Nobel kinh tế 2009: Những người chống chủ thuyết cha chung

  • Bởi tqvn2004
    15/10/2009
    0 phản hồi
    Chủ đề: Kinh tế

    Các công trình của Williamson và Ostrom ít liên quan trực tiếp với nhau nhưng cùng nhấn mạnh rằng thị trường không phải là tất cả, không phải là liều thuốc vạn năng giải quyết được tất cả các vấn đề. Đây cũng là một lời nhắc nhở cho nhiều nhà kinh tế rằng vấn đề trọng tâm của kinh tế học không phải là thị trường mà là phân bổ nguồn lực. Thị trường xuất hiện bởi nó có thể giải quyết một số vấn đề phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn các phương án khác nhưng nó không phải luôn là phương án duy nhất hay tốt nhất.

    Trong một số trường hợp, các hình thức thể chế khác như tổ chức hãng (đóng góp của Willamson) hay sự tự quản lý nguồn lực chung của người sử dụng tài nguyên (đóng góp của Ostrom) có thể là giải pháp hiệu quả hơn thị trường.

    Williamson đi sâu vào việc phát triển lý thuyết hãng nhằm giải thích tại sao các hãng kinh doanh lại ra đời, tại sao lại có xu hướng hội nhập dọc (vertical integration) giữa các hãng có liên kết chặt chẽ giữa đầu vào và đầu ra. Trong khi đó, Ostrom tìm hiểu về cơ chế kiểm soát hữu hiệu đối với các tài nguyên chung để tránh việc các tài nguyên này bị rơi vào tình trạng khai thác cạn kiệt.

    Oliver E. Williamson và vai trò của cấu trúc hãng trong giải quyết xung đột

    Kinh tế học tân cổ điển thường giả định rằng các đơn vị ra quyết định kinh tế là có sẵn, đồng dạng và tập trung vào cách thức chúng tương tác với nhau trên thị trường. Trong một mô hình kinh tế học tân cổ điển đơn giản sẽ chỉ có hai đơn vị ra quyết định kinh tế là hộ gia đình và hãng. Tất cả các hộ gia đình đều giống nhau và tất cả các hãng đều giống nhau.

    Nhưng kinh tế học tân cổ điển không giải thích được tại sao các hãng lại có quy mô khác nhau? Tại sao lại có các công ty đa quốc gia? Làm thế nào mà từ một tiệm tạp hóa nhỏ tại một thị trấn với dân số chưa đến 3000 người ở bang Arkansas, Wal-Mart lại biến mình thành một hãng có doanh số hơn 400 tỷ đô-la và thuê mướn hơn 2 triệu người trên toàn thế giới?

    Tại sao trong một số lĩnh vực xảy ra liên kết ngành theo chiều dọc, ví dụ giữa một mỏ than và một công ty điện, nhưng liên kết này lại không xảy ra tại một số ngành khác? Muốn trả lời những câu hỏi này, cần đi xa hơn phạm vi của kinh tế học cổ điển để tìm hiểu về lý thuyết hãng.

    Theo nhà kinh tế Ronan Coase, các hãng hình thành khi xuất hiện chi phí giao dịch, tức là khi chi phí trao đổi hàng hóa, dịch vụ và tiền tệ thấp hơn khi giao dịch trong hãng thay vì ở ngoài thị trường. Tuy Coase là người đầu tiên nêu ra ý tưởng này nhưng ông không giải thích được cụ thể đâu là điểm mấu chốt dẫn tới sự ra đời hãng.

    Phát triển ý tưởng của Coase, Oliver Williamson cho rằng hãng ra đời vì chúng cho phép giải quyết tốt xung đột. Trên thị trường, nếu xảy ra xung khắc giữa hai đối tác, cả hai bên sẽ phải thỏa thuận với nhau cho tới khi cả hai cùng đồng ý.

    Thế nhưng trong một công ty, nếu có xung khắc giữa hai nhân viên, hay giữa hai bộ phận của công ty thì người giám đốc điều hành sẽ là người quyết định giải quyết xung đột. Do vậy, hãng ra đời vì nó là một hình thức hiệu quả giảm chi phí giao dịch phát sinh từ xung đột giữa các chủ thể.

    Tuy nhiên điều này không có nghĩa là hình thức hãng luôn hiệu quả hơn so với các hình thức khác. Lấy ví dụ, tại sao một công ty phần mềm Mỹ lại thuê ngoài (outsource) với một đối tác ở Bengal, Ấn Độ thay vì sát nhập đối tác này để giảm chi phí giao dịch. Williamson chỉ ra rằng không phải lúc nào hãng cũng hiệu quả.

    Một hạn chế của hình thức tổ chức này là việc những người điều hành có thể lợi dụng vị trí của mình để thu vén lợi nhuận riêng cho mình hay lạm dụng quyền lực, dẫn dắt công ty vào những hoạt động mạo hiểm hay thua lỗ. Những bê bối lãng phí, tham nhũng hay lạm quyền của giới điều hành các đại công ty như Enron hay AIG trong những năm gần đây đã cho thấy những hạn chế này có thể gây những hậu quả tai hại thế nào tới hoạt động của hãng nói riêng và của nền kinh tế nói chung.

    Trong những trường hợp nào, hãng sẽ ra đời? Williamson cho rằng có hai trường hợp: đó là khi các giao dịch phức tạp hay khi các đối tác phụ thuộc lẫn nhau. Giao dịch phức tạp xảy ra khi các chi phí giao dịch như chí phí lập và thực hiện hợp đồng quá lớn. Trong khi đó, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các đối tác sẽ cao hơn trong trường hợp các tài sản liên quan giữa chúng có tính đặc thù cao.

    Lấy ví dụ, một hãng sản xuất điện có thể liên kết với một mỏ khai thác than vì than là sản phẩm có tính đặc thù cao và chỉ có thể bán cho công ty sản xuất điện. Nhưng quy mô sự liên kết này còn phụ thuộc vào khoảng cách từ mỏ than tới người mua than thứ hai. Nếu khoảng cách này càng xa thì sự phụ thuộc giữa mỏ than và công ty điện nói trên càng lớn và khả năng liên kết theo chiều dọc giữa hai hãng này càng cao.

    Các nghiên cứu của Williamson được nhiều người đi sau áp dụng rộng rãi và kiểm chứng trên thực tế. Tuy nhiên, một đóng góp quan trọng của ông là góp phần thay đổi tư duy, bớt đi cái nhìn tiêu cực của nhiều nhà kinh tế, người dân và chính quyền đối với sát nhập. Từ chỗ xem hội nhập dọc như hiện tượng "cá lớn nuốt cá bé", tới nay dư luận đã cho rằng hầu hết vụ sát nhập có tác dụng làm tăng hiệu quả kinh doanh.

    Elinor Ostrom - đi tìm lời giải cho cơ chế quản lý tài nguyên hiệu quả

    Tài nguyên dùng chung (common-pool resources) là những tài nguyên mà nhiều người có thể sử dụng nhưng việc tiêu dùng của người này làm giảm khả năng tiêu dùng của người kia. Các ví dụ quen thuộc về tài nguyên này gồm có bãi cá, đồng cỏ, rừng nước cho thủy lợi. Ở quy mô lớn hơn, không khí và đại dương cũng là các tài nguyên chung.

    Việc khai thác quá mức tài nguyên chung là hiện tượng thường thấy. Năm 1968, nhà sinh vật học Garrett Hardin nhận xét rằng hiện tượng khai thác quá mức tài nguyên chung đang tăng lên trên toàn cầu. Ông gọi nó bằng một cái tên bắt mắt là "Bi kịch của cái chung" (The Tragedy of the Commons).

    Kinh tế học đưa ra hai phương án chủ yếu giải quyết vấn đề "bi kịch của cái chung" này. Phương án thứ nhất là tư nhân hóa. Lập luận đằng sau việc tư nhân hóa cho rằng bằng cách biến "cái chung" thành cái riêng và tăng cường hiệu lực thực thi quyền sở hữu, có thể tạo ra thị trường hiệu quả cho tài nguyên chung với mức giá phản ánh đúng giá trị của chúng với người sử dụng.

    Phương án thứ hai là đánh thuế trên tài nguyên này, thường được gọi là thuế Pigou do được đề xuất bởi nhà kinh tế Pigou. Tuy nhiên, nhà kinh tế học Coase - người đưa ra lý thuyết về chi phí giao dịch - đã chứng minh rằng thuế Pigou chỉ có hiệu quả trong điều kiện thị trường hoàn hảo khi không có chi phí giao dịch. Trên thực tế, chi phí giao dịch đối với tài nguyên của chung là đáng kể khiến cho việc đánh thuế Pigou trở nên thiếu hiện thực và có tác dụng sai lệch.

    Điểm chung của cả hai phương án này là áp dụng các quy định từ bên ngoài cộng đồng, thường do chính quyền trung ương tiến hành: hoặc dưới hình thức thuế hay hạn ngạch, hoặc bằng cách tư nhân hóa. Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong nhiều trường hợp, cả hai phương án này đều thất bại.

    Căn cứ vào rất nhiều nghiên cứu về quản lý tài nguyên, Elinor Ostrom nhận thấy việc quản lý tài nguyên chung của cộng đồng thường được thực hiện rất tốt. Do vậy, bà đề xuất giải pháp thứ ba: đó là giữ nguyên tính chất "của chung" của tài nguyên và để người sử dụng tự tạo ra hình thức quản lý phù hợp cho mình.

    Bằng các kết quả nghiên cứu tại hiện trường ở Trung Quốc, Mông Cổ, Nepal và nhiều nước đang phát triển khác, Ostrom khẳng định không phải lúc nào cơ chế quản lý tài nguyên chung cũng là một "bi kịch". Trong nhiều trường hợp, các thể chế quản lý tài nguyên chung của cộng đồng tỏ ra hiệu quả và có tính bền vững.

    Trái lại, nhiều quy định hạn chế sử dụng tài nguyên của chính phủ với mục đích bảo vệ các tài nguyên này lại trở thành phản tác dụng do chính quyền trung ương thiếu hiểu biết về hoàn cảnh cũng như tập quán của địa phương.

    Một ví dụ là dân du mục sinh sống ở đồng cỏ ở Mông Cổ thường di chuyển đàn gia súc của mình từ bãi chăn thả này sang bãi chăn thả khác. Truyền thống này được thực hiện hàng ngàn năm cho tới khi chính phủ trung ương xây dựng các hợp tác xã tập thể và buộc người du cư phải sống định cư. Thế nhưng việc định cư này đã gây ra các hậu quả tai hại do những người chăn thả sẽ thả gia súc ở những bãi cố định, và làm cho các đồng cỏ quanh nơi họ sinh sống bị cạn kiệt.

    Chính sách tư nhân hóa sau cải cách được áp dụng tại đây cũng mang lại các hậu quả về tài nguyên không kém phần bi kịch do chính sách này khuyến khích định cư và sở hữu tư nhân. Hậu quả là tài nguyên đất xuống cấp hơn nữa.

    Đọc công trình nghiên cứu của Ostrom, người đọc có thể liên tưởng tới những kinh nghiệm quản lý tài nguyên rừng ở Tây Nguyên trước đây và hiện trạng đất rừng bị xói mòn ở Tây Nguyên hiện nay.

    Tất nhiên, việc tự quản lý của cộng đồng không phải lúc nào cũng thành công. Có nhiều ví dụ cho thấy tư nhân hóa hay quy định của chính phủ mang lại các kết quả tốt hơn. Một trong những phát hiện quan trọng của Ostrom là để cho việc quản lý tài nguyên chung hiệu quả, quá trình ra quyết định phải mang tính chất dân chủ, tức là đa số người sử dụng phải có quyền tác động tới việc điều chỉnh thay đổi quy định. Chính quyền phải tôn trọng quyền của cộng đồng những người sử dụng tài nguyên. Thêm vào đó, việc giám sát và thực thi nên do những người sử dụng tự thực hiện thay vì do người bên ngoài.

    Ở một khía cạnh khác liên quan tới phương pháp luận, Ostrom là người tiên phong trong việc sử dụng kết quả nghiên cứu hiện trường để đề ra lý thuyết kinh tế. Mặt khác, bà cũng rất coi trọng việc nghiên cứu hành vi con người trong các điều kiện thí nghiệm. Ở góc độ này, bà đã kết hợp giữa kinh tế học với tâm lý học, và tiếp nối truyền thống của nhà kinh tế được giải thưởng Nobel Vernon Smith.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi