Dương Trung Quốc - Nghĩ vào lúc Hiến pháp đang sửa đổi

Dương Trung Quốc
Chia sẻ bài viết này

Nguyễn Quang Lập: Một bài viết hay của bác Dương Trung Quốc. Nhưng có vẻ bác viết bài này cho giới trí thức đọc chứ không phải viết cho lãnh đạo đọc. Đảm bảo 100% trí thức Việt ( trí thức chứ không phải trí ngủ) đều cho rằng sửa đổi hiến pháp lần này nên lấy Hiến pháp 1946 làm gốc, vì thế bác DTQ không phải giải thích cho họ hiểu. Vấn đề là làm sao để lãnh đạo sáng ra được điều đó. Mà viết cho lãnh đạo thì không nên nói vòng vo, cần phải nói rõ ra sửa đổi hiến pháp lần này nên lấy Hiến pháp 1946 làm gốc vì a, b, c, d,.. may ra lãnh đạo mới chú ý đọc để từ đó thức ngộ một điều gì.

Câu chuyện Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp đang góp thêm vào không khí của những ngày đầu tiên của năm mới dương lịch 2013, cho dù những ngày giáp Tết âm lịch bận rộn đang đến gần.

Bản dự thảo sửa đổi bản Hiến pháp năm 1992 đã được công bố và việc lấy ý kiến của nhân dân trong vòng ba tháng không chỉ được khẳng định bằng những kế hoạch triển khai rộng khắp mà còn nhận được những thông điệp khích lệ của những nhà lãnh đạo kêu gọi toàn dân hưởng ứng với tinh thần phát huy dân chủ, không e ngại những ý kiến khác biệt, thậm chí cho rằng không có “vùng cấm” khi đưa ra chính kiến, mặc dù cũng không quên nhắc nhở phải cảnh giác với những âm mưu hay nguy cơ không xuất phát từ thiện chí và trách nhiệm cùng “diễn biến hoà bình” và nay còn có thêm “tự diễn biến”…

Cơ quan soạn thảo cũng nhấn mạnh rằng, việc lấy ý kiến nhân dân vốn đã là một “truyền thống” từng được thực hiện ở cả 4 bản hiến pháp từ 1946, 1959, 1980 và 1992 nhằm thể hiện một tinh thần cơ bản của Hiến pháp là “quyền phúc quyết của nhân dân”. Khi phân tích và so sánh các bản hiến pháp đã từng được soạn thảo thì có một sự đồng thuận rất cao khi cho rằng bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 mang tính “chuẩn mực”, “kinh điển”. Nhưng trên thực tế thì văn kiện quan trọng này mới được thông qua ở kỳ họp thứ hai của Quốc hội khoá I (9.11.1946) mà chưa được ban hành. Các hiến pháp 1959 ,1992 thì mỗi văn bản phát huy được chừng hai thập kỷ, còn Hiến pháp 1980 thì cũng chỉ duy trì được 12 năm với vài lần sửa sang.

Tuy không hẳn là tiêu chí duy nhất, nhưng tính ổn định của một quốc gia thể hiện bằng sức sống (tuổi thọ) của một bản hiến pháp. Nước Mỹ là một trường hợp điển hình, Hiến pháp chỉ có 7 điều mà tồn tại đã hơn hai trăm năm. Người ta giải thích rằng, song hành với bản Hiến pháp ổn định ấy là cả một năng lực rất thành thục trong việc giải thích hiến pháp một cách rất chuyên nghiệp nhằm vận dụng những nội dung mang tính nguyên lý vào những biến đổi hết sức cụ thể của đời sống phát triển. Nói như người phương Đông , đó là cái năng lực “dĩ bất biến ứng vạn biến”.

Vậy thì vì sao Việt Nam là một dân tộc, do nhiều hoàn cảnh địa lý và lịch sử đã nổi tiếng là ứng biến giỏi, thích nghi giỏi, cũng lấy cái bất biến để ứng với vạn biến mà tồn tại đến ngày nay, vượt qua mọi thách thức mà Hiến pháp dường như thiếu tính ổn định kể từ sau văn bản đầu tiên?


Bác Hồ chụp ảnh cùng các đại biểu Quốc hội khóa I.

Điều dễ thấy là Hiến pháp 1946 là văn kiện lần đầu tiên trong lịch sử của dân tộc Việt Nam được soạn thảo, nó chỉ kế thừa duy nhất là tinh thần của bản Tuyên ngôn Độc lập được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình Lịch sử ngày 2.9.1945 và nó được coi là thành tựu trực tiếp của cuộc Cách mạng Tháng Tám giành độc lập với ngoại bang và chấm dứt chế độ quân chủ đã từng tồn tại cả ngàn năm ở trong nước. Cũng có thể nói, nó tựa như Hiến pháp Hoa Kỳ bắt nguồn từ những tư tưởng của bản “Tuyên ngôn Độc lập” năm 1776 hay Hiến pháp của nền Cộng hoà Pháp bắt nguồn từ những nguyên lý của bản “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” gắn với cuộc cách mạng lật đổ chế độ quân chủ 1789.

Nghĩ cho sâu xa mới hiểu được vì sao người đứng đầu cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam cũng là người thiết kế những ý tưởng đặt nền móng cho Hiến pháp nước ta lại dẫn những tư tưởng cơ bản nhất của 2 bản tuyên ngôn của hai quốc gia lập hiến trước chúng ta là Mỹ và Pháp trong bản Tuyên ngôn Độc lập của mình. Vì thế, không chỉ đến khi soạn thảo Hiến pháp thì thể chế (mô hình) chính trị mới được lựa chọn mà ngay trong Tuyên ngôn Độc lập đã xác định “Nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”. Nói cách khác là bản Hiến pháp 1946 chính là việc soạn thảo một văn kiện nhằm chế định cái thể chế chính trị đã được khẳng định bằng chính một cuộc cách mạng của toàn dân để xác lập nền độc lập dân tộc, tạo cơ hội để nhân dân có quyền quyết định vận mệnh của mình, thực hiện cái điều sau này được thể hiện trong Hiến pháp là “quyền phúc quyết của nhân dân”.

Vì vậy nếu bằng con mắt của người chép sử mà sắp xếp những sự kiện được vận động theo thời gian, người ta sẽ nhận ra rằng chỉ sau khi giành chính quyền một thời gian rất ngắn, người đứng đầu Chính phủ lâm thời đã đặt vấn đề xây dựng Hiến pháp lên hàng đầu sau khi đã thành lập Quốc hội.

Có một điều cũng đáng suy ngẫm rằng, vì sao nhà cách mạng Hồ Chí Minh đã từng trải ở nước Nga Xôviết, rồi Công xã Quảng Châu, học tập nhiều lý luận về chủ nghĩa cộng sản với tư cách một chiến sĩ của Quốc tế Cộng sản, mà khi giành được chính quyền trong tay thì không lựa chọn mô hình Xôviết (mô hình đã từng một lần vận dụng một cách ấu trĩ trong thời kỳ 1930-1931 ở Nghệ Tĩnh)?

Còn thể chế dân chủ cộng hoà được diễn giải bằng những mục tiêu: Dân tộc – độc lập, dân quyền – tự do và dân sinh – hạnh phúc lại chính là “Chủ nghĩa Tam dân” của nhà lãnh đạo nổi tiếng Trung Hoa là Tôn Trung Sơn đã vận dụng những thành tựu chính trị của thế giới- mà trực tiếp là của nước Mỹ- cho yêu cầu của các nước còn được coi là “nhược tiểu” trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, trong đó có cả nước Trung Hoa giàu và đông, nhưng nghèo và lạc hậu. Cái nguyên lý về một “nhà nước của dân, do dân, vì dân” cũng bắt nguồn từ nền chính trị Mỹ và câu chữ ấy được thể hiện lần đầu trong một bài diễn văn của Tổng thống Hoa kỳ thứ 16 Abraham Lincohn.

Lựa chọn thể chế chính trị này và được thể hiện ngay từ trong Cương lĩnh của Mặt trận Việt Minh được viết như sự đúc kết 30 năm đi khắp thế giới nhằm lựa chọn mô hình cho sự phát triển đất nước (mà cứu nước chỉ là mục tiêu ban đầu) của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh (1911-1941). Chính sự lựa chọn đúng đắn này đã tạo nên sự đồng thuận rất nhanh chóng và mạnh mẽ trong nhân dân sau khi đã giành được chính quyền.

Cần nhớ rằng, vào thời điểm tiến hành bầu cử Quốc hội và dự thảo bản Hiến pháp đầu tiên, trên đất nước Việt Nam mới độc lập không có chế độ “một đảng lãnh đạo”, thậm chí Đảng Cộng sản Đông Dương còn tuyên bố “tự giải tán”, đại diện công khai tham gia Quốc hội và soạn thảo Hiến pháp chỉ còn có “Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác”. Không đi sâu vào bản chất việc “tự giải tán” của Đảng, nhưng một thực tế cho thấy ngay trong bối cảnh phức tạp như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh- người lãnh đạo cao nhất của Đảng- vẫn chủ động thành công trong việc xác lập thể chế chính trị của đất nước. Hoàn toàn có thể nói rằng, vị Chủ tịch Nhà nước Việt Nam độc lập còn chủ động tạo ra hình thái “đa nguyên, đa đảng” với việc chấp nhận “mời” 70 thành viên của các đảng phái chính trị trước đó “tẩy chay” tham gia tổng tuyển cử vào làm đại biểu Quốc hội.

Bàn về thể chế chính trị của Việt Nam trong hoài bão đất nước giành được độc lập, trước Cách mạng Tháng Tám 1945 đã hình thành một nhóm trí thức tây học am hiểu luật học và các ngành kinh tế xã hội tập hợp xung quanh tờ báo “Thanh Nghị” để bàn về tương lai đất nước một khi giành được độc lập. Chính nhiều nhân vật trong nhóm này đã chủ động cộng tác và được mời cộng tác, rồi tham gia chính phủ Hồ Chí Minh bởi đã có một sự đồng thuận rất cao về sự lựa chọn thể chế chính trị của nước Việt Nam độc lập.

Ngay cả Bảo Đại- ông vua cuối cùng của triều Nguyễn, được đào tạo học vấn phương Tây- dù luyến tiếc ngai vàng và không thể không lo sợ trước sức mạnh áp đảo của cách mạng, nhưng cái mô hình dân chủ cộng hoà mà vị vua sau khi thoái vị đã nhận làm công dân rồi trở thành cố vấn tối cao Vĩnh Thuỵ bên cạnh Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Chính sự lựa chọn thể chế chính trị này đã không dẫn đến những gì xảy ra như ở nước Pháp trong cách mạng tư sản hay nước Nga trong cách mạng vô sản…, mà nó còn tạo nên nền tảng mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc mà chúng ta được chứng kiến trong những trang sử gắn liền với thể chế dân chủ – cộng hoà .

Nghiên cứu lịch sử xây dựng Hiến pháp năm 1946, chúng ta thấy những yếu tố tạo nên giá trị bền vững đã diễn ra sau sự lựa chọn thể chế được thể hiện trong bản Tuyên ngôn Độc lập. Một quốc hội nhanh chóng được bầu theo phương thức được coi là dân chủ và tiên tiến nhất đương thời là phổ thông đầu phiếu có sự bình đẳng tuyệt đối giữa nam và nữ trong việc bầu cử và tham gia Quốc hội, giữa các tôn giáo, sắc tộc và tầng lớp xã hội (vào thời điểm ấy ngay cả nhiều nước Châu Âu đã phát triển cũng chưa đạt tới). Một quốc hội được triệu tập theo đúng những thông lệ quốc tế: Người chủ trì phiên đầu là vị đại biểu cao niên nhất lại là tín đồ đạo Thiên chúa- cụ Ngô Tử Hạ, người dân có thể vào quan sát phiên họp tại khu vực tầng cao nhất của Nhà hát Lớn Hà Nội. Một ủy ban soạn thảo Hiến pháp được cử ra gồm toàn những trí thức, sau đó được bổ sung nhiều nhà luật học… Những nội dung soạn thảo trước khi triệu tập kỳ họp thứ hai được đưa ra diễn đàn báo chí trao đổi.

Ngày nay, đọc lại biên bản tường thuật kỳ họp thứ hai của Quốc hội khoá I kéo dài từ 28.10 đến 9.11.1946 thì phần lớn thời gian dành để thảo luận về Hiến pháp (tổng cộng 7 ngày). Tham gia thảo luận rất sôi nổi với những gương mặt rất tiêu biểu của giới trí thức đương thời (như Trần Đình Tri (Việt Minh), Trần Trung Dung (Việt Nam Quốc dân Đảng), Lê Thị Xuyến (Xã hội), Trần Huy Liệu (Mácxít), Hồ Đức Thành (Cách mạng Đồng minh Hội), Hoàng Văn Đức (Dân chủ)…, người ta nhận ra sự đồng thuận nhiều hơn sự bất đồng của các đại biểu thuộc các đảng phái khác nhau.

Sự bất đồng chủ yếu là chấp nhận thể chế dân chủ – cộng hoà, nhưng với mô hình một viện hay hai viện. Hai ý kiến đều là đại biểu của Việt Nam Quốc dân Đảng không tán thành một viện cho rằng dân chúng vì chưa được huấn luyện nhiều về chính trị nên chế độ một viện chưa thích hợp với nước ta (Trần Trung Dung), chế độ một viện là độc tài của đa số (Phạm Gia Đỗ)… Cuối cùng, khi biểu quyết thông qua Hiến pháp, trong số 242 đại biểu có mặt thì chỉ có hai lá phiếu phản đối. Một của Phạm Gia Đỗ- ngoài vấn đề không tán thành một viện- còn đề nghị bãi bỏ kiểm duyệt, tự do xuất bản… Và người thứ hai lại là nhà công thương nổi tiếng của thành phố Hải Phòng Nguyễn Sơn Hà, lấy lý do trong Hiến pháp, quyền của các nhà tư bản Việt nam không bằng quyền của các nhà tư bản Pháp và ngoại quốc được Nhà nước Việt Nam thoả hiệp theo tinh thần của Hiệp định Sơ bộ 6.3.1946)…

Bản Hiến pháp 1946 đã được thông qua bằng 240 phiếu thuận.

Và kết luận kỳ họp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu: “…Sau khi nước nhà mới được tự do 14 tháng, đã làm được bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà. Bản Hiến pháp ấy còn là một vết tích lịch sử Hiến pháp đầu tiên trong cõi Á Đông này nữa. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do…”.

Nhắc lại bản Hiến pháp đầu tiên để nói đến cái nền tảng bền vững của một thể chế chính trị mà thực tiễn cho thấy cho đến ngày nay, khi đã có 3 bản hiến pháp tiếp theo ra đời vào những giai đoạn lịch sử sau đó, ngoài Hiến pháp 1959 vẫn còn có sự tham gia của Chủ tịch Hồ Chí Minh và vẫn duy trì thể chế dân chủ – cộng hoà thì đến năm 1976, quốc danh Việt Nam đã chuyển qua thể chế “Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa”. Và bản Hiến pháp ngắn ngủi nhất trong lịch sử ra đời 1980 phải coi là một bước lùi khi đã có khuynh hướng Xôviết hoá theo mô hình của một quốc gia hùng mạnh đang là đồng minh vững chắc của chúng ta trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước- của một giai đoạn lịch sử đầy khó khăn và chính cái mô hình ấy đã đổ vỡ hoàn toàn- đã thúc đẩy chúng ta phải đổi mới, mà hệ quả của nó chính là bản Hiến pháp 1992 mà giờ đây chúng ta đang tiếp tục sửa đổi.

Một thoáng nhìn lịch sử cũng đủ thấy cái nền tảng của Hiến pháp hiện tại hay tương lai, một khi xa rời cái nền móng được tạo dựng từ cuộc cách mạng và bản Tuyên ngôn Độc lập với thể chế dân chủ – cộng hoà mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, và cho đến nay nhiều quốc gia vẫn chấp nhận như một mô hình tiên tiến. Hơn thế nữa, những mục tiêu tưởng chừng rất khiêm nhường: Dân tộc, độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc đến nay vẫn không thay đổi, vì nó vẫn còn đang ở phía trước như những thách thức lâu dài. Không hẳn là một bước “lùi để tiến”, mà chính đó là cách phát triển bền vững nhất của một giá trị đã mang tính truyền thống.

Theo báo Lao Động

Admin gửi hôm Chủ Nhật, 20/01/2013
Bạn đánh giá bài viết này thế nào?

Chiến lược thâu tóm của Trung Quốc gặp trở ngại

Khủng hoảng, châu Á và Việt Nam

Phân biệt giữa lãnh đạo và quản lý trong khoa học

Vụ cô gái bị điện giật chết: EVN chối bỏ trách nhiệm?

Khi nhà đầu tư núp bóng Nhà nước


Trần Hữu Cách (khách viếng thăm) gửi lúc 02:16, 21/01/2013 - mã số 77188
Dương Trung Quốc viết:
Vậy thì vì sao Việt Nam là một dân tộc, do nhiều hoàn cảnh địa lý và lịch sử đã nổi tiếng là ứng biến giỏi, thích nghi giỏi, cũng lấy cái bất biến để ứng với vạn biến mà tồn tại đến ngày nay, vượt qua mọi thách thức mà Hiến pháp dường như thiếu tính ổn định kể từ sau văn bản đầu tiên?

Xin nhận định lại: người Việt Nam thích nghi và ứng biến đều giỏi nhưng rõ ràng là không biết "bất biến" là gì. Nhìn cả nước từ người già đến em nhỏ phóng xe máy ào ạt trên đường mỗi ngày thì người ta sớm ngộ ra cái ý niệm "bất biến" chỉ là một cục sạn còn lại trong não bộ của một số nhà cổ học -- và những lãnh đạo sợ thay đổi, một sự thay đổi bất kỳ.

Nguyễn Phú Trọng (khách viếng thăm) gửi lúc 00:35, 21/01/2013 - mã số 77179

>>> Cái nguyên lý về một “nhà nước của dân, do dân, vì dân” cũng bắt nguồn từ nền chính trị Mỹ và câu chữ ấy được thể hiện lần đầu trong một bài diễn văn của Tổng thống Hoa kỳ thứ 16 Abraham Lincohn.

Nói đến nguyên lý chung chung trong lịch sử của Mỹ làm gì, chế độ Ngụy Sài gòn cách đây hơn 40 năm có để lại trong hiến pháp một nguyên tắc phân quyền cụ thể, rõ ràng là: tam quyền phân lập. Thế nhưng các tiến sĩ, giáo sư, phó giáo sư, nghị sĩ quốc hội, lãnh đạo chính trị, chuyên gia của ta suốt gần 40 năm qua cứ loay hoay không hiểu nổi nguyên tắc này.

Nếu không thực hiện cụ thể được tam quyền phân lập thì mọi lập luận về “nhà nước của dân, do dân, vì dân” chỉ nhằm phục vụ chuyên chính vô sản, chế độ Đảng chủ của ta.

Tớ cũng hiểu nguyên tắc phân quyền đó, nhưng phạm trù "bảo vệ Đảng, bảo vệ cơ chế cùng với cái ghế và cái sổ hưu" là ưu tiên hàng đầu.

Khách Diệu Anh (khách viếng thăm) gửi lúc 22:33, 20/01/2013 - mã số 77164

Ông Dương Trung Quốc là nhà sử học nổi tiếng hiện nay, tôi không dám "đáng trống qua cửa nhà sấm", mặt khác động đến một người có tiếng thì chưa chắc còm đã được hiển thị, nhưng tôi cứ mạnh dạn phát biểu vì Dân luận là không gian mở cho các ý kiến. Ông DTQ quên một điều là tất cả những văn bản công khai của Dảng thường chỉ là sách lược và nói một đằng làm một nẻo. Hổi 1945 lực lượng Việt Minh có bao nhiêu mà dám tuyên bố làm cách mạng XHCN chỉ có Đảng CS lãnh đạo độc quyền?
Nếu đọc lại lích sử Đảng CS thì thấy rõ Đảng CS làm CM XHCN chia ra hai giai đoạn, thời kỳ đầu là cách mạng dân chủ tư sản (vì thế mới cho ra đời HP 1946 được đánh giá là HP tiến bộ nhất trong các HP sửa của nước ta). Khi đủ lực lượng rồi, chiếm được toàn cõi Việt Nam thì Đảng CS mới công khai tuyên bố xây dựng CNXH, nhưng cho đến nay đã trải qua gần nửa thế kỷ thì vẫn không hình dung ra cái CNXH ấy nó như thế nào.

Nói tóm lại HP 1946 chỉ là chiêu bài, Đảng tuyên bố tự giải tán nhưng thực chất là rút vào bí mật. Hối áy các đảng viên khi đi họp chi bộ thì chỉ bấm nhau bí mật mà đi chứ không dám tuyên bố công khai. HP 1946 chính là một thủ đoạn lưà dân của cụ HCM. Nhưng chính cái giả (HP1946) lại có giá trị hơn cái thật là những HP sau này.

Nhưng tương lai sẽ như thế nào thì tôi thấy nhân dân càng giác ngộ thì càng mất tin tưởng vào Đảng. Có một nhạn xet về lịch sử lại không phải là nhà sử học đưa ra, nhưng tôi tháy alf đúng: "Đàu thế kỷ XX nước ta có một điểu nổi bạt là nhiều đnagr phái ra đời, Luc đàu đảng nào cũng ít nhiều có yếu tố tiến bộ, nhưng càng ngày thì các đảng đều thoái hóa biến chất, có đảng đã lưu manh hóa trở thành mafia, đảng CS cũng thế thôi." Mặt khác càng ngày Đảng càng lộ bộ mặt thật đến nỗi chính những đảng viên (có người đã ngoài 60 tuổi đảng) cũng phản đối. Nếu thật công bằng mà nói thì Đảng CS cũng mở mắt dần daà và cũng có một vaì thay đổi nhỏ, tỏ ra giác ngộ về dân tộc, có thể lấy thí dụ cụ thể là ngày nay Đảng không còn treo ảnh hai ông Tây trong các cơ quan và hội trường các hội nghị của Đảng như trước nữa, mà chỉ treo cờ búa liềm (biểu tượng thô kệch lao động cơ bắp chứ không trí tuệ). Nay mở đầu HP đã đưa hai ông tây vào HP chứng tỏ ta độc lập về chính quyền nhưng lại nô lệ về tư tưởng, làm mất niềm tự hào dân tộc. Mặt khác cả thế giới đã vứt cái chủ nghiã Mác Lênin vào sọt rác rồi. Bao giờ xóa bỏ nốt cái cờ búa liềm thì nước ta mới tiến lên được.

Hiến Pháp phải là của Nhân Dân (khách viếng thăm) gửi lúc 22:26, 20/01/2013 - mã số 77163
kana viết:
Nhà nước ta đã và đang phát động phong trào "làm theo tấm gương đạo đức HCM" mà Bác Hồ từ khi bắt đầu làm CM thì đã có tâm huyết là làm cho dân tộc ta được độc lập, tự do, dân chủ, hạnh phúc và tiến bộ. Nên khi giành được chính quyền Bác liền đặt tâm huyết đó vào tuyên ngôn độc lập(2/9/1945) và cùng với nhân tài trí thức cả nước soạn thảo hiến pháp rồi ban hành 1946 mà 9da số nhân dân cả nước đều ưng thuận.
Vậy nhà nước ta nên lấy hiến pháp 1946 làm góc bền vững, tuy nhiên, xã hội loài người ngày càng tiến bộ văn minh thì nhà nước ban hành những văn bản pháp luật dựa theo tinh thần hiến pháp cho phù hợp và quốc hội thông qua.
Đó không những làm theo tấm gương đạo đức HCM mà còn làm đúng tâm nguyện của Bác.

Dẹp bỏ mấy cái chuyện quá khứ, tâm nguyện, ... qua một bên cho dân nhờ !

Dân trí VN bây giờ khá cao. Trí thức khoa bảng khá nhiều. Cứ để dân đón góp ý kiến. Một ủy ban độc lập soạn thảo HP mới, giải thích vài tháng, thu thập thêm ý kiến, chỉnh sửa lại rồi đưa HP mới trưng cầu dân ý.

Hiến pháp là của dân và để họ quyết định

kana (khách viếng thăm) gửi lúc 20:30, 20/01/2013 - mã số 77150

Nhà nước ta đã và đang phát động phong trào "làm theo tấm gương đạo đức HCM" mà Bác Hồ từ khi bắt đầu làm CM thì đã có tâm huyết là làm cho dân tộc ta được độc lập, tự do, dân chủ, hạnh phúc và tiến bộ. Nên khi giành được chính quyền Bác liền đặt tâm huyết đó vào tuyên ngôn độc lập(2/9/1945) và cùng với nhân tài trí thức cả nước soạn thảo hiến pháp rồi ban hành 1946 mà 9da số nhân dân cả nước đều ưng thuận.
Vậy nhà nước ta nên lấy hiến pháp 1946 làm góc bền vững, tuy nhiên, xã hội loài người ngày càng tiến bộ văn minh thì nhà nước ban hành những văn bản pháp luật dựa theo tinh thần hiến pháp cho phù hợp và quốc hội thông qua.
Đó không những làm theo tấm gương đạo đức HCM mà còn làm đúng tâm nguyện của Bác.

Dư luận viên free ? (khách viếng thăm) gửi lúc 18:41, 20/01/2013 - mã số 77142
vĩ đại viết:
Bác Dương Trung Quốc viết:
Nghĩ cho sâu xa mới hiểu được vì sao người đứng đầu cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam cũng là người thiết kế những ý tưởng đặt nền móng cho Hiến pháp nước ta lại dẫn những tư tưởng cơ bản nhất của 2 bản tuyên ngôn của hai quốc gia lập hiến trước chúng ta là Mỹ và Pháp trong bản Tuyên ngôn Độc lập của mình.

Hị, lúc đó cụ Hồ đã mê mệt chủ nghĩa cộng sản rồi, ôm luận cương Lenin mà nước mắt tuôn rơi. Từ hồi mới đặt chân về Cao Bằng Pắc Pó 1941 cụ đã:

Bàn đá chênh vênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang

Cụ dịch lịch sử đảng cộng sản Liên Xô say sưa. Những mẩu chuyện cụ viết về Liên Xô dưới tên Trần Dân Tiên 1947 ca ngợi CNCS hết lời. Cụ thừa nhận cả đời cụ hoạt động trong phong trào Quốc tế III... Những điều này người ta nói mãi rồi, tràn ngập trên mạng nhưng vẫn cứ phải nhắc đi nhắc lại hoài. Vẫn còn những người như bác Dương Trung Quốc thì nhà cháu còn thấy ngứa tay, cả nhà thông cảm nhá.

Cụ Hồ trích dẫn Pháp, Mỹ chẳng qua là để dùng gậy ông đập lưng ông. Hiến pháp của chúng mày viết thế này, vậy hãy cuốn xéo khỏi Việt Nam ngay, đừng can thiệp vào bọn ông nữa. Nói thật, nếu Pháp Mỹ không dây dưa thêm vài chục năm, Việt Nam khó tránh khỏi một cuộc cách mạng văn hóa bi thảm theo Trung Quốc vì khi đó cụ Hồ sẽ đón bà Tăng Tuyết Minh về, chính thức làm chàng rể Trung Quốc.

Đọc bác sử ra đại biểu QH Dương Trung Quốc viết ấm ớ, mê sảng, phát chán tôi chả muốn viết comment, nay có bác "vĩ đại" viết comment, đúng ý tôi
Chả lẽ bác Dương Trung Quốc đầu quân làm Dư luận viên free ?

vĩ đại (khách viếng thăm) gửi lúc 18:23, 20/01/2013 - mã số 77140
Bác Dương Trung Quốc viết:
Nghĩ cho sâu xa mới hiểu được vì sao người đứng đầu cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam cũng là người thiết kế những ý tưởng đặt nền móng cho Hiến pháp nước ta lại dẫn những tư tưởng cơ bản nhất của 2 bản tuyên ngôn của hai quốc gia lập hiến trước chúng ta là Mỹ và Pháp trong bản Tuyên ngôn Độc lập của mình.

Hị, lúc đó cụ Hồ đã mê mệt chủ nghĩa cộng sản rồi, ôm luận cương Lenin mà nước mắt tuôn rơi. Từ hồi mới đặt chân về Cao Bằng Pắc Pó 1941 cụ đã:

Bàn đá chênh vênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang

Cụ dịch lịch sử đảng cộng sản Liên Xô say sưa. Những mẩu chuyện cụ viết về Liên Xô dưới tên Trần Dân Tiên 1947 ca ngợi CNCS hết lời. Cụ thừa nhận cả đời cụ hoạt động trong phong trào Quốc tế III... Những điều này người ta nói mãi rồi, tràn ngập trên mạng nhưng vẫn cứ phải nhắc đi nhắc lại hoài. Vẫn còn những người như bác Dương Trung Quốc thì nhà cháu còn thấy ngứa tay, cả nhà thông cảm nhá.

Cụ Hồ trích dẫn Pháp, Mỹ chẳng qua là để dùng gậy ông đập lưng ông. Hiến pháp của chúng mày viết thế này, vậy hãy cuốn xéo khỏi Việt Nam ngay, đừng can thiệp vào bọn ông nữa. Nói thật, nếu Pháp Mỹ không dây dưa thêm vài chục năm, Việt Nam khó tránh khỏi một cuộc cách mạng văn hóa bi thảm theo Trung Quốc vì khi đó cụ Hồ sẽ đón bà Tăng Tuyết Minh về, chính thức làm chàng rể Trung Quốc.

Gửi phản hồi mới (xin gõ tiếng Việt có dấu và tuân thủ Nguyên tắc Dân Luận để được chấp nhận)

Bạn có thể bịa một địa chỉ email bất kỳ, ví dụ test@gmail.com. Thông tin này sẽ không xuất hiện công khai khi phản hồi được đăng.
  • Bạn có thể sử dụng các thẻ BBCode trong bài. Các địa chỉ URL sẽ được tự động chuyển thành liên kết.
  • Bạn có thể trích bài của người khác bằng thẻ [quote], ví dụ: [quote]Nội dung muốn trích dẫn[/quote]
  • Bạn có thể sử dụng những thẻ HTML sau: <a> <em> <strong> <ins> <b> <i> <u> <br> <cite> <code> <ul> <ol> <li> <dl> <dt> <dd> <h1> <h2> <h3> <h4> <h5> <table> <tbody> <td> <tr> <pre> <img> <div> <span> <object> <hr> <center> <font> <blockquote> <strike> <embed> <param> <del> <ins> <sub> <sup>
  • Bạn có thể chèn video vào bài viết bằng thẻ [video:địa_chỉ_url_của_video]
  • Cách dòng và cách đoạn sẽ được tự động chuyển thành xuống dòng.

Nhấn vào đây để biết thêm chi tiết về cách định dạng bài viết...

To prevent automated spam submissions leave this field empty.
CAPTCHA
Bạn bắt buộc phải trả lời câu hỏi kiểm tra dưới đây. Nó giúp chúng tôi nhằm lọc bỏ các nội dung spam do robot tự động thực hiện.
2 + 1 =
Giải bài toán đơn giản này và nhập kết quả vào ô phía trên. Ví dụ, nếu thấy 1+3, thì hãy nhập 4.

Suy ngẫm

Bạn có thể lẩn tránh việc suy nghĩ hay bàn luận về chính trị, nhưng chính trị thì chẳng bao giờ lẩn tránh bạn!

— Tướng Aung San, cha của Aung San Suu Kyi

Mới Mới Mới

Thống kê truy cập

Hiện có 1 thành viên429 khách truy cập.

Thành viên online

Admin

Kỷ lục: Có 4638 người ghé thăm vào 15-05-2014 lúc 09h47.

Độc giả Dân Luận từ đâu đến?

Locations of visitors to this page

Quỹ Dân Luận

Hãy bấm để ủng hộ tài chính cho Dân Luận. Thu chi quỹ Dân Luận được công bố công khai tại đây!