Hiểu thế nào về thỏa thuận nguyên tắc giải quyết vấn đề trên biển Việt-Trung

  • Bởi Admin
    29/10/2011
    6 phản hồi
    Chủ đề: Đối ngoại

    Trong chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (11 – 15/10), Việt Nam và Trung Quốc đã ký Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (gọi tắt là Thỏa thuận).

    Việc ký kết Thỏa thuận có ý nghĩa hết sức quan trọng nhất là trong bối cảnh tình hình Biển Đông đang diễn biến hết sức phức tạp. Nội dung Thỏa thuận còn một số điểm chưa thật sự rõ ràng, song có thể nói Thỏa thuận đã xác định được một số nguyên tắc cơ bản định hướng cho việc giải quyết vấn đề tranh chấp ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình. Để hiểu và có cách nhìn đúng đắn về những nội dung của Thỏa thuận vừa được ký kết, chúng ta hãy đi sâu phân tích những nội dung chính của Thỏa thuận.

    Một là, nội dung về tìm kiếm giải pháp cơ bản lâu dài cho vấn đề Biển Đông nêu tại điều 2 của Thỏa thuận đã xác định căn cứ vào luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 mà cả Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên để giải quyết các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông. Đây là một nội dung đặc biệt quan trọng vì nó sẽ là cơ sở pháp lý để hai bên đi vào trao đổi giải quyết vấn đề trên biển. Nếu hai bên tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc này thì nhất định sẽ tìm ra được giải pháp công bằng hợp lý mà hai bên có thể chấp nhận được cho các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông.

    Trong điều 2 của Thỏa thuận cũng nêu rõ “cần tôn trọng đầy đủ các chứng cứ pháp lý” nghĩa là những bằng chứng, tài liệu mang tính pháp lý sẽ được lấy làm cơ sở chính để giải quyết các tranh chấp, còn các yếu tố khác như lịch sử, địa hình… sẽ được xem xét như một yếu tố bổ trợ trong quá trình giải quyết tranh chấp. Điều này hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế trong việc giải quyết các tranh chấp về biên giới lãnh thổ trên thế giới. Thực tiễn giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ cho thấy yếu tố lịch sử cùng với các yếu tố liên quan khác như địa hình, quản lý trên thực tế chỉ được tính đến một khi các chứng cứ pháp lý chưa rõ ràng. Với nội dung này thì những văn bản pháp lý về chủ quyền của các nhà nước phong kiến Việt Nam như các Châu bản, Sắc chỉ… sẽ là những tài liệu hết sức quý giá khi giải quyết vấn đề quần đảo Hoàng Sa vì đây là những tài liệu thể hiện rõ sự quản lý của nhà nước ta đối với quần đảo Hoàng Sa. Yếu tố lịch sử ở đây không có nghĩa là nói về yêu sách "đường lưỡi bò" của Trung Quốc vì trong lịch sử chưa bao giờ Trung Quốc có sự quản lý trên thực tế đối với "đường lưỡi bò", hơn thế nữa "đường lưỡi bò" của Trung Quốc hoàn toàn không có cơ sở pháp lý và không nhận được sự ủng hộ của bất cứ nước nào.

    Hai là, điều 3 của Thỏa thuận nêu rõ “trong tiến trình đàm phán vấn đề trên biển, hai bên nghiêm chỉnh tuân thủ thỏa thuận và nhận thức chung mà Lãnh đạo cấp cao hai nước đã đạt được, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc và tinh thần của “Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC)”. Nội dung này có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì hòa bình ổn định ở Biển Đông. DOC là văn kiện quan trọng được ký kết giữa ASEAN và Trung Quốc, trong đó đã đưa ra nhiều quy định (gồm: tôn trọng tự do hàng hải và tự do bay ở Biển Đông; kiềm chế các hoạt động có thể làm phức tạp thêm tranh chấp và ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định; cam kết tăng cường nỗ lực xây dựng lòng tin; có thể tìm kiếm và tiến hành các hoạt động hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm trong khi tìm kiếm giải pháp toàn diện lâu dài cho vấn đề tranh chấp ở Biển Đông và quan trọng nhất là quy định về việc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực ở Biển Đông) mà các bên liên quan cần nghiêm túc thực hiện để duy trì hòa bình ổn định ở Biển Đông. Vừa qua, ASEAN và Trung Quốc đã ký kết Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC, do vậy việc thực hiện nghiêm túc các nội dung DOC là trách nhiệm của mỗi bên tham gia ký kết.

    Ba là, một nội dung hết sức quan trọng thể hiện rõ quan điểm nhất quán của Việt Nam về phương thức giải quyết vấn đề trên biển là cả song phương lẫn đa phương đã được ghi nhận trong điều 3 của Thỏa thuận là “đối với tranh chấp trên biển giữa Việt Nam - Trung Quốc, hai bên giải quyết thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị. Nếu tranh chấp liên quan đến các nước khác, thì sẽ hiệp thương với các bên tranh chấp khác”. Điều này có nghĩa là Việt Nam – Trung Quốc chỉ có thể giải quyết các vấn đề tranh chấp giữa hai nước, như tranh chấp Hoàng Sa, cửa Vịnh Bắc Bộ, không thể giải quyết các tranh chấp liên quan đến các bên khác, như vấn đề Trường Sa. Đây cũng là lần đầu tiên Trung Quốc ký kết một văn bản chính thức trong đó nói rõ tranh chấp liên quan đến nhiều bên thì phải trao đổi ý kiến với các bên đó. Nội dung này của thỏa thuận đã mở ra khả năng về giải quyết đa phương tranh chấp ở Biển Đông. Điều này là phù hợp với quan điểm chung của các nước trong và ngoài khu vực, phù hợp với thực tế tranh chấp ở Biển Đông và phù hợp với xu thế giải quyết các tranh chấp liên quan đến nhiều bên trong quan hệ quốc tế hiện đại.

    Vấn đề Biển Đông hết sức phức tạp liên quan đến lợi ích của nhiều nước, nhiều bên. Với nội dung này trong điều 3 của Thỏa thuận, chúng ta có thể hiểu rằng đối với việc giải quyết tranh chấp ở Biển Đông thì những vấn đề chỉ liên quan đến Việt Nam – Trung Quốc như vấn đề phân định vùng biển chồng lấn ở khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và vấn đề quần đảo Hoàng Sa sẽ được trao đổi giải quyết song phương giữa Việt Nam – Trung Quốc; vấn đề quần đảo Trường Sa sẽ phải bàn bạc giải quyết giữa các bên liên quan trong tranh chấp; vấn đề duy trì hòa bình ổn định, an ninh an toàn hàng hải ở Biển Đông cần phải trao đổi bàn bạc giữa tất cả các bên liên quan và có lợi ích trong vấn đề này.

    Bốn là, một nội dung đáng chú ý trong Thỏa thuận là tại điều 4 hai bên xác định “trong tiến trình tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài cho vấn đề trên biển, trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, đối xử bình đẳng, cùng có lợi, hai bên bàn bạc thảo luận về những giải pháp mang tính quá độ, tạm thời mà không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của hai bên, bao gồm việc tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển theo những nguyên tắc đã nêu tại điều 2 của Thỏa thuận này”.

    Với nội dung này, hai bên đã đưa ra khả năng về một giải pháp mang tính quá độ đối với các khu vực tranh chấp, bao gồm cả việc hợp tác cùng phát triển theo nguyên tắc đã nêu ở điều 2 của Thỏa thuận, nghĩa là căn cứ vào luật pháp quốc tế, Công ước Luật biển 1982. Giải pháp quá độ tạm thời, hợp tác cùng phát triển là phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế. Dàn xếp tạm thời về “hợp tác cùng phát triển” được khuyến nghị trong Điều 74 và Điểu 83 của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982. Theo đó, các quốc gia khi chưa tìm được giải pháp phân định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế thì có thể thỏa thuận về các dàn xếp tạm thời mang tính thực tiễn; các dàn xếp tạm thời không làm phương hại đến kết quả phân định cuối cùng. Trên thế giới đã có nhiều thỏa thuận về các dàn xếp tạm thời “hợp tác cùng phát triển” dưới nhiều hình thức và trong các lĩnh vực khác nhau (nghề cá, dầu khí…). Ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương có: Hiệp định về khai thác chung Nhật Bản – Hàn Quốc năm 1974 ở khu vực biển chồng lấn giữa hai nước; Hiệp định về phát triển chung vùng biển chồng lấn ở Biển Đông Timor giữa Australia và Indonesia năm 1989. Năm 1992, Việt Nam cũng đã ký với Malaysia Thỏa thuận về khai thác chung dầu khí tại 01 khu vực biển chồng lấn giữa hai nước và đến nay đang được triển khai thuận lợi.

    Thỏa thuận đã cho thấy thái độ và tinh thần hợp tác nhằm duy trì hòa bình ổn định trên biển. Một điều cần nhấn mạnh trong nội dung này là điều 76 của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 cũng quy định rõ mỗi quốc gia ven biển có vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa tối thiểu là 200 hải lý tính từ đường cơ sở, thậm chí có thể mở rộng ra đến 350 hải lý. Như vậy, giải pháp quá độ tạm thời, hợp tác cùng phát triển theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 là phải tôn trọng vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa tối thiểu của mỗi quốc gia ven biển. Do vậy, hợp tác cùng phát triển chỉ có thể được thực hiện ở những khu vực thực sự có tranh chấp ngoài thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam.

    Ngoài ra, Thỏa thuận đã nêu ra một số nguyên tắc khác là giải quyết các vấn đề trên biển theo tinh thần tuần tự tiệm tiến, dễ trước khó sau. Vững bước thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, đồng thời tích cực bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này. Tích cực thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực ít nhạy cảm như bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học, tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn trên biển, phòng chống, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai. Nỗ lực tăng cường tin cậy lẫn nhau để tạo điều kiện cho việc giải quyết các vấn đề khó khăn hơn. Hai bên cũng đã nhất trí cơ chế gặp định kỳ Trưởng đoàn đàm phán biên giới cấp Chính phủ 2 lần/năm; thiết lập cơ chế đường dây nóng trong khuôn khổ đoàn đại biểu cấp Chính phủ để kịp thời trao đổi và xử lý thỏa đáng vấn đề trên biển.

    Kết quả đàm phán luôn là một sự dung hòa của các mối lợi ích để tìm ra tiếng nói chung mà hai bên đều có thể chấp nhận được chứ không thể đòi hỏi chỉ giành phần thắng lợi về mình. Nội dung Thỏa thuận về cơ bản đã đảm bảo được những nguyên tắc lớn trong quan điểm lập trường của Việt Nam là giải quyết tranh chấp ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982; thực hiện nghiêm túc DOC nhằm duy trì hòa bình ổn định ở Biển Đông; giải quyết tranh chấp ở Biển Đông cả song phương lẫn đa phương; hợp tác cùng phát triển phải phù hợp với luật pháp quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982, nghĩa là tôn trọng vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của các quốc gia ven biển.

    Tóm lại, với những nội dung phân tích trên đây thì việc ký kết Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển đã tạo cơ sở pháp lý cho việc bàn bạc giải quyết các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông. Tuy nhiên, đây mới chỉ là bước đi đầu tiên trong quá trình giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc. Tình hình Biển Đông sẽ còn diễn biến phức tạp, công việc tiếp theo sẽ còn hết sức khó khăn. Để có thể tìm kiếm một giải pháp quá độ tạm thời hay giải pháp lâu dài cho các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông đòi hỏi nỗ lực và thiện chí của cả hai bên, nhất là cần thực hiện nghiêm túc những nguyên tắc đã được xác định trong Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển. Mặt khác, vấn đề Biển Đông là vấn đề nhạy cảm được cả cộng đồng quốc tế quan tâm, do vậy trong quá trình giải quyết các vấn đề cụ thể liên quan ở Biển Đông, cần thực hiện công khai hóa, minh bạch hóa. Việc đăng toàn văn Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển ngay sau khi ký kết là cách làm đúng đắn, cần tiếp tục được thực hiện trong thời gian tới.

    Hoàng Trường

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    6 phản hồi

    Sự hành xử trái Hiến pháp và pháp luật Việt Nam ở một số tổ chức và cá nhân chính quyền các cấp gần đây là không thể tưởng tượng nổi và hy vọng chỉ có thể giải thích điều đó là một sự nhầm lẫn, manh động nhất thời"

    Ngoại giao 'nhà nước' thay 'nhân dân?'

    http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2011/10/111029_viet_china_vo_thi_hao.shtml

    Theo dõi các diễn biến mới đây về các chuyến thăm nước ngoài của các lãnh đạo đảng, nhà nước, quân đội liên quan tới Biển Đông, nhiều trang mạng của người Việt Nam trong nước và hải ngoại nhận xét rằng có vẻ chính quyền đang cố gửi đi một thông điệp kép về “đối ngoại.”

    Mặt thứ nhất, đảng và nhà nước dường như muốn tỏ ra đang “làm đối ngoại” theo cách của “nhà nước” với các chuyến ngoại giao con thoi.

    Lúc thì Thủ tướng chủ trì tiếp đại diện phương Tây như người tương nhiệm phía Đức ở Hà Nội, dự kiến thăm Nhật Bản ở Đông Bắc Á.

    Lúc thì Chủ tịch Nước ghé thăm khu vực tại Ấn Độ, rồi hội đàm với Philippines. Còn Tổng Bí thư viếng thăm Trung Quốc, sau hàng loạt đoàn tiền trạm từ quân sự tới dân sự.

    Các trang mạng và dư luận còn bàn tán tới các khác biệt trong tuyên bố hay hành xử lúc này thì “đa phương hóa,” lúc khác lại tuyên bố “song phương” v.v… về câu chuyện Biển Đông.

    Nhưng mặt thứ hai, với đối nội, thông điệp đối ngoại này, vẫn theo các cư dân mạng, có vẻ cho thấy một bộ phận lãnh đạo trong nội bộ đảng, nhà nước, công an, quân đội muốn người dân “hãy nằm im” để nhà nước lo liệu “an ninh quốc gia” theo lối của mình.

    Và chính quyền nhiều cấp tiếp tục có dấu hiệu “dè chừng,” “giơ đèn đỏ” đối phó với “ngoại giao nhân dân” mà một trong các đối tượng rõ nhất, như nhiều trang mạng và dư luận trong nước bàn luận, là các cuộc “biểu tình, tuần hành yêu nước.” Nhiều đơn thư, khiếu nại, kêu oan và thậm chí cả đơn kiện của họ đã bị “lờ đi” hoặc “bị bác bỏ” thẳng thừng.

    Nhưng liệu “ngoại giao nhà nước” do Đảng lãnh đạo có thay thế được “ngoại giao nhân dân” có từ ngàn năm với những vai trò, ý nghĩa và thế mạnh riêng của nó hay là không?

    “Bạo lực, thô lỗ”
    Quân đội Trung Quốc

    Trung Quốc đang tăng cường thế và lực trên trường quốc tế không chỉ qua kinh tế mà còn bằng quân sự.

    Chưa biết hiệu quả của các chuyến thăm ngoại giao con thoi, lúc “đa phương”, lúc “song phương” của lãnh đạo đảng, quân đội và nhà nước tới đâu, nhưng người dân không thể không khỏi thận trọng khi nghe thấy những gì mà người đồng chí Trung Quốc cho truyền thông của họ phản hồi.

    Gần đây nhất, tờ Hoàn Cầu Thời Báo (Global Times) một trong những cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung quốc, trung tuần tháng Mười, không lâu sau chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Bắc Kinh, cho đăng một bài báo «đe dọa» các nước thách thức chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông một cách không dè dặt và úp mở.

    Bài báo đại ý “hăm dọa” rằng bất cứ quốc gia nào dám cả gan như thế sẽ phải dè chừng nếu không muốn ngửi mùi «thuốc súng,» điều ngay lập tức đã bị Philippines, không giống Việt Nam, phản đối ngay lập tức và kịch liệt cả chính thức lẫn trên mạng và cho đó là hành vi, phát ngôn đầy «bạo lực và thô lỗ.»

    Trước đó, cũng tờ Hoàn Cầu Thời báo này ngày 27/9/2011 đăng một bài đằng đằng sát khí mang tựa đề đại loại là “Thời cơ tốt để có hành động quân sự tại Nam hải” của tác giả ký tên Long Tao.

    Bài báo này, nằm trong một chuỗi vô số những bàì báo được cho là « chuẩn bị tinh thần, tâm thế », nhằm thúc đẩy Trung Quốc đánh chiếm Việt Nam «càng sớm càng tốt.»

    "Rồi đây, khi cuộc chiến vệ quốc bất đắc dĩ phải xảy ra, ai sẽ là người dám đứng lên bảo vệ tổ quốc?"

    Võ Thị Hảo

    Và người đọc không thể không có những liên tưởng mang tính cập nhật. Có người thì cho rằng, Trung Quốc đưa ra thông điệp để nắn gân, rồi giành phiếu nội bộ v.v…

    Thế nhưng nếu Trung Quốc đánh chiếm Việt Nam thật, thì sẽ ra sao? Vị Tổng Bí thư nào, vị Thủ tướng nào và vị Trung tướng, Đại tướng nào có thể đảm bảo điều đó dứt khoát sẽ không xảy ra? Họ đảm bảo bằng gì ? Hay là bằng cách tiếp tục chế áp «ngoại giao nhân dân» chăng?

    Nếu bây giờ tiếp tục đàn áp, bôi nhọ những người biểu tình chống ngoại xâm, người phản biện, người dám nói lên sự thật, vu cáo họ - trong đó có những nhân sĩ trí thức yêu nước rất đáng kính trọng là “ phản động”, là “chà đạp lên lòng yêu nước chân chính của nhân dân”....thì rồi đây, khi cuộc chiến vệ quốc bất đắc dĩ phải xảy ra, ai sẽ là người dám đứng lên bảo vệ tổ quốc?

    Mặt khác, các cư dân mạng cũng đặt ra câu hỏi, khi chính quyền được cho là đã, đang quy chụp tội “phản động” như vậy với dân, họ có làm dân mất lòng không? Và nếu người dân không chịu đựng được hơn nữa, họ trở nên phẫn nộ thì hậu quả sẽ ra sao?

    Và khi nội bộ Việt Nam rối loạn giữa dân và nhà nước, thì Trung Quốc có để yên cho Việt Nam hay là không ? Hoàng Sa đã mất trong hoàn cảnh nào ? Và Trường Sa hay nhiều thác Bản Giốc, Ải Nam Quan khác nữa có yên thân với họ hay là không?

    Hẳn rằng bên kia biên giới, những người luôn mềm nắn, rắn buông với ‘dã tâm’ và âm mưu ‘hàng trăm, hàng nghìn năm’ thôn tính Việt Nam có thể đã và đang vô cùng hởi lòng hởi dạ với cách thức «ngoại giao nhân dân» mà thực chất là lòng dân yêu nước được coi là đang bị chính quyền Việt Nam "hạn chế" và "hạ thấp một cách tệ hại".

    'Trả lại công bằng'
    Biểu tình yêu nước

    Nhà văn Nguyên Ngọc (phải) cùng Giáo sư Huệ Chi (trái) và trí thức, nhân sỹ tham gia biểu tình chống TQ Hè 2011.

    Nhà văn Nguyên Ngọc - một người yêu nước có công trạng lớn, hiện đã và đang là một trong số nhiều nạn nhân của sự thể bị ‘đè nén và hạ thấp’ này.

    Trong một thư ngỏ gửi Bí thư thành ủy Phạm Quang Nghị ngày 25/8/2011, liên quan tới một phóng sự của truyền hình Hà Nội được cho là «hạ thấp ngoại giao nhân dân», ông viết:

    “... Họ còn sử dụng một thủ đoạn ti tiện mà tôi nghĩ ở tuổi ông hẳn có thể đã từng được biết, vào thời Cải cách ruộng đất và Nhân văn giai phẩm, dùng những người không được bất cứ ai cử ra nhưng lại được coi là “đại biểu của quần chúng nhân dân” lớn tiếng vu khống và chửi bới chúng tôi trên một phương tiện truyền thông chính thức của Đảng bộ và chính quyền Hà Nội...”.

    "Sự hành xử trái Hiến pháp và pháp luật Việt Nam ở một số tổ chức và cá nhân chính quyền các cấp gần đây là không thể tưởng tượng nổi và hy vọng chỉ có thể giải thích điều đó là một sự nhầm lẫn, manh động nhất thời"

    Võ Thị Hảo

    Cần nhắc lại rằng sự vu cáo, bôi nhọ, đàn áp những người yêu nước, người bất đồng chính kiến, những người tham gia biểu tình ôn hòa đang làm nhiều người dân Việt Nam phẫn nộ, trong khi kẻ thù ngoại bang có thể rất “hài lòng”.

    Bởi vì phen dậu quan trọng và mạnh nhất bảo vệ quốc gia là lòng dân, điều mà lịch sử Việt Nam đã từng chứng minh, nay được cho là đang bị chính chính quyền, rồi một số cơ quan truyền thông quan trọng làm cho ‘suy yếu’ và ‘tổn thương.’

    Sự hành xử trái Hiến pháp và pháp luật Việt Nam ở một số tổ chức và cá nhân trong chính quyền các cấp gần đây là không thể tưởng tượng nổi và hy vọng chỉ có thể giải thích điều đó là một sự nhầm lẫn, manh động nhất thời.

    Chứ lẽ nào điều đó lại được chỉ đạo bởi những người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Công an và Quân đội?

    Nhưng bất kỳ sự manh động, nhầm lẫn, thậm chí sai lầm ‘chỉ đạo nào’ dù đến từ đâu, bởi ai, mà làm cho nước mất sẽ mãi mãi bị lịch sử quốc gia và dân tộc trê trách, con cháu và hậu thế lên án, "nếu" chúng ta vẫn còn giữ được tên của Tổ quốc và dân tộc của mình toàn vẹn trên tấm bản đồ thế giới mai sau.

    Bài viết thể hiện quan điểm riêng và văn phong của nhà văn, nhà báo, họa sỹ Võ Thị Hảo, người đang sinh sống tại Hà Nội.

    Đây chỉ là thỏa thuận giữa hai bên TQ và VN (theo cấp đảng ?).

    Nếu muốn nó có tính ràng buộc thì phải có lịch trình hành động, phải vào cụ thể. Nếu không, sau vài năm, nó chỉ là văn bản giấy vô giá trị.
    Không hiểu những cái cụ thể này là gì ? Cần phải biết rõ chi tiết thì mới đánh giá được

    vấn đề quần đảo Hoàng Sa sẽ được trao đổi giải quyết song phương giữa Việt Nam – Trung Quốc

    Bản "Thỏa Thuận" gốc cho VN và TQ có ghi rõ điều này không ?

    Trích dẫn:
    Mặt khác, vấn đề Biển Đông là vấn đề nhạy cảm được cả cộng đồng quốc tế quan tâm, do vậy trong quá trình giải quyết các vấn đề cụ thể liên quan ở Biển Đông, cần thực hiện công khai hóa, minh bạch hóa.

    Chính phủ VN nên làm việc này, công khai hóa, minh bạch hóa, trước tiên đối với mọi công dân VN và với tất cả đại biểu QH.

    Trích dẫn:
    Ngoài ra, Thỏa thuận đã nêu ra một số nguyên tắc khác là giải quyết các vấn đề trên biển theo tinh thần tuần tự tiệm tiến, dễ trước khó sau.

    Việc các vấn đề trên biển được sắp đặt theo "dễ trước khó sau" dựa trên cơ sở nào, quan điểm của ai ?

    Nếu những việc như A, B, C được cho là dễ và đã giải quyết. Nếu sau này giải quyết việc khó hơn như O, P, Q, lại phát giác ra là có liên quan đến việc dễ hơn B, C đã được giải quyết, vậy phải làm sao ?
    Quay lại chỉnh sửa, xét lại giải pháp của B, C hay sao ? Ai quyết định việc này ?

    Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (11 – 15/10), Việt Nam và Trung Quốc đã ký Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

    Một là, nội dung về tìm kiếm giải pháp cơ bản lâu dài cho vấn đề Biển Đông nêu tại điều 2 của Thỏa thuận đã xác định căn cứ vào luật pháp quốc tế

    Hai câu này có mâu thuẫn về luật pháp quốc tế sau này hay không ?
    Nguyễn Phú Trọng chỉ là tổng bí thư của một đảng cầm quyền. Theo thông lệ luật pháp quốc tế, Nguyễn Phú Trọng có thẩm quyền ký kết Thỏa Thuận cấp nhà nước hay không ?

    Trong hiến pháp và luật pháp, không hề định nghĩa chức năng của tổng bí thư và cũng có đại biểu QH nào bỏ phiếu bầu tổng bí thư !

    Nguyễn Phú Trọng có chính danh theo thông lệ luật pháp quốc tế hay không ?