

    Việc tái cơ cấu các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước tập trung xác định rõ vai trò, chức năng của từng tập đoàn, tổng công ty nhà nước hoạt động sản xuất kinh doanh sản phẩm chủ yếu nhà nước cần giữ vai trò chủ đạo, điều tiết kinh tế vĩ mô vì sự ổn định phát triển quốc gia.

    Về giải pháp cụ thể: Đối với tập đoàn, tổng công ty thuộc nhóm 100% vốn nhà nước, Bộ sẽ tiến hành sắp xếp lại chiến lược mô hình tổ chức và tái cấu trúc lại nhân sự nhằm nâng cao vai trò quản trị cho các tập đoàn.

    Đối với tập đoàn, tổng công ty thuộc nhóm Nhà nước nắm giữ trên 85% vốn và nhóm nhà nước chi phối 65-75% vốn, Bộ sẽ tiến hành các giải pháp tái cấu trúc trước khi cổ phần hoá hoặc cổ phần hoá từng phần nhằm tiếp tục nâng cao năng lực quản trị của các tập đoàn, tổng công ty.

    Đối với các đơn vị còn lại, Bộ sẽ đẩy nhanh tiến độ CPH, thoái vốn nhà nước đối với công ty không cần nắm giữ cổ phần chi phối như các công ty thuộc khối thương mại, thực hiện CPH đồng thời cả doanh nghiệp là thành viên các tập đoàn, tổng công ty.

    Linh Đan

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Chuyện tái nạm này tớ biên ở cà cách đây hơn 2 tháng . Thú thật bây giờ tớ cũng lười quá đỗi . Thôi thì tớ bót cái ý chính lại , nội dung cũng rứa , chỉ chỉnh sửa 1 tý " chú cháu " cho phù hợp với ... phản động dân luận , he he he .
    ------------------

    Tên tác giả viết:
    Tất cả các vấn đề của đất nước và của doanh nghiệp đều nằm ở Quản Trị các bố ạ .Vậy tại sao phải tái cấu trúc thì vấn đế nằm ở chổ này.

    Trước hết , phải bằng mọi giá nâng năng xuất lao động lên vì chất lượng hoạt động kinh doanh quá kém . Người ta bỏ hai đồng thì kiếm được một đồng còn Việt Nam chúng ta bỏ 7 đồng mới kiếm được 1 đồng . Còn quốc doanh thì bỏ 13 đồng mới ra được 1 đồng lời .

    Thằng đầu tư nước ngoài nhảy vào bỏ 4 đồng thu được 1 đồng còn mấy mẹ bán hàng rong thì bỏ 3 đồng thu 1 đồng . Hoan hô bán hàng rong , hoan hô !!!

    Và để tăng năng xuất mà theo học thuật gọi là để tăng hệ số ICOR thì bắt buộc phải tái cấu trúc toàn bộ . Không còn cách nào khác các chú ạ . Phải tái ngay , tái lập tức để làm ăn hiệu quả , không thì chết .

    Vậy để nâng hệ số ICOR thì ta gọi là Quản Trị sự thay đổi .

    Thế vấn đề rõ ràng nằm ở đây là các chú doanh nghiệp nhà nước làm ăn đek sinh lãi , thậm chí lỗ . Bố tiên nhân , đụng ông nào ông ấy gào lên là lỗ tất !! . Vậy cho nên phải tái cơ cấu lại , nhưng đã động vào mấy quả " đám thép " thì cũng chã dễ chịu chút nào , hố hố . Mấy cú đấm thép ý có chịu tái đâu ?

    Chủ trương là đúng , đúng lắm , nhưng cứ ì ạch mãi như vầy thì bỏ mẹ . Xứ Lừa ,chã có chiện gì dễ dàng cả !

    Phải chấm dứt kiểu tiêu tiền vô tội vạ

    (Đất Việt) Các ngân hàng cho doanh nghiệp nhà nước vay rất dễ dãi, vì đinh ninh có Nhà nước đứng đằng sau bảo trợ. Cho nên người đi vay cũng chẳng cần lo làm sao sử dụng đồng tiền hiệu quả nhất, người cho vay cũng không không lo mất nợ, vì họ tin túi tiền Nhà nước là “không đáy”.

    Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng đã đưa ra quan điểm như trên, khi trao đổi với Đất Việt xung quanh vấn đề các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) đầu tư ngoài ngành, dẫn đến thua lỗ, kinh doanh chủ yếu trên vốn vay và chiếm dụng, dẫn tới rủi ro cao. Vấn đề này cũng đã được Kiểm toán Nhà nước công bố trong báo cáo cuối tuần qua.

    - Có ý kiến cho rằng, việc vay vốn, chiếm dụng vốn quá dễ dãi thì việc đầu tư ngoài ngành, đầu tư dàn trải là hệ quả tất yếu. Quan điểm của bà như thế nào?

    - Một số nghiên cứu tài chính gần đây cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp chỉ thích vay ngân hàng, chứ họ không thích huy động vốn qua thị trường chứng khoán (IPO). Họ cũng không thích bắt tay với các quỹ đầu tư để tiếp nhận đầu tư hoặc bắt tay các đối tác chiến lược để được cung cấp thêm vốn và các phần khác có giá trị cao như khoa học, công nghệ…

    Điều đó chứng tỏ các tập đoàn, tổng công ty khi khước từ các hình thức khác, họ muốn hình thức tín dụng là tương đối dễ và có lẽ kênh tín dụng của chúng ta lâu nay dành cho các tập đoàn kinh tế thường dễ dãi, không có sự kiểm soát ngặt nghèo như các kênh khác. Họ muốn né tránh kênh IPO bởi kênh này đòi hỏi ít nhất minh bạch báo cáo hàng năm hoặc sự giám sát của cổ đông. Các kênh khác cũng có đòi hỏi tương tự. Do vậy, họ không thích những nguồn tiền mà vừa có tiền, vừa nâng chất lượng quản trị cho họ. Đây là vấn đề rất lớn trong các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước.

    - Bên cạnh việc sử dụng tỷ lệ vốn vay, vốn chiếm dụng cao, các tập đoàn, tổng công ty đầu tư ngoài ngành rất lớn, dẫn đến thua lỗ và thất thoát tài sản nhà nước. Theo bà, trách nhiệm thuộc về ai?

    - Trách nhiệm trước hết về các tập đoàn, tổng công ty nước, vì khi họ vay vốn và đầu tư ngoài ngành thường thuyết trình với các nơi cho vay hoặc cơ quan quản lý là sẽ có triển vọng tốt, mang lại nhiều lợi ích lớn cho doanh nghiệp. Trước khi Nhà nước bắt đầu chấp nhận cho các tập đoàn, tổng công ty mở rộng sang các lĩnh vực kinh doanh khác, khi phản biện, tôi cũng không đồng tình với chiều hướng đó, nhưng không được vì đa số ý kiến đồng tình.

    Khi quyết định như vậy, mọi người không thấy một điều, đã là DNNN và được Nhà nước giao hình thành nên một ngành để phát triển thì đó là ngành thiết yếu của nền kinh tế. DNNN không được biến vị thế của mình thành thứ để làm tràn lan, chèn ép các DN khác. Hơn nữa, khi họ mở rộng ra nhiều ngành thì họ không đủ năng lực để quản lý tốt. Ngay bản thân ngành nghề cốt lõi đã còn những vấn đề trong quản lý, giờ mở rộng ra thì họ sao kham nổi. Như vậy, rủi ro sẽ tăng thêm, kể cả lĩnh vực cốt lõi. Tất cả DN lớn trên thế giới đều nổi bật trên lĩnh vực cốt lõi của mình, trong một ngành nào đó, từ ngành của mình phát triển ra ngành khác, nhưng cũng chỉ xoay quan cái trục là thứ mà họ có thế mạnh, chứ họ không làm rộng như các DNNN của chúng ta.

    Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: “Lâu nay, các DNNN đã được cưng chiều quá đáng. Họ như những “đứa con hư”, lớn tướng lên rồi vẫn được chiều chuộng, muốn gì được nấy nên họ muốn làm đa ngành cũng được, khi nhận ra thì đã muộn, thất thoát nhiều thứ, làm cho DN yếu đi”.

    - Nhưng nói gì thì nói, DNNN cũng không thể tự tiện muốn làm gì thì làm, muốn đầu tư vào đâu và bao nhiêu cũng được?

    - Lâu nay, các DNNN đã được cưng chiều quá đáng. Họ như những “đứa con hư”, lớn tướng lên rồi vẫn được chiều chuộng, muốn gì được nấy nên họ muốn làm đa ngành cũng được, khi nhận ra thì đã muộn, thất thoát nhiều thứ, làm cho DN yếu đi. Ví dụ như điện, nếu chúng ta tập trung đầu tư vào điện xuyên suốt, đừng làm viễn thông thì đã không mất mấy ngàn tỷ đồng, để lúc nào cũng kêu thiếu vốn, bắt xã hội phải trả thêm… Đây cũng là cách Nhà nước cưng chiều quá mức, không có sự giám sát liên tục đối với DNNN.

    Bên cạnh đó, các Ngân hàng cho DNNN vay rất dễ dãi, vì đinh ninh có Nhà nước đứng đằng sau bảo trợ, nên DN không trả được thì có Nhà nước trả nợ thay. Cho nên người đi vay cũng chả cần lo làm sao sử dụng đồng tiền hiệu quả nhất, không lo bị siết nợ, người cho vay cũng không lo mất nợ, vì biết rằng có người khác trả nợ thay, họ tin túi tiền Nhà nước là vô tận.

    - Hiện Chính phủ đang sửa đổi Nghị định 132 về quản lý các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, trong đó sẽ giao thêm quyền cho các Bộ chuyên ngành quản lý. Bà kỳ vọng gì vào vấn đề này?

    Việc giao Bộ nào cũng đòi hỏi bản thân các cơ quan nhà nước, các Bộ nói chung phải tăng cường trách nhiệm của mình, trách nhiệm cá nhân của các bộ trưởng, các thứ trưởng trực tiếp phân công theo dõi các tập đoàn… Nếu không có chế độ trách nhiệm rõ ràng, không có chế tài khi không thực hiện việc giám sát các tập đoàn, DNNN thì có giao cho Bộ nào cũng không ăn thua. Trừ phi có những chế tài thật nghiêm, ràng buộc đến chức vụ của họ, họ phải cùng DN bồi thường cho những chuyện mất mát, thua lỗ của DN được phụ trách mới được.

    Yêu cầu tập đoàn, tổng công ty chấm dứt đầu tư ngoài ngành

    Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 929 Phê duyệt Đề án “Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011 - 2015”.

    Theo quyết định này, Thủ tướng yêu cầu từng tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước trình Đề án tái cơ cấu để phê duyệt trong Quý III.2012. Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước sẽ phải rà soát, xác định lại nhiệm vụ, ngành nghề kinh doanh chính và chấm dứt tình trạng đầu tư ra ngoài ngành, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính trước năm 2015.

    Mạnh Đồng (thực hiện)

    Nguồn: Đất Việt