Nợ nước ngoài của Việt Nam: Những con số mới nhất

  • Bởi Admin
    24/07/2010
    2 phản hồi
    Chủ đề: Kinh tế


    Dư nợ nước ngoài của Chính phủ và được Chính phủ bảo lãnh, giai đoạn 2005 - 2009.

    Bộ Tài chính vừa công bố bản tin số 5 về nợ nước ngoài của Việt Nam, tính đến cuối năm 2009. Theo quy định của Chính phủ, các bản tin nợ nước ngoài được công khai và có độ trễ 6 tháng.

    Vẫn trong giới hạn an toàn

    Tính đến ngày 31/12/2009, tổng dư nợ nước ngoài quốc gia (bao gồm nợ nước ngoài Chính phủ và nợ nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh) là 27,929 tỷ USD, áp dụng tỷ giá quy đổi tại thời điểm cuối kỳ.

    Đánh giá về con số này, Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) Nguyễn Thành Đô trong một hội thảo gần đây cho rằng, nợ nước ngoài quốc gia vẫn trong giới hạn an toàn. Quan điểm của ông Đô cũng được chứng minh trên tất cả các tiêu chí đánh giá.

    Cụ thể, nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP bằng 39%, thuộc diện quốc gia có nợ nước ngoài vừa phải, nếu xét theo khuyến nghị của Ngân hàng Thế giới (WB), theo đó trên 50% được cho là nợ quá nhiều; nghĩa vụ trả nợ nước ngoài trung dài hạn so với xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ chỉ bằng 4,2% (WB cho phép đến 25%); dự trữ ngoại hối so với nợ nước ngoài ngắn hạn là 290% (khuyến nghị của WB là trên 200%); nghĩa vụ trả nợ Chính phủ so với tổng thu ngân sách nhà nước 5,1% (ngưỡng an toàn của WB là dưới 35%)…

    Cũng theo bản tin số 5, các khoản vay nước ngoài của Việt Nam đa số đều có lãi suất thấp, trong đó vay ODA chiếm tỷ trọng 74,67%; vay ưu đãi chiếm 5,41%; vay thương mại 19,92%.

    Không kể nợ được Chính phủ bảo lãnh, trong tổng số dư nợ nước ngoài Chính phủ gần 23,943 tỷ USD, có đến 19,325 tỷ USD lãi suất từ 1-2,99%; trên 1,5 tỷ USD lãi suất từ 3-5,99%; 281,7 triệu USD lãi suất 0-99% và 919 triệu USD ở mức lãi suất 6-10%. Ngoài ra, hơn 1,9 tỷ USD dư nợ còn lại được áp lãi suất thả nổi theo lãi suất liên ngân hàng của thị trường London (LIBOR).

    Cơ cấu đồng tiền vay trong tổng dư nợ nước ngoài Chính phủ cũng khá đa dạng, được cho là có thể hạn chế rủi ro về tỷ giá, giảm áp lực lên nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của Chính phủ.

    Cụ thể, lớn nhất là các khoản vay bằng đồng Yên, chiếm 41,96%; SDR (quyền rút vốn đặc biệt - đơn vị tiền tệ quy ước của một số nước thành viên Quỹ Tiền tệ Quốc tế) chiếm 27,39%; vay theo đồng USD chiếm 16,61%; vay bằng đồng Euro chiếm 10,68%; còn lại là các đồng tiền khác chiếm 3,37% tổng dư nợ nước ngoài Chính phủ.

    Cũng theo Cục trưởng Đô, các dự án có vốn vay nước ngoài chủ yếu thuộc ngành năng lượng, giao thông vận tải, thủy sản, trồng rừng…

    “Đến giờ phút này, những dự án nói chung hoạt động có hiệu quả. Theo các đánh giá độc lập, tỷ lệ nợ xấu chỉ khoảng 0,8%, mức rất thấp nếu so với chỉ tiêu tương ứng trong hệ thống ngân hàng nói chung”, ông Đô phát biểu với báo chí.


    Dự kiến nghĩa vụ trả nợ đối với các khoản nợ nước ngoài của Chính phủ, tính cả gốc và lãi, sẽ vượt 1 tỷ USD trong năm nay; tăng trong các năm tiếp theo mà đỉnh điểm lên đến trên 2 tỷ USD vào năm 2016, trước khi giảm trở lại.

    Cục trưởng Đô cho rằng, nghĩa vụ trả nợ vẫn trong tầm kiểm soát và Việt Nam không chậm trả các khoản nợ đến hạn.

    Dư nợ, lãi suất, nghĩa vụ trả đều tăng nhanh

    Nhưng, việc quản lý nợ nước ngoài quốc gia đang phải đối mặt với không ít thách thức. Để bổ sung vốn cho đầu tư phát triển và bù đắp thâm hụt ngân sách, nợ nước ngoài quốc gia đã tăng đáng kể chỉ trong vài năm trở lại đây.

    So với thời điểm cuối năm 2005, con số gần 28 tỷ USD nợ nước ngoài quốc gia tính đến 31/12/2009 đã gấp gần 2 lần (so với 14,2 tỷ USD), sau khi hàng loạt các khoản vay của WB, ADB, Nhật Bản… được chuyển vào ngân sách trong năm vừa qua.

    Trong khi đó, tỷ lệ nợ nước ngoài trên GDP thế nào là an toàn cũng chỉ là tương đối, đặc biệt sau nhiều cuộc khủng hoảng nợ công trên thế giới thời gian qua.

    “Với mức nợ nào đó, nước này là thích hợp, ví dụ Nhật Bản là trên 100% GDP mà không vỡ nợ, nhưng nước khác chỉ 60% có thể rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ công”, ông Đô cho biết.

    Hơn nữa, một số chỉ tiêu giám sát nợ nước ngoài không được bền vững. Với mức thâm hụt cán cân thanh toán 8,8 tỷ USD vào năm ngoài, dự trữ ngoại hối đã giảm xuống chỉ còn 7-9 tuần nhập khẩu, từ mức 12 tuần trước đó.

    Tác động đến tương quan giữa dự trữ ngoại hối so với tổng dư nợ ngắn hạn, chỉ tiêu này từ gấp 28 lần vào cuối năm 2008, chỉ còn hơn gần 3 lần tính đến 31/12/2009. Trước đó, đỉnh điểm là vào cuối 2007, chỉ tiêu này gấp gần 102 lần.

    Lãi suất trung bình nợ nước ngoài của Chính phủ cũng có xu hướng tăng lên, sau khi Việt Nam được cho là đã trở thành nước có thu nhập trung bình thấp, nhiều đối tác đã chuyển từ quan hệ cho vay ODA sang hình thức ít ưu đãi hơn.

    Theo Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại, lãi suất trung bình nợ nước ngoài của Chính phủ đã tăng từ 1,54%/năm vào năm 2006 lên 1,9%/năm trong năm 2009 và năm nay đạt tới 2,1%/năm.

    Thêm vào đó, hệ số tín nhiệm quốc gia của Việt Nam còn thấp. Lợi suất lên đến hơn 7% đối với khoản 1 tỷ USD trái phiếu Chính phủ ngoại tệ được phát hành ra thị trường quốc tế vào đầu năm nay lý giải phần nào nhận định này.

    Trong một hội thảo mới đây, trả lời chuyên gia Võ Trí Thành vì sao Việt Nam không phát hành trái phiếu quốc tế khi bảo hiểm rủi ro tín dụng (CDS, một loại chứng khoán phái sinh nhằm bảo hiểm cho một khoản vay) còn thấp trong năm 2009, mà để đến khi giá CDS đã lên cao mới phát hành, ông Đô cho biết đã làm đúng như vậy, nhưng chỉ thiếu cái “nhấn nút” cuối cùng. Điều này cũng hàm ý, cơ quan quản lý nợ chưa có thực quyền và khung pháp lý quản lý nợ cần tiếp tục được hoàn thiện.

    Vấn đề còn lại là Việt Nam đã quan tâm thế nào đến huy động vốn trong nước, thay vì chú trọng vào các khoản ngoại tệ thu được từ đối tác cho vay? Đành rằng ngoại tệ có thể giúp cân bằng cán cân thanh toán, nhưng nợ trong nước mới chiếm khoảng 40% tổng dư nợ Chính phủ cũng cần phải được nhìn nhận lại.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    PHẢI CHĂNG VIỆT NAM NỢ NƯỚC NGOÀI 46 TỈ USD???

    Trong bài 17 năm ODA (Thanh Niên ngày 07/12/2009) nêu lên những con số và sự việc, nếu nội dung bài báo đúng sự thật, thì câu hỏi lâu nay về thực chất con số Chính phủ Việt Nam nợ nước ngoài như thế nào đã gián tiếp được giải đáp.

    Đầu tiên là câu: "Tính từ 1993 đến nay, tổng lượng vốn ODA cam kết đạt khoảng 57,5 tỉ USD, trong đó lượng vốn vừa được các nhà tài trợ cam kết trong Hội nghị kết thúc ngày 4.12 đạt gần 8,1 tỉ USD, cao nhất từ trước tới nay." và câu "Trong tổng số vốn ODA tài trợ, có khoảng 80% là vốn vay và 20% là vốn viện trợ không hoàn lại (cho không)".

    "Thời hạn vay khá dài - thường lên đến 30 - 40 năm" và được "thời gian ân hạn (khoảng 10 năm)", so với con số 17 năm Việt Nam bắt đầu vay vốn ODA thì rõ ràng chưa có khoản nợ nào đáo hạn buộc phải trả vốn đầy đủ. Phải chăng từ trước đến nay báo chí trong nước vẫn hay nói ra rả Việt Nam trả nợ nước ngoài là Chính phủ Việt Nam chỉ mới trả lãi vay hàng năm và chưa trả vốn vay đồng nào???

    Như vậy, lấy 57,5 tỉ USD trừ đi 8,1 tỉ USD (số mới hứa cho vay, chưa thực nhận) nhân cho 80% sẽ có kết quả số nợ tính đến thời điểm hiện nay của Chính phủ Việt Nam phải trả nước ngoài là 39,52 tỉ USD. Sau khi nhận khoản vay 8,1 tỉ USD kia, nâng tổng số nợ vay lên 57,5 tỉ USD, nhân cho 80% thì số nợ Chính phủ Việt Nam phải trả nước ngoài là 46 tỉ USD (chưa tính lãi)???

    Theo báo Dân Trí ngày 29/11/2009, Bộ Tài chính công bố "tổng nợ nước ngoài của Việt Nam đến cuối năm 2008 xấp xỉ 22 tỉ USD, bằng 29,8% GDP. Trong đó, Chính phủ nợ trực tiếp 19 tỉ và bảo lãnh 3 tỉ USD. Ở mức tỷ giá 18.000 VND/USD, tổng nợ nước ngoài tính ra VND là 396.000 tỉ đồng, cao hơn tổng thu ngân sách dự kiến năm 2009 (390.000 tỉ đồng). Nếu tỷ giá tăng lên 20.000 đồng thì con số sẽ là 440.000 tỉ, tăng 44.000 tỉ, bằng 11% số dự kiến thu ngân sách nhà nước năm 2009". So với bài báo của Thanh Niên đã dẫn ở trên thì số nợ nước ngoài do Bộ Tài chính công bố chênh lệch thấp hơn đến 24 tỉ USD???

    Tác giả bài báo viết đoạn kết này mới thật đáng lo ngại: "VN đã thực hiện trả nợ đầy đủ và đúng hạn, được các nhà tài trợ đánh giá cao. Tuy nhiên, số trả nợ của VN ngày một tăng lên. Số vay mới nhưng số còn lại được sử dụng không lớn, nếu trừ đi số phải trả nợ cũ…". Đọc câu trên, tôi liên tưởng đến các vụ "bể tín dụng" xảy ra nhan nhản trước đây (Ví dụ: vụ doanh nghiệp nước hoa Thanh Hương của Giám đốc Nguyễn Văn Mười Hai, vụ xí nghiệp dệt thảm gì đó của ông Giám đốc mù Huỳnh Là), các vụ "bể hụi"... đều có chung một kiểu "bể" là: Mượn vốn người sau trả lãi, trả vốn (đáo hạn) cho người trước, dần dần theo thời gian con số nợ cứ tăng mãi nên người vay mất khả năng chi trả.

    "Số vay mới nhưng số còn lại được sử dụng không lớn, nếu trừ đi số phải trả nợ cũ" phải chăng là vay ODA mới phần lớn dùng để trả ODA cũ, trả xong dư ra một ít mới chi cho các mục tiêu quốc kế dân sinh???

    Nếu thật sự thực tế diễn ra như thế thì cái ngày Việt Nam bị "bể nợ" có thể nhìn thấy ngay trước mắt! Thử nghĩ mà xem, kinh khủng quá, thường dân bị "bể nợ" thì chủ nợ có thể nhào dzô lấy tài sản để "siết nợ" (nếu có tài sản), còn Việt Nam mà "bể nợ" thì không biết các ông bà chủ nợ nước ngoài sẽ nhào dzô "siết" cái gì???

    Tạ Phong Tần

    http://conglysuthat.blogspot.com/2009/12/blog-post.html
    ________

    Nợ nước ngoài: Nhiều "con nghiện" sống dở chết dở
    Thứ Năm, 03/06/2010, 06:08

    http://www.vinacorp.vn/news/no-nuoc-ngoai-nhieu-con-nghien-song-do-chet-...

    Do tổng số nợ nước ngoài từ vay mới và từ lãi mẹ đẻ lãi con khiến nhiều quốc gia Mỹ La - tinh và Đông Nam á sống dở chết dở.
    Theo Ngân hàng Thế giới, đến năm 2000, tổng số nợ nước ngoài từ vay mới và từ lãi mẹ đẻ lãi con của các nước Mỹ La-tinh đã lên đến 739 tỷ đô-la. Chỉ riêng số tiền các quốc gia con nợ này phải bỏ ra để trả lãi và khấu hao cơ bản của món nợ khổng lồ nói trên cũng đã ngốn mất hơn một nửa ngân sách hàng năm. Hệ lụy là những "con nghiên" vay nợ đã phải sống dở chết dở vì những món nợ chất chồng.

    LTS: Trước tình trạng nợ nước ngoài đang là nhân tố chính gây mất ổn định tại nhiều quốc gia thuộc châu Mỹ La-tinh và Đông Nam Á, để cung cấp thêm thông tin cho độc giả, Tuần Việt Nam xin giới thiệu bài viết của Thạc sĩ khoa học về Phát triển Xã hội Phạm Quang Hòa.

    Sống dở chết dở vì nợ

    Theo Ngân hàng Thế giới, đến năm 2000, tổng số nợ nước ngoài từ vay mới và từ lãi mẹ đẻ lãi con của các nước Mỹ La-tinh đã lên đến 739 tỷ đô-la, tăng 650 tỷ so với 40 năm trước đó. Chỉ riêng số tiền các quốc gia con nợ này phải bỏ ra để trả lãi và khấu hao cơ bản của món nợ khổng lồ nói trên cũng đã ngốn mất hơn một nửa ngân sách hàng năm. Mexico là nước mắc nợ nhiều nhất, 161 tỷ đô-la, tăng 181% so với đầu thập kỷ 80. Tiếp theo là Achentina, 139 tỷ, tăng 127% so với năm 1991.

    Mặc dù Mexico, Achentina và Brazil là ba con nợ lớn ở Mỹ La-tinh, nhưng so với hoàn cảnh của các quốc gia nhỏ khác có nền kinh tế yếu kém hơn rất nhiều như Hondurat, Nicaragua, Bolivia và Guyanna thì với tổng số nợ 16 tỷ đô-la, tương lai của họ bi đát hơn nhiều.

    Tại khu vực Đông Nam Á, nhiều quốc gia cũng đang sống dở chết dở vì nợ nước ngoài. Bước sang những năm đầu tiên của Thiên niên kỷ thứ 3, nợ nước ngoài của Indonesia đã đạt con số 150 tỷ và nước này trở thành một trong bốn con nợ lớn nhất thế giới, sau Mexico, Brazil và Achentina. Năm 1999, Indonesia đã phải dùng đến hơn 50% thu nhập từ xuất khẩu để trả lãi và khấu hao nợ hàng năm.

    Philipine, quốc gia được Hoa Kỳ ưu ái nhất Đông Nam Á, ngay từ tháng 10 năm 1983 đã phải tuyên bố là không thể tiếp tục trả lãi suất và khấu hao nợ hàng năm của món nợ nước ngoài 24 tỷ đô-la nhằm tìm kiếm một sự thoả hiệp từ các ngân hàng phương Tây. Và cũng giống như trường hợp của các quốc gia con nợ Mỹ La-tinh, Philipine đã được các tổ chức tài chính đa quốc gia "ưu ái" cho vay thêm tiền để trả cho chính họ khoản lãi và khấu hao cơ bản của số tiền họ cho quốc gia này vay trước đó.

    Những số liệu trích từ báo cáo của Michael Adamson, một nhà kinh tế người Mỹ dưới đây sẽ tự nó nói lên mức độ trầm trọng của việc trả lãi suất và khấu hao của món nợ nước ngoài của Philipine. Năm 1985, nếu như Chính phủ Philippine chỉ phải dành ra 22 tỷ pê-sô (khoảng 900 triệu đô-la theo thời giá) trong tổng số thu nhập 67 tỷ pê-sô để trả lãi và khấu hao tiền vay hàng năm thì đến năm 1999, con số này đã là 100 tỷ pê-sô (hơn 3 tỷ đô-la theo thời giá) trong tổng số thu nhập hàng năm 120 tỷ pê-sô.

    Nếu năm 1980, cứ chi 4 đô-la cho giáo dục thì Philippine phải chi 3 đô-la trả lãi và khấu hao nợ nước ngoài. Các con số tương ứng là 10 và 22 đô-la của năm 1985 và 30 và 100 năm 1989.

    Nói theo cách khác, tổng số tiền từ thu thuế của Chính phủ Philipine, khoảng 95 tỷ pê-sô năm 1989 đã không đủ để trả khoản tiền 100 tỷ pê-sô lãi và khấu hao nợ nước ngoài của chính năm đó.

    Lệ thuộc vì nợ

    Từ chỗ bị lệ thuộc vào phương Tây bởi nợ nước ngoài, Chính phủ các quốc gia con nợ đã tiến dần đến chỗ bị lệ thuộc về cả kinh tế lẫn chính trị. Để lấy lòng Hoa Kỳ, Mexico đã cam kết trong NAFTA sẽ đối xử với các công ty Mỹ đầu tư ở Mexico như các công ty trong nước, thậm chí còn hơn.

    Thí dụ, Chính phủ Mexico cam kết sẽ bồi thường cho bất kỳ công ty Mỹ nào bị thiệt hại do thay đổi chính sách ở nước này. Điều đó dẫn đến một vụ việc chưa từng có là Chính phủ Mexico đã đồng ý cho một công ty Mỹ đầu tư vào bãi chứa chất thải độc hại ở Mexico. Nhưng khi chính quyền thành phố nơi có bãi chứa từ chối bởi lo sợ hiểm hoạ môi trường, công ty Mỹ đã kiện và Chính phủ Mexico đã phải bồi thường cho họ số tiền mà họ có thể kiếm được nếu được phép đầu tư.

    Tại Indonexia, cuối năm 1999, khi Chính phủ nước này định can thiệp vào quá trình Đông Ti-mo tách ra khỏi Indonesia, các quốc gia phương Tây chỉ mới đe dọa ngừng cho Indonesia vay tiền, Chính phủ đã phải ngay lập tức án binh bất động và chấp nhận cho Úc đưa quân đội đến Đông Ti-mo.

    Và bài học phải chi cho đúng

    Để có vốn tiến hành công nghiệp hoá và hiện đại hoá, việc vay nợ nước ngoài là cần thiết. Nhiều quốc gia đi trước Việt Nam như Singapore, Hàn Quốc, Malaysia và Trung Quốc đều phải vay nợ nước ngoài. Tuy nhiên, Chính phủ các quốc gia đó chỉ vay tiền để đầu tư vào hạ tầng cơ sở thiết yếu nhất để phục vụ phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo.

    Tiền vay được quản lý cực kỳ chặt chẽ theo những nguyên tắc riêng và được sử dụng cực kỳ hiệu quả. Họ không vay tiền nước ngoài để làm những dự án làng nhàng kiểu như đắp các con lươn/chạch mỗi ngã tư rồi lại phá đi, hoặc trả tiền công cho nông dân bảo vệ rừng của chính mình, hoặc làm đẹp đô thị và xây dựng hệ thống toa-let ở một thành phố, hoặc làm những dự án quá khủng trong khi hạ tầng kỹ thuật trong nước chưa có gì, hoặc hoạch định những dự án không tưởng như đường sắt cao tốc...

    Hạ tầng cơ sở của các quốc gia nói trên đã được quy hoạch và xây dựng theo tinh thần "chỉ làm một lần" nên có chất lượng rất cao, không phải làm xong rồi thì lại phải sửa ngay lập tức hoặc vài năm sau lại xoá đi làm lại hoặc nâng cấp và mở rộng.

    Nếu cứ tiếp tục đi vay và sử dụng tiền vay như Hy Lạp đã làm trong những thập kỷ vừa qua, chắc chắn di sản có thể để lại cho tương lai là một món nợ khổng lồ. Xem ra đây cũng là bài học không thừa cho Việt Nam và các quốc gia đang phát triển quá nóng.