VN có nhượng bộ TQ về biên giới không?

Chia sẻ bài viết này

Hiệp ước Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc được ký năm 1999

Vấn đề biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc luôn thu hút sự quan tâm và tranh cãi trong dư luận người Việt trong và ngoài Việt Nam.

Cho đến hôm nay, Hiệp ước Biên giới trên đất liền được hai nước ký năm 1999 vẫn gây ý kiến trái ngược.

Một nhà nghiên cứu về tranh chấp Biển Đông, Dương Danh Huy, mới đây gửi cho BBC bài viết về chính sách thông tin của Việt Nam liên quan biên giới lãnh thổ và ranh giới biển. Bài viết đặt ra một số câu hỏi cho Tiến sĩ Trần Công Trục, cựu trưởng ban Biên giới Chính phủ Việt Nam, sau khi ông Trục, trên báo Việt Nam, kể lại những năm đàm phán biên giới với Trung Quốc.

Khi được Lê Quỳnh của BBC liên lạc, ông Trần Công Trục đồng ý trả lời những "băn khoăn" về cuộc đàm phán biên giới trên bộ và phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Xin giới thiệu với quý vị hai bài viết muốn giải đáp thêm các câu hỏi về quá trình đàm phán giải quyết vấn đề biên giới, lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Ý kiến của ông Dương Danh Huy

Cho đến nay vẫn có có nhiều ý kiến khác nhau về tính công bằng của hai hiệp định Việt-Trung về ranh giới trên bộ và về vịnh Bắc Bộ được ký vào năm 1999 và 2000.

Mới đây, trả lời phỏng vấn trên báo Giáo dục Việt Nam về hai hiệp định này, TS Trần Công Trục, nguyên trưởng ban Biên giới Chính phủ Việt Nam, nói:

“Điều đáng nói là không chỉ dư luận người dân mà ngay cả những người làm công tác nghiên cứu, các nhà khoa học lẫn những nhà quản lý, lãnh đạo vẫn còn nhiều người mơ hồ, lăn tăn về chuyện này. Thậm chí có người suy đoán “chắc là dư luận nói đúng” bởi vì họ nghĩ Việt Nam là nước nhỏ, nước yếu ở cạnh một nước mạnh, nước lớn như TQ thì phải có sự nhượng bộ không thể tránh khi đàm phán tranh chấp biên giới, lãnh thổ.”

Điều TS Trần Công Trục nói đến là do một khuyết điểm cơ bản trong chính sách của Việt Nam về thông tin liên quan đến biên giới lãnh thổ và ranh giới biển.

Trấn an?

Nếu Việt Nam công bố minh bạch và đầy đủ thông tin thì đã không có nhiều người làm công tác nghiên cứu, nhà khoa học, nhà quản lý, lãnh đạo “mơ hồ, lăn tăn” về các hiệp định lãnh thổ và biển, mà dư luận người dân cũng đã đỡ xôn xao. Thông tin đó không thể dựa trên việc quan chức hé ra một phần, không thể được thay thế bằng thông tin hành lang, hay những lời khẳng định, trấn an. Ngược lại, Việt Nam phải có chính sách cung cấp cho nhân dân thông tin chính thức, minh bạch và đầy đủ, theo tư duy 3C, “Công khai, Công luận, Công pháp quốc tế”.

Cho tới nay, mặc dù tọa độ của các cột mốc đã được công bố, vẫn chưa có thông tin đầy đủ và minh bạch về cuộc đàm phán dẫn đến chúng.

Không thể bác bỏ những suy đoán mà TS Trần Công Trục đề cập đến, hay những suy đoán khác, bằng những lời phủ định “chay”. Để bác bỏ chúng, cần công bố những thông tin như: trong đàm phán Việt Nam đã đòi gì, Trung Quốc đã đòi gì, mỗi bên đã đưa ra dẫn chứng và lập luận gì cho yêu sách của mình, và cuối cùng mỗi bên được gì với lý do gì. Người quan tâm sẽ dùng những thông tin đó để đánh giá giá trị pháp lý của chứng cứ của mỗi bên và tính công bằng của thỏa hiệp.

Nếu thay thế những thông tin đó bằng những lời trấn an thì nhân dân không thể biết có bên nào đã ngang ngược hay không, và bên kia có đã đành phải chấp nhận hay không; họ chỉ có thể lựa chọn giữa có tin lời trấn an hay không. Lãnh thổ là của nhân dân cho nên họ phải được hơn như thế: họ phải được có thông tin về đàm phán lãnh thổ và biển. Các lời khẳng định, các lời trấn an, tin hành lang và tin đồn là không đáp ứng đủ quyền được biết của nhân dân.

Nhưng cho tới nay, mặc dù tọa độ của các cột mốc đã được công bố, vẫn chưa có thông tin đầy đủ và minh bạch về cuộc đàm phán dẫn đến chúng.

Khu vực Núi Đất

Một thí dụ là khu vực Núi Đất, mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn và đánh chiếm vào tháng 4 năm 1984. Vào tháng 7 năm 1984 Quân đội Nhân dân Việt Nam đã mở chiến dịch kéo dài nhiều năm, chiến đấu quyết liệt để giành lại những vùng bị Trung Quốc chiếm đóng. Với xương máu của rất nhiều người lính, Việt Nam đã giành lại được nhiều phần.

Trên bàn đàm phán, Việt Nam cũng đã giành lại được một số mỏm núi. Theo thông tin không chính thức từ phía Trung Quốc và phía Việt Nam thì có một mỏm có vẻ như cả hai bên không chối cãi là của Việt Nam, nhưng Trung Quốc đã xây nghĩa trang quân đội trên đó và họ chủ trương là khu vực nghĩa trang là bất khả xâm phạm.

Việt Nam có cuộc chiến biên giới với Trung Quốc tháng Hai 1979

Có việc đó hay không? Nếu có thì vì lý do nào mà Việt Nam đã chấp nhận? Vì nhân đạo và địa chính trị, hay vì không có đủ chứng cứ pháp lý, hay lý do nào khác? Tại sao thông tin không được công bố?

Vịnh Bắc Bộ

Một thí dụ khác là ranh giới trong vịnh Bắc Bộ. Ban đầu Việt Nam chủ trương kéo dài đường phân định trong Hiệp định Pháp-Thanh 1887 để chia cả lãnh hải 12 hải lý và vùng đặc quyền kinh tế bên ngoài 12 hải lý, nhưng Trung Quốc đã không chấp nhận. Sau đó Việt Nam chủ trương chia theo luật quốc tế về phân định biển. Theo tài liệu đã công bố của nhân viên nhà nước có chức năng thì Trung Quốc chủ trương chia đều 50:50, không cần đến lập luận pháp lý. Cuối cùng hai bên đã thỏa hiệp bằng tỷ lệ 53:47 nghiêng về Việt Nam.

Điều quan trọng ở đây là phải có thông tin chính thức và có tranh luận khoa học, duy lý. Đó cũng là nguyên tắc chung cho việc nhận định về các hiệp đinh biên giới, ranh giới.

Theo bản đồ độ phân giải cao thì nhiều điểm trong đường phân định vùng đặc quyền kinh tế trong vịnh Bắc Bộ nằm gần lãnh thổ Việt Nam hơn lãnh thổ Trung Quốc. Nổi bật nhất là điểm 17 nằm gần bờ biển Hà Tĩnh hơn đảo Hải Nam khoảng 50 km, và điểm 14 nằm gần bờ biển Nam Định hơn đảo Hải Nam khoảng 37 km. Trong khi đó, không có điểm nào nằm gần lãnh thổ Trung Quốc hơn lãnh thổ Việt Nam. Nếu lấy một đường trung tuyến nào đó làm chuẩn (có thể có vài đường trung tuyến khác nhau đều tương đối hợp lý) thì có thể nói là Việt Nam được ít hơn đường trung tuyến ít nhất là nhiều trăm cây số vuông.

Vì vậy, mặc dù lời phê phán rằng Hiệp Định Pháp-Thanh 1887 đã chia toàn bộ vịnh Bắc Bộ là lời phê phán không hợp lý, nhưng quan điểm chính thức của Việt Nam, rằng Hiệp Định vịnh Bắc Bộ 2000 là công bằng, cũng là quan điểm chưa thuyết phục.

Có thể cho rằng hiệp định đó là đại khái công bằng ở một mức nào đó, nhưng mức đó có là công bằng đủ hay không thì là điều có thể tranh luận. Trong tranh luận đó, thể có người cho rằng trước một Trung Quốc vừa mạnh, vừa tham, bất chấp luật quốc tế, thì việc Việt Nam đạt được mức công bằng đó là khá rồi, và có thể có người có quan điểm ngược lại.

Cũng có thể có người cho rằng việc được ít hơn đường trung tuyến đó là giá phải chăng cho việc có một ranh giới ổn định trong vịnh Bắc Bộ, và có thể có người có quan điểm ngược lại.

Điều quan trọng ở đây là phải có thông tin chính thức và có tranh luận khoa học, duy lý. Đó cũng là nguyên tắc chung cho việc nhận định về các hiệp đinh biên giới, ranh giới.

Ý kiến ông Trần Công Trục

Việt - Trung ra Tuyên bố chung về hoàn thành công tác phân giới cắm mốc trên biên giới đất liền ngày 31/12/2008

Trước hết, tôi xin cảm ơn và hoan nghênh sự quan tâm và bày tỏ một số băn khoăn thắc mắc của học giả Dương Danh Huy sau khi đọc nội dung trả lời phỏng vấn của tôi đăng trên trang báo Điện tử Giáo dục Việt Nam gần đây.

Ông Dương Danh Huy là học giả quen biết của độc giả Việt Nam và quốc tế quan tâm đến lĩnh vực biên giới, lãnh thổ, đặc biệt là vấn đề biển, đảo, trong đó có tôi. Tôi đã đọc, nghiên cứu khá kỹ những nội dung mà ông Dương Danh Huy đã phát biểu trên một số phương tiện thông tin truyền thông và một số công trình nghiên cứu đã đăng tải trên trang mạng điện tử “Quĩ nghiên cứu Biển Đông”. Là một công dân Việt Nam luôn tâm huyết với vấn đề biên giới, lãnh thổ, biển, đảo của Tổ Quốc, hiện nay là một người nghiên cứu độc lập, tôi tâm đắc và đánh giá cao những công trình nhiên cứu của ông Dương Danh Huy, tôi cũng chia sẻ với những băn khoăn, trăn trở của ông có liên quan đến kết quả đàm phán giải quyết vấn đề biên giới trên bộ và phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc trong thời gian qua.

Đúng là sở dĩ cho đến nay trong dư luận vẫn còn tồn tại những băn khoăn, thắc mắc, thậm chí vẫn còn nghi hoặc về một số thành quả của quá trình đàm phán giải quyết vấn đề biên giới, lãnh thổ với Trung Quốc, chủ yếu là do thiếu thông tin hoặc thông tin không rõ ràng, minh bạch, thậm chí mâu thuẫn nhau, chưa kể tới những thông tin thiếu trung thực, khách quan xuất phát từ những động cơ khác nhau. Đó là một thực tế ai cũng nhận ra. Dư luận đòi hỏi được cung cấp thông tin là hoàn toàn chính đáng, là nhu cầu cần kíp.

Có những nội dung có thể công khai ngay được, cũng có những nội dung chưa thề công khai ngay được, nhất là trong thởi gian đang đàm phán hoạch đinh biên giới và tiến hành phân giới cắm mốc trên thực địa.

Tuy nhiên công bằng mà nói, sở dĩ còn tình trạng này là vì có những nguyên nhân chủ quan, khách quan mà chúng ta nên bình tĩnh xem xét. Là người trong cuộc, tôi có thể nói rằng đòi hỏi của công chúng nói trên mặc dù rất chính đáng, cần thiết, nhưng những người có trách nhiệm không thể có khả năng đáp ứng ngay, kịp thời được. Bởi vì đây là vấn đề hết sức hệ trọng, nhạy cảm và rất rất phức tạp, có liên quan đến nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội. Có những nội dung có thể công khai ngay được, cũng có những nội dung chưa thề công khai ngay được, nhất là trong thời gian đang đàm phán hoạch định biên giới và tiến hành phân giới cắm mốc trên thực địa.

Mọi người đều biết thời gian đàm phán hoạch định và phân giới cắm mốc kéo dài chí ít là từ năm 1993 cho đến năm 2008, trước đó nữa là thời gian nghiên cứu chuẩn bị phương án đàm phán, mọi hồ sơ tài liệu đều phải được bảo quản theo chế độ bảo mật. Từ sau khi hoàn thành về cơ bản phân giới cắm mốc cho đến nay mới chỉ khoảng 5 năm, lại còn tiếp tục đàm phán một số nội dung quản lý biên giới, mốc giới, cửa khẩu, sử dụng sông suối biên giới chung…Với thời gian đó và với khối lượng công việc đó, có lẽ khó có thể có ai đáp ứng ngay được những đòi hỏi của dư luận. Mặc dù vậy, các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm và có liên quan cũng đã cố gắng công bố nhiều ấn phẩm khá tốt về lĩnh vực này.

Có thể nói rằng thông tin ngày càng phong phú, rõ ràng, công khai, minh bạch hơn. Mọi người có thể tìm mua tại các cửa hàng sách hay truy cập trên các trang mạng những ấn phẩm này. Tôi tin rằng các Cơ quan có trách nhiệm của Việt Nam sẽ dần dần bổ sung cung cấp đầy đủ mọi thông tin có liên quan và cần thiết. Thiết nghĩ đó cũng là trọng trách của các tổ chức, cơ quan, cá nhân có liên quan trước đòi hỏi chính đáng của công luận. Bởi vì công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của các thế hệ người Việt Nam vẫn đang tiếp diễn.

Trở lại nội dung cụ thể mà ông Dương Danh Huy nêu lên, tôi mạn phép có đôi điều bình luận theo nhận thức và thông tin mà bản thân tôi tự nắm bắt được:

Tình hình biên giới

Trước hết, có lẽ xin được phép nhắc lại khái quát về tình hình biên giới đất liền Việt Nam-Trung Quốc.

Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc dài khoảng 1.400 km tiếp giáp giữa 7 tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh của Việt Nam với tỉnh Vân Nam và khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây của Trung Quốc. Biên giới này được hoạch định và phân giới cắm mốc lần đầu tiên trong lịch sử bằng Công ước hoạch định biên giới ngày 20 tháng 6 năm 1887 và Công ước bố sung ngày 20 tháng 6 năm 1895 ký kết giữa Pháp và nhà Thanh (Trung Quốc).


Kim ngạch thương mại qua biên giới Việt - Trung đạt trên 8,6 tỷ USD năm 2012

Trong hơn 100 năm kể từ khi Công ước Pháp Thanh được ký kết, biên giới giữa 2 nước đã trải qua nhiều biến đổi trên thực địa do thời tiết, do biến đổi địa hình địa vật và do những biến động chính trị, xã hội ở mỗi nước cũng như trong quan hệ giữa 2 nước, đặc biệt là cuộc chiến tranh biên giới năm 1979. Vì vậy, đã nẩy sinh những tranh chấp hết sức phức tạp từ nhận thức khác nhau về hướng đi của biên giới cho đến lịch sử quản lý thực tế về biên giới…Chẳng hạn, lời văn mô tả và bản đồ có nơi không đầy đủ, chính xác, rõ ràng; các cột mốc biên giới được cắm từ cuối thế kỷ XIX không được xác định bằng lưới tọa độ, nhiều mốc bị hư hỏng, bị mất, xê dịch, nhiều mảnh bản đồ gốc không còn; trên một số khu vực biên giới xẩy ra sự chuyển dịch dân cư không theo biên giới pháp lý…

Từ tình hình nói trên, nhằm xác định lại chính xác biên giới để quản lý biên giới lãnh thổ tốt hơn, tránh những tranh chấp phức tạp xẩy ra làm ảnh hưởng đến quan hệ chính trị giữa hai nước, ảnh hưởng đến môi trường hòa binh, ổn định, hợp tác và phát triển của mỗi nước…, ngay sau khi bình thường hóa quan hệ tháng 11 năm 1991, hai bên đã thỏa thuận tiến hành đàm phán hoạch định biên giới mới thay cho Công ước Pháp - Thanh 1887, 1895 và tiến hành phân giới cắm mốc tại thực địa dựa trên nội dung của Hiệp ước hoạch định biên giới mới này. Quá trình đàm phán đã diễn ra như sau:

- Từ năm 1990, sau khi hai nước khôi phục quan hệ, từ 7-11-1991 đến 10-11-1991 đã ký hiệp định tạm thời về việc giải quyết công việc trên vùng biên giới: quản lý biên giới theo tình hình thực tế; thẩm quyền giải quyết biên giới cấp Chính phủ; giữ mốc biên giới.

Trong hơn 100 năm kể từ khi Công ước Pháp Thanh được ký kết, biên giới giữa 2 nước đã trải qua nhiều biến đổi trên thực địa do thời tiết, do diến đổi địa hình địa vật và do những biến động chính trị, xã hội ở mỗi nước cũng như trong quan hệ giữa 2 nước, đặc biệt là cuộc chiến tranh biên giới năm 1979.

- Từ năm 1992, đàm phán lần thứ 4 diễn ra ngày 19-10-1993 ký thoả thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa 2 nước; trong thỏa thuận này, hai bên đã nhất trí mở ra 4 diễn đàn đàm phán về biên giới lãnh thổ (3 cấp chuyên viên và 1 cấp Chính phủ) và đặc biệt đã thống nhất được căn cứ pháp lý để đàm phán là: “Hai bên đồng ý căn cứ vào Công ước hoạch định biên giới ký giữa Pháp và Trung Quốc ngày 26-6-1887 và Công ước bổ sung Công ước hoạch định biên giới 20-6-1895, cùng các văn kiện và bản đồ hoạch định, cắm mốc kèm theo đã được Công ước và Công ước bổ sung nói trên xác nhận hoặc quy định; đối chiếu xác định lại toàn bộ đường biên giới trên đất liền giữa VN và TQ…”

- Như vậy, mọi tư liệu lịch sử, bản đồ, sách giáo khoa, thậm chí cả các tài liệu chính thức đã xuất bản trước thời điểm này, nếu không được xác nhận là một bộ phận của Công ước nói trên, đều không có giá trị dùng làm căn cứ để xác định hướng đi của đường biên giới trong quá trình đàm phán lần này.

- Thực hiện Thỏa thuận nói trên, từ tháng 2/1994 đến tháng 12/1999, 2 bên đã họp 6 vòng cấp Chính phủ, 16 vòng nhóm công tác liên hợp, 3 vòng nhóm soạn thảo Hiệp ước.

- Tại vòng 2 (tháng 7/1994) nhóm công tác đã trao bản đồ chủ trương, qua đối chiếu có 870km/1360km đường biên giới trùng nhau (67%), 436km/1360km, 289 khu vực không trùng nhau với tổng diện tích 236,1km2 trong đó có 74 khu vực loại A (1,87km2) kỹ thuật vẽ chồng lấn nhau, 51 khu vực loại B (3,062km2) không vẽ tới, 164 khu vực loại C do quan điểm 2 bên khác nhau, trong đó có một số khu vực tranh chấp trên thực địa.

- Đàm phán cấp Chính phủ vòng 6 (25-28 tháng 9 năm 1998) thống nhất phân khu vực C thành 3 loại: khu vực Công ước đã quy định rõ ràng, khu vực một bên quản lý quá hoặc vạch quá đường biên giới, khu vực Công ước không qui định rõ ràng để xử lý theo nguyên tắc đã thỏa thuận, chẳng hạn:

1. Nguyên tắc các bên trao đổi vô điều kiện cho nhau những vùng đất quản lý quá đường biên giới: “Sau khi 2 bên đối chiếu xác định lại đường biên giới, phàm những vùng do bất kỳ bên nào quản lý quá đường biên giới về nguyên tắc cần trả lại cho bên kia không điều kiện” (Phần II, điểm 3, Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa CHXHCN VN và CHND TH, ngày 19 tháng 10 năm 1993).

  • Trong quá trình phân giới cắm mốc, đối với một số khu vực nhạy cảm do có sự tồn tại của dân cư vượt qua biên giới pháp lý mới được hoạch định thì hai bên thỏa thuận thực hiện nguyên tắc giảm tối đa tác động đến khu dân cư, điều chỉnh biên giới sao cho cân bằng về diện tích, giữ nguyên hiện trạng khu dân cư, như nhà cửa, ruộng vườn, nghĩa trang mồ mả…Thực hiện nguyên tắc này, hai bên đã thỏa thuận xử lý thỏa đáng các khu vực có dân cư sinh sống; chẳng hạn, 4 khu vực loại C( 66c, 81c, 127c, 260c) diện tích khoảng 7,2 km2 có dân cư Việt Nam sinh sống quá đường biên giới pháp lý mới về phía Trung Quốc vẫn được giữ nguyên; 5 khu vực loại C với diện tích khoảng 5,7 km2 dân TQ ở quá đường biên giới pháp lý về phía Việt Nam cũng được giữ nguyên hiện trạng.
  • Đối với khu vực điểm cao có chốt quân sự, thì các điểm cao nằm trong lãnh thổ của nước nào thì thuộc nước đó. Đối với các điểm cao nằm ngay trên đường biên thì không bên nào được phép đóng quân hay không được xây dựng bất kỳ công trình quân sự nào trên đó, phù hợp với thông lệ quốc tế.

2. Nguyên tắc giải quyết đường biên giới trên sông suối: “Đối với những đoạn biên giới đi theo sông, suối, hai bên đồng ý sẽ tính đến mọi tình hình và tham khảo tập quán quốc tế, thông qua thương lượng hữu nghị để giải quyết” (Phần II, điểm 4, Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới Việt – Trung 19 tháng 10 năm 1993). Tại vòng 5 đàm phán cấp Chính phủ, hai bên đã đạt được thỏa thuận về nguyên tắc giai quyết đường biên giới trên sông suối giữa 2 nước: Đối với những đoạn biên giới đã được Công ước 1887, 1895 xác định rõ ràng thì căn cứ vào các quy định của Công ước để xác định biên giới, cũng như sự quy thuộc các cồn bãi trên sông suối biên giới; đối với những đoạn biên giới theo sông suối chưa được Công ước xác định rõ ràng thì 2 bên sẽ áp dụng nguyên tắc phổ biến của Luật pháp và Tập quán quốc tế để xác định:

  • Trên các đoạn sông, suối tàu thuyền đi lại được đường biên giới sẽ đi theo trung tâm luồng chính tàu thuyền chạy.
  • Trên các đoạn sông suối tàu thuyền không đi lại được đường biên giới sẽ đi theo trung tâm cua dòng chảy hoặc dòng chính. Lễ hoàn thành công tác phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền ngày 23/2/2009 tại cửa khẩu Hữu Nghị, tỉnh Lạng Sơn

- Hiệp ước hoạch định biên giới được hai nước Việt Nam, Trung Quốc chính thức ký ngày 30 tháng 12 năm 1999 và được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn ngày 6 tháng 6 năm 2000 và Quốc hội Trung Quốc phê chuẩn ngày 29 tháng 4 năm 2000. Hiệp ước này mô tả hướng đi của đường biên giới bằng lời văn và thể hiện bằng đường màu đỏ trên bản đồ tỷ lệ 1/500.000. Dựa vào Hiệp ước này, từ tháng 12 năm 2001, hai bên đã tiến hành phân giới, cắm mốc.

- Đến ngày 31 tháng 12 năm 2008, công tác phân giới cắm mốc đã cơ bản hoàn thành. Kết quả là: Chiều dài biên giới chính xác là 1.449,566 km, trong đó có 383, 914 km đường biên giới đi theo sông suối; cắm được 1970 cột mốc, trong đó có 1548 cột mốc chính, 422 cột mốc phụ. Toàn bộ công việc này được tổ chức thực hiện để phân vạch đường biên giới trên thực địa một cách chính xác, cụ thể, rõ ràng, hoàn chỉnh và dược đánh dấu bằng một hệ thống mốc quốc giới chính quy, bền vững và đủ về số lượng trên thực địa. Khi tiến hành phấn giới cắm mốc, hai bên đã vận dụng các nguyên tắc đã thỏa thuận để xử lý những trường hợp có liên quan đến dân cư, tài sản, thực tế quản lý, thậm chí cả đến vấn đề tâm linh, tín ngưỡng…làm sao đảm bảo lợi ích chính đáng cho nhân dân hai bên biên giới.

Thiết nghĩ với những thông tin này có lẽ cũng có thể giúp giải đáp được phần nào những băn khoăn, thắc mắc nói trên.

Khu vực Núi Đất

Ông Dương Danh Huy đặt vấn đề rằng: “Khu vực Núi Đất, mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn…và theo thông tin không chính thức từ phía Trung Quốc và phía Việt Nam thì có một mỏm có vẻ như cả hai bên không chối cãi là của Việt Nam, nhưng Trung Quốc đã xây nghĩa trang quân đội trên đó và họ chủ trường là khu vực nghĩa trang là bất khả xâm phạm. Có việc đó hay không? Nếu có thì vì lý do nào mà Việt Nam đã chấp nhận? Vì nhân đạo và địa chính trị, hay vì không có đủ chứng cứ pháp lý, hay lý do nào khác? Tại sao thông tin không được công bố?"

Đúng là có việc Việt Nam đã đồng ý điều chỉnh chút ít hướng đi của đường biên giới ở khu vực có nghĩa trang do Trung Quốc đã xây dựng trước đây, mặc dù về pháp lý đường biên giới mà 2 bên đã xác định là phải đi qua khu vực nghĩa trang này. Theo tôi, đây là nhân nhượng tự nguyên, thỏa đáng, hợp tình hợp lý.

Theo thông tin mà tôi được biết thì đúng là có việc Việt Nam đã đồng ý điều chỉnh chút ít hướng đi của đường biên giới ở khu vực có nghĩa trang do Trung Quốc đã xây dựng trước đây, mặc dù về pháp lý đường biên giới mà 2 bên đã xác định là phải đi qua khu vực nghĩa trang này.

Theo tôi, đây là nhân nhượng tự nguyên, thỏa đáng, hợp tình hợp lý. Bởi vì đây là nhân nhượng vừa mang tính nhân văn, nhân đạo, vừa phù hợp với nguyên tắc mà hai bên đã thỏa thuận khi xác định đường biên giới đi qua khu vực có sự tồn tại của dân cư khu vực biên giới…như tôi đã đề cập ở phần trên.

Vịnh Bắc Bộ

Tôi đã đọc bài viết trên BBC của ông Dương Danh Huy có liên quan đến việc phân định Vịnh Bắc Bộ, “Nhìn lại Hiệp định Vịnh Bắc Bộ sau 10 năm”.

Tôi đánh giá cao những nhận xét của ông Dương Danh Huy về bản chất của “đường biên giới trong Vịnh Bắc Bộ” theo Công ước Pháp Thanh 1887. Nội dung của Công ước là:

“Các đảo phía đông kinh tuyến Paris 105 °43, kinh độ đông, tức là đường bắc-nam đi qua điểm cực đông của đảo Tch'a Kou hay Ouan-chan (Trà Cổ) và làm thành biên giới cũng được cho là của Trung Hoa. Các đảo Go- tho và các đảo khác phía tây kinh tuyến này thuộc về An Nam.

Những người Trung Hoa phạm pháp hoặc bị cáo buộc phạm pháp tìm nơi trú ẩn tại các đảo này, sẽ được, theo quy định của điều 27 của Hiệp định ngày 25 tháng Tư năm 1886, tìm kiếm, bắt giữ và dẫn độ bởi Chính quyền Pháp.”

Theo đánh giá của ông Dương Danh Huy thì Công ước không nói rằng kinh tuyến 105°43’ Paris, tức là kinh tuyến 108°3’13’’ Greenwich, là ranh giới phân định biển cho toàn bộ Vịnh Bắc Bộ. Bản đồ đính kèm công ước vẽ ranh giới dọc kinh tuyến 105°43’ Paris từ cực đông đảo Trà Cổ ra biển và ngừng cách đảo khoảng 5 hải lý, tức là chỉ cho một phần rất nhỏ của Vịnh.

Trong chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch Trương Tấn Sang năm 2013, hai nước nói sẽ thăm dò dầu khí chung trong khu vực thỏa thuận ngoài khơi vịnh Bắc Bộ

Theo tôi, nhận xét của ông Dương Danh Huy là rất chuẩn xác. Bởi vì, “những điều trên cho thấy, vào năm 1887, trong Vịnh Bắc Bộ, Pháp không cho rằng họ có chủ quyền hay quyền chủ quyền trong vùng biển cách bờ hơn 12 hải lý. Cũng không có chứng cớ là vào thời điểm đó Trung Quốc cho rằng họ có chủ quyền hay quyền chủ quyền trong vùng biển này”“Sẽ hợp lý hơn nếu cho rằng kinh tuyến 108°3’13’’ trong Công ước chỉ phân chia đảo và phân chia lãnh hải ven bờ. Như vậy, công ước Pháp-Thanh chưa phân định phần lớn Vịnh Bắc Bộ, và việc phân định Vịnh Bác Bộ là cần thiết”.

Chính chúng tôi cũng đã có nhận định như vậy trước khi xây dựng phương án đàm phán phân định vịnh Bắc Bộ. Trên tinh thần thật sự khách quan, cầu thị, chúng tôi cũng đã mạnh dạn đề nghị từ bỏ chủ trương khẳng định rằng trong vịnh đã có biên giới theo Công ước Pháp Thanh 1887. Thay vào đó, khi đàm phán phân định vịnh Bắc Bộ, Việt Nam sẽ theo nguyên tắc của Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982. Đó là nguyên tắc thỏa thuận, có tính đến mọi hoàn cảnh liên quan, để phân định vịnh Bắc Bộ đảm bảo tính công bằng mà hai bên có thể chấp nhận được.

Đây thật sự là một bài học quý giá cho những ai đang và sẽ tiếp tục lãnh trọng trách tham gia đàm phán giải quyết các tranh chấp về biên giới lãnh thổ, nhất là những tranh chấp trên các vùng biển và hải đảo trong tình hình hiện nay.

Kết quả là Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được ký kết vào ngày 25 tháng 12 năm 2000. Hiệp định này gồm 11 điều với nội dung chủ yếu là xác định rõ tọa độ địa lý của 21 điểm trên đường phân định lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế, vùng thềm lục địa giữa hai nước; quy định hai bên tôn trọng chu quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mỗi bên tại các vùng biển trong vịnh Bắc Bộ; quy định việc thăm dò khai thác tài nguyên thiên nhiên nằm vắt ngang đường phân định và giải quyết các tranh chấp liên quan đến Hiệp định thông qua đàm phán thương lượng. Hiệp định có hiệu lực ngày 15 tháng 6 năm 2004.

Đường phân định

Từ tình hình nói trên, tôi cũng xin có bình luận thêm về những băn khoăn có liên quan đến cách vạch đường phân định đã được thể hiện trên bản đồ kèm theo Hiệp định này mà ông Dương Danh Huy gọi là “Đường trung tuyến”.

Đúng là “trong phần lớn vùng biển hữu quan trong Vịnh Bắc Bộ, bờ biển Việt Nam và Trung Quốc đối diện nhau. Vì vậy, theo luật quốc tế thì đường trung tuyến có điều chỉnh là nguyên tắc phân định công bằng nhất”.

Tôi không phản bác điều này. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của tôi qua một số bản án của Tỏa án Trọng tài quốc tế, nhất là vụ xét xử việc phân định biển Manche giữa Pháp và Anh, các thẩm phán có bình luận rằng trung tuyến là phương pháp thường được sử dụng trong phân định, nhưng không phải lúc nào phương pháp này cũng đảm bảo được nguyên tắc công bằng. Bởi vì, trung tuyến sẽ được xác định tính từ các điểm cơ sở nhất định mà những điểm này thì hoàn toàn phụ thuộc vào sự hiện hữu của các vị trị địa lý được thống nhất lựa chọn nằm dọc theo bờ biển của mỗi bên để tính toán xác định, thông thường thì phải điều chỉnh do phải tính đến các hoàn cảnh, điều kiện có liên quan…

Cho nên, có thể nói rằng khó có thể có một “trung tuyến” duy nhất và đích thực là trung tuyến theo đúng định nghĩa khoa học. Trong một khu vực biển có thể có nhiều trung tuyến có điều chỉnh thích hợp, phụ thuộc vào phương pháp tính toán xác định của các chuyên gia kỹ thuật.

Và cũng đúng như luật sư Brice Clagett đã nhận xét, việc vạch ranh giới phải dựa trên cơ sở địa lý, và nguyên tắc tỷ lệ chiều dài bờ biển chỉ là một thước đo phỏng chừng cho sự công bằng. Tác giả bài này cho rằng dù tỷ lệ diện tích bằng tỷ lệ chiều dài bờ biển, vẫn có thể tồn tại những sự bất công mà nguyên tắc tỷ lệ chiều dài bờ biển không phát hiện được. Vì vậy cần phải xét đến các khía cạnh địa lý, quan trọng nhất là đường trung tuyến được vạch giữa những điểm nào và ảnh hưởng của các đảo của Việt Nam và Trung Quốc trong việc vạch và điều chỉnh đường trung tuyến…

Và vì vậy, kết quả phân định đã cho thấy: Ranh giới trong Vịnh Bắc Bộ là một đường trung tuyến có điều chỉnh; Đảo Cồn Cỏ được 50% hiệu lực, đảo Bạch Long Vĩ được khoảng 25% hiệu lực; Tỷ lệ diện tích Việt Nam, Trung Quốc đạt được, 1.135:1, gần bằng tỷ lệ chiều dài bờ biển Việt Nam, Trung Quốc, 1.1:1. Cho nên, theo đánh giá của tôi, với tư cách là một chuyên gia pháp lý, Hiệp định Vịnh Bắc Bộ đã được phân định phù hợp với nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế, hợp tình hợp lý vì nó đảm bảo được sự công bằng mà hai bên chấp nhận được. Đi vào chi tiết kỹ thuật khi tính toán xác định đường phân định này có lẽ phải nhờ đến các chuyên gia kỹ thuật bản đồ mới đủ điều kiện để giải đáp chuẩn xác.

Hồ Gươm gửi hôm Thứ Hai, 16/09/2013
Bạn đánh giá bài viết này thế nào?

Vương Trí Nhàn - Chống tham nhũng kiểu Chí Phèo

Giáp Văn Dương - Thoát Trung Luận

Bằng Công - Nhân bài "Trí thức và một vài đặc điểm của trí thức" của GS Thuyết: Vài ý “phản động” về trí thức

Nguyễn Ngọc Già - Học lại hai tiếng "Đồng bào"

Xã hội học chiến tranh


Khách Kẹt Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 19:35, 13/10/2013 - mã số 100264
Vũ Minh Dũng viết:
Cái thủ đoạn của chinh quyền cs để chạy tội là "để lâu cứt trâu hoá bùn" hay "nghe lâu" thành quen...Những cái tin "rò rỉ" đó đây cũng chính do cs đưa ra, từng bước một tung ra 1 phần để người dân quen dần rồi tự chấp nhân. Cái công hàm bán nước của ông Pham Văn Đồng ( thay mặt chính quyền cs) cũng do chính quyền cs tung ra.Chính quyền cs giả vờ ko biết , ko nghe, ko thấy, ko phản ứng, ko bào chữa cứ để cho thiên hạ bình chán,chửi chán như đấm vào không khí, như Chí Phèo chửi thề..khi đó thằng cs ngồi cười khì...Và như vậy đành coi như Hoàng sa đã mất, còn Trường sa thì có thể mất trong tương lai rất gần.Lại đến chuyện bài viết của 1 giáo sư người Đài loan (dân tàu cả thôi), tuên bố cái xác ma nằm chềng hềnh ở Ba đình là họ hàng của ông ta, là gốc người Hẹ Đài loan. Đây chỉ là 1 bước để dân ta quen dần là, bán tin, bán nghi. Nếu 1 ngày nào đó, tàu, hay Nga, Pháp (những nước năm rõ tung tich của Hồ thật, Hồ giả)xác nhận là sự thật và bon csvn hết đường chối cãi thì chẳng ai còn bị sốc nữa, đành chấp nhận cái xác ma mà lâu nay mình tế như tế quỷ cũng chẳng làm ...hại gì ai.
Lại nói chuyện đường Biên giới, cũng tương tự. Ai cũng biết là cs đã bán đất, bán biển, còn nếu ngược lại, sao ko dám công khai tuyên bố cho toàn dân mà giấu như mèo giấu cứt. Bởi vì cái tội này rất lớn.Nếu bị lộ ra. thì những tên bán nước nhứt định sẽ bị tử hình. Nếu còn giấu nhẹm được 20,30 năm nữa thì khi đó đã muôn, chúng nó những kẻ bán nước đã nấp sau đít con gà khoả thân.Đây cũng là cơ hội cho bon tàu chệt "tống tiền" chính quyền cs hiện nay. Vì thế nên chinh quyền cs ngày càng dã man, tàn ác, độc đoán, phản động, tham tàn, quỷ quyệt, giả giố và ngạo mạn...nguy hiểm gấp 1000 lần những tên bán nước trong lich sử Vn là Trần Ích Tắc, Le Chiêu Thống,...Bằng mọi cách,mọi thủ đoạn chúng đang che giấu tội ác tày trời mà chúng đã gây ra.

Tôi chia sẻ với nhận định trên của bạn Vũ Minh Dũng. Cái trò tung HỎA MÙ để che giấu SỰ THẬT của ĐCSVN, dù có làm cho dư luận hoang mang, bán tín bán nghi về việc BÁN NƯỚC của Đảng trong một thời gian, nhưng rồi cuối cùng toàn dân ta cũng sẽ THẤY và lúc đó những kẻ phản bội dân tộc, đem đất biển của cha ông đi CỐNG cho TÀU sẽ bị dân tộc và lịch sử VN trừng trị nghiêm khắc và đời đời nguyền rủa.

Đọc cái đoạn này của ông Tiến sĩ Trần Công Trục nói về việc NHƯỢNG ĐẤT ở cao điểm quân sự 1509 (tức núi ĐẤT) nguyên văn như sau: “Theo thông tin mà tôi được biết thì đúng là có việc Việt Nam đã đồng ý điều chỉnh chút ít hướng đi của đường biên giới ở khu vực có nghĩa trang do Trung Quốc đã xây dựng trước đây, mặc dù về pháp lý đường biên giới mà 2 bên đã xác định là phải đi qua khu vực nghĩa trang này. Theo tôi, đây là nhân nhượng tự nguyên, thỏa đáng, hợp tình hợp lý. Bởi vì đây là nhân nhượng vừa mang tính nhân văn, nhân đạo, vừa phù hợp với nguyên tắc mà hai bên đã thỏa thuận khi xác định đường biên giới đi qua khu vực có sự tồn tại của dân cư khu vực biên giới…như tôi đã đề cập ở phần trên (sic), phải nói là tôi muối ói vì đếch chịu nổi cái lôgic quái đản này của những người CS. Núi Đất là lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, là cao điểm VÔ CÙNG TRỌNG YẾU, khống chế toàn bộ khu vực biên giới, đã giúp cha ông ta bảo vệ Tổ quốc trong hàng ngàn năm, nay vì lý do “nhân văn, nhân đạo”(sic) của ĐCSVN với thi hài của một nhúm lính TÀU (thực chất là bọn xâm lược VN trong cuộc xâm lăng 1979 đã bị quân đội ta tiêu diệt và được phía TQ chôn tại chỗ) mà Đảng đem NHƯỢNG cho TQ chỉ vì tôn trọng mấy cái xác chết này. Thử hỏi như vậy là ĐÚNG hay sao. Trên lãnh thổ VN, rất nhiều nghĩa trang của chính tiền nhân VN ta (như nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi tại Sài Gòn) tại sao sau năm 1975 ĐCSVN không áp dụng ngay cái gọi là tính nhân văn, nhân đạo này đối với những người đã khuất, mà nhất quyết đào mồ cuốc mả cái nghĩa trang này để thực hiện những công trình hiện đại. Thử hỏi nếu phía TQ tôn kính thi hài các lính TÀU, tại sao họ không DI DỜI cái nghĩa trang lính TÀU chôn bất hợp pháp trên lãnh thổ VN này về phần đất bên kia biên giới thuộc chủ quyền của họ như được phân định trong Hiệp định Pháp Thanh, mà nhất mực đòi phải giành cho bằng được mỏm núi cao điểm 1509 này? ĐCSVN nhân danh những điều đạo đức VÔ LỐI để trao phần đất chiến lược trọng yếu này cho TQ, mà trong tương lai TQ sẽ dùng để làm bàn đạp trong việc xâm chiếm VN ta. Thực sự là ĐCSVN BẤT LỰC không đòi lại được lãnh thổ đã bị TQ đánh chiếm trong cuộc xâm lăng 1979 và sau đó nên mới dùng lời lẽ mang tính NGỤY BIỆN ngu xuẩn như trên để chống chế.

Tôi nghĩ bạn Vũ Minh Trí nói rất đúng. Ông Trần Công Trục ca ngợi các công trình của ông Tiến sĩ Dương Danh Huy, đánh giá cao các công trình đó. Ông HUY thì cùng với người khác viết bài CHỨNG MINH là phía TÀU có lấn đất qua lãnh thổ ta, nhưng có nơi ta cũng LẤN qua phía TÀU (trong Hiệp định 1999). Thế là HUỀ, công bình lắm đấy. Nhân dân VN đừng thắc mắc làm chi nữa. Có điều là quý ngài không bao giờ chịu công bố toàn bộ bản đồ biên giới mới để toàn dân SO SÁNH với bản đồ thời Pháp thuộc xem có bao nhiêu chỗ ta lấn sang đất Tàu trong bản đồ này so với Tàu lấn qua ta, và NHẤT LÀ những nơi ta lấn qua Tàu có quan trọng như tại Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, núi Đất, v.v… là những nơi vô cùng thiêng liêng đối với lịch sử, quốc phòng, thắng cảnh, v.v… của Tổ quốc ta.

Mặc dầu ông HUY luôn nhấn mạnh đến các chữ KHÁCH QUAN, KHOA HỌC trong bài viết của ông, nhưng theo tôi, các công trình của ông chứa đầy tính CHÍNH TRỊ, với mục đích bênh vực cho ĐCSVN, chứ không thuần túy mang tính khách quan và khoa học. Cho tới khi ông HUY và các vị đồng tác giả (Phạm Quang Tuấn, Phan Văn Song) cho công bố toàn bộ các con số, dữ kiện mà họ đã thực hiện để vẽ cái bản đồ nói trên (cả phương pháp lẫn số liệu, both methodology and data) theo đúng tinh thần TRANSPARENCY trong KHOA HỌC để mọi người có thể KIỂM CHỨNG một cách công khai, minh bạch, tôi e rằng bài viết của họ chỉ là một loại hỏa mù dùng để CHỬA LỬA, che giấu hành vi BÁN NƯỚC của ĐCSVN.

Vũ Minh Dũng (khách viếng thăm) gửi lúc 04:07, 13/10/2013 - mã số 100192

Cái thủ đoạn của chinh quyền cs để chạy tội là "để lâu cứt trâu hoá bùn" hay "nghe lâu" thành quen...Những cái tin "rò rỉ" đó đây cũng chính do cs đưa ra, từng bước một tung ra 1 phần để người dân quen dần rồi tự chấp nhân. Cái công hàm bán nước của ông Pham Văn Đồng ( thay mặt chính quyền cs) cũng do chính quyền cs tung ra.Chính quyền cs giả vờ ko biết , ko nghe, ko thấy, ko phản ứng, ko bào chữa cứ để cho thiên hạ
bình chán,chửi chán như đấm vào không khí, như Chí Phèo chửi thề..khi đó thằng cs ngồi cười khì...Và như vậy đành coi như Hoàng sa đã mất, còn Trường sa thì có thể mất trong tương lai rất gần.Lại đến chuyện bài viết của 1 giáo sư người Đài loan (dân tàu cả thôi), tuên bố cái xác ma nằm chềng hềnh ở Ba đình là họ hàng của ông ta, là gốc người Hẹ Đài loan. Đây chỉ là 1 bước để dân ta quen dần là, bán tin, bán nghi. Nếu 1 ngày nào đó, tàu, hay Nga, Pháp (những nước năm rõ tung tich của Hồ thật, Hồ giả)xác nhận là sự thật và bon csvn hết đường chối cãi thì chẳng ai còn bị sốc nữa, đành chấp nhận cái xác ma mà lâu nay mình tế như tế quỷ cũng chẳng làm ...hại gì ai.
Lại nói chuyện đường Biên giới, cũng tương tự. Ai cũng biết là cs đã bán đất, bán biển, còn nếu ngược lại, sao ko dám công khai tuyên bố cho toàn dân mà giấu như mèo giấu cứt. Bởi vì cái tội này rất lớn.Nếu bị lộ ra. thì những tên bán nước nhứt định sẽ bị tử hình. Nếu còn giấu nhẹm được 20,30 năm nữa thì khi đó đã muôn, chúng nó những kẻ bán nước đã nấp sau đít con gà khoả thân.Đây cũng là cơ hội cho bon tàu chệt "tống tiền" chính quyền cs hiện nay. Vì thế nên chinh quyền cs ngày càng dã man, tàn ác, độc đoán, phản động, tham tàn, quỷ quyệt, giả giố và ngạo mạn...nguy hiểm gấp 1000 lần những tên bán nước trong lich sử Vn là Trần Ích Tắc, Le Chiêu Thống,...Bằng mọi cách,mọi thủ đoạn chúng đang che giấu tội ác tày trời mà chúng đã gây ra.

Khácho (khách viếng thăm) gửi lúc 01:47, 17/09/2013 - mã số 97640

Biết đâu Thủ tướng nghe lời ông Nguyễn Trung về "khép lại quá khứ", với tư cách một thành viên bộ các chị, Thủ tướng chỉ đạo ban đàm phán biên giới theo lời khuyên "khép lại quá khứ, hòa hợp hòa giải hướng tới tương lai" nên bao nhiêu chuyện Trung Quốc đổi/tráo/hủy cột mốc hoặc dùng các chính sách di dân, vũ lực để lấn chiếm đất đều được giải quyết trên tinh thần đó .

Tôi nói chữ "biết đâu" vì thấy đảng Cộng Sản làm đúng như lời của ông Nguyễn Trung, tới từng dấu chấm phẩy . Tôi nghĩ những ý kiến "khép lại quá khứ" ... ông Nguyễn Trung đã có từ lâu . Chắc đảng Cộng Sản tâm đắc với lời khuyên của ông nên ông tưởng xài cho dân cũng được .

Well, ít ra ta cũng biết kết quả sẽ ra sao nếu nghe lời khuyên của ông Nguyễn Trung

visitor (khách viếng thăm) gửi lúc 01:39, 17/09/2013 - mã số 97639
Khácho viết:
Nhà nước ta thời đó được/bị ông Nguyễn Trung cố vấn, nên mọi đàm phán đều "khép lại quá khứ", nhất quyết "không ngoái lại quá khứ" trên tinh thần hòa hợp hòa giải xây dựng chủ nghĩa Xã Hội, không hồi tố, cùng nhắm tới tương lai .
...

Sao lại lôi ông Nguyễn Trung vào đây? Cái gọi là ban cố vấn của TTg thực chất chẳng qua chỉ là nơi cung cấp cho thủ tướng các thông tin đa chiều chứ chẳng có thể ảnh hưởng tới chủ trương đàm phán biên giới của TTg được.

Theo tôi, VN đã quá vội vã trong việc đàm phán biên giớ khi 2 nước vừa ra khỏi cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn. Lẽ ra nên để đến thời gian hiện nay khi ảnh hưởng của sự thù hận của cuộc CT biên giới đã dịu đi mới bắt đầu đàm phán về biên giới giữa VN-TQ thì hơn. Với sự vội vã như vậy, VN đương nhiên là ở thế yếu do muốn bình thường hoá quan hệ với TQ bằng bất kì giá nào (bởi sự xụp đổ của khối XHCN Đông Âu), sự thua thiệt của VN trong hiệp định phân định biên giơi trên bộ và trên biển VN-TQ là có thể thấy được.

Sự thua thiệt về biên giới cộng với việc TQ chiếm Núi Đất năm 1984 và sau đó đánh chiếm một số đảo tại QĐ Trường Sa của VN năm 1988 là sản phẩm tất yếu của đường lối thiển cận, cứng rắn quá mức của tập đoàn Lê Duẩn-Lê Đức Thọ trong việc sử lí mối quan hệ VN-TQ-LX-CPC mà đã dẫn đến cuộc chiến tranh biên giới Việt Trung năm 1979. Sự đối đầu về QS giữa 2 nước V-T là điều đã không bao giờ nên để xảy ra.

Khácho (khách viếng thăm) gửi lúc 22:25, 16/09/2013 - mã số 97633

Nhà nước ta thời đó được/bị ông Nguyễn Trung cố vấn, nên mọi đàm phán đều "khép lại quá khứ", nhất quyết "không ngoái lại quá khứ" trên tinh thần hòa hợp hòa giải xây dựng chủ nghĩa Xã Hội, không hồi tố, cùng nhắm tới tương lai .

Ít ra ta có được sự đồng thuận giữa 2 đảng Cộng Sản cùng nhau tiến lên Chủ Nghĩa Xã Hội .

Các bác đừng để ý tới chuyện biên giới lãnh thổ nữa, mà nhắm tới đại cuộc là tổ quốc Xã Hội Chủ Nghĩa . Mai mốt đây đất nước mình lên tới Tân Cương, Tây Tạng, tha hồ mà làm thơ "Vui sao nước mắt lại trào".

Hồ Gươm gửi lúc 21:24, 16/09/2013 - mã số 97629

Về vấn đề phân giới Vịnh Bắc Bộ

Hiệp định Vịnh Bắc Bộ. Nếu vòng tròn với tâm ở một điểm phân định tiếp xúc lãnh thổ Trung Quốc và phủ trùm lên lãnh thổ Việt Nam thì điểm đó nằm gần lãnh thổ Việt Nam hơn.

_________________________

Bác Dương Danh Huy đặt vấn đề cho bác Trần Công Trục như sau:

Dương Danh Huy viết:
Theo bản đồ độ phân giải cao thì nhiều điểm trong đường phân định vùng đặc quyền kinh tế trong vịnh Bắc Bộ nằm gần lãnh thổ Việt Nam hơn lãnh thổ Trung Quốc. Nổi bật nhất là điểm 17 nằm gần bờ biển Hà Tĩnh hơn đảo Hải Nam khoảng 50 km, và điểm 14 nằm gần bờ biển Nam Định hơn đảo Hải Nam khoảng 37 km. Trong khi đó, không có điểm nào nằm gần lãnh thổ Trung Quốc hơn lãnh thổ Việt Nam. Nếu lấy một đường trung tuyến nào đó làm chuẩn (có thể có vài đường trung tuyến khác nhau đều tương đối hợp lý) thì có thể nói là Việt Nam được ít hơn đường trung tuyến ít nhất là nhiều trăm cây số vuông.

Cụ thể hơn nữa, trong bài viết Nhìn lại Hiệp định Vịnh Bắc Bộ sau 10 năm của bác Dương Danh Huy phổ biến trên BBC hồi tháng Giêng năm 2011 mà bác Trần Công Trục có tham khảo và đánh giá cao có một số chi tiết cụ thể cần được giải đáp thỏa đáng như sau:

So sánh khoảng cách từ mỗi điểm 9-21 đến lãnh thổ Việt Nam và Trung Quốc, tác giả nhận xét:

Điểm 9: gần các đảo Vĩnh Thực và Trần của Việt Nam hơn đất liền Trung Quốc khoảng 4 và 6 hải lý.

Điểm 10: gần các đảo Thanh Lam, Cô Tô và Bạch Long Vĩ của Việt Nam các đảo Vị Châu và Tà Dương của Trung Quốc khoảng 7, 7 và 14 hải lý.

Điểm 11, 12: tương đương đương với đảo Bạch Long Vĩ được “dời vào” đất liền khoảng 75% khoảng cách. Mặc dù như thế phù hợp với quan điểm chính thức là đảo được khoảng 25% hiệu lực, nhưng điều đó lại có nghĩa hơn hai ngàn đảo của Việt Nam trong vùng Vịnh Hạ Long và Vịnh Bái Tử Long đã không được hay chỉ được ít hiệu lực trong việc tính hai điểm này.

Điểm 12: gần vùng cửa Ba Lạt của sông Hồng hơn đảo Hải Nam khoảng 3 hải lý.

Điểm 13: gần vùng cửa Ba Lạt của sông Hồng hơn đảo Hải Nam khoảng 10 hải lý.

Điểm 14: gần vùng cửa Ba Lạt của sông Hồng hơn đảo Hải Nam khoảng 20 hải lý.

Điểm 15, 16: gần bờ biển vùng Ninh Bình hơn đảo Hải Nam khoảng 12 hải lý.

Điểm 17: gần bờ biển phía nam Hà Tĩnh hơn đảo Hải Nam khoảng 27 hải lý.

Điểm 18: gần bờ biển phía nam Hà Tĩnh hơn đảo Hải Nam khoảng 3 hải lý.

Điểm 19, 20, 21: phù hợp với đảo Cồn Cỏ được 50% hiệu lực.

Cho đến nay chưa có thông tin chính thức để trả lời các câu hỏi thí dụ như:

  1. Tại sao điểm 9 nằm gần các đảo của Việt Nam hơn đất liền Trung Quốc?
  2. Tại sao điểm 10 nằm gần các đảo của Việt Nam hơn các đảo của Trung Quốc? Nếu sự thật là tất cả các đảo này đã bị bỏ qua trong việc tính điểm 10 thì như thế có công bằng hay không?
  3. Với quan điểm chính thức là đảo Bạch Long Vĩ được khoảng 25% hiệu lực, có vẻ như là hơn hai hàn ngàn đảo của Việt Nam trong vùng Vịnh Hạ Long và Vịnh Bái Tử Long đã không được hay chỉ được ít hiệu lực trong việc tính hai điểm 11, 12. Sự thật là thế nào và nếu đúng là như thế thì có công bằng hay không?
  4. Tại sao vùng cửa Ba Lạt đã không được tính tới trong việc tính điểm 12.
  5. Tại sao các điểm 13, 14, 15, 16, 17, 18 nằm gần đất liền Việt Nam hơn đảo Hải Nam?

Và bác Trần Công Trục đã trả lời ra sao sau khi đã "khen" bác Dương Danh Huy?

Trần Công Trục viết:
Và vì vậy, kết quả phân định đã cho thấy: Ranh giới trong Vịnh Bắc Bộ là một đường trung tuyến có điều chỉnh; Đảo Cồn Cỏ được 50% hiệu lực, đảo Bạch Long Vĩ được khoảng 25% hiệu lực; Tỷ lệ diện tích Việt Nam, Trung Quốc đạt được, 1.135:1, gần bằng tỷ lệ chiều dài bờ biển Việt Nam, Trung Quốc, 1.1:1. Cho nên, theo đánh giá của tôi, với tư cách là một chuyên gia pháp lý, Hiệp định Vịnh Bắc Bộ đã được phân định phù hợp với nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế, hợp tinh hợp lý vì nó đảm bảo được sự công bằng mà hai bên chấp nhận được. Đi vào chi tiết kỹ thuật khi tính toán xác định đường phân định này có lẽ phải nhờ đến các chuyên gia kỹ thuật bản đồ mới đủ điều kiện để giải đáp chuẩn xác.

Theo tôi nhận thấy, đây là cách trả lời huề vốn của bác Trần Công Trục bởi vì nó hoàn toàn không giải đáp được câu hỏi rất cụ thể của bác Dương Danh Huy đã nêu ra ở trên mà theo bác Huy, đã khiến cho Việt Nam mất nhiều trăm cây số vuông trong Vịnh Bắc Bộ.

Khách Lê Văn Mọi (khách viếng thăm) gửi lúc 20:47, 16/09/2013 - mã số 97626

Theo ông Trần Công Trục thì nơi nào có nghiã trang Trung quốc thì do nhân đạo ta nhượng bộ. Vậy thưa ông, ngay ở giữa thủ đô có cái nghiã trang Trung quốc to tướng là gò Đống Đa thì ta có nhượng bộ cho Trung quốc hay không? Nghe nói trước kai hồi còn chính quyền miền Nam thì Trung quốc cũng có vài mả Tàu ở Hoàng Sa, nhưng khi đào lên thì không thấy xương đâu cả. Liệu cái nghãi trang ở biên giới có phải là nghĩa trang ngụy tạo của Hán gian hay không? Nó làm nghiã trang trên đất ta, tại sao ta không làm nghiã trang trên đất nó? Nếu có nghiã trang của ta trên đất Tàu thì Tàu nó có vì nhân đạo mà nhường cho ta không? Khôn với dân mà sao dại với giặc đến vậy?

Hồ Gươm gửi lúc 20:04, 16/09/2013 - mã số 97619

Bác Dương Danh Huy đặt câu hỏi cho bác Trần Công Trục như sau:

Dương Danh Huy viết:
Trên bàn đàm phán, Việt Nam cũng đã giành lại được một số mỏm núi. Theo thông tin không chính thức từ phía Trung Quốc và phía Việt Nam thì có một mỏm có vẻ như cả hai bên không chối cãi là của Việt Nam, nhưng Trung Quốc đã xây nghĩa trang quân đội trên đó và họ chủ trương là khu vực nghĩa trang là bất khả xâm phạm.

Có việc đó hay không? Nếu có thì vì lý do nào mà Việt Nam đã chấp nhận? Vì nhân đạo và địa chính trị, hay vì không có đủ chứng cứ pháp lý, hay lý do nào khác? Tại sao thông tin không được công bố?

Và bác Trần Công Trục trả lời như sau:

Trần Công Trục viết:
Theo thông tin mà tôi được biết thì đúng là có việc Việt Nam đã đồng ý điều chỉnh chút ít hướng đi của đường biên giới ở khu vực có nghĩa trang do Trung Quốc đã xây dựng trước đây, mặc dù về pháp lý đường biên giới mà 2 bên đã xác định là phải đi qua khu vực nghĩa trang này.

Theo tôi, đây là nhân nhượng tự nguyên, thỏa đáng, hợp tình hợp lý. Bởi vì đây là nhân nhượng vừa mang tính nhân văn, nhân đạo, vừa phù hợp với nguyên tắc mà hai bên đã thỏa thuận khi xác định đường biên giới đi qua khu vực có sự tồn tại của dân cư khu vực biên giới…như tôi đã đề cập ở phần trên.

Như vậy, tuy không trả lời rõ ràng câu hỏi của bác Huy về vấn đề được nêu ra nhưng bác Trục đã gián tiếp xác nhận là có nhượng bộ.

Nhưng nếu nói rằng đó là phù hợp với nguyên tắc mà hai bên đã thỏa thuận khi xác định đường biên giới đi qua khu vực có sự tồn tại của dân cư khu vực biên giới thì rõ ràng là nguỵ biện, đây là nghĩa trang quân đội của Trung Quốc được xây dựng sau khi phía Trung Quốc đã đánh chiếm Núi Đất chứ không phải là "khu vực có sự tồn tại của dân cư" như bác Trục đã giải thích.

Gửi phản hồi mới (xin gõ tiếng Việt có dấu và tuân thủ Nguyên tắc Dân Luận để được chấp nhận)

Bạn có thể bịa một địa chỉ email bất kỳ, ví dụ test@gmail.com. Thông tin này sẽ không xuất hiện công khai khi phản hồi được đăng.
  • Bạn có thể sử dụng các thẻ BBCode trong bài. Các địa chỉ URL sẽ được tự động chuyển thành liên kết.
  • Bạn có thể trích bài của người khác bằng thẻ [quote], ví dụ: [quote]Nội dung muốn trích dẫn[/quote]
  • Bạn có thể sử dụng những thẻ HTML sau: <a> <em> <strong> <ins> <b> <i> <u> <br> <cite> <code> <ul> <ol> <li> <dl> <dt> <dd> <h1> <h2> <h3> <h4> <h5> <table> <tbody> <td> <tr> <pre> <img> <div> <span> <object> <hr> <center> <font> <blockquote> <strike> <embed> <param> <del> <ins> <sub> <sup>
  • Bạn có thể chèn video vào bài viết bằng thẻ [video:địa_chỉ_url_của_video]
  • Cách dòng và cách đoạn sẽ được tự động chuyển thành xuống dòng.

Nhấn vào đây để biết thêm chi tiết về cách định dạng bài viết...

To prevent automated spam submissions leave this field empty.
CAPTCHA
Bạn bắt buộc phải trả lời câu hỏi kiểm tra dưới đây. Nó giúp chúng tôi nhằm lọc bỏ các nội dung spam do robot tự động thực hiện.
2 + 2 =
Giải bài toán đơn giản này và nhập kết quả vào ô phía trên. Ví dụ, nếu thấy 1+3, thì hãy nhập 4.

Suy ngẫm

Cái xấu xa đặc biệt của việc bắt một ý kiến không được trình bày ra là sự đánh cắp đối với loài người, với các thế hệ mai sau và hiện nay, thiệt hại nhiều cho người bất đồng với ý kiến đó hơn là cho người giữ ý kiến đó.

— John Stuart Mill viết trong tác phẩm Bàn về tự do

Mới Mới Mới

Thống kê truy cập

Hiện có 2 thành viên454 khách truy cập.

Thành viên online

Biên tập viên, Admin

Kỷ lục: Có 4638 người ghé thăm vào 15-05-2014 lúc 09h47.

Độc giả Dân Luận từ đâu đến?

Locations of visitors to this page

Quỹ Dân Luận

Hãy bấm để ủng hộ tài chính cho Dân Luận. Thu chi quỹ Dân Luận được công bố công khai tại đây!