Chủ nghĩa toàn trị trong cơn khủng hoảng: Liệu có thể chuyển biến êm thấm để đến với dân chủ? (II)

Vladimir Bukovsky
Mọt Sách Già chuyển ngữ
Chia sẻ bài viết này

II. Xem xét dưới góc độ kinh tế

Ngay cả những chế độ độc tài ngu xuẩn nhất và luôn bị ám ảnh bởi quyền lực cũng không bao giờ ra mệnh lệnh buộc nhà sản xuất phải sản xuất theo cách nó mong muốn hay buộc thương gia phải buôn bán theo cách mà nhà nước đã định sẵn. Vậy mà trong các chế độ xã hội chủ nghĩa với nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp thì việc sản xuất từ cái kim, sợi chỉ đều theo kế hoạch định sẵn của chính quyền trung ương, tất cả đã được chính quyền quyết định từ trước: sản xuất như thế nào, sản xuất lúc nào, ở đâu, chất lượng bao nhiêu, số lượng bao nhiêu, giá cả thế nào. Không những thế những công dân trong các chế độ xã hội chủ nghĩa được dạy rằng hạnh phúc chỉ có thể đến với nhân loại nếu tất cả mọi thứ từ cây kim, sợi chỉ được kế hoạch hoá như vậy, nếu không như vậy thì sẽ là chiến tranh, đói nghèo, nô lệ những thứ mà con người nào có ai muốn?

Đế có thể hiểu được cơ cấu kinh tế xã hội chủ nghĩa ta nên đọc Kafka trước sau đó chỉ cần đọc Marx, bởi chỉ có làm như thế ta mới hiểu được mối liên hệ giữa quá trình sản xuất trong các nước xã hội chủ nghĩa và quá trình biến con người thành sâu bọ.

Phương thức sản xuất vật chất quy định cuộc sống xã hội, chính trị, và tri thức. Nhận thức của con người không quyết định sự tồn tại của họ mà ngược lại sự tồn tại xã hội của họ quyết định nhận thức. (3)

Nền công nghiệp hiện đại tạo ra quá trình sản xuất xã hội có tổ chức cao vượt ra ngoài phạm vi sản xuất gia đình đã tạo ra một nền tảng kinh tế mới... Hơn nữa rõ ràng rằng sự hình thành những nhóm lao động tập thể bao gồm nhiều cá thể với giới tính, lứa tuổi khác nhau, trong những điều kiện thích hợp trở thành hướng phát triển về phương thức sản xuất của nhân loại” (4)

Do đó Marx lập luận rằng sự phát triển của “chủ nghĩa tư bản” sẽ tất yếu dẫn đến “cách mạng vô sản” và dẫn tới sự ra đời của “chủ nghĩa xã hội”.

Cùng nhau xây dựng sự tập trung của tư liệu và công cụ lao động hay chính là sự tước đoạt của thiểu số tư sản, làm xuất hiện sự cộng tác trong quá trình lao động, ứng dụng các thành tựu khoa học, áp dụng các phương pháp canh tác đất đai, biến đổi công cụ lao động thành công cụ lao động chung của xã hội, tiết kiệm tư liệu sản xuất bằng việc sử dụng chúng như là tư liệu sản xuất của lực lượng lao động chuyên sâu và kết hợp, sự liên hệ, phụ thuộc lẫn nhau của con người trên thị trường quốc tế, và đó là đặc trưng quốc tế của các chế độ tư bản. Cùng với sự suy giảm số lượng các trùm tư bản kếch xù, những kẻ lợi dụng và độc quyền giành lấy tất cả những lợi thế từ quá trình chuyển đổi này, thì đồng thời cũng làm tăng lên sự nghèo đói, đau khổ, bị áp bức và bóc lột của giai cấp lao động, nhưng cũng làm giai cấp lao động lớn mạnh hơn, kỷ luật hơn, đoàn kết hơn, được tổ chức hơn nhờ vào chính quá trình sản xuất tư bản. Sự độc quyền của giai cấp tư sản ngày càng trở thành lực cản cho quá trình sản xuất mà từ đó nó ra đời và phát triển. Sự tập trung hoá cao độ tư liệu sản xuất và sự chuyên biệt hoá trong phân công lao động xã hội sẽ tiến tới điểm mà nó không còn có thể nằm bó buộc trong cái vỏ tư bản chật chội được nữa. Cái vỏ đó tất yếu phải bị vỡ ra làm nhiều mảnh. Đó là sự cáo chung của tư hữu tư bản. Những kẻ đi tước đoạt lại bị tước đoạt. (5)”

Không khó để có thể nhận ra rằng cả ba tập “tư bản luận”, được Marx viết ra là để làm “luận cứ khoa học” cho giấc mơ thời trai trẻ của ông về một cuộc cách mạng vô sản. Đơn giản là ông đã tưởng tượng ra một mô hình phát triển kinh tế mà theo đó sẽ tất yếu dẫn tới cuộc cách mạng. Chính vì vậy ông vứt bỏ đi phần quan trọng nhất của kinh tế thị trường đó chính là bản thân thị trường, với cơ chế xác lập giá riêng của chính nó – mà thay vào đó ông tưởng tượng ra một thứ “giá trị” kỳ quái của sản phẩm của quá trình sản xuất được đo bằng “thời gian lao động cần thiết trung bình của xã hội” đối với sản phẩm này:

Thời gian lao động cần thiết của xã hội là thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra giá trị sản phẩm trong điều kiện sản xuất bình thường của một xã hội với cường độ lao động và kỹ năng lao động trung bình vốn có trong xã hội” (6)

Tất cả là giá trị lao động bằng sức con người, còn những phát minh sáng chế, sáng kiến thì không được tính đến trong công thức của Marx, và do đó cách duy nhất để những tên tư bản “khốn kiếp” có thể kiếm được lợi nhuận (giá trị thặng dư) là bóc lột người lao động bằng cách trả lương thấp hơn giá trị lao động của anh ta (và do đó bóc lột giá trị thặng dư – ND). Nếu đúng là nền kinh tế tư bản phát triển như vậy thì Marx hoàn toàn đúng. Nền kinh tế sẽ phát triển rộng hơn nữa và ngày càng tiêu tốn tài nguyên và kém lợi nhuận, đồng thời số lượng những người vô sản sẽ tăng tỷ lệ thuận với sự phát triển đó và mức sống của họ sẽ suy giảm đến mức cùng khổ. Trong khi đó cách duy nhất để chiến thắng được trong cạnh tranh là tăng tập trung tư liệu sản xuất và độc quyền sản xuất, và cách duy nhất để tăng năng xuất lao động sẽ là đẩy mạnh hơn nữa quá trình phân công lao động, xây dựng công nghiệp quy mô, và cơ giới hoá, cho đến khi hầu như toàn bộ xã hội đã trở thành vô sản. Và tất nhiên điều dễ thấy, một xã hội như vậy khó mà tồn tại được lâu, với một nền kinh tế tự cung tự cấp thay vì là kinh tế hàng hoá, với nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt và lợi nhuận suy giảm nhanh chóng, và với một lượng khổng lồ những người lao động đói khổ, lại làm việc quá sức lúc nào cũng sẵn sàng nổi dậy.

Tuy nhiên cả trăm năm sau khi Marx qua đời, cái thế giới mà Marx gọi là “tư bản” đó đã không phát triển theo hướng mà Marx tiên đoán. Trên thực tế nền kinh tế thị trường tự do của thế giới phát triển theo hướng ngược lại với những suy đoán của Marx. Mỉa mai thay, những tiên đoán của Marx lại trùng khớp với mức độ chính xác đến kinh hoàng với sự phát triển của các nước xã hội chủ nghĩa, những nước dùng “phương thuốc chữa trị xã hội tư bản” của ông. Đây là một sự thật vừa bi và vừa hài.

Thực ra không khó để có thể hiểu làm thế nào và tại sao vở bi hài kịch đó lại diễn ra. Trong khi mục đích là xây dựng “thiên đường xã hội chủ nghĩa”, những đệ tử của Marx ở thế kỷ 20 lại tạo ra chính cái xã hội tư bản suy đồi mà Marx tưởng tượng ra và muốn xoá bỏ. Bởi vì theo Marx, mọi điều kiện, đặc tính, bao gồm cả “nhận thức xã hội chủ nghĩa” của giai cấp vô sản, đều được chuẩn bị bởi chủ nghĩa tư bản. Và nhiệm vụ của những người vô sản chỉ là loại trừ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, hay nói theo ngôn từ của Marx là “tước đoạt lại kẻ tước đoạt”

Cái mà chúng ta có ở đây là một xã hội cộng sản không có cơ sở riêng mà hình thành từ chính xã hội tư bản; chính vì mậy mà xét trên mọi mặt của xã hội như kinh tế, đạo đức, tri thức, vẫn còn mang dấu ấn của xã hội cũ, nơi thai nghén ra nó” (7)

Trong khi hệ thống chính trị cần phải thay đổi sang “nền chuyên chính vô sản”, hầu như không có thay đổi gì nhiều đối với cơ cấu kinh tế, ngoại trừ việc phân phối sản phẩm công bằng hơn. Cho đến khi tới giai đoạn tiếp theo, khẩu hiệu của chủ nghĩa xã hội là “Làm theo năng lực, hưởng theo lao động”.

Do đó, sẽ không còn có “giá trị thăng dư” cho bọn tư bản bóc lột; người lao động sẽ được trả toàn bộ giá trị lao động của anh ta dựa trên “thời gian lao động xã hội cần thiết”. Thêm vào đó vì lao động tập thể được xem là tiến bộ và hiệu quả hơn, nên cần phải có hệ thống khen thưởng tập thể thông qua các phúc lợi xã hội và loại bỏ được sự bất bình đẳng. Nhưng thật mỉa mai và cũng chẳng có gì ngạc nhiên, khi Liên Xô đi theo công thức của Marx đã có được một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ngày càng lớn, ngày càng dùng nhiều tài nguyên, và cũng ngày càng kém hiệu quả. Trên thực tế thì làm gì có ai làm việc vì phần thưởng tập thể cơ chứ? Tại sao một người lao động lại phải làm việc tích cực hơn người khác khi mà giá trị sản phẩm của anh ta lại được tính theo “Thời gian lao động cần thiết trung bình của xã hội ... trong điều kiện sản xuất bình thường của một xã hội với cường độ lao động và kỹ năng lao động trung bình vốn có trong xã hội”?

Xã hội mới xã hội chủ nghĩa hoàn toàn không chấp nhận thị trường, nơi bị coi là nguồn gốc của những bất công, lợi nhuận phi nhân tính, và thối nát. Thay vào chỗ của thị trường ở Liên Xô, sau khi quốc hữu hoá tất cả nhà máy, xí nghiệp, là cơ quan kế hoạch tập trung của nhà nước (Gosplan), nơi ra mệnh lệnh và điều phối tất cả quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm của quốc gia theo tinh thần của sự bình đẳng tuyệt đối mà Marx đưa ra. Độc quyền như chúng ta thấy là điều tệ hại trong xã hội tư bản, thì nay lại trở thành điều tốt trong xã hội xã hội chủ nghĩa vì nó giúp tổ chức lực lượng lao động theo phương thức xã hội chủ nghĩa.

Trong bất cứ nước xã hội chủ nghĩa nào, nhà nước là chủ lao động duy nhất, và ông chủ này luôn thích cho xây dựng những ngành công nghiệp nặng tốn kém, những nhà máy vĩ đại, những con đập, kênh đào quy mô thay vì tạo ra những xí nghiệp nhỏ hơn và có khả năng cạnh tranh với nhau. Tại sao lại không làm như thế cơ chứ? Chẳng phải là Marx đã dự đoán rằng chủ nghĩa xã hội là một tất yếu của lịch sử đó sao? vậy thì ai đi trước người ấy lợi. Ngoài ra việc xây dựng một nhà máy khổng lồ rõ ràng là rẻ hơn so với việc tạo ra hàng chục hay hàng trăm cái nhỏ hơn, đồng thời việc quản lý nó cũng dễ dàng hơn trong một nền quản lý tập trung kế hoạch hoá đến từng cây kim, sợi chỉ.

Cuối cùng việc xây dựng nên những “công trình thế kỷ”, những “công trình vĩ đại của thế giới”, những “đại công trường của chủ nghĩa xã hội” là những bằng chứng hiển hiện cho thấy sự ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa so với chế độ tư bản. Những công xã của những người vô sản phải luôn đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, thể hiện sức mạnh vô địch của mình trong những việc như bắt sông phải chảy ngược, hay biến cả sa mạc thành vườn hoa muôn sắc.

Chính vì vậy, trong khi “bọn tư bản” ngày càng đi xa cái mô hình mình Marx gán ghép cho chúng bằng cách loại trừ độc quyền trong công nghiệp, khuyến khích phát triển những xí nghiệp vừa và nhỏ, hiện đại hoá máy móc, công cụ sản xuất, tăng năng xuất thông qua khuyến khích cá nhân trong lao động, thì các nước xã hội chủ nghĩa lại nhanh chóng lâm vào khủng hoảng đúng như dự đoán của người thầy của họ.

Chúng ta hãy thử so sánh hai nền kinh tế đặc thù của hai bên là Mỹ và Liên Xô dựa trên những dấu hiệu mà Marx đưa ra. Marx tiên đoán rằng chủ nghĩa tư bản sẽ dẫn đến: (a) Sự tăng nhanh về mặt lượng của giai cấp vô sản, ngày càng nhiều người phải trở nên phụ thuộc và phải làm việc cho những nhà tư sản kếch xù; (b) Sự bần cùng hoá đến mức tột cùng của những người vô sản; © độc quyền, tập trung hoá, giảm lợi nhuận, tăng lượng hàng hoá sản xuất do sự cạnh tranh buộc nhà tư bản phải cơ giới hoá sản xuất để tồn tại; (d) phương thức sản xuất trở thành sự cản trở cho lực lượng sản xuất tiên tiến.

A. Giai cấp vô sản tăng nhanh

Không ai có thể tìm được ở nước Mỹ một sinh vật nào gọi là “vô sản”, nhưng nếu chúng ta dùng định nghĩa gốc của Marx về vô sản là những người công nhân trong các ngành công nghiệp và nông nghiệp (bao gồm công nhân trong các ngành lâm nghiệp, đánh cá, hầm mỏ, xậy dựng, giao thông, truyền thông) thì con số trong năm 1986 là 39, 493, 000 trong tổng số dân số là 238,740,000 tức là chiếm 16.24 phần trăm dân số. Mặc dù vậy không phải tất cả trong số này đều là “vô sản” bởi trong đó gồm cả những người làm công tác quản lý, nhân viên văn phòng, và chính cả những chủ tư bản.

Liên Xô vào thời điểm cách mạng tháng 10 chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ những người vô sản (khoảng 3% dân số, xem thêm cuốn Black Book of Communism –ND), vậy mà vào cùng năm đó (1986), con số là 61.7% là công nhân, 12.1 % là nông trang viên (xã viên hợp tác xã - ND), và 26.2% “trí thức” trong tổng số 278,800,000 dân.

Cho dù chúng ta có không tính nông trang viên vào mục “vô sản” thì tỷ lệ những người vô sản ở Mỹ và Liên Xô tại năm 1986 vẫn là 1:3.79. Nếu tính cả số nông trang viên, mà trên thực tế chính là những người vô sản, thì tỷ lệ này sẽ là 1:4.5.

Như vậy phát triển công nghiệp trong các nước xã hội chủ nghĩa đã làm tăng nhanh giai cấp vô sản, tăng đến mức khó có thể tăng hơn nữa. Điều đó hoàn toàn trùng khớp với dự đoán của Marx về chủ nghĩa tư bản. Nước Mỹ có lượng người vô sản ít hơn 4.5 lần so với Liên Xô, cộng thêm 7 triệu người thất nghiệp, trong khi đó Liên Xô thì lại thiếu người lao động và điều đó ảnh hưởng đến tăng trưởng công nghiệp.

B. Sự bần cùng hoá của giai cấp vô sản

Tại thời điểm năm 1986, lương tối thiểu ở Mỹ là 3.35 Đô la/giờ. Với lịch làm việc 8 giờ một ngày, 5 ngày một tuần thì lương tối thiểu một tháng là 589.60 Đôla. Trong khi đó lương tháng tối thiểu ở Liên Xô là 70 rúp. Giả sử ta có chấp nhận tỷ giá chuyển đổi một Đô la ăn một rúp thì tỷ lệ chênh lệch giữa hai nước là 8.4:1. Nếu lấy, tỷ giá chuyển đổi chính thức của nhà nước Liên Xô đi nữa thì tỷ lệ này vẫn là 5:1, mặc dù khó ai có thể tin rằng sức mua của 60 rúp lại bằng được 100 đô la như nhà nước quy định. Còn nếu lấy tỷ giá ngoài chợ đen thì tỷ lệ trên là 58:1.

Nhưng vì trên thực tế chúng ta khó có thể biết được có bao nhiêu “nhà vô sản” nhận lương tối thiểu nên có sẽ là thiết thực hơn nếu xem xét lương trung bình. Con số đưa ra của cục thống kê nhà nước Liên Xô là lương trung bình là 210 rúp, được tính trên mọi đối tượng từ nông trang viên cho đến các vị đại tướng. Trong khi đó con số từ cục thống kê Mỹ không phải là lương trung bình của toàn nước mà là lương trung bình của công nhân trong các ngành công nghiệp. Con số đó vào năm 1985 là 19,300 đô la/năm. Nếu so sánh thì các con số đó vẫn cho ta tỷ lệ là 1:4.8 nếu tỷ giá chuyển đổi của nhà nước được sử dụng. Còn nếu chúng ta tính 1 rúp bằng 1 đô la thì tỷ lệ đó là 1:8 (còn tỷ giá chợ đen sẽ đưa tỷ lệ này thành 1:56). (8)

Như chúng ta đã thấy tỷ lệ trên nhất quán cho cả lương tối thiểu lẫn lương trung bình, cho dù chúng ta định tỷ giá chuyển đổi kiểu gì thì ở Liên Xô con số vẫn thấp hơn ít nhất 5 lần so với ở Mỹ.

Tuy nhiên những con số về lương vẫn chưa hoàn toàn cho thấy rõ mức độ nghèo khổ của những người vô sản ở Liên Xô. Báo chí Liên Xô gần đây đưa ra con số 35% dân số sống dưới mức nghèo khổ, “thậm chí nhiều gia đình có mức thu nhập bằng hay thấp hơn 50 rúp trên đầu người một tháng” (9).

Theo con số của thứ trưởng bộ tài chính Victor Semenov, người dân Xô Viết chỉ phải trả thuế thu nhập trực tiếp là 8.6%, nhưng phải trả thuế gián tiếp lên đến 60%. Số tiền thuế 60% phải trả này nằm trong giá bán buôn, bán lẻ dưới dạng thuế lợi nhuận của các xí nghiệp. Chúng ta buộc phải hỏi ở đây liệu đó có phải là “giá trị thặng dư”?

Nhưng ngay cả các con số về thu nhập trung bình của gia đình cũng chưa thể mô tả hết về bức tranh đói nghèo ở Liên Xô, sự thiếu hụt nhà cửa và chỗ ở (nhiều gia đình phải ở chung nhau trong cùng một căn hộ), tỷ lệ lạm phát được ước tính 12%/năm, nạn nghiện rượu (dĩ nhiên làm giảm thêm thu nhập gia đình), thường xuyên phải trả giá chợ đen để có được những hàng hoá cần thiết, phải hối lộ để được sự phục vụ của hệ thống công quyền, và nhiều thứ chi phí nữa nếu được gộp vào sẽ cho một bức tranh chi tiết hơn về đời sống của các công dân Xô viết. Đó là cái gì nếu như không phải là “sự bần cùng hoá của giai cấp vô sản” mà Marx đã nói đến?

C. Khuynh hướng tích luỹ tư bản

Như đã đề cập ở trên, sự độc quyền trong quá trình sản xuất đã không trở thành đặc trưng của “chủ nghĩa tư bản” mà lại trở thành bản chất của “chủ nghĩa xã hội”. Thế còn các đặc trưng khác của “tích luỹ tư bản” thì sao?

Trong nền kinh tế thị trường tự do thì không có sự phân biệt giữa “tư liệu sản xuất” và hàng hoá (do hàng hoá sản xuất ra của ngành này lại được coi là tư liệu sản xuất của ngành khác –ND); tất cả đều là hàng hoá và ai cũng có thể mua được. Quá trình sản xuất chúng đều mang lại lợi nhuận, và vào thời đại này ai còn có thể phân biệt được chúng nữa? Máy tính là gì? Xe hơi là gì? Máy khâu là gì? Máy giặt là gì? chúng là “tư liệu sản xuất” hay là hàng hoá tiêu dùng?

Vậy mà trong nền kinh tế của Liên Xô, có cả một sự phân nhóm rõ ràng các ngành công nghiệp:”nhóm A” (sản xuất ra tư liệu sản xuất) và nhóm B (sản xuất ra hàng hoá tiêu dùng). Điều này là hoàn toàn hợp lý ở một quốc gia Marxit, vì có thể mới đảm bảo tất cả tư liệu sản xuất phải “nằm trong tay của toàn dân”. Và nếu theo suy đoán của Marx về chủ nghĩa tư bản thì tỷ trọng nhóm A phải tăng nhanh trong khi tỷ trọng nhóm B phải giảm nhanh. Điều dự đoán đó đã hoàn toàn đúng với Liên Xô, khi mà tỷ trọng của nhóm A và nhóm B là 39.5% và 60.5% vào năm 1928; trong năm 1940 tỷ trọng này là 61% và 39%; năm 1970, chúng đã là 72.5% và 27.5%; năm 1980 là 73.8% và 26.2%; năm 1985 là 74.8% và 25.2%; năm 1986 là 75.3% và 27.3%.

Hơn thế nữa, như các nhà kinh tế Liên Xô đã phân tích gần đây, hầu như tất cả tăng trưởng đều nằm trong nhóm A và do đó không gây được ảnh hưởng gì đối với mức sống của người dân. Con số thống kê về tăng trưởng kinh tế do nhà nước đưa ra chỉ là những con số huyền thoại mang ý nghĩa chính trị. Nền kinh tế vẫn cơ bản là tự cung tự cấp. (10)

Mặc dù vậy, số lượng những nhà máy, dự án xây dựng công nghiệp vẫn tăng nhanh cho dù không thể có đủ các tài nguyên để hoàn thành chúng được. Sự mở rộng điên dồ này dẫn đến nhiều sự thiếu hụt. Sự thiếu hụt đầu tiên là lực lượng lao động. Tất cả những người có thể biến thành vô sản thì đã biến rồi.

Lấy ví dụ về ngành tài nguyên năng lượng. Các tính toán cho thấy lượng tài nguyên sử dụng trong vòng mười bốn năm qua đã vượt quá lượng này của cả thế kỷ trước. Và sự thiếu hụt năng lượng trầm trọng đến độ nhiều chuyến bay phải huỷ bỏ, xe tải không thể vận chuyển hàng hoá do thiếu xăng, dù lượng dầu khai thác hàng năm là 600 triệu tấn.

Liên Xô sản xuất ra lượng thép, điện tiêu dùng, và máy cày nhiều hơn nước Mỹ, vậy mà vẫn là chưa đủ. Cho dù số lượng giầy dép được sản xuất với số lượng khổng lồ (800 triệu đôi một năm) thì cũng chẳng ai thèm dùng vì chất lượng quá tồi tệ. Và dĩ nhiên 800 triệu đôi giầy này vẫn phải sản xuất không thể thiếu một đôi do nhà nước đã lên kế hoạch trước, người công nhân vẫn nhận được lương và thưởng, các con số GNP và thu nhập của quốc gia vẫn tính con số 800 triệu này, nhưng chẳng ai thèm mua cả.

Trong khi đó, đúng như Marx đã dự đoán trong cuốn “tư bản luận” của mình, lợi nhuận sẽ bị suy giảm. Quả vậy con số suy giảm lợi nhuận được các nhà kinh tế Xô viết đưa ra là 3% năm, tương đương với 40 tỷ rúp (11). Tạp chí uy tín nhất của Đảng, tờ “tạp chí cộng sản” đã tổng kết như sau:

“Nếu cứ tiếp tục như hiện tại với lực lượng lao động trực tiếp, nguyên liệu thô và tài nguyên thiên nhiên suy giảm sẽ làm tăng chỗ làm không có người đảm nhận, làm tăng cao chi phí của giao thông vận chuyển hàng hoá, hầm mỏ khai quặng, và bảo vệ môi trường. Cách thức phát triển như hiện nay hoàn toàn bế tắc: càng đầu tư nhiều càng ít kết quả. Với hiện trạng hiện nay đó sẽ là ngõ cụt.” (12)

Dĩ nhiên đó là ngõ cụt, cái ngõ cụt của nền kinh tế mà Marx đã gọi là “làm cạn kiệt mọi tài nguyên khoáng sản của quốc gia bao gồm cả đất đai và con người”

D. Sự phát triển của lực lượng lao động tiên tiến

Như chúng ta đã biết, nền kinh tế thị trường không hề là lực cản cho bất cứ “lực lượng lao động tiên tiến”, công nghệ mới, hay phương pháp quản lý mới nào. Trên thực tế kinh tế thị trường không thể tồn tại nếu không khuyến khích sự phát triển của chúng. Nền kinh tế thị trường có khả năng tự hiệu chỉnh của “tư bản” hoá ra không có dấu hiệu gì cho sự khủng hoảng.

Tại Liên Xô thì không được như vậy. Nhà kinh tế học Xô viết xuất sắc Tatyana Zaslavskaya viết:

“Trong khoảng 12 đến 15 năm tới chúng ta sẽ chứng kiến sự suy giảm đáng kể trong tăng trưởng kinh tế quốc gia. Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 8 con số tăng trưởng là 7.5%, đối với lần thứ 9 chỉ còn 5.8%, đến lần thứ 10 con số này rớt xuống 3.8%, trong những năm đầu của kế hoạch 5 năm lần thứ 11 con số này chỉ còn là 2.5% (trong khi dân số tăng 0.8%/năm). Tăng trưởng suy giảm làm suy giảm mức sống của người dân và làm cho việc hiện đại hoá quá trình sản xuất gặp khó khăn” (13)

Hơn thế nữa bà chỉ ra nguyên nhân của sự khủng hoảng này là “Sự tụt hậu của các quan hệ sản xuất phản ánh trong cơ chế quản lý kinh tế nhà nước tập trung quan liêu bao cấp, thực sự nó đã không theo kịp sự phát triển của lực lượng lao động.” (14)

Một kết luận như thế chưa bao giờ được áp dụng cho một nước xã hội chủ nghĩa (bởi theo học thuyết của Marx, không thể có sự mâu thuẫn giữa hệ thống quan hệ sản xuất và sự phát triển của lực lượng sản xuất trong chủ nghĩa xã hội, bởi hệ thống quan hệ sản xuất chủ nghĩa xã hội là dạng quan hệ sản xuất tiên tiến nhất. Sự mâu thuẫn này chỉ có thể xuất hiện trong xã hội phong kiến và tư bản. Và như đã nói ở trên sự mâu thuẫn này theo Marx sẽ tất yếu dẫn đến cách mạng vô sản). Theo Marx một kết luận như trên chỉ có thể áp dụng cho một xã hội tư bản. Mặc dù vậy, vẫn theo Tatyana Zaslavskaya, “điều này sẽ dẫn đến một giai đoạn đại hồng thuỷ trong kinh tế và chính trị, nhằm đổi mới triệt để các quan hệ sản xuất với phương thức sản xuất mới, nếu không sẽ dẫn tới sự sụp đổ hoàn toàn bởi cuộc cách mạng xã hội” (15)

“Thay đổi và cải tổ mạnh mẽ việc quản lý nền kinh tế sẽ làm ảnh huởng tới nhiều nhóm xã hội, đối với nhóm này cải tổ đem lại sự cải thiện đời sống của họ, đối với nhóm kia đó có thể làm mất vị trí xã hội của họ”. Vậy cái nhóm xã hội đó (mà gọi một cách không lịch sự thì là “kẻ thù giai cấp”) từ đâu mà ra khi mà chủ nghĩa xã hội đã cắm rễ đến 70 năm trên đất nước của giai cấp công nhân và nông dân vậy? Rõ ràng nhóm xã hội này vẫn luôn tồn tại ở đó với tư cách là “những người cận vệ tiên tiến nhất của giai cấp vô sản”.

Andrei Nuikin, một nhà kinh tế học Xô viết khác viết “Chưa bao giờ kể cả thời Ivan bạo chúa, hay trong bất cứ quốc gia nào hiện nay mà không có quốc hữu hoá tài sản tư nhân, mà chính quyền hành chính có thể điều khiển được toàn bộ tư liệu sản xuất. Không phải không có cơ sỏ khoa học khi mà vào những năm 20 của thế kỷ, người ta đã bắt đầu nói đến sự hình thành trong xã hội ta một “giai cấp quan chức quan liêu”. Sự sở hữu tư liệu sản xuất dẫn đến sự phân chia xã hội ra thành các giai cấp” (16)

* * *

Vì vậy sau khi so sánh hai nền kinh tế của Liên Xô và Mỹ và các khuynh hướng kinh tế-xã hội của chúng theo các tiêu trí đưa ra bởi Marx, chúng tôi buộc phải đi đến kết luận rằng chính những nước xã hội chủ nghĩa đi theo học thuyết của Marx, lại đã và đang tạo ra mô hình xã hội “tư bản” bệnh hoạn và suy đồi mà Marx đã tưởng tượng ra. Chính trong các xã hội xã hội chủ nghĩa sự phân chia giai cấp diễn ra: giai cấp của những kẻ bóc lột và giai cấp của những người bị bóc lột, giai cấp của những kẻ tước đoạt và giai cấp của những người vô sản. Cũng chính trong các xã hội xã hội chủ nghĩa, những độc quyền kinh tế được nảy nở và sinh sôi, dẫn đến việc biến nền kinh tế theo hướng tự cung tự cấp và kéo theo sự lãng phí và khai thác đến kiệt cùng những nguồn tài nguyên khoáng sản quốc gia.

Cuối cùng chính hệ thống xã hội chủ nghĩa lại là hệ thống quan hệ sản xuất kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất tiền tiến. Chính vì vậy sự khủng hoảng mà Marx tiên đoán không diễn ra ở các nước có nền kinh tế thị trường tự do mà ở chính những nước xã hội chủ nghĩa theo Marx. Trong thời đại của chúng ta, một trăm năm sau khi Marx qua đời, người ta vẫn có thể thấy những dấu hiệu và bóng dáng của cuộc cách mạng vô sản vĩ đại mà ông đã tiên liệu là sẽ xảy ra nhưng mà là xảy ra ở thế giới của các nước xã hội chủ nghĩa từ Havana đến Hà nội, từ Belgrade đến Bắc Kinh.

Đối mặt với ngày tận thế đang ngày một cận kề, những nhà lãnh đạo cộng sản đã sẵn sàng chấp nhận những tội lỗi và sai lầm trong quá khứ, sẵn sàng “cải tổ” và xin lỗi, nếu như xin lỗi có thể thay đổi mọi thứ trong hiện tại. Họ thậm chí sẵn sàng hy sinh cả sự tinh khiết của hệ tư tưởng cao cả mà họ tôn thờ, sẵn sàng uốn cong nó theo yêu cầu của tình hình. Vậy thì lời giải nằm ở đâu? làm sao có thể đưa được sự cạnh tranh “tư bản” vào những ngành, nhà máy, xí nghiệp lớn nhất thế giới và thường là độc quyền duy nhất trong quốc gia? giải quyết ra sao những con đập, con kênh, hồ nhân tạo khổng lồ đã được tạo ra với cái giá là sự huỷ hoại thiên nhiên môi trường mà lượng điện cung cấp vẫn không đủ cho xã hội? làm thế nào mà thiết lập được nền kinh tế thị trường trong một xã hội mà trong cả 60 năm chưa hề có thị trường cũng như chưa có nền kinh tế theo đúng nghĩa? đâu là thời điểm bắt đầu tiến hành tháo dỡ chủ nghĩa xã hội một cách từ từ, khi mà mỗi một ngày trôi qua là lại một ngày nó đến gần hơn đến vực thẳm? Cho nên, như đã nói ở trên, cho dù có phép lạ làm biến mất hoàn toàn những người cộng sản đi nữa thì cuộc khủng hoảng vẫn còn đó và không thể giải quyết được trong ngày một ngày hai.

Không ai có lỗi ở đây cả, không phải lỗi của Stalin, không phải lỗi của Brezhnev, thậm chí cũng chẳng phải là lỗi của Lenin. Họ có phát minh ra việc “tước đoạt lại kẻ tước đoạt” hay “đấu tranh giai cấp” đâu. Không phải lỗi của ai cả, trừ Marx, vì một sai lầm nhỏ; con người cuối cùng không giống như sâu bọ và không phản ứng lại điều kiện xã hội. Nhân loại không đặt công bằng lên trên tự do. Nhưng mà ai có thể biết trước được điều đó cơ chứ?

(còn tiếp)

__________________________

Đây là Chương I (Totalitarianism in Crisis: Is there a smooth transition to democracy?) của cuốn sác Chủ nghĩa toàn trị giữa ngã ba đường (Totalitarianism at the crossroad) - Chủ biên Ellen Frankel Paul (Giáo Sư chính trị học tại đại học Oxford), Nhà xuất bản: New Brunswick, 1990).

Nguồn: http://tgtn.net/diendan/index.php?showtopic=2656

Admin gửi hôm Chủ Nhật, 09/09/2012
Bạn đánh giá bài viết này thế nào?

Thông điệp từ Paul Krugman qua hai buổi tọa đàm ở Việt Nam

Sao lại cúi đầu trước Trung Quốc?

Quan hệ Quốc hội – Chính phủ: Vẫn còn mang nặng tính “người nhà”

Roh Moo-hyun

Giữ gìn "nỏ thần" đất Việt


Gửi phản hồi mới (xin gõ tiếng Việt có dấu và tuân thủ Nguyên tắc Dân Luận để được chấp nhận)

Bạn có thể bịa một địa chỉ email bất kỳ, ví dụ test@gmail.com. Thông tin này sẽ không xuất hiện công khai khi phản hồi được đăng.
  • Use special [news] tag to display title, source and url of news.
  • Bạn có thể sử dụng các thẻ BBCode trong bài. Các địa chỉ URL sẽ được tự động chuyển thành liên kết.
  • Bạn có thể trích bài của người khác bằng thẻ [quote], ví dụ: [quote]Nội dung muốn trích dẫn[/quote]
  • Bạn có thể sử dụng những thẻ HTML sau: <a> <em> <strong> <ins> <b> <i> <u> <br> <cite> <code> <ul> <ol> <li> <dl> <dt> <dd> <h1> <h2> <h3> <h4> <h5> <table> <tbody> <td> <tr> <pre> <img> <div> <span> <object> <hr> <center> <font> <blockquote> <strike> <embed> <param> <del> <ins> <sub> <sup>
  • Bạn có thể chèn video vào bài viết bằng thẻ [video:địa_chỉ_url_của_video]
  • Cách dòng và cách đoạn sẽ được tự động chuyển thành xuống dòng.
  • Web page addresses and e-mail addresses turn into links automatically.

Nhấn vào đây để biết thêm chi tiết về cách định dạng bài viết...

To prevent automated spam submissions leave this field empty.
CAPTCHA
Bạn bắt buộc phải trả lời câu hỏi kiểm tra dưới đây. Nó giúp chúng tôi nhằm lọc bỏ các nội dung spam do robot tự động thực hiện.
6 + 8 =
Giải bài toán đơn giản này và nhập kết quả vào ô phía trên. Ví dụ, nếu thấy 1+3, thì hãy nhập 4.

Suy ngẫm

Người Tàu vì còn chưa cạo hết những tư tưởng cũ ở trong óc đi, nên trong mấy năm đó tuy đã đánh đổ Mãn Thanh, lập nên Dân quốc, nhưng mọi việc trong cũng vẫn còn hư bại. Nước thì nước Dân chủ mà óc của dân chúng thì là óc nô lệ, bởi vậy hồi Dân quốc ngũ niên (1916), Viên Thế Khải mới nổi lên xưng hoàng đế.

— Phan Khôi - trích "Vấn đề cải cách"

Mới Mới Mới

Thống kê truy cập

Hiện có 1 thành viên673 khách truy cập.

Thành viên online

Mắt Bão

Kỷ lục: Có 4638 người ghé thăm vào 15-05-2014 lúc 09h47.

Độc giả Dân Luận từ đâu đến?

Locations of visitors to this page

Quỹ Dân Luận

ung-ho-dan-luan-3.png