Hàn Vĩnh Diệp - Tấc đất tấc vàng

Hàn Vĩnh Diệp
Chia sẻ bài viết này
Trước hết, tôi thành thật hoan nghênh việc báo Giáo dục Việt Nam và ông Trần Công Trục đã đồng ý mở cuộc trao đổi ý kiến xung quanh chủ đề Thác Bản Giốc nói riêng và biên giới Việt – Trung nói chung. Có thể nói đây là lần đầu tiên có sự cộng tác giữa một bên là một tờ báo hợp pháp được chính quyền cấp giấy phép và bên kia là hai trang mạng xã hội lâu nay vẫn bị xem là “ngoài lề” để mở cuộc “trao đổi ý kiến” về một chủ đề có tầm quan trọng đặc biệt đối với vận mệnh của đất nước. Trước khi có ý kiến phản hồi đối với bài trả lời của ông Trần Công Trục đăng trên báo Giáo dục Việt Nam ngày 10-9-2013, tôi mạn phép nhường lời cho một người phản biện độc lập lâu nay vốn là chỗ thân thiết, nhưng chưa có dịp xuất hiện công khai:

Nếu độc giả đọc kỹ bài “Sự thật về Thác Bản Giốc” của tôi, sẽ thấy có một nhân vật ký bút danh là Hàn Vĩnh Diệp và tự nhận là một đảng viên cộng sản. Tôi đã dựa vào tài liệu của ông để thiết lập một chứng cứ như sau:

[3] Trong bài viết “Tấc đất tấc vàng” được công bố vào năm 2005, ông Hàn Vĩnh Diệp – một đảng viên ĐCS, cán bộ hưu trí, người đã từng nhiều năm công tác ở vùng Cao Bằng trước năm 1975, kể lại: “… Năm 1965 chúng tôi được tham gia đoàn khảo sát thực tế để biên soạn sách giáo khoa - Tập đọc cấp I của Khu giáo dục Khu tự trị Việt Bắc. Hai khu giáo dục ngoài nhiệm vụ biên soạn sách giáo khoa vỡ lòng - cấp I tiếng Thái, Mèo, Tày – Nùng, còn phải soạn cả sách giáo khoa Tập đọc tiếng Việt. Một trong những điểm khảo sát đợt ấy là Kênh Copáo và thác Bản Giốc thuộc huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng. Kênh Copáo lấy nguồn nước từ một đầm trũng bên kia biên giới Trung Quốc (huyện Tỉnh Tây, Quảng Tây) cho các cánh đồng phía Bắc huyện Trùng Khánh. (…) Đến thác Bản Giốc, chúng tôi sang cả bên bờ Bắc sông Quây Sơn, vào sâu hơn một cây số vẫn là làng bản dân ta.”

[Trích mục 3 - Ai là chủ nhân thật sự của Thác Bản Giốc]

Trong bài viết này, có một vài sai sót nhỏ. Vd: cây cột mốc nằm trên đỉnh núi dựa theo “trí nhớ” của một số bô lão ở địa phương. Thật ra, nếu căn cứ vào bản đồ thì không có cột mốc nào nằm trên đỉnh núi (kể cả cột số 54 và cột số 53). Nhưng những sai sót này có thể hiểu được, vì vào thời điểm công bố bài viết (2005), chưa có ai tìm ra được bản đồ chi tiết về vùng này, nên tác giả chỉ có thể ghi nhận, suy đoán chứ chưa thể kiểm chứng.

Tuy nhiên, ngoài những sai sót nhỏ đó, phần lớn những điều trong lời chứng của tác giả Hàn Vĩnh Diệp có giá trị rất cao. Lời chứng đó cho thấy “toàn bộ Thác Bản Giốc thuộc về Việt Nam” từ trước khi quan hệ Việt-Trung trở nên căng thẳng, vì vậy nó bác bỏ ý kiến mà ông Trần Công Trục đã nêu ra trong bài trả lời vừa qua:

“Mọi người đều biết rằng, hệ thống tài liệu tuyên truyền chính thức của cả 2 phía Việt Nam và Trung Quốc giai đoạn này, trong đó có những nội dung đề cập đến đường biên giới trên bộ giữa 2 nước đã bị ảnh hưởng sâu sắc bởi xu thế chính trị của cả xã hội thời kỳ đó. Hai nước giao tranh, việc phát hành tài liệu liên quan đến đường biên giới, chủ quyền trong các tài liệu tuyên truyền ít nhiều đã mất đi tính khách quan, lại được tuyên truyền thường xuyên và rộng rãi nên những thông tin trong đó ăn sâu vào tiềm thức người dân. Điển hình là việc ta luôn luôn nghĩ toàn bộ thác Bản Giốc là của Việt Nam trong khi người Trung Quốc họ nghĩ toàn bộ thác Bản Giốc mà họ gọi là thác Đức Thiên là của họ.” (Trích lời ông Trần Công Trục)

Có thể nói giá trị lớn nhất của các bài viết của Hàn Vĩnh Diệp là ở chỗ: ông chính là một “nhân chứng sống” – một người đã từng công tác ở Cao Bằng ngay từ khi quan hệ Việt-Trung vẫn còn hữu hảo, và sau khi hiệp định biên giới đã được ký kết, ông vẫn còn trở lại nơi đó vài lần để chứng kiến một cách đau lòng cảnh “thương hải biến vi tang điền” (biển xanh biến thành ruộng dâu).

Trước đây, khi công bố các bài viết của ông, do hoàn cảnh khó khăn của cuộc đấu tranh trong nước, chúng tôi chưa tiện công bố tên thật của tác giả. Nay nhân dịp chủ đề “Thác Bản Giốc” được công khai hóa trước dư luận trong và ngoài nước, chúng tôi xin trân trọng đăng lại bài viết này cùng với lời giới thiệu của Tiến sĩ Hà Sĩ Phu, để chúng ta hiểu thêm về tấm lòng của một đảng viên cộng sản yêu nước.

Mai Thái Lĩnh

Đôi lời về tác giả Hàn Vĩnh Diệp

Hàn Vĩnh Diệp tên thật là Diệp Đình Huyên, cán bộ hưu trí, nguyên Phó ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Lâm Đồng, nguyên Giám đốc đài Phát thanh Truyền hình tỉnh Lâm Đồng.

Ông sống bình dị và thanh bạch, hình ảnh một ông già tóc bạc phơ, cọc cạch đạp chiếc xe đạp Phượng Hoàng cũ rích đi trên đường phố đến thăm hỏi bạn bè đã trở nên quen thuộc với nhiều cư dân Đà Lạt.

Ông đã viết nhiều bài về Thác Bản Giốc bởi gia đình ông vốn ở Cao Bằng, thường qua lại vùng biên giới Việt Trung như đi chợ. Chỉ từ 1958 đến 2006 ông đã từng 7 lần đến thăm Bản Giốc, và có lần từng ở lại một ngày một đêm ở bờ bắc của sông Quây Sơn.

Nhân có cuộc trao đổi rất bổ ích giữa ông Trần Công Trục với nhà nghiên cứu Mai Thái Lĩnh về ranh giới Việt Trung tại thác Bản Giốc, tôi thấy nên đọc lại mấy bài viết của ông Diệp Đình Huyên - Hàn Vĩnh Diệp liên quan trực tiếp đến chủ đề này. Những lời mộc mạc và những hình vẽ ghi trong sổ tay của ông là những bằng chứng sống mà những người có trách nhiệm và quan tâm đến thác Bản Giốc có thể tham khảo, về một nơi vừa là nơi biên cương tổ quốc vừa là thắng cảnh, là di sản thiên nhiên tuyệt vời của tổ tiên ta để lại.

Dưới những bài viết này thường ghi thêm “CLB Phan Tây Hồ”, bởi đó là phôi thai cho ước mong chung của chúng tôi, hình thành một “góc dân sự” con con để cùng nhau chia sẻ những nỗi riêng chung, vừa như nghiên cứu vừa như tâm sự của những thân hữu Đà Lạt chúng tôi.

Xin trân trọng giới thiệu tác giả Diệp Đình Huyên-Hàn Vĩnh Diệp với bạn đọc.

Hà Sĩ Phu


Hình 1: Hà Sĩ Phu và Diệp Đình Huyên

Hình 2: Ông Diệp Đình Huyên (tức Hàn Vĩnh Diệp)

“Một thước núi, một tấc sông của ta lẽ nào tự nhiên vứt bỏ đi được ... kẻ nào dám đem một thước núi sông, một tấc đất biên ải của tổ tiên để lại làm mồi cho giặc thì kẻ ấy sẽ bị tru di...!”


Lê Thánh Tôn

(Đại việt sử ký toàn thư)

Năm 1999 một người bạn ở Cao Bằng đến chơi và tặng một bức hình lớn (60 x 40cm). Ngắm bức hình chúng tôi thắc mắc, hỏi: “Đây là thác Bản Giốc ư? Ông có nhầm không?” Ngọn thác trong bức hình là ba dòng chảy từ trên cao xuống vụng nước hẹp (Hình 3). Người bạn bảo: “Không nhầm đâu, đây là phần thác của ta, còn phần thác ba tầng đổ xuống dòng sông Quây Sơn thuộc đất Tàu rồi!” Ra thế, phần thác đẹp nhất, hùng vĩ nhất, nên thơ nhất đã nằm trong đất của người ta rồi. Tại sao lại như vậy?

Hình 3: Thực trạng thác Bản Giốc (phần thuộc lãnh thổ ngày nay của nước ta)

Từ thuở còn ngồi trên ghế nhà trường tiểu học, cấp II, cấp III thế hệ chúng tôi vẫn ghi đậm trong ký ức lời dạy của các thầy cô giáo: “thác Bản Giốc ở Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng là một trong những danh thắng bậc nhất nước ta”. Thầy giáo còn cho chúng tôi xem tấm ảnh thác Bản Giốc (đoạn thác ba tầng) trong một cuốn sách tiếng Pháp. Sách giáo khoa Địa lý tự nhiên lớp 7 (hệ 10 năm) do giáo sư Nguyễn Dược biên soạn, Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 1956 ở miền Bắc cũng in tấm hình đoạn thác Bản Giốc ba tầng này (hình 4). Sách giáo khoa Địa lý lớp 8 (hệ 12 năm) do giáo sư Nguyễn Trọng Lân biên soạn, Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 1988 cũng in tấm hình thác Bản Giốc như sách giáo khoa lớp 7 năm 1956.

Hình 4: Hình Thác Bản Giốc trong sách giáo khoa Địa lý tự nhiên lớp 7 (hệ 10 năm) – 1956 và Địa lý tự nhiên lớp 8 (hệ 12 năm) - năm 1988.

Năm 1965 chúng tôi được tham gia đoàn khảo sát thực tế để biên soạn sách giáo khoa - Tập đọc cấp I của Khu giáo dục Khu tự trị Việt Bắc[1]. Hai khu giáo dục ngoài nhiệm vụ biên soạn sách giáo khoa vỡ lòng - cấp I tiếng Thái, Mèo, Tày – Nùng, còn phải soạn cả sách giáo khoa Tập đọc tiếng Việt. Một trong những điểm khảo sát đợt ấy là Kênh Copáothác Bản Giốc thuộc huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng. Kênh Copáo lấy nguồn nước từ một đầm trũng bên kia biên giới Trung Quốc (huyện Tỉnh Tây, Quảng Tây) cho các cánh đồng phía Bắc huyện Trùng Khánh. Người Trung Quốc đã đục hòn núi đá để đưa nước vào kênh. Nhờ nguồn nước này mà các cánh ruộng một vụ bên ta đã có thể làm 2, 3 vụ. Bài tập đọc có đầu đề “Con kênh hữu nghị”. Đáng tiếc về sau khi “tình sơ nghĩa cạn”, vào mùa khô thì họ chặn nước lại, mùa mưa họ tháo nước đổ sang, ruộng của ta một vụ còn khi được khi mất, huống là 2, 3 vụ. Đến thác Bản Giốc, chúng tôi sang cả bên bờ Bắc sông Quây Sơn, vào sâu hơn một cây số vẫn là làng bản dân ta. Bài tập đọc có đầu đề: “Thác đẹp: Bản Giốc” (sách Tập đọc tiếng Việt, tiếng Tày - Nùng do Khu giáo dục Khu tự trị Việt Bắc biên soạn - Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành).

Gần đây, trong chuyên mục Dư địa Chí của đài truyền hình Việt Nam - Kênh VTV1 buổi phát sóng 23 giờ 30 ngày 27/4/2005 giới thiệu về tỉnh Cao Bằng, đề cập đến danh thắng nổi tiếng nhất của tỉnh Cao Bằng (đồng thời cũng là của cả nước ta), các tác giả chuyên mục đã trình bày hình ảnh thác Bản Giốc - đoạn thác ba tầng phía Bắc và mặt sông Quây Sơn trải rộng dưới chân thác.

Các tác phẩm về địa lý, cảnh quan... của nước ta cũng đều khẳng định: thác Bản Giốc là thuộc lãnh thổ Việt Nam. Xin được trích dẫn một số tác phẩm lớn.

1. Thiên nhiên Việt Nam của giáo sư Lê Bá Thảo. “Giáo sư Lê Bá Thảo là nhà địa lý đầu ngành, có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp phát triển của khoa học địa lý nước ta” (Lời Nhà xuất bản Giáo dục - lần tái bản năm 2003). Tác phẩm “Thiên nhiên Việt Nam” được xuất bản năm 1974, tái bản các năm 1976, 1989, 1990, 1993. Về thác Bản Giốc, giáo sư viết: “Sông Quây Sơn ở phía Bắc Thượng Lang, sau khi chảy qua một vùng đá vôi rộng lớn đến Bản Giốc thì đổ vào khu vực đá phiến tạo thành ba bậc thác nước chênh nhau đến 34m. Vào mùa lũ (từ tháng 5 đến tháng 9) nước từ các hốc ngầm đá vôi ở thượng lưu tuôn đến đổ xuống các bậc tung bọt nước trắng xoá, làm đoạn sông ở phía dưới thác mở ra rất rộng. Đứng trên bãi cát ven sườn thung lũng, người ta có cảm tưởng như bị vây quanh bởi những tường nước đồ sộ nhưng chúng không hề cho chúng ta cảm giác sợ hãi. Trái lại, phong cảnh thật bình dị và ngoạn mục” (Hình 5)

Hình 5: Thác Bản Giốc - ảnh trong sách “Thiên nhiên Việt Nam” của giáo sư Lê Bá Thảo (ấn hành năm 2003).

2. Hương sắc mọi miền đất nước của Lê Trọng Túc (Nhà xuất bản Giáo dục - 1997). Mục Thác Bản Giốc - trang 20, 21 tác giả viết:

“Thác Bản Giốc nằm trên dòng sông Quây Sơn, một nhánh của sông Bằng Giang, bắt nguồn từ vùng Tỉnh Tây - Trung Quốc. Ở Bản Giốc phần trên thác, sông chảy êm đềm giữa một vùng đá vôi cứng, còn vùng dưới thác là vùng đá phiến dễ bị dòng chảy phá huỷ, do đó dòng sông đã tạo nơi tiếp xúc hai loại đá rắn, mềm khác nhau một thác ba bậc chênh nhau tới 34m. Vào mùa mưa, lũ ở thượng nguồn đổ về, nước ở các hang đá vôi tuôn ra, đổ xuống các bậc thác làm cho nước tung bọt trắng xoá. Đứng xa khoảng 100m, các hạt nước nhỏ bắn vào người tựa như mưa phùn. Thác đổ xuống ầm ầm như sóng rền, cách xa hàng ki lô mét vẫn nghe thấy.

Thác Bản Giốc là một điểm du lịch khá hấp dẫn vì phong cảnh quanh vùng thác có nhiều ngọn núi đá vôi cao thấp hình thù muôn hình muôn vẻ nằm rải rác khắp vùng, trông tựa như một Vịnh Hạ Long trên cạn...”

3. Kể chuyện đất nước - Nguyễn Khắc Viện (Nhà xuất bản Thanh niên). Nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện, sinh thời ông đã dành nhiều thời gian đi thăm mọi miền đất nước. Những danh lam thắng cảnh, những di tích lịch sử... nổi tiếng của nước ta đều in dấu chân ông. “Kể chuyện đất nước” được ông hoàn thành, xuất bản lần thứ nhất năm 1993; tái bản có sửa chữa lần thứ hai năm 1999. Về thác Bản Giốc, tác giả viết: “Thác Bản Giốc (Cao Bằng) cũng là một thắng cảnh nổi tiếng của Việt Bắc, có người còn gọi là kỳ quan thiên nhiên. Thác nằm trên sông Quy Thuận (một tên khác của sông Quây Sơn). Con sông nhỏ chảy đến đây bỗng sụp xuống 34m tạo thành một thác cao và rộng. Thác phía Nam đổ xuống thành ba dòng, một dòng toả những hạt nước nom như một tấm the mỏng, hai dòng kia nước đổ ào ào, chân thác có hang. Thác phía Bắc đổ xuống ba bậc, trải ra rất rộng. Từ xa nhìn tới, màu nước bạc lẫn vào màu cây xanh, màu hồ lục thẩm, màu núi tím, tạo thành một bức tranh lồng lộng giữa trời. Thác Bản Giốc từng đi vào nghệ thuật tạo hình với những tác phẩm hội hoạ và nhiếp ảnh đặc sắc của nước ta.”

Như vậy, phần chính của thác Bản Giốc được các tác giả miêu tả là đoạn thác ba tầng phía Bắc. Nếu đó là thác thuộc Trung Quốc chắc chắn các tác giả sẽ không viết như trên mà chỉ mô tả phần thác phía Nam: ba dòng đổ từ trên cao xuống. Dạng thác (phần phía Nam) này không hiếm ở các vùng miền núi nước ta.

Năm 2003, theo đoàn tham quan của cơ quan cũ đi các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, chúng tôi đã trở lại thăm thác Bản Giốc (Cao Bằng). Trên thực địa, thác đẹp nổi tiếng nhất nước ta đã bị cắt đôi; phần chính của thác - đoạn tạo nên nét đặc sắc kì vĩ của Bản Giốc, đã nằm gọn trong lãnh thổ nước bạn. Phần của ta chỉ còn đoạn “Ba dòng thác” phía Nam như hình 1. Con sông Quây Sơn mặc nhiên trở thành đường biên giới tự nhiên giữa hai nước thuộc một phần địa phận hai huyện Trùng Khánh - Hạ Lang (Cao Bằng) và huyện Tỉnh Tây (Quảng Tây). Đồng bào địa phương cho biết: Thời kỳ tranh chấp biên giới căng thẳng, trước sự chứng kiến của quan chức đôi bên và nhân dân địa phương ở phía Nam - Bắc, họ chỉ cho ta thấy cột mốc đang nằm ở phía trên dòng thác chỗ nước sâu nhất giữa đoạn phía Bắc và phía Nam. Các cụ già ở các bản hai bờ Nam, Bắc thác Bản Giốc bảo: thời Pháp, đồn Tây đóng trên đỉnh ngọn núi phía bờ Bắc của thác Bản Giốc. Những lần đi phu cho Tây, họ vẫn thấy ngay cạnh đồn có một cột mốc biên giới như cái cột đang nằm giữa sông này.

Ngày nay đứng trên đường cạnh trạm biên phòng Bản Giốc của ta vẫn có thể nhìn thấy rất rõ nền của đồn Tây trước đây vì ngọn núi được san bằng để xây dựng đồn (Hình 6). Ký ức của các cụ chắc không nhầm lẫn, bởi nếu cột mốc biên giới ở trên đỉnh núi cạnh đồn Tây ấy thì các làng bản từ bờ sông Quây Sơn chiếu thẳng về phía Bắc khoảng 2km những năm 70 trở về trước mới thuộc lãnh thổ nước ta (?)

Hình 6: Toàn cảnh thác Bản Giốc. Dấu (x) trên đỉnh núi là nền đồn binh Pháp, nơi có cột mốc biên giới theo trí nhớ của dân địa phương từng đi phu tải đồ tiếp tế cho binh lính biên phòng Pháp.

Theo một chị giáo viên cấp I ở Bản Giốc, chúng tôi qua sông đến thăm lại bản người Nùng mà chúng tôi đã đến năm 1965. Nhiều người vẫn còn nhớ chúng tôi, bởi lần ấy đoàn chúng tôi lưu lại với bà con hai đêm một ngày và là đoàn cán bộ của khu, tỉnh đến thăm bà con, tặng các cháu nhiều sách vở giấy bút. Chúng tôi thắc mắc: sao năm trước chúng tôi đến đây bản ta vẫn còn là đất Việt Nam; giờ lại thuộc đất Trung Quốc? Các cụ già đáp: “Người Trung Quốc bảo là đất của Trung Quốc thì là đất của Trung Quốc thôi vớ! Ông bà ta vẫn là người Việt Nam đấy!” Bên bờ Bắc thác Bản Giốc người ta xây dựng khá nhiều khách sạn, nhà nghỉ lớn, bé; các thuỷ đình, nhà hàng nổi trên sông dưới ngọn thác ba tầng. Với cơ sở dịch vụ như vậy, chứng tỏ lượng khách tham quan nghỉ dưỡng thường niên của họ phải rất đông (Hình 7). Đường biên giới hai nước ở khu vực này nằm giữa sông Quây Sơn. Phía bờ Bắc, từ dưới thác Bản Giốc đổ về hạ lưu xuôi theo dòng sông, họ xây kè đá, trồng cây cối để bảo vệ bờ khỏi xói lở. Đi từ Bản Giốc đến thị trấn Bằng Ca (huyện Hạ Lang) khoảng hơn hai mươi cây số, quan sát bên bờ Bắc chúng tôi thấy có chuyện hơi lạ: từng đoạn khoảng năm, bảy cây số họ lại xây một cái đê lửng chiếm khoảng gần một nửa giòng chảy phía họ, có lẽ các đê lửng này để ngăn ngọn nước không xói được vào bờ chăng? Nhưng, không đâm vào bờ Bắc thì ngọn nước lại chĩa thẳng vào bờ Nam. Năm tháng trôi qua, bờ bên Bắc sẽ được bồi lắng thành soi bãi, dòng sông Quây Sơn sẽ chuyển dịch về phía Nam; đoạn biên giới thiên nhiên này chắc chắn cũng sẽ được uyển chuyển đổi thay theo dòng nước!

Hình 7: Các cơ sở dịch vụ du lịch nghỉ dưỡng (khách sạn, nhà nghỉ, thuỷ đình, nhà nổi, …) bên bờ Bắc. Các bè tự tạo là dịch vụ ở bờ Nam do dân địa phương tự tạo …

Cũng trong chuyến đi khảo sát thực tế năm 1965 ấy, chúng tôi đến thăm hang Pắc Pó và được nghe đ/c Dương Đại Lâm - một trong những chiến sỹ cận vệ của Bác Hồ những năm trước cách mạng tháng 8 và sau này là phó chính ủy quân khu Việt Bắc, kể: năm 1941 Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Đến cột mốc 108 trên đỉnh đèo, Bác Hồ đặt tay lên cột mốc, đứng lặng hồi lâu, rơm rớm nước mắt, đoạn Bác nói với đ/c Lê Quảng Ba, Dương Đại Lâm và các đ/c cùng đi: “Đây là đất đai của tổ tiên để lại, chúng ta phải đem hết sức mình để gìn giữ...”. Trộm nghĩ cột mốc 108 có cùng cảnh ngộ với chiếc cột mốc ở đỉnh núi Bản Giốc? Lịch sử đương đại của dân tộc ta liệu có lặp lại một sự kiện của thế kỷ thứ 16 dưới triều đại Mạc Đăng Dung?

Hàn Vĩnh Diệp – Câu lạc bộ Phan Tây Hồ (*)

Bài do ông Mai Thái Lĩnh trực tiếp gửi đến BVN

(*): Ghi chú của mạng Ý Kiến: ông Hàn Vĩnh Diệp là một đảng viên cộng sản kỳ cựu.

Nguồn: Mạng Ý Kiến, 2005 (Trang mạng này bị tin tặc phá hoại nên mất hết dữ liệu, hiện nay không còn tồn tại)

[1] Khoảng năm 1956 đến 1970, nhà nước ta thành lập hai khu vực tự trị: Thái - Mèo (sau đổi thành Tây Bắc) và Việt Bắc.

Hồ Gươm gửi hôm Thứ Năm, 12/09/2013
Bạn đánh giá bài viết này thế nào?
Ảnh cổ: Nữ sinh Nhật đọc sách

Trần Văn Thọ - Dịch thuật và tinh thần cầu học: Khởi động quá trình hiện đại hóa Nhật Bản

Phan Hoàng Linh - Bàn về pháp quyền và pháp chế

Bút Chì - Kể chuyện em nghe, từ nước Mỹ

Nguyễn Quang Đồng - NGO ở Việt Nam: Anh là ai?

Đào Tiến Thi - Tôi nghĩ Đảng CSVN không chủ trương tẩy chay Xã Hội Dân Sự


Khách Cao Bách Dương (khách viếng thăm) gửi lúc 23:47, 13/09/2013 - mã số 97408

Trên lý thuyết, ta cứ tranh cãi với ta kiểu quân ta đánh quân mình. Còn trong thực tế thì phần đẹp nhất của thác Bản Giốc đã thuộc về Tàu rồi, nó cướp trắng của ta mà không mất một viên đạn, lại được Trần Ích Tắc tái sinh biện hộ. Thế là công lao của Tổ tiên hàng nghìn năm bảo vệ biên cương đến nay đổ xuống sống xuống biển cả rồi. Đau xót quá, nhưng biết làm thế nào? Tội này do ai gây ra? Cướp đất cuả dân, dâng đất cho ngoại bang. Đó làd một trong những “thành tích của Đảng” thời Đỗ Mười và Lê Khả Phiêu làm chúa tể đất nước này.

Khách Kẹt Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 07:45, 13/09/2013 - mã số 97370

TRẦN CÔNG Tiến sĩ Trưởng ban
Khua môi múa mỏ TRỤC loài tin “gian”
“Bản Giốc phân định y chang
Như trong Công ước Pháp Thanh năm nào”

Nào hay mắc bẫy ba Tàu
Đã dời cột mốc từ bờ Quây Sơn
Cắm ngay trên một cái cồn (*)
Lu loa rằng NÓ xưa rày ở đây
Đảng “ta” quá sợ quan thầy
Cúi đầu chấp nhận dâng Tàu ngon ơ
Thế là Tổ quốc xác xơ
Mất thác Bản Giốc vật vờ dân đau.

---
(*) Cồn Pòo Thong

Khách Kẹt Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 16:52, 12/09/2013 - mã số 97334

Đôi điều cần nói lại về Thác Bản Giốc

Hàn Vĩnh Diệp

(Nguồn: http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=4097)

“… Chúng tôi là một trong số nhiều người trước đây và cả hiện nay vẫn cho rằng: thác Bản Giốc (cả phần chính và phần phụ) là của Việt Nam đã bị Trung Quốc lấn chiếm …”

Trong bài trả lời phỏng vấn của các phóng viên báo Pháp luật Tp.HCM về khu vực thác Bản Giốc, ông Vũ Dũng – Thứ trưởng Bộ Ngoại giao – đặc trách vấn đề biên giới, đã nói: “Công ước Pháp – Thanh và Hiệp định 1999 qui định đường biên giới khu vực này chạy theo trung tuyến dòng chảy sông Quế Sơn, lên thác và tới mốc 53 phía trên. Do đó, phần thác cao rất đẹp của Bản Giốc hoàn toàn nằm bên phía Việt Nam, phần thác thấp nhưng là phần chính nằm ở sông Quế Sơn là thuộc Trung Quốc. Như vậy không có chuyện Việt Nam mất thác Bản Giốc. Tôi cho rằng có người thiếu thông tin nhưng cũng có người cố tình bôi nhọ chúng ta”.

Cũng trong bài trên, trả lời câu hỏi của phóng viên về việc dân địa phương phản ánh đất đai của cha ông họ trước đây ở bên kia thác Bản Giốc, ông Vũ Dũng nói: “… Biên giới là một lịch sử dài nên qua lại xâm canh, xâm cư rất bình thường. Sau Hiệp định 1999 hai nước đang giải quyết vấn đề này. Chỗ nào thuộc về Trung Quốc thì trả về Trung Quốc, phần nào của Việt Nam thì trả về cho Việt Nam. Tuyệt nhiên không được hiểu là ta bị mất đất”. [1]

Chúng tôi là một trong số nhiều người trước đây và cả hiện nay vẫn cho rằng: thác Bản Giốc (cả phần chính và phần phụ) là của Việt Nam đã bị Trung Quốc lấn chiếm. Tất nhiên là cả phần lãnh thổ về phía Bắc, từ cột mốc 53 theo trung tuyến sông Quây Sơn (ông Vũ Dũng nói nhầm là Quế Sơn). Không biết theo ông Vũ Dũng, chúng tôi thuộc loại người thiếu thông tin hay cố tình bôi nhọ! Thiếu thông tin, chắc chưa hẳn, bởi ngoài các tư liệu tham khảo chính thống mà có lần chúng tôi đã dẫn chứng, từ năm 1958 đến 2006, chúng tôi đã bảy lần đến thăm Bản Giốc, có lần ở lại một ngày đêm tại làng Thắc Then bên bờ Bắc sông Quây Sơn (nay thuộc về Trung Quốc). Vì vậy, xin được nói lại đôi điều để công luận xem xét.

1. Điều trước tiên chúng tôi cảm thấy là qua trả lời phỏng vấn trên, ông Vũ Dũng đã làm “xiếc” ngôn từ, nói theo cách dân gian là “lập lờ đánh lận con đen”. Ông gộp hai văn kiện: Công Ước Pháp – Thanh năm 1887 – 1895 và Hiệp định về phân định biên giới Việt Nam – Trung Quốc 1999 làm một. Theo ông, Hiệp ước 1999 đã phản ánh đầy đủ nhất, trung thực nhất, chính xác nhất hai Công ước đó? Trong cuộc đàm phán về vấn đề Biên giới Việt-Trung năm 1975, phía Việt Nam đã đưa ra Bản dự thảo Hiệp định về đường biên giới quốc gia trên bộ giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa, trong đó, Điều I của Dự thảo Hiệp định ghi: “Hai bên chính thức xác nhận đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được hoạch định và cắm mốc theo các văn kiện về biên giới ký kết giữa Chính phủ Cộng hòa Pháp và Chính phủ nhà Thanh, Trung Quốc là đường biên giới quốc gia giữa nước CHXHCH Việt Nam và nước CHND Trung Hoa”. Nghĩa là nguyên trạng đường biên giới (theo đề xuất của ta) là đường được qui định theo Công ước Pháp-Thanh 1887-1895. Trung Quốc đã bác bỏ đề nghị ấy và kiên quyết đòi lấy đường biên giới hiện trạng, nghĩa là đường biên giới mà họ đã lấn chiếm, sửa lại rất nhiều nơi từ hơn nửa thế kỷ nay. Như vậy, chính Trung Quốc đã phá bỏ Công ước Pháp-Thanh thì sao Hiệp ước 1999 lại “phản ánh đầy đủ nhất, trung thực nhất, chính xác nhất” hai Công ước đó? Hiệp ước 1999 dựa trên cơ sở đường biên giới hiện trạng theo ý đồ của Trung Quốc, có phải như vậy không?

2. Con sông Quây Sơn bắt nguồn từ Trung Quốc chảy vào nước ta ở cửa khẩu Pò Peo – xã Ngọc Khê rồi chảy dọc theo dãy núi đá biên giới giữa 2 nước, các cột mốc biên giới đều đặt trên các đỉnh của dãy núi, phần Bắc và Nam của dòng sông đều thuộc địa phận nước ta, đến làng Bản Giốc, dòng sông phân làm hai nhánh, giữa là một bãi cồn và hạ thấp khoảng 35m, tạo thành thác Bản Giốc ba tầng của dòng chính. Ngoài tên Bản Giốc, thác này còn có tên Đuây Bắc, Lầy Sản, Ngà Moong, Thoong Áng,… Dòng sông phụ tạo thành thác thẳng đứng, không có tên riêng mà vẫn mang tên chung của thác chính, mùa mưa có ba dòng chảy, mùa khô chủ yếu chỉ một dòng chảy, nước rất yếu, không gây ấn tượng gì. Cột mốc 53 (cột mốc cũ, nhưng đã di sang vị trí mới ) đứng trơ trọi bên dòng sông chính trên thác Bản Giốc. Người bình thường xem cột mốc 53 cũng thấy được rõ ràng, cột mốc ấy không đặt đúng địa điểm cũ của nó! Theo ký ức của các cụ già đã từng đi phu cho Tây thì vào thời Pháp, cột mốc biên giới nằm cạnh đồn Tây, tận trên đỉnh của ngọn núi phía Bắc thác Bản Giốc chứ không nằm trên bờ Bắc của dòng sông chính như hiện nay.

Hiện trạng địa hình khu vực này như sau: từ đường tỉnh lộ Cao Bằng – Trùng Khánh – Hạ Lang rẽ vào phía Bắc khoảng 100m, qua cầu xi măng bắt qua sông Quây Sơn, cạnh đấy là Trạm Kiểm soát của ta, đi vào hơn 500m đến cột mốc 53, ở đây có nhiều hàng quán bán đồ lưu niệm, thức ăn của người địa phương ta, vào sâu khoảng 100m đến Khu du lịch Thác Đức Thiên (tức Bản Giốc) của Trung Quốc nằm trên bờ Bắc sông Quây Sơn. Khách du lịch của ta hoặc ngoại quốc đi từ phía ta sang đều lưu hành tự do, không kiểm soát giấy tờ gì cả. Trên sông dưới Thác Bản Giốc những nhà hàng nổi của họ đi lại tự do trên mặt sông, nhưng các mảng của khách du lịch bên ta thì chỉ được sang đến giữa sông.

Ảnh 1: Cột mốc 53 không đặt đúng địa điểm của nó

Như vậy tại sao toàn bộ phần thác Bản Giốc ba tầng lại thuộc Trung Quốc và dòng sông bên dưới thác ba tầng lại lấy trung tuyến làm biên giới? Từ lịch sử và hiện trạng của dòng Quây Sơn – Thác Bản Giốc có thể đoán định: Theo Công ước Pháp – Thanh toàn bộ con sông Quây Sơn, cả bờ Bắc bờ Nam và thác Bản Giốc (ba tầng) là thuộc lãnh thổ nước ta. Cột mốc 53 (cũ) không đặt ở vị trí hiện nay. Hiệp ước 1999 đã xác lập vị trí hiện tại của cột mốc 53, toàn bộ thác Bản Giốc ba tầng và trung tuyến sông Quây Sơn từ dưới thác làm đường biên giới, điều dĩ nhiên là phần lãnh thổ phía Bắc sông từ cột mốc 53 về phía Đông là thuộc về Trung Quốc. Thực trạng đó có phải đúng như ông Vũ Dũng nói “Không thể nói Việt Nam mất đất!”?

3. Các tài liệu địa lý – du lịch trước đây của người Pháp, của nước ta và địa phương Cao Bằng đều cho rằng: thác Bản Giốc chính là thác ba tầng, (không có tài liệu nào đề cấp đến phần phụ ba dòng phía Nam), và đây mới là thác đẹp nhất nước ta và Đông Dương. Tài liệu của Trung Quốc gọi Thác Đức Thiên 德天 (tức Thác Bản Giốc) là Thác đẹp nhất Trung Quốc và là một trong những Thác đẹp nhất Châu Á. Không biết thẩm mĩ của ông Vũ Dũng thế nào mà ông lại nói ngược lại là “phần thác cao rất đẹp!” (Nói như thế có thể hiểu là phần thác chính ba tầng là bình thường). Ngay chuyện xác định độ cao-thấp như ông Vũ Dũng cũng không đúng, nếu không nói là nhập nhằng. Cả hai phần đều cùng một độ cao nhưng phần chính (hay nói chính xác là Thác Bản Giốc) tạo thành ba tầng – nét đẹp độc đáo của nó một phần chính là ở điểm này. Phần thác phụ ba dòng, ta có thể tìm thấy hàng trăm cái như vậy ở nhiều miền núi nước ta. Không biết ông Vũ Dũng đã đến thác Bạc ở Sa Pa, thác Drap Sáp, thác Prenn, thác Đăm Bơ Ri ..v..v.. chưa, liệu những thác nước ấy có đẹp bằng như thác phụ ba dòng “rất đẹp” của ông không?

Ảnh 2: Thác Bản Giốc. Bên trái là thác phụ (mà ông Vũ Dũng gọi là phần thác cao),
bên phải là thác chính (được ông Vũ Dũng gọi là phần thác thấp)

4. Khi đề cập đến phần lãnh thổ nước ta từ cột mốc chạy dọc theo bờ Bắc sông Quây Sơn về phía Đông (theo bà con ở địa phương có chiều sâu vào nội địa đến 2, 3 cây số), ông Vũ Dũng lại nói đến chuyện xâm canh xâm cư (!). Đất đai của ông bà tổ tiên ta bị mất hoàn toàn khác với chuyện xâm canh xâm cư ở biên giới. Trên biên giới nước ta với các nước láng giềng, trước đây, chuyện xâm canh xâm cư thường xảy ra. Nhưng, theo chúng tôi hiểu, đất xâm canh xâm cư là đất đai ở những khu vực biên giới đã xác định rõ ràng, người dân bên nước này sang nước kia khai thác hoặc mua để sản xuất, tạm cư và ngược lại. Bản thân những người dân này cũng thấy rõ họ đang canh tác sản xuất, cư trú trên lãnh thỗ nước láng giềng, khi nhà nước hai bên không cho phép, họ tự nguyện rút lui. Còn đất đai mà họ gọi là của “ông bà tổ tiên” là phần lãnh thổ quốc gia, họ được quyền sở hữu, có phải ông Vũ Dũng đã lầm lẫn giữa khái niệm lãnh thổ quốc gia với xâm canh xâm cư hay ông cố tình đánh tráo khái niệm?

5. Như kết luận của ông Vũ Dũng, không phải riêng chúng tôi mà cả các học giả, nhiếp ảnh gia, nhà địa lý, ký giả .. Pháp, Việt Nam, Tỉnh uỷ – UBND tỉnh Cao Bằng; Huyện uỷ – Uỷ Bản Nhân Dân huyện Trùng Khánh (nơi có thác Bản Giốc), Sở Thương mại – Du lịch tỉnh Cao Bằng, bà con nhân dân xã Đàm Thuỷ – Bản Giốc … đều là những người thiếu thông tin hay cố tình bôi nhọ, khi họ khẳng định thác Bản Giốc (phần ba tầng và phần phụ) và phần lãnh thổ từ cột mốc 53 (bị di dời) bên bờ Bắc sông Quây Sơn về phía Đông đều thuộc Việt Nam và Việt Nam bị mất về tay Trung Quốc theo Hiệp định 1999 (?).

Ảnh 3: Sơ đồ vùng Thác Bản Giốc
(Minh họa và chú thích ảnh: CLB Phan Tây Hồ)

6. Để làm rõ trước công luận cả nước, chúng tôi xin đề nghị:

- Ông Vũ Dũng có thể cho biết: Trong Văn kiện “Bị vong lục của Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam về việc nhà cầm quyền Trung Quốc gây khiêu khích, xâm lấn lãnh thổ Việt Nam ở vùng biên giới” công bố ngày 15/03/1979 đã nhận định: “Đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc chạy suốt trên đất liền và trong vịnh Bắc bộ đã được hoạch định rõ ràng trong các Công ước ký kết giữa Chính phủ Pháp và triều đình nhà Thanh trong những năm 1887 - 1895 và đã được chính thức cắm mốc. Đó là một đường biên giới hoàn chỉnh cả trên đất liền và trong vịnh Bắc bộ, có cơ sở lịch sử trong đời sống chính trị lâu đời của hai dân tộc, có giá trị pháp lý quốc tế vững chắc, có đầy đủ yếu tố thực tế để nhìn nhận tại thực địa” (Nhà xuất bản Sự thật – Hà Nội, 1979) , là đúng hay sai? Nếu đúng, sao ông lại nói: “Đường biên giới chúng ta chưa bao giờ được phân định rạch ròi như bây giờ” (Tất nhiên là phân định rạch ròi theo Hiệp định 1999)? Nếu nhận định trên là sai thì sai ở điểm nào?

- Các vùng lãnh thổ, vùng biển vịnh Bắc bộ nước ta (được hoạch định theo Công ước Pháp-Thanh) bị Trung Quốc lấn chiếm từ thời Tưởng Giới Thạch đến chiến tranh biên giới phía Bắc (cụ thể như các vùng Trình Tường – Quảng Ninh; điểm nối ray đường sắt Việt-Trung, cửa khẩu Hữu Nghị quan; Thanh Lòa – Lạng Sơn, Khẳm Khau, Phia Can – Cao Bằng; Tả Lững, Làn Phù Phìn, Minh Tân – Hà Giang; Nặm Chay – Lào Cai ..v..v.. và ..v..v..) như bản Bị vong lục trên và các tư liệu từ năm 1979 nêu ra đã được giải quyết như thế nào trong Hiệp định 1999 và việc cắm mốc mới vừa qua, nghĩa là Trung Quốc đã trả lại cho Việt Nam chưa hay lại giải quyết theo tinh thần hữu nghị “các chữ vàng” như Khu vực Bản Giốc?

- Ông Vũ Dũng với tư cách nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao - đặc trách vấn đề biên giới, hay người kế nhiệm ông hiện nay có thể đề nghị Chính phủ cho công bố (có “công chứng” để đảm bảo tính xác thực”) các Bản đồ thực địa biên giới đất liền và vịnh Bắc bộ theo Công ước Pháp – Thanh và Hiệp ước 1999.

Những điều trên đây không chỉ là ý kiến riêng của chúng tôi mà còn là của rất nhiều người có trách nhiệm trước một vấn đề đại sự của quốc gia, dân tộc và lịch sử. Chúng tôi nghĩ những vấn đề trên có lẽ không thể xem là bí mật quốc gia mà không cho dân biết – dân bàn – dân kiểm tra. Công bố rộng rãi các tư liệu có liên quan đến vấn đề bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ nước ta chính là thực hiện đúng đắn tinh thần “công khai – dân chủ – trung thực – dũng cảm, nhìn thẳng vào sự thật” của Đảng”.

Hàn Vĩnh Diệp

[1] Bài phỏng vấn của ông Vũ Dũng đăng lại trong sách Hoàng Sa- Trường Sa của Việt Nam. Nxb. Trẻ. 6/2009. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ cắm mốc mới trên biên giới Việt-Trung, ông Vũ Dũng được điều chuyển làm Đại sứ tại Liên Hiệp Quốc.

© Thông Luận 2009

Khách Kẹt Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 15:45, 12/09/2013 - mã số 97330

Trích lời ông Thứ trưởng ngoại giao Lê Công Phụng trong bài Phỏng vấn của Thứ trưởng Ngoại giao CS Lê Công Phụng (Thu Uyên - VASC Orient):

“Về thác Bản Giốc, thì đây là điều rất phức tạp. Chúng tôi cũng rất lạ là trong sách sử của chúng ta và Trung Quốc từ năm 1960 đến nay, không ai nói thác Bản Giốc có phần là của Trung Quốc. Ngay Trung Quốc cũng không nói đấy là của Trung Quốc. Còn đối với chúng ta, thác này đã đi vào sử sách, nhất là sách giáo khoa của học sinh, thành di tích, điểm du lịch được nhiều người ưa chuộng.
Đây là điều mà chúng tôi rất khó hiểu, bởi lẽ trong công ước giữa nhà Thanh và Pháp, thác Bản Giốc chỉ thuộc về chúng ta có 1/3 thôi; và theo thực trạng cột mốc được cắm từ thời nhà Thanh, thì chúng ta cũng chỉ được 1/3 thác.”

Chuyện nghe như trong cổ tích. Hơn 100 năm (từ 1884, 1895 đến 1999, chứ không phải từ 1966 như ông Lê Công Phụng đã nói) chưa ai nói là thác Bản Giốc có phần của TQ (kể cả chính người TQ cũng vậy) đột nhiên xuất hiện một cái cột mốc nhỏ chơ vơ trên cồn Pòo Thong, thế là A LÊ HẤP, công ước Pháp Thanh được phía TQ đưa ra để chứng minh rằng phía VN chỉ được 1/3 thác (mà lại phần tệ nhất), phía TQ được 2/3 thác, phần hùng vĩ, tráng lệ nhất của thác. Thế tại sao hơn 100 năm qua người TQ không ai chịu đọc kỹ cái công ước Pháp Thanh để nhận 2/3 thác mà phải chờ đến năm 1999 mới thấy? Còn cái bị vong lục do chính Nhà nước “ta” tố cáo TQ lấn chiếm cồn Pòo Thong thì nay ông Trần Công Trục bảo là do phía VN ta tuyên truyền láo lếu vì lúc đó hai nước Việt Trung đang thù hận nhau.

Tôi thật sự phục sát đất cái lưỡi không xương của quý ngài Thứ trưởng ngoại giao của nước CHXHCNVN. Quý vị coi người dân VN như là một bọn con nít, ai nói gì cũng tin cả. Than ôi!

Khách Kẹt Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 05:40, 12/09/2013 - mã số 97300

Tôi xin có một ý kiến rất giản dị. Nếu theo lời ông Trần Công Trục là trong Công ước Pháp Thanh 1884 và 1895, thác Bản Giốc nằm trên đường biên giới Việt-Trung và một nửa thuộc VN, một nửa thuộc TQ, thì theo lương năng (tức là common sense trong Anh ngữ) mà ai sinh ra cũng có, thì hơn mấy trăm triệu người TQ (gần đây đã tăng lên hơn một tỷ) trong hơn 100 năm đã hoàn toàn NGU DỐT, KHỜ DẠI, BỎ QUÊN cái thác đẹp đẽ này khi họ tuyệt đối không bao giờ đề cập đến hoặc khai thác phần Bản Giốc của họ mà phải chờ đến năm 1999, sau khi ký được Hiệp định 1999 mới vội vàng đặt tên, quảng cáo và khai thác phần Bản Giốc "của họ" với cái tên MỚI NGUYÊN SI là thác Đức Thiên, mà họ gọi là đệ nhất hùng quan ở phương Nam của nước họ. Và trong hơn 100 năm, khi phía VN và thực dân Pháp tuyên bố trong sách vở, trên tem bưu chính toàn bộ thác Bản Giốc là của VN, người TQ hoàn toàn không phản đối. Thực là VÔ LÝ, không ai nghe lọt tai được.

Gửi phản hồi mới (xin gõ tiếng Việt có dấu và tuân thủ Nguyên tắc Dân Luận để được chấp nhận)

Bạn có thể bịa một địa chỉ email bất kỳ, ví dụ test@gmail.com. Thông tin này sẽ không xuất hiện công khai khi phản hồi được đăng.
  • Bạn có thể sử dụng các thẻ BBCode trong bài. Các địa chỉ URL sẽ được tự động chuyển thành liên kết.
  • Bạn có thể trích bài của người khác bằng thẻ [quote], ví dụ: [quote]Nội dung muốn trích dẫn[/quote]
  • Bạn có thể sử dụng những thẻ HTML sau: <a> <em> <strong> <ins> <b> <i> <u> <br> <cite> <code> <ul> <ol> <li> <dl> <dt> <dd> <h1> <h2> <h3> <h4> <h5> <table> <tbody> <td> <tr> <pre> <img> <div> <span> <object> <hr> <center> <font> <blockquote> <strike> <embed> <param> <del> <ins> <sub> <sup>
  • Bạn có thể chèn video vào bài viết bằng thẻ [video:địa_chỉ_url_của_video]
  • Cách dòng và cách đoạn sẽ được tự động chuyển thành xuống dòng.

Nhấn vào đây để biết thêm chi tiết về cách định dạng bài viết...

To prevent automated spam submissions leave this field empty.
CAPTCHA
Bạn bắt buộc phải trả lời câu hỏi kiểm tra dưới đây. Nó giúp chúng tôi nhằm lọc bỏ các nội dung spam do robot tự động thực hiện.
4 + 0 =
Giải bài toán đơn giản này và nhập kết quả vào ô phía trên. Ví dụ, nếu thấy 1+3, thì hãy nhập 4.

Suy ngẫm

Chống tham nhũng, điều quan trọng hơn là phải đẩy mạnh toàn bộ nền dân chủ, để cho sự kiểm soát không phải từ cơ quan chức năng mà từ rất nhiều phía khác nhau của cả xã hội.

— Lê Thành Kiên, con trai bác Lê Duẩn

Mới Mới Mới

Thống kê truy cập

Hiện có 2 thành viên245 khách truy cập.

Thành viên online

Tâm Như, Cát Bụi

Kỷ lục: Có 4638 người ghé thăm vào 15-05-2014 lúc 09h47.

Độc giả Dân Luận từ đâu đến?

Locations of visitors to this page

Quỹ Dân Luận

Hãy bấm để ủng hộ tài chính cho Dân Luận. Thu chi quỹ Dân Luận được công bố công khai tại đây!