2009: Minh bạch giảm, nhũng nhiễu tăng

  • Bởi tqvn2004
    14/01/2010
    0 phản hồi

    Phải trả phí "bôi trơn"

    Một trong những chỉ số quan trọng để làm tiêu chí khi xếp hạng là tính minh bạch, mặc dù có sự cải thiện lớn song năm 2009 lại đảo chiều.

    Cụ thể, để tiếp cận tài liệu kế hoạch của tỉnh và tỷ lệ doanh nghiệp cho rằng phải có “mối quan hệ” mới tiếp cận được các tài liệu liên quan đến hoạt động kinh doanh (61,26%) giảm về mức năm 2006.

    Tương tự, số doanh nghiệp cho rằng có thể dự đoán được việc thực thi pháp luật của tỉnh (8,4%) và phải thương lượng với cán bộ thuế địa phương (41%) giảm xuống dưới mức năm 2007.

    Các tác giả bảng xếp hạng cho rằng, kết quả này là đáng lo ngại này trùng khớp với kết quả phân tích dữ liệu trên nhóm doanh nghiệp tham gia trả lời điều tra PCI liên tục trong nhiều năm.

    Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này chưa được làm rõ.

    Tuy nhiên, điều khó hiểu là trong khi việc doanh nghiệp tiếp cận tài liệu văn bản pháp lý (như luật, nghị định và các văn bản hướng dẫn) dễ dàng hơn thì lại khó khăn khi muốn tìm hiểu các văn bản, tài liệu kế hoạch tại địa phương.

    Trong đó, ngân sách tỉnh và các kế hoạch sử dụng đất được coi là các thông tin khó tiếp cận nhất, còn khả năng tiếp cận với các kế hoạch về cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế xã hội cũng giảm mạnh so với năm 2008.

    Gợi ý trả lời câu hỏi này, hai chuyên gia Phan Vinh Quang và John Bently cho rằng, chính phủ Việt Nam đã bắt đầu có xu hướng sử dụng công văn thay vì ban hành văn bản quy phạm pháp luật, với 9.470 công văn có bao hàm các nội dung quy phạm pháp luật được ban hành từ năm 2005 tới 2008 - nhiều gấp 3 lần số công văn được ban hành trong 18 năm trước đó (giai đoạn 1987-2004).

    Trước năm 2004, trung bình một tỉnh có 19 công văn trên 81 văn bản quy phạm pháp luật, nay tỷ lệ này đã tăng tới 55/45.

    Cách sử dụng phổ biến các công văn không minh bạch này đã tạo ra một “rừng văn bản pháp luật”, trong đó “ngay cả chuyên gia cũng bị lạc chứ chưa kể đến người dân và các nhà đầu tư".

    Trong “khu rừng” này, có "mối quan hệ" trở nên đặc biệt quan trọng, bởi chỉ có một vài cá nhân có đặc quyền mới biết cách định hướng.

    Điều nguy hiểm, việc chỉ đạo lập kế hoạch được thực hiện ngày càng nhiều bằng công văn, và sự "bùng nổ" của dạng văn bản này chính là lời giải cho cả hai câu hỏi về khả năng tiếp cận tài liệu kế hoạch của tỉnh giảm và tầm quan trọng của các mối quan hệ để tiếp cận các tài liệu này tăng.

    Ngoài ra, các chỉ số khác như chi phí không chính thức cũng không có cải thiện nào đáng kể. Thậm chí, còn bộc lộ xu hướng đáng lo ngại khác khi có tới 52% doanh nghiệp tại tỉnh trung vị tin rằng cán bộ tỉnh sử dụng các quy định riêng của tỉnh với mục đích trục lợi, tăng so với 37% năm 2008 và 2007.

    Kết quả này phù hợp với kết quả ở trên của nhóm nghiên cứu về giảm tính minh bạch. Quy định của địa phương càng kém minh bạch thì càng có lỗ hổng cho các cán bộ tắc trách trục lợi.

    Hơn nữa, 53% doanh nghiệp cho biết cần phải trả hoa hồng để có được hợp đồng với các cơ quan nhà nước, dấu hiệu xấu về nạn nhũng nhiễu trên diện rộng.

    Kết quả nghiên cứu của VCCI chứng tỏ, tham nhũng ở quy mô lớn có xu hướng phát triển. Các doanh nghiệp nhỏ sẽ khó cạnh tranh khi tham gia đấu thầu các hợp đồng của cơ quan nhà nước.

    Trong khi đó, tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh sụt giảm. Chỉ có 43% doanh nghiệp tin tưởng chính quyền tỉnh có thái độ tích cực với khu vực tư nhân, giảm 10 điểm phần trăm so với mức năm 2008. Việc giải quyết những trở ngại của doanh nghiệp tại địa phương cũng thấp hơn.

    Đây là một kết quả khó giải thích, bởi trong bối cảnh phân cấp mạnh mẽ và đạt được các tiến bộ về cải cách hành chính công, các cán bộ lãnh đạo tỉnh được mong đợi là năng động và tiên phong hơn.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi