Trụ cột của ngành công nghiệp sắp gãy

  • Bởi Hồ Gươm
    29/05/2012
    5 phản hồi

    Vef.vn - Theo Hiệp hội doanh nghiệp cơ khí Việt Nam, chưa bao giờ ngành cơ khí lại rơi vào tình trạng khó khăn như hiện nay. Từ đầu năm tới nay đã có hàng trăm doanh nghiệp cơ khí lớn nhỏ phải đóng cửa, hoặc tuyên bố phá sản. Vốn được xem là trụ cột của ngành công nghiệp, nhưng tình hình này cảnh báo trụ cột có nguy cơ bị gãy

    "Chết" không dám tuyên bố

    Tại Hải Phòng, từ đầu năm đến nay, hàng loạt các doanh nghiệp như Công ty CP Công nghiệp tàu thủy Tam Bạc, Công ty Công nghiệp tàu thủy Thành Long, Công ty CP Cơ khí đóng tàu Hạ Long đã phải tạm ngừng hoạt động do sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn.

    Những DN hoạt động cầm chừng, hàng tồn kho cao nhiều vô kể, trong đó không ít là các doanh nghiệp cơ khí lớn. Ông Trần Văn Quang, Tổng giám đốc Công ty CP Chế tạo thiết bị điện Đông Anh cho biết, từ đầu năm 2012 tới nay công ty này đang phải hoạt động cầm chừng và lượng hàng tồn kho ngày càng nhiều.

    Nhà máy chế tạo thiết bị nâng hạ thuộc Xí nghiệp cơ khí Quang Trung Ninh Bình vốn là đơn vị được đầu tư theo chương trình cơ khí trọng điểm của Nhà nước. Nhưng tại thời điểm này, hàng chục cần cẩu lớn nhỏ, hàng trăm tấn thiết bị siêu trường, siêu trọng phục vụ các ngành đóng tàu, thủy điện, dầu khí vẫn đang xếp xó.

    Công ty Tự Thành (KCN Hà Bình Phương - Thường Tín - Hà Nội) chuyên chế tạo và cung cấp nhiều loại máy xây dựng những năm trước tiêu thụ khá tốt. Tuy nhiên từ sau Tết , công ty đã phải "đắp chiếu" một dây chuyền sản xuất chính và chuyển sang sản xuất theo đơn đặt hàng những chi tiết, cấu kiện nhỏ dùng để thay thế.

    Theo ông Nguyễn Văn Thụ, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam thì thiếu vốn là nguyên nhân quan trọng khiến nhiều doanh nghiệp cơ khí gặp khó khăn. Hiện có tới 50% DN đang thiếu vốn. Lợi nhuận của các doanh nghiệp cơ khí chỉ đạt bình quân từ 3-5% /năm, vậy nhưng ngân hàng đang cho vay với lãi suất lên tới 17% và thời gian trước tới 20% thì không doanh nghiệp nào dám vay bởi như vậy là cầm chắc thua lỗ.

    Ngành cơ khí cũng được ưu đãi vay vốn (trong chiến lược phát triển cơ khí việt Nam đến 2020 và chương trình cơ khí trọng điểm) nhưng trong suốt 10 năm qua cũng chỉ có khoảng 8 dự án được vay vốn ưu đãi và lãi vay khá cao; chẳng hạn năm 2011 vốn vay ưu đãi dành cho các doanh nghiệp cơ khí của Ngân hàng Phát triển Việt Nam ở mức 11,4%. Ông Ngô Văn Trụ, Phó Vụ trưởng Vụ Công nghệp nặng Bộ Công thương cho biết, đối với các nhà đầu tư cơ khí nếu được vay lãi suất 0% trong 10 năm phải trả nợ cũng không ai muốn làm nữa là lãi suất ưu đãi trên 11%.

    Không những thế thủ tục vay vốn cũng khá khó khăn và phức tạp. Ông Bùi Ngọc Huyên, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần ô tô Xuân Kiên (Vinaxuki) cho biết, dự án đầu tư đúc khuôn cho sản xuất thân vỏ ô tô của DN tới 1.000 tỷ đồng, mặc dù dự án đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý cho vay 250 tỷ đồng với lãi suất ưu đãi từ năm 2009 nhưng đến nay, doanh nghiệp vẫn chưa có được giải ngân. "Nút thắt" chính là do thủ tục rườm rà, cứng nhắc", ông Huyên nói.

    Các doanh nghiệp cho biết, đầu tư một dự án cơ khí cần thời gian 3 - 5 năm, nhưng lãi vay thì luôn trong tình trạng đầu năm một mức lãi suất, cuối năm một mức lãi suất khác cao hơn, khiến chủ đầu tư cứ phải chạy theo điều chỉnh dự án để có tỷ suất lợi nhuận hợp với lãi suất. Ở thời điểm hiện nay, với lãi suất vay thương mại khoảng 17% và không có ưu đãi nào cho lĩnh vực cơ khí thì các DN bó tay.

    Bên cạnh đó thời gian qua do chính sách thắt chặt tín dụng nên nhiều doanh nghiệp cơ khí muốn tiếp cận vốn ngân hàng không được đã phải tìm đến các kênh tín dụng khác với lãi suất cao hơn. Điều này đương nhiên đẩy chi phí lên, đồng nghĩa với rủi ro cao, đưa doanh nghiệp đến nguy cơ phá sản.

    Mịt mù tương lai vì tắc đầu ra

    Thiếu đầu ra cũng là nguyên nhân quan trọng khiến hàng tồn kho tăng và gây ra khó khăn cho sản xuất. Nhà nước cắt giảm đầu tư công, nhiều thị trường trầm lắng khiến cho máy móc sản xuất ra không bán được phải chất đống trong kho thì doanh nghiệp cơ khí làm sao có thể tránh khỏi tình trạng đình trệ sản xuất, phá sản...

    Hiệp hội doanh nghiệp Cơ khí cho biết, một nguyên nhân quan trọng nữa khiến cho doanh nghiệp cơ khí trong nước không có đầu ra là các chính sách làm cho họ luôn bị thua ngay trên sân nhà. Hiện nay, do quy định của Luật Đấu thầu chưa chặt chẽ, dẫn tới các doanh nghiệp trong nước khó cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, bởi trong đấu thầu không tính tới nguồn gốc xuất xứ, không tính tới tỷ lệ nội địa hoá của thiết bị...

    Ông Thụ cho biết, Luật Đấu thầu được ban hành năm 2005 đang "bó chân bó tay" chính doanh nghiệp Việt Nam khi chỉ chú trọng đến yếu tố giá mà không tính đến nguồn gốc xuất xứ và tỷ lệ nội địa hóa. Do vậy, doanh nghiệp cơ khí nội địa luôn bị thua doanh nghiệp nước ngoài ngay trên sân nhà.

    Theo ông Thụ trên thực tế nhiều công trình sử dụng nguồn vốn nhà nước nhưng vẫn sử dụng các thiết bị nhập khẩu từ nước ngoài. Hiệp hội đã kiến nghị 7 năm nay nhưng Luật Đấu thầu vẫn không được sửa đổi.

    Việc tách nhỏ các gói thầu cũng vậy. Chỉ tách nhỏ gói thầu thì các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam mới có đủ năng lực và cơ hội tham gia. Nhưng điều này đến nay cũng rất khó. Tháng 3/2011 vừa qua, Hiệp hội đã kiến nghị lên Chính phủ về chủ trương nội địa hóa dự án nhiệt điện trên cơ sở tách ra làm 10 gói thầu cơ khí để doanh nghiệp trong nước có thể tham gia. Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã có chỉ đạo nhưng cho đến nay doanh nghiệp vẫn không có chính sách cụ thể để triển khai, ông Thụ bức xúc.

    Bà Phạm Thị Thu Hà, Phó tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cho rằng, một số chính sách hỗ trợ sản xuất và thuế đối với sản xuất cơ khí trong nước so với nhập khẩu có sự chênh lệch, khiến giá sản xuất trong nước bị đẩy lên cao hơn.

    Ngành dầu khí đóng được giàn khoan tự nâng. Đối với sản phẩm này, nếu nhập khẩu toàn bộ có mức thuế bằng 0%. Tuy nhiên, khi trong nước chưa sản xuất được toàn bộ, nhà sản xuất phải nhập khẩu một số phụ tùng lại phải chịu thuế. Bất cập này làm đội giá thành và khó cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của nước ngoài.

    Ông Nguyễn Văn Thụ cho rằng, ngành cơ khí Việt Nam đang tụt hậu khá xa so với các nước trong khu vực. Hiện 80% thị trường cơ khí trong nước thuộc về các doanh nghiệp nước ngoài. Nhiều dự án tổng thầu xây dựng nhà máy, công trình quốc gia, doanh nghiệp cơ khí Việt Nam đều thua các nhà thầu ngoại.

    Vẫn theo ông Thụ, trong 10 năm tới, Việt Nam có kế hoạch xây dựng gần 100 nhà máy nhiệt điện, đây là cơ hội lớn cho ngành cơ khí Việt Nam. Tuy nhiên các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam có giành được phần việc này không thì chưa ai dám chắc.

    Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn tới 2020 đề ra mục tiêu cơ khí trong nước sẽ tự sản xuất được khoảng 100 tỷ đến 125 tỷ USD tiền hàng. Đây là thị trường rất lớn nhưng với thực trạng hiện nay điều đó khó trở thành hiện thực.

    Trần Thủy

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    5 phản hồi

    "Sắp" ở chỗ nào? Chuyện tập đoàn kinh tế Nhà Nước nợ ngân hàng, làm ăn thua lỗ là chuyện cũ rồi: có tập đoàn quốc doanh của ta làm ăn có lời đâu? Mục tiêu của kinh tế quốc doanh có bao giờ thật là để làm ăn có lời đâu? Kinh tế quốc doanh là để tạo ra việc làm, cơ hội làm giàu cho cho cán bộ, nằm trong phạm trù "bảo vệ Đảng, bảo vệ cơ chế cùng với cái ghế".

    Nếu có tập đoàn quốc doanh nào mà làm ăn có lời, vài năm sau hạch toán lại thì cũng thấy lỗ, nợ ngập tràn đầu. Chuyện cũ, không có gì mới. Sau cùng thì cũng có ngân sách nhà nước đài thọ cho, hoặc đi mượn của nước ngoài; nhân dân trả nợ, không thế hệ này thì cũng thế hệ sau.

    Doanh nghiệp Nhà nước nợ... khủng: Con dại, cái có mang?

    (VOV) - Theo báo cáo thống kê, mức lỗ bình quân của một doanh nghiệp nhà nước cao gấp 12 lần so với doanh nghiệp ngoài nhà nước.

    Thông tin về số nợ của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được Bộ Tài chính nêu ra trong đề án “Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước” khiến dư luận không thể không giật mình.

    Hàng loạt DNNN lỗ, nợ... khủng

    Theo Đề án, thực trạng tài chính ở không ít tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp rất yếu kém, tiềm ẩn rủi ro mất cân đối tài chính và có tình trạng thua lỗ kéo dài. Khối doanh nghiệp này chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ của hệ thống các tổ chức tín dụng.

    Cụ thể, đề án cho biết, đến tháng 9/2011 dư nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp nhà nước là 415.347 tỷ đồng, chiếm tới 16,9% tổng dư nợ tín dụng. Đáng chú ý là chỉ riêng 12 tập đoàn kinh tế của nhà nước dư nợ đã lên tới 218.738 tỷ đồng, chiếm 8,76% tổng dư nợ toàn ngành ngân hàng và chiếm 52,66% dư nợ cho vay doanh nghiệp nhà nước.

    Trong đó, dẫn đầu là Tập đoàn Dầu khí (Petro Vietnam) với 72.300 tỷ đồng; Tập đoàn Điện lực (EVN) đứng thứ hai với 62.800 tỷ đồng; thứ ba là Tập đoàn Công nghiệp Than và khoáng sản (TKV) với 20.500 tỷ đồng; kế đến là Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy (Vinashin) với 19.600 tỷ đồng...

    Về tình hình nợ, đề án cho biết có đến 30/85 tập đoàn và tổng công ty có tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu cao hơn 3 lần, đặc biệt có 7 tập đoàn, tổng công ty có tỷ lệ này trên 10 lần (như Tổng công ty Xây dựng Công nghiệp, Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 1, Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 5, Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 8, Tổng công ty Xăng dầu Quân đội, Tổng công ty Thành An và Tổng công ty Phát triển đường cao tốc).

    Đồng thời, đề án này còn đánh giá: Tình hình tài chính tại nhiều tập đoàn, tổng công ty chưa đảm bảo các yêu cầu về an toàn tài chính, đang tiềm tàng nhiều nguy cơ rủi ro và đổ vỡ khi kinh doanh không hiệu quả. Mức lỗ bình quân của các tập đoàn, tổng công ty còn lớn: theo báo cáo thống kê mức lỗ bình quân của một doanh nghiệp nhà nước cao gấp 12 lần so với doanh nghiệp ngoài nhà nước.

    Cụ thể, có một số tập đoàn có lỗ lớn như EVN (năm 2010 lỗ 12.313 tỷ đồng, lũy kế hợp nhất 2010 là 24.262 tỷ đồng), Vinashin (năm 2009 lỗ 5.000 tỷ đồng theo kết luận của Thanh tra Chính phủ), Tổng công ty Bưu chính Việt Nam (năm 2009 theo kết luận của kiểm toán là 1.026 tỷ đồng) và một số tổng công ty khác... Tổng số lỗ lũy kế của các tổng công ty, tập đoàn đến ngày 31/12/2011 là 26.110 tỷ đồng.

    Trách nhiệm thuộc về ai?

    Với những con số nợ nêu trên, có thể nhận thấy một bức tranh khá ảm đạm về các DNNN, trong đó đặc biệt là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước. Bức tranh vẽ bằng những con số nợ rất lớn này cho thấy, cho dù trong đề án có đánh giá đến phần tích cực của DNNN, như đa số các doanh nghiệp nhà nước đều có lãi và đóng góp nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước. Điển hình như các tập đoàn Petro Vietnam, VNPT, TKV, Viettel, Sông Đà, các Tổng công ty Lương thực Miền Bắc, Miền Nam và Tổng công ty Thương mại Sài Gòn… Nhưng sự tích cực này đặt trong bức tranh nợ nần, yếu kém thì nó cũng không đủ hồng để chùm cho cả bức tranh đang nhuốm màu oặt ẹo này.

    Và, nói về hạn chế chung lại, đề án có nêu là công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước, nhiều lĩnh vực quan trọng doanh nghiệp nhà nước giữ thị phần lớn nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế; một số ngành, lĩnh vực các thành phần kinh tế khác có thể tham gia nhưng doanh nghiệp nhà nước giữ thị phần lớn tạo ra tình trạng độc quyền; khu vực doanh nghiệp nhà nước sử dụng nhiều tài sản, đất đai, nhưng hiệu quả sử dụng thấp, lãng phí, thậm chí sai mục đích…

    Lâu nay, đây đó truyền thông đưa tin về việc tập đoàn nhà nước này, công ty nhà nước nọ thua lỗ, yếu kém, thì vẫn cứ coi như đó là những "con sâu là rầu nồi canh". Nhưng nay, qua những gì mà chính một cơ quan quản lý cấp Bộ của Nhà nước đánh giá về DNNN, mọi công dân đều có quyền nhìn vào đó như một căn cứ cụ thể, chính thống để hiểu rõ hơn về “sức khỏe” của DNNN.

    Trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế, khách quan mà nói, DNNN cũng khó tránh tác động tiêu cực chung đó. Tuy nhiên, phải chăng chính nhờ thời buổi khó khăn này lại là một enzim xúc tác cho phản ứng dây chuyền khiến “giọt nước khó khăn” làm “tràn ly nợ nần, yếu kém” của không ít DNNN?

    Rõ ràng, sự yếu kém này đã tích lũy từ lâu, số nợ khủng cũng do tích lũy nhiều năm mà thành chứ không phải của ngày một ngày hai. Hơn nữa, khi có tập đoàn này, công ty nọ của nhà nước thừa nhận hoặc buộc phải thừa nhận do đầu tư ngoài ngành, dàn trải... nên thua lỗ thì hẳn là lỗi này được coi như sự... chót dại!

    Và, xét một cách lô gic, hẳn phải có “lỗi hệ thống” bấy lâu nay. Bởi nếu hệ thống này hoạt động hiệu quả, kiểm soát sát sao hoạt động của mỗi DNNN thì chắc hẳn những yếu kém hay thua lỗ đã được chẩn trị ngay, cái "dại" phải được dạy dỗ, uốn nắn kịp thời chứ không thể để đến thành “khối u” như hiện nay.

    Vậy nên dư luận có lý và có quyền chính đáng khi đặt câu hỏi: DNNN do ai quản lý? Khi DNNN thua lỗ, làm ăn kém hiệu quả tràn lan, nợ “khủng” thì ai chịu trách nhiệm? Bởi nếu thuận lẽ đời, người xưa luôn dạy: “Con dại, cái mang”! Xem ra lâu nay vẫn ít, thậm chí rất ít "Cái" đứng ra "Mang" một cách cụ thể, thuyết phục như một sự "trả giá" vì để "con dại".

    Thêm nữa, Bộ Xây dựng vừa có văn bản đề nghị Bộ Tài chính có ý kiến trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận cho Tập đoàn Sông Đà vay từ Quỹ tích lũy trả nợ nước ngoài Bộ Tài chính để trả nợ, vì Tập đoàn này đang gặp khó khăn trong việc cân đối vốn trả nợ các ngân hàng nước ngoài do một khoản nợ lớn từ công ty thành viên.

    Xét từ trường hợp này, phải chăng Tập đoàn Sông Đà đang biểu hiện phần nào trách nhiệm của “cha” đối với “con” kiểu “con dại, cái mang?” Nếu thế, nhìn rộng ra toàn hệ thống DNNN, cách “mang” này có thỏa lòng dân?./.

    Xuân Thân/VOV online
    http://vov.vn/Home/Doanh-nghiep-Nha-nuoc-no-khung-Con-dai-cai-co-mang/20125/211182.vov

    "Thiếu đầu ra cũng là nguyên nhân quan trọng khiến hàng tồn kho tăng và gây ra khó khăn cho sản xuất. Nhà nước cắt giảm đầu tư công, nhiều thị trường trầm lắng khiến cho máy móc sản xuất ra không bán được"

    ==> Đây là nguyên nhân hàng đầu khiến các TĐKT NN sẽ tiếp tục phá sản hàng loạt: Các công ty NN đều không biết vì không tập trung làm tiếp thị lo đầu ra ở thị trường cạnh (vì khó và không "măm" được) mà chỉ nhắm vào túi tiền nhà nước (đầu tư công) và các ưu đãi vốn, chính sách để "múc" thôi.

    Điều trên dẫn đến hiện trạng các tập đoàn kinh tế NN VN đều không có khả năng cạnh tranh khi phải đấu thầu. Vì thế họ thua trên sân nhà thảm hại trước các công ty TQ luôn có giá thấp hơn nhiều, nhất là các nhà thầu cơ khí!

    Ngành cơ khí VN, cái đảng ta gọi là "trụ cột" hay "then chốt" của nền công nghiệp XHCN VN, thực chất chỉ là ngành lắp máy thô sơ, vì không có khả năng chế tạo được bất cứ loại máy móc nào theo tiêu chuẩn quốc tế hay TQ cả, 100% phụ thuộc vào vật liệu sắt thép từ TQ và linh kiện phụ trợ từ TQ và các nước khác...

    Thị trường cơ khí dân dụng trong nước đã do các công ty nước ngoài và tư nhân liên doanh nước ngoài chi phối, vì đây là phần thị trường cạnh tranh mà các công ty nhà nước lúc đầu không muốn (vì không có "ăn")và nay thì không thể tham gia.

    Thế cho nên, vào mùa khó kh-"ăn", ngành cơ khí "trụ cột" sẽ phải gãy gục trong loạt đầu tiên là tất yếu thôi.

    Đảng có ngu mới không hiểu điều đó. Nhưng người sẽ gánh chịu sự đổ vỡ đó là ...dân Việt cơ, đảng chỉ lãnh đạo thôi mà, đảng có làm cơ khí đâu?

    JLN

    Loa loa loa : Ai biết doanh nghiệp nhà nước nào, tổng công ty, tập đoàn nhà nước nào làm ăn hòa vốn, không tham ô, tham nhũng xin cho bà con biết với, để toàn dân có dịp làm lễ ăn mừng quy mô toàn quốc, góp tiền bắn pháo bông. Loa loa loa : Ai biết tỉnh nào không làm công cho nhà đầu tư, đền bù giá đất nông nghiệp rẻ hơn bèo, cưỡng chế dân đen xin cho biết với, để cúng đầu lợn. Loa loa loa...

    12 tập đoàn kinh tế Nhà Nước nợ ngân hàng hơn 218 nghìn tỷ đồng


    Bốn tập đoàn nợ lớn nhất là: PetroVietnam nợ 72.300 tỷ, EVN nợ 62.800 tỷ, Vinacomin nợ 20.500 tỷ và Vinashin nợ 19.600 tỷ

    Theo đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước của Bộ Tài chính trình bày tại Phiên họp thường kỳ chính phủ tháng 4, tính đến tháng 9/2011, dư nợ vay ngân hàng của DNNN lớn là 415.347 tỷ đồng tương đương 16,9% tổng dư nợ cả nước.

    Trong đó, hơn một nửa số nợ tập trung vào 12 tập đoàn kinh tế nhà nước (218.738 tỷ) chiếm 8,76% tổng dư nợ toàn ngành ngân hàng. Bốn tập đoàn nợ lớn nhất là PetroVietnam ( 72.300 tỷ), EVN (62.800 tỷ), Vinacomin (20.500 tỷ) và Vinashin (19.600 tỷ).

    Cũng theo đề án, có đến 30/85 tập đoàn và tổng công ty có tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu cao hơn 3 lần. Đặc biệt có 7 tập đoàn, tổng công ty có tỷ lệ này trên 10 lần gồm TCT Xây dựng Công nghiệp (Tập đoàn Sông Đà), TCT Xây dựng CTGT 1, TCT Xây dựng CTGT 5, TCT Xây dựng CTGT 8, TCT Xăng dầu Quân đội, TCT Thành An và TCT Phát triển đường cao tốc.

    Tính đến tháng 10/2011, cả nước có 1.309 doanh nghiệp nhà nước gồm 11 tập đoàn, 11 tổng công ty đặc biệt và 74 tổng công ty. Tổng quy mô tài sản đạt 1.760 ngàn tỷ đồng và vốn chủ sở hữu gần 700 ngàn tỷ đồng. Năm 2010, các DNNN đóng góp 34% GDP cả nước.

    Về kết quả hoạt động kinh doanh, đa số các DNNN có lãi và đóng góp nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước. Các tập đoàn lãi lớn là PetroVietnam, VNPT, Vinacomin, Viettel, Sông Đà, các TCT Lương thực Miền Bắc, Miền Nam và Thương Mại Sài Gòn.

    Tuy nhiên một số tập đoàn có lỗ lớn như EVN ( năm 2010 lỗ 12.313 tỷ, lũy kế hợp nhất 2010 là 24.262 tỷ), Vinashin (năm 2009 lỗ 5.000 tỷ theo kết luận của Thanh tra Chính phủ), TCT Chè Việt Nam, TCT Dâu Tơ tằm, TCT Xăng dầu Quân đội, TCT Xây dựng Công trình đường thủy... Tổng số lỗ lũy kế của các tổng công ty, tập đoàn đến ngày 31/12/2011 là 26.110 tỷ đồng

    Đề án nhận định: Tình hình tài chính của nhiều tập đoàn, tổng công ty chưa đảm bảo các yêu cầu về an toàn tài chính, đang tiềm tàng nhiều nguy cơ rủi ro và đổ vỡ khi kinh doanh không hiệu quả.

    Một số tập đoàn, tổng công ty trong những năm qua đã tham gia góp vốn vào ngân hàng TMCP, CTCK, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty bảo hiểm, bất động sản. Việc đầu tư này chưa thực sự hợp lý khi nguồn vốn cho HĐKD chính còn hạn chế. Hiệu quả các khoản đầu tư này không cao hoặc không có hiệu quả.

    danluan_00278.jpg

    An Huy
    Theo TTVN

    Nguồn: Cafef.vn