30 giáo viên bỏ dạy vì lương dưới 500 nghìn

  • Bởi Admin
    07/09/2011
    13 phản hồi

    (VnMedia) - Ngay trong ngày khai giảng năm học mới 2011 - 2012, hàng chục giáo viên ở một số trường mầm non công lập trên địa bàn huyện miền núi Như Thanh, Thanh Hoá đã đồng loạt nghỉ việc. Nguyên nhân khiến nhiều giáo viên tự ý không đến trường là do tiền lương quá thấp.

    Bà Hoàng Thị Chung, Hiệu trưởng trường mầm non xã Mậu Lâm, huyện Như Thanh cho biết: "Sáng 5/9, nhà trường tổ chức lễ khai giảng năm học mới theo kế hoạch, nhưng bất ngờ 20 cô giáo không đến tham dự lễ khai giảng. Chúng tôi đã nhiều lần động viên nhưng họ vẫn nhất định không chịu đến trường. Cho đến sáng 6/9, toàn bộ 34 giáo viên trong diện hợp đồng vẫn tiếp tục không vào nhận lớp mà kéo lên phòng hội đồng để yêu cầu cơ quan chức năng giải quyết chế độ tiền lương và các chế độ khác liên quan đến đời sống".


    Trong hai ngày 5 - 6/9, tất cả các lớp học ở khu lẻ của trường mầm non Mậu Lâm đều phải nghỉ học vì không có giáo viên đứng lớp

    “Sáng nay (6/9), chỉ có 7 giáo viên trong diện biên chế tham gia đứng lớp, còn lại tất cả các giáo viên trong trường đều nghỉ dạy”, bà Chung cho hay. Trước đó, vào đêm 4/9, tập thể giáo viên Mầm non xã Mậu Lâm đã ký đơn gửi tổ chức công đoàn nhà trường, yêu cầu hỗ trợ tiền lương để họ có thể cải thiện cuộc sống, yên tâm công tác.

    Tình trạng giáo viên bất ngờ bỏ lớp đã gây rất nhiều khó khăn và xáo trộn cho công tác giảng dạy và quản lý học sinh trong nhà trường. Theo Ban giám hiệu trường Mầm non Mậu Lâm cho hay, nguyên nhân của tình trạng trên xuất phát từ việc nhà nước chi trả tiền lương cho bậc học mầm non còn nhiều bất cập.

    Theo phản ánh của hầu hết giáo viên đang làm việc tại ngôi trường này cho biết, với mức lương thực nhận, khoảng trên dưới 500 nghìn đồng/người/tháng (sau khi trừ các khoản đóng góp như Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp, công đoàn...hết 30,5%,), thì họ không đủ trang trải cho cuộc sống gia đình. Tính trung bình mỗi ngày công của giáo viên mầm non ở đây chỉ được khoảng 15 nghìn/người/ngày. Trong khi họ phải đứng lớp cả hai buổi/ngày.

    Được biết, năm học 2011-2012, trường mầm non Mậu Lâm hiện có 46 cán bộ giáo viên. Trong đó chỉ có 7 giáo viên nằm trong biên chế ngạch viên chức là có thu nhập ổn định. Số còn lại (hợp đồng với Uỷ ban tỉnh là 35 người, hợp đồng với huyện là 1 người và 3 người ký hợp đồng với xã) đều đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn vì mức lương quá thấp. Thậm chí có 3 giáo viên tốt nghiệp đại học chính quy nhưng đang phải nhận mức lương 250 nghìn/tháng vì họ chỉ được ký hợp đồng với xã.


    Hơn 30 giáo viên trong diện hợp đồng tại trường mầm non Mậu Lâm đồng loạt bỏ dạy để yêu cầu tăng các khoản trợ cấp vì mức lương của họ quá thấp

    Khi được hỏi về những khó khăn trong cuộc sống của mình, các giáo viên tại trường mầm non Mậu Lâm đều rơi nước mắt. Cô Phạm Thị Anh, người đã có 19 năm công tác tại trường cho biết, chúng tôi rất yêu trẻ, muốn cống hiến cho ngành giáo dục nhưng cực chẳng đã đành phải chọn giải pháp nghỉ việc để kiến nghị lên cấp trên tăng tiền trợ cấp cho số giáo viên trong diện hợp đồng, hỗ trợ chúng tôi đóng BHXH... vì hiện nay chúng tôi phải đóng 100% tiền bảo hiểm. Với số tiền chỉ hơn 500 nghìn đồng/người/tháng, nay lại phải đóng thêm khoản bảo hiểm thất nghiệp nữa thì chẳng còn là bao. Chúng tôi đình công không vì lý do gì khác ngoài nguyên nhân cuộc sống quá khó khăn.

    Nghẹn ngào trong dòng nước mắt, cô giáo Bùi Thị Luyến tâm sự, chúng tôi không hề muốn đình công trong ngày khai giảng, bản thân tôi đã có 29 năm gắn bó với lũ trẻ làng, tôi rất yêu trẻ, rất yêu nghề dạy học, từ lúc đất nước còn khó khăn, chúng tôi phải nhận lương là 3 – 4kg gạo chúng tôi đã đi dạy học. Nay kinh tế lạm phát, giá cả tăng cao nhưng tôi cũng chỉ nhận khoản tiền lương trên 500 nghìn đồng/tháng, ngoài ra không có hỗ trợ gì khác nên đời sống rất bi đát.


    Các cháu nhỏ bơ vơ vì không có cô giáo đứng lớp

    Sáng 6/9, tất cả các lớp học tại 8 khu lẻ của trường mầm non Mậu Lâm đều đóng cửa vì giáo viên không chịu đến lớp. Theo báo cáo của UBND huyện Như Thanh, tình trạng giáo viên mầm non nghỉ việc không chỉ xảy ra tại xã Mậu Lâm mà tại xã Thanh Tân cũng đang xảy ra tình trạng tương tự.

    Trao đổi về vấn đề trên, ông Lê Văn Hùng, Chủ tịch UBND huyện Như Thanh cho biết, ngay sau khi nhận được thông tin hàng loạt giáo viên mầm non ở một số xã đồng loạt bỏ trường, chúng tôi đã cử cán bộ Phòng Giáo dục xuống nắm bắt tình hình và xử lý vụ việc.

    “Quan điểm của huyện là chia sẻ với chị em giáo viên, vì đây là nguyện vọng hoàn toàn chính đáng của họ. Trước mắt huyện sẽ xem xét hỗ trợ những giáo viên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trong những ngày tới để động viên họ quay trở lại trường làm việc. Về lâu dài, chúng tôi sẽ kiến nghị Uỷ ban tỉnh xem xét điều chỉnh mức lương cho số giáo viên này để họ ổn định cuộc sống và yên tâm công tác”, ông Hùng nhấn mạnh.

    Hoàng Sơn

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    13 phản hồi

    http://tuanvietnam.net/2011-09-09-chuyen-vien-ky-thuat-ngay-cang-thieu-va-yeu

    Tác giả: Mai Lan
    Bài đã được xuất bản.: 11/09/2011 05:00 GMT+7

    Xoay quanh một biểu thống kê ngắn được giới thiệu trong bài dưới đây, nhiều góc nhìn sẽ được đặt ra, nhưng điều lớn nhất có thể thấy ngay là trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động Việt Nam đang ngày bị kéo lùi. Nguy cơ mất dần lực lượng chuyên viên kỹ thuật trình độ cao đẳng đã hiển hiện và bức tranh về cơ cấu trình độ chuyên môn của lao động Việt Nam đang ngày càng méo mó.

    Một nghiên cứu của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) tại Việt Nam cho thấy, lực lượng lao động nước ta sẽ tiếp tục tăng từ năm 2010 đến năm 2015, với tốc độ tăng bình quân 1,5%/năm. Xét về số lượng, Việt Nam vẫn tiếp tục là một trong những nước có mức tăng lực lượng lao động cao nhất trong khu vực ASEAN, chỉ sau Indonesia và Philippines.

    Một lực lượng lao động tiềm năng là cơ hội vàng để tạo ra tỷ lệ tiết kiệm cao hơn cho đất nước, giúp thúc đẩy tăng năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và phát triển kinh tế. Tiếc rằng, lực lượng lao động Việt Nam đang đối diện với một tình trạng suy thoái về trình độ chuyên môn kỹ thuật. Các nhà nghiên cứu kinh tế đã chỉ ra rằng nếu các chính sách đầu tư và phát triển nguồn nhân lực không hỗ trợ tăng tỷ lệ tiết kiệm, lực lượng lao động gia tăng có thể làm trầm trọng thêm nạn thất nghiệp và thiếu việc làm ở Việt Nam.

    Sự chệch hướng trong đào tạo nguồn nhân lực

    Báo cáo về "Điều tra lao động và việc làm Việt Nam năm 2010" do Bộ Kế hoạch - Đầu tư và Tổng cục Thống kê phát hành vào tháng 6-2011, đã công bố biểu "Tỷ trọng lực lượng lao động đã qua đào tạo chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật thời kỳ 2007-2010" dưới đây:

    Những con số trên cho thấy, có lẽ đã đến lúc chúng ta phải rà soát lại toàn bộ cơ chế, chính sách và cả công tác quản lý ở các lĩnh vực liên quan đến việc đào tạo nguồn nhân lực. Điều gì đã dẫn tới thực trạng là tỷ trọng lao động Việt Nam có trình độ chuyên môn kỹ thuật đã giảm sút trầm trọng trong vòng ba năm qua (2007-2010), từ con số 17,7% xuống còn 14,7%? Và với tỷ trọng 85,3% lực lượng lao động chưa qua đào tạo nghề, thì giấc mơ "công nghiệp hóa, hiện đại hóa" sẽ trở nên ngày càng xa vời!

    Quy chuẩn về cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động khu vực châu Á hiện nay là: 1 đại học / 4 cao đẳng / 10 trung cấp. Nếu lấy tỷ lệ này đối chiếu với thực trạng trình độ lao động Việt Nam ở thời điểm năm 2010 là: 5,7 đại học / 1,7 cao đẳng / 3,5 trung cấp, chúng ta sẽ thấy hết sự méo mó về cơ cấu trình độ của lao động Việt Nam, khi lực lượng chuyên viên kỹ thuật bậc cao đẳng - một mắt xích quan trọng trong cơ cấu lực lượng lao động - chỉ còn chiếm tỷ lệ 1,7%.

    Hệ quả của một nền giáo dục chạy theo hư danh bằng cấp

    Theo thống kê năm học 2010-2011 của Bộ GD-ĐT thì cả nước có 726.219 sinh viên hệ cao đẳng, còn hệ đại học là 1.435.887. Như vậy, ngay khu vực đào tạo đã méo mó về cơ cấu: thay vì 1 đại học / 4 cao đẳng thì chúng ta đã làm ngược lại: 2 đại học / 1 cao đẳng. Đó là nói về con số, trên thực tiễn quản lý, ai cũng thấy mỗi năm học, Bộ GD-ĐT đã "chìm đắm" ít nhất ba tháng cho công tác tuyển sinh đại học.

    Nhìn lại, nền kinh tế Việt Nam vẫn đang giai đoạn phấn đấu "công nghiệp hóa", nào đã dám mơ đến "nền kinh tế tri thức" - nơi mà "công nhân cổ trắng" với trình độ đại học chiếm đa số. Vậy mà, đáng ngạc nhiên khi trong cơ cấu trình độ lao động Việt Nam hiện nay, có 5,7% lao động có trình độ đại học và chỉ có 1,7% trình độ cao đẳng.

    Một nền kinh tế muốn hoạt động trơn tru không thể thiếu lực lượng chuyên viên kỹ thuật. Vậy, với sự thiếu hụt trầm trọng lực lượng này, Việt Nam sẽ lấy nhân lực ở đâu để bù đắp, đảm bảo cho nền kinh tế vận hành? Phải chăng, chính nguồn nhân lực trình độ đại học có chất lượng yếu lại đang đảm nhận thay vai trò của các chuyên viên kỹ thuật cao đẳng?

    Một khảo sát của Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP. Hồ Chí Minh cho biết khoảng 40% sinh viên đại học sau khi tốt nghiệp tìm được việc làm đúng trình độ ngành nghề, 40% làm việc trái ngành nghề, thu nhập thấp, việc làm chưa thực sự ổn định và có thể chuyển việc khác. Còn 20% tìm việc rất khó khăn hoặc không tìm được việc làm phải chuyển đổi ngành học hoặc làm những công việc thấp hơn trình độ đào tạo.

    Nếu thực sự tình hình diễn biến như vậy, đó là bi kịch cho nền kinh tế lẫn công tác đào tạo. Bởi, hệ đại học đào tạo nặng về nghiên cứu lý thuyết, còn hệ cao đẳng hướng tới đào tạo những chuyên viên kỹ thuật lành nghề. Hai hướng đào tạo hoàn toàn khác nhau.

    Thực trạng trên cũng đã lý giải cho việc phát triển của nền kinh tế Việt Nam vừa qua, đó là năng suất lao động rất thấp, chỉ bằng một nửa của các nước ASEAN. Và cũng lý giải luôn cho tình trạng giảm chỉ số cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế. Năm 2008-2009, Việt Nam xếp hạng 70/133 quốc gia về chỉ số cạnh tranh, năm 2009-2010 tụt xuống hạng 75.

    Năng suất lao động của các nước giai đoạn 2000-2008

    Không chỉ thiếu trầm trọng chuyên viên kỹ thuật, mà ngay lực lượng chuyên viên đã được đào tạo, chất lượng cũng rất yếu. Kết quả khảo sát của Ngân hàng Thế giới, tại Việt Nam có khoảng 60% lao động tốt nghiệp từ các trường cao đẳng và dạy nghề cần được đào tạo lại sau khi tuyển dụng.

    Năm học 2009-2010, Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng - Bộ GD-ĐT đã đánh giá, cho điểm về lĩnh vực kiểm định chất lượng giáo dục của 224 trường cao đẳng, trong đó 56 trường chưa thực hiện tốt nhiệm vụ đảm bảo chất lượng đào tạo. Trong khi đó, việc kiểm định chất lượng của các trường cao đẳng nghề trực thuộc Tổng cục Dạy nghề, theo kế hoạch lại phải chờ đến năm 2020 mới thực hiện nổi.

    Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Đàm Hữu Đắc đã thừa nhận, tuy quy mô đào tạo tăng nhanh nhưng không cân đối với điều kiện bảo đảm chất lượng như đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý, cơ sở vật chất và thiết bị, chương trình giáo trình còn nhiều bất cập, trong đó khâu kiểm định chất lượng bị buông lỏng. Do đó còn khoảng cách khá xa giữa đào tạo và thực tế sử dụng lao động đã qua đào tạo... Quả là một cái giá lãng phí quá lớn về nhân tài, vật lực trong việc xây dựng chất lượng nguồn nhân lực quốc gia.

    Cơn khát triền miên

    Chuyện "vắng bóng" lực lượng chuyên viên kỹ thuật ở các hoạt động của nền kinh tế là không hề mới, chỉ có điều ngày thêm trầm trọng. Ông Trần Anh Tuấn, Phó giám đốc Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP. Hồ Chí Minh cho biết: "Hiện nay thị trường lao động cần một lượng lớn kỹ thuật viên giỏi nghề. Trong khi nhiều cử nhân thất nghiệp, thì khu vực đào tạo chuyên viên kỹ thuật cao đẳng đào tạo bao nhiêu đã "hút hàng" bấy nhiêu".

    TS Lê Thanh Hà, Viện Công nhân và Công đoàn cũng cho biết tình trạng thừa lao động giản đơn và thiếu trầm trọng lao động có trình độ kỹ thuật cao đang diễn ra ở tất cả các ngành, các thành phần kinh tế. Thực trạng trên đã ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ phát triển của nhiều ngành nghề.

    Trả lời câu hỏi: "Nhà thầu Việt tại sao thua trên sân nhà?", TS Phạm Sỹ Liêm, Phó chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam phân tích rằng chất lượng nguồn nhân lực là một trong những nguyên nhân chính. Theo ông, ngành xây dựng đang thiếu trầm trọng lực lượng chuyên viên quản lý dự án, chuyên viên quản lý hợp đồng, chuyên viên quản lý và điều phối các khâu thiết kế, cung ứng và thi công, các phiên dịch giỏi...

    Ngành logistics tại Việt Nam đã và đang phát triển nhanh chóng, từ một vài doanh nghiệp giao nhận quốc doanh của đầu thập niên 1990 đến nay đã có hơn 600 công ty được thành lập và hoạt động trên khắp cả nước. Do phát triển nóng, nên nguồn nhân lực cấp chuyên viên kỹ thuật cung cấp cho thị trường logistics bị thiếu hụt nghiêm trọng. Có doanh nghiệp tư nhân tại TP. Hồ Chí Minh đăng báo tìm người, 3-4 tháng sau vẫn không tuyển được.

    Lĩnh vực thương mại điện tử cũng tương tự. Ông Nguyễn Ngọc Lâm, Giám đốc 123mua cho biết: "Cũng như nhiều công ty khác trong lĩnh vực này, thời gian qua 123mua gặp nhiều khó khăn trong vấn đề tuyển dụng, nhất là vị trí kỹ thuật viên (technicans). Ở vị trí này chúng tôi cần người phải có kỹ năng và kiến thức lõi căn bản về lập trình, khác nhiều so với yêu cầu tuyển dụng lập trình làm gia công phân mềm".

    ***

    Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2011-2015 của Việt Nam đã xác định chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế khoảng 7%/năm và năng suất lao động vào năm 2015 đạt 1,5 lần của năm 2010. Đây là những mục tiêu quan trọng và đầy thách thức, nhấn mạnh vai trò của tăng năng suất lao động đối với việc nâng cao mức sống và duy trì tăng trưởng kinh tế mạnh, bền vững.

    Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động sẽ góp phần lớn vào việc tăng năng suất lao động. Nhưng trong thập niên vừa qua, đầu tư vốn đã đóng góp tới 55% tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, cao gấp ba lần so với mức đóng góp của lao động. Đây là điều chúng ta phải suy nghĩ. Chưa kể, với thực trạng trình độ chuyên môn kỹ thuật bết bát của lực lượng lao động hôm nay, thật khó kỳ vọng về việc tăng năng suất và năng lực cạnh tranh để phát triển và hòa nhập với cộng đồng quốc tế.

    Theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần

    Nói chung các bác cái gì cũng muốn ăn người. Bây giờ Hồng Kong thuộc về TQ, vậy HK cũng cấm toàn bộ người VN sang XK LĐ, rồi toàn bộ người VN vượt biên. Tiếp theo Hoa Kỳ cũng lý luận, "kinh tế USA đang khó khăn, người nhập cư, XKLĐ tràn lan làm người Mỹ không kiếm được việc làm, vậy cần phải đuổi bớt những người Việt Nam nhập cư. Chủ trương sẽ đuổi việc những lao động xuất thân từ VN, chiến dịch bắt đầu từ quận cam"!

    bác WB t_án trật lất viết:
    Bác WB t_án trật lất rùi. Các nước Đài Loan, Hàn Quốc, Sing, Đức,... vì thiếu lao động (cơ bắp) nên mới nhập khẩu lao động từ các nơi khác.
    Còn VN ta không những chẳng thiếu mà còn dư lao động chưa có chỗ dùng hết, vậy thì tại sao phải nhập khẩu lao động.

    Thì nó nói đúng mà, nó nói rằng nó thiếu lao động biết tiếng Trung nên tương tác giữa chủ thầu người Trung và lao động VIệt Nam sẽ không tốt bằng với lao động Trung Quốc. Mỗi lần chủ thầu ra lệnh, lại phải lóc cóc đi gọi người phiên dịch, rồi ngôn ngữ dịch bị mất ý nghĩa đi 70% thì rất có thể ảnh hưởng đến chất lượng công trình.

    Chủ thầu người TQ lại có quyền chọn lao động, vậy thì hiển nhiên họ sẽ phải nghiêng về lao động người TQ, mình không thể có quyền can thiệp. Địa vị tôi, nếu đặt hiệu quả công việc lên hàng đầu, tôi cũng sẽ chọn như thế.

    Còn các bác muốn kiện thì các bác cứ việc đưa những người lao động ấy học tiếng Trung cho đến khi giỏi bằng người TQ, lúc đó hẵng đi so bì.

    Cũng giống như GS người Việt Nam tại Mỹ, bao giờ cũng tìm cách ưu tiên để nhận NCS người Việt. Vậy các bác nghĩ người Mỹ có kiện không?

    Whitebear1981 viết:
    Làm gì có chuyện này. Lương khởi điểm 1 tháng hai triệu, đó là minimum cả nước. Mà 3000 giáo viên bỏ việc mới đáng lo, chứ có 30 GV bỏ việc nhưng 30000 giáo viên xin việc nhận việc thì có ý nghĩa gì đâu?
    Còn về vấn đề lao động trung quốc, nếu như mình không đồng ý lao động TQ sang VN làm việc, thì cũng không nên cho người lao dộng VN đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan, Hàn Quốc, Sing, Đức,...Mọi người thử nghĩ xem, người lao động ở các nước khác sẽ ý kiến thế nào về lao động người việt?

    Đã cạnh tranh thì phải công bằng, có vậy thôi.

    Bác WB t_án trật lất rùi. Các nước Đài Loan, Hàn Quốc, Sing, Đức,... vì thiếu lao động (cơ bắp) nên mới nhập khẩu lao động từ các nơi khác.

    Còn VN ta không những chẳng thiếu mà còn dư lao động chưa có chỗ dùng hết, vậy thì tại sao phải nhập khẩu lao động.

    Bác đang đi học có lẽ tiền bạc từ cha mẹ, hoặc từ một quỹ nào đó, nghĩa là bác chưa phải tự lực lao động kiếm tiền, chưa biết được khổ nhục của lao động ở VN nên mới nói ra những lời rất phản cảm. Để xem mai kia bác ra trường, thật sự tự mưu sinh, xin bác nhớ lại những lời ấy nhé (hy vọng là bác không nhập bọn tham nhũng làm ăn theo đường tắt)

    Thật là bức tranh tiêu biểu của chế độ cộng sản vô đạo đức tham tàn. Còn độc ác hơn Nghị Quế ức hiếp chị Dậu ngày xua! Ngô Tất Tố của thời nay cũng chỉ dám thỏ thẻ "đề nghị chính quyền giúp đỡ" thôi...

    Chế độ cộng sản chèn ép, bòn rút, bóc lột và ức hiếp công khai và bằng tổ chức (đảng và chính quyền)cả các cô giáo mầm non như thế này là vì chúng thực sự chẳng quan tâm gì đến tuơng lai của dân tộc và đất nước cả.

    Đúng là bản chất chính quyền cộng sản như vậy: giả dối, tham lam, vô cảm luôn nịnh trên hiếp dưới.

    Các cô giáo ơi, các chị hãy vững vàng nhé! Các chị đang phản đối chế độ bất công đó là làm việc tốt vì tuơng lai đất nước đó! Các chị không đơn độc! Trái tim cả triệu người Việt bên các chị!

    Trích dẫn:
    Các bạn có nhiều kiến thức về (hoặc yêu) CNXH, CNCS như Bayan Land, Kép Tư Bền, VN2006A, Tháng Chạp, Phan Sơn có solution định hướng XHCN nào cho tình trạng lao động ở VN không ?

    Với tình trạng ở VN hiện nay nhà nước nên "nhập khẩu" (nghĩa là nhập người vào) các giáo viên TQ dạy tiếng Tàu cho học sinh VN. Bảo đảm giá thành vừa rẻ vừa truyền bá 4 tốt và 16 chữ vàng cũng như giúp sẵn sàng về ngôn ngữ để hội nhập vào mẫu quốc.

    Làm gì có chuyện này. Lương khởi điểm 1 tháng hai triệu, đó là minimum cả nước. Mà 3000 giáo viên bỏ việc mới đáng lo, chứ có 30 GV bỏ việc nhưng 30000 giáo viên xin việc nhận việc thì có ý nghĩa gì đâu?
    Còn về vấn đề lao động trung quốc, nếu như mình không đồng ý lao động TQ sang VN làm việc, thì cũng không nên cho người lao dộng VN đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan, Hàn Quốc, Sing, Đức,...Mọi người thử nghĩ xem, người lao động ở các nước khác sẽ ý kiến thế nào về lao động người việt?

    Đã cạnh tranh thì phải công bằng, có vậy thôi.

    Bạn Hy Văn có nhiều kinh nghiệm thực tế với lao động TQ, có thể cho ý kiến không ?

    Các bạn có nhiều kiến thức về (hoặc yêu) CNXH, CNCS như Bayan Land, Kép Tư Bền, VN2006A, Tháng Chạp, Phan Sơn có solution định hướng XHCN nào cho tình trạng lao động ở VN không ?

    http://sgtt.vn/Thoi-su/152747/Vat-va-canh-tranh-voi-lao-dong-Trung-Quoc-tren-san-nha.html

    Vất vả cạnh tranh với lao động Trung Quốc trên... sân nhà

    SGTT.VN - Một thực trạng đang phổ biến tại nhiều công trường do đối tác Trung Quốc làm chủ thầu thi công tại Việt Nam, đó là lao động Việt Nam phải cạnh tranh việc làm với lao động Trung Quốc trên chính… sân nhà. Điều này đã được chính chủ đầu tư của Việt Nam chia sẻ.

    Tiền công của lao động Việt Nam rẻ hơn lao động Trung Quốc?

    Lao động Trung Quốc tại công trường ở Việt Nam.

    Nhà máy nhiệt điện Hải Phòng là dự án lớn do nhà thầu Trung Quốc và Nhật Bản trúng thầu thực hiện cung ứng, thi công và lắp đặt toàn bộ thiết bị (EPC). Dự án được triển khai chính thức từ tháng 11/2005 với hai hạng mục: nhà máy nhiệt điện 1 và nhà máy nhiệt điện 2. Trong đó, các nhà thầu Trung Quốc chiếm tỷ lệ áp đảo (gồm bốn đơn vị thầu cấp 1: Tập đoàn điện khí Đông Phương – tổng thầu công trình; công ty Hồ Bắc…; ngoài ra còn có nhiều nhà thầu phụ thứ cấp như: Thanh Sơn, Quảng Tây, Quế Lâm, Giang Tô…).

    Theo một lãnh đạo của nhà máy nhiệt điện Hải Phòng 1 (đã vận hành), với quy mô bốn tổ máy có công suất 300 MW/tổ máy, để hoàn thành đúng tiến độ, số lượng công nhân có mặt trên công trường phải luôn đảm bảo ở con số 4.000 lao động. Đó là điều kiện tối thiểu và cần thiết để thi công một công trình lớn như nhà máy nhiệt điện Hải Phòng.

    Như vậy, dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện Hải Phòng sẽ là công trường giải quyết hàng triệu việc làm cho hàng ngàn lao động tại chỗ của địa phương và lao động Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế lại không đúng như mong muốn. “Thời kỳ cao điểm (giai đoạn năm 2008 – 2009), tại Thủy Nguyên có tới trên 2.000 lao động Trung Quốc sang làm việc tại công trường. Trong số đó, rất nhiều lao động phổ thông sang thực hiện các công việc thủ công như: đào đất, phụ hồ, mang vác… - phần công việc mà lao động thủ công Việt Nam cũng thực hiện được,” ông Nguyễn Thế Khang, trưởng phòng Nhân sự nhà máy nhiệt điện Hải Phòng cho biết.

    Tuy nhiên, trên thực tế chưa dừng lại ở con số đó, bởi có những thời điểm có tới trên 3.000 lao động Trung Quốc có mặt tại Thủy Nguyên. Do lao động của Trung Quốc áp đảo về lực lượng, nên lao động của Việt Nam bị cạnh tranh việc làm. Ông Nguyễn Văn N. , một lao động địa phương làm việc tại công trình xây dựng nhà máy nhiệt điện Hải Phòng 2 cho biết, để có một công việc tại công trường là một điều khó khăn, ngoài việc phải cạnh tranh, còn có nhiều “góc khuất” khác. Ông N. là một nông dân sống tại Thủy Nguyên. Ngoài công việc đồng áng, ông đi phụ hồ, thợ nề, làm hàn xì, bốc vác… Thời điểm xây dựng nhà máy nhiệt điện 1, ông N. làm công nhân tại công trường với mức lương dưới 100.000 đồng/ngày công.

    Ông N. cho biết, lao động phổ thông địa phương làm việc trong công trường nhận mức lương thấp hơn nhiều so với lao động người Trung Quốc. Đơn cử, với một thợ hàn người Việt Nam cùng làm chung với lao động Trung Quốc, mức lương nhận được cao nhất khoảng 150.000 – 180.000đ/ngày công. Trong khi đó, mức lương cũng công việc như trên của lao động Trung Quốc thường gấp từ hai đến ba lần. “Việc trả công do chủ thầu thỏa thuận với người lao động, chứ không thông qua chủ dự án, cho nên, chúng tôi không biết thắc mắc với ai. Ngoài ra, có khá nhiều sự bất bình đẳng trong việc trả công lao động cho người Việt Nam,” ông N. nói.

    Theo ông N., nếu lao động Việt Nam trực tiếp làm việc với người sử dụng lao động là nhà thầu Trung Quốc, sẽ được nhận 100% ngày lương. Còn nếu phải thông qua phiên dịch người Việt Nam, ngày công lao động của họ cũng bị “bớt xén”. Đơn cử, nếu phiên dịch “nhặt người” đi làm, một ngày công 150.000 đồng sẽ bị bớt lại 20.000 đồng, chỉ được thực lĩnh 130.000 đồng. Nhưng, vì để có việc làm, nên không ai dám kêu ca. Nếu kêu, sẽ có nhiều người khác vào trám chỗ. “Nếu anh không làm, sẽ có nhiều người khác sẵn sàng làm. Để có việc làm, thì buộc anh phải chấp nhận,” ông N. chia sẻ.

    Tương tự, ngày công của lao động Việt Nam làm ở vị trí nấu ăn cho lao động Trung Quốc, mức lương của họ nhận được khoảng hai triệu đồng/tháng; công việc bảo vệ (tại khu chung cư của công nhân Trung Quốc tại My Sơn (xã Ngũ Lão, Thủy Nguyên) nhận mức lương 1,5 triệu đồng/tháng, không có phụ cấp. Một bảo vệ Việt Nam tại khu chung cư My Sơn cho biết, mới đây, bên Trung Quốc có đưa sang một bảo vệ người Trung Quốc, mức lương của họ tính ra tiền Việt khoảng 10 triệu đồng/tháng, cao gấp gần mười lần so với tiền lương của bảo vệ người Việt Nam.

    Chủ dự án không có quyền can thiệp

    Mức chênh lệch về thu nhập của lao động Việt Nam làm cùng một công việc so với lao động Trung Quốc đã được ông Khang xác nhận. Theo ông Khang, tình trạng nói trên phổ biến ở giai đoạn thi công giai đoạn 1 (nhà máy nhiệt điện Hải Phòng 1). Hiện tại, dự án nhiệt điện Hải Phòng 1 đã hoàn thành và đưa vào vận hành, số lao động Trung Quốc còn lại khoảng hơn 100 người, chủ yếu là lao động kỹ thuật để hoàn thành nốt các phần việc thuộc về bảo trì - vận hành.

    Ông Hà Văn Gián, phó tổng giám đốc nhà máy nhiệt điện Hải Phòng cho biết, phía Trung Quốc là nhà thầu thi công, họ thực hiện theo đúng cam kết hợp đồng BT (Xây dựng – chuyển giao) cho chủ dự án, nên phía Việt Nam chỉ có vai trò giám sát về tiến độ và chất lượng của dự án. Đối với việc sử dụng lao động và tiền lương, phía chủ dự án không có quyền can thiệp.

    Tình trạng quá nhiều lao động Trung Quốc làm việc tại Thủy Nguyên ở giai đoạn 1 đã có sự thay đổi đáng kể ở giai đoạn 2. Theo ông Khang, hiện tại, số lao động Trung Quốc đang làm việc tại Thủy Nguyên là hơn 700 lao động, trong đó có hơn 100 lao động của giai đoạn 1 còn sót lại để thực hiện nốt phần việc dang dở trước khi bàn giao. “Chúng tôi cũng đã có ý kiến với nhà thầu về việc sử dụng lao động người Việt Nam. Phía Trung Quốc đưa ra nhiều lý do, trong đó có lý do bất đồng ngôn ngữ. Đây là cản trở lớn trong quá trình điều hành, quản lý lao động. Hơn nữa, họ cho rằng, lao động của họ đã quen việc, việc điều hành, sử dụng lao động đã thành một ê-kíp. Nếu sử dụng lao động bản địa, sẽ khó khăn cho họ trong việc quản lý, chỉ đạo và giám sát việc thực hiện công việc,” ông Khang nói.

    Một thực trạng mà chính ông Khang cũng thừa nhận, đó là độ chuyên nghiệp, tính kỷ luật… của lao động Việt Nam so với lao động Trung Quốc là thấp hơn. “Trên công trường nắng nóng như thế này, lao động Việt Nam làm được từ một đến hai giờ đồng hồ đã phải tìm bóng râm để trốn nắng, trong khi lao động Trung Quốc, họ làm một mạch đến hết ca. Phải thừa nhận, năng suất lao động của lao động Trung Quốc lớn hơn năng suất lao động của lao động Việt Nam. Đó là chưa kể đến tính tự giác, kỷ luật lao động và sự trung thực trong quá trình làm việc,” ông Khang chia sẻ.

    Bài và ảnh: Linh Di

    Gian nan giải quyết việc làm

    Ông Lại Đức Thịnh, chủ tịch UBND xã Tam Hưng cho biết, tổng diện tích đất nông nghiệp của xã Tam Hưng chỉ còn khoảng 65ha. Trước kia, công ty Đóng tàu Nam Triều cũng giải quyết nhiều việc làm cho lao động địa phương, tuy nhiên, mấy năm gần đây, công ty Đóng tàu Nam Triều cũng không có việc làm. Nghề biển của xã cũng không phát triển trong thời gian gần đây. Với số dân 7.000 người, việc làm là một vấn đề nóng đối với xã Tam Hưng.

    Với thu nhập 500.000 VN đồng cho một tháng lao động,số tiền này đủ để ăn một nửa bát phở bò "Kobe" đang được bán tại Hà nội-thủ đô nước Cộng hòa XHCN Việt nam.Không biết rằng, khi nhận được thông tin này thì các vị lãnh đạo đảng và nhà nước Việt nam sẽ suy nghĩ như thế nào? có cảm thấy day dứt và xấu hổ hay không?
    Nếu tôi ở vào vị trí lãnh đạo của chư vị,tôi sẽ có cảm giác vô cùng nhục nhã.

    Các bạn,

    Dân giàu thì nước mới mạnh.
    Các giáo viên là người chuyển tải kiến thức, văn hóa, giáo dục cho các thế hệ trẻ VN.
    Để họ nghèo đói, phải bỏ dạy thì phải công nhận đảng CSVN quá dở, chính phủ VN rất yếu kém. Thủ tướng với 95% số phiếu thì người ta phải cười ra nước mắt

    Trong khi đó thì có người chạy xe Bentley, ... vài trăm ngàn cho đến cả triệu USD !
    Thật là nghịch lý dã man trong một nước do đảng CS lãnh đạo

    Chính quyền Việt Nam đang bóc lột vô cùng dã man nhiều người làm nghề giáo bằng kiểu " giảng dạy theo hợp đồng " với mức lương dưới 500-1000 ngàn đồng /tháng. Tôi đã gặp các thầy cô dạy hợp đồng, họ đang ôm những mối hận thấu xương với cơ chế, chế độ này. Không những bỏ sức lao động và phải làm việc gương mẫu cho thế hệ sau quý trọng , các thầy cô còn phải bỏ tiền chạy hàng chục triệu để được dạy hợp đồng và chờ đợi thời cơ phù hợp để vào biên chế. Nhưng cứ chờ dài cả cổ. Có người đã nói thẳng : bỏ chi cho Quan chức , hiệu trưởng 70 triệu ĐVN để được dạy hợp đồng lương tháng 500 ngàn thì mất trên 11 năm làm không công , không lãi , thà bỏ và quên hẳn nghề nghiệp của mình , xoay 70 triệu làm vốn kinh doanh sản xuất thì đời đỡ ngu hơn .
    Chính quyền họ cố tình tạo ra chuyện này, chứ quan tâm , điều chỉnh cái khỉ mốc .

    Lời bình của độc giả trang NLD: "Công an lương cao gấp đôi công chức, viên chức cùng trình độ, cùng năm công tác rồi, cần gì phải phụ cấp nữa nhỉ?"

    Công an nhân dân được phụ cấp công vụ

    (NLĐO) – Kể từ ngày 14-10-2011, việc hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp công vụ trong lực lượng công an nhân dân sẽ được triển khai, theo thông tư số 61/2011/TT-BCA ban hành ngày 30-8-2011 của Bộ Công an.
    Theo hướng dẫn tại thông tư trên, đối tượng được áp dụng phụ cấp công vụ là sĩ quan, hạ sĩ quan, công nhân, nhân viên công an và lao động hợp đồng hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách Nhà nước trong lực lượng công an nhân dân.

    Mức phụ cấp công vụ được hưởng tương ứng 10% mức lương cấp bậc hàm, mức lương ngạch bậc hoặc mức phụ cấp bậc hàm cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có hiện hưởng).

    Phụ cấp công vụ được chi trả cùng kỳ lương hàng tháng và không tính để đóng, hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Thời điểm áp dụng phụ cấp công vụ kể từ ngày 1-5-2011.

    Duy Quốc

    http://nld.com.vn/20110906105523625p0c1002/cong-an-nhan-dan-duoc-phu-cap-cong-vu.htm

    "Đối tượng hưởng phụ cấp công vụ là cán bộ, công chức, người hưởng lương hoặc phụ cấp quân hàm từ ngân sách nhà nước làm việc trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, ở xã, phường, thị trấn và lực lượng vũ trang". Không biết giáo viên có thuộc đối tượng này không?

    Tăng 10% phụ cấp lương cho cán bộ, công chức

    (Dân trí) - Khối hành chính Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội và lực lượng vũ trang sẽ được hưởng thêm 10% phụ cấp lương. Mức phụ cấp được tính từ 1/5/2011.

    Chính phủ ban hành vừa ban hành về chế độ phụ cấp công vụ đối với một số đối tượng cán bộ, công chức. Mức phụ cấp này bằng 10% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) hoặc phụ cấp quân hàm.

    Theo đối, đối tượng hưởng phụ cấp công vụ là cán bộ, công chức, người hưởng lương hoặc phụ cấp quân hàm từ ngân sách nhà nước làm việc trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, ở xã, phường, thị trấn và lực lượng vũ trang.

    Mức độ được áp dụng bằng 10% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) hoặc phụ cấp quân hàm.

    Cũng theo Nghị định, Phụ cấp công vụ được chi trả cùng kỳ lương hàng tháng. Tuy nhiên mứcp phụ cấp này không được tính để đóng, hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế .

    Ngoài ra, đối tượng được hưởng phụ cấp ưu đãi theo nghề, phụ cấp trách nhiệm theo nghề, hoặc phụ cấp đặc thù theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thì cũng được hưởng phụ cấp công vụ quy định tại Nghị định này.

    Nghị định này được tính từ 1/5/2011.

    Bộ Lao động- Thương Binh và Xã hội cũng đã trình Chính phủ phương án điều chỉnh lương tối thiểu trước lộ trình (từ 10/2011) đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp trong nước và vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Dự kiến điều chỉnh lương tối thiểu mới mà Bộ trình Chính phủ áp dụng tại khối doanh nghiệp (DN) trong nước và FDI ở vùng 1 cao hơn mức hiện hành 350- 550 nghìn đồng; vùng 2, 3 và 4 từ 300- 570 nghìn đồng. Đây là động thái điều chỉnh của Chính phủ trước tình hình giá cả thị trường đang biến động rất mạnh, ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân.

    P. Thanh

    http://dantri.com.vn/c133/s133-496560/tang-10-phu-cap-luong-cho-can-bo-cong-chuc.htm