Trương Đình Trung - Một vài phản biện về bài Theo Lộ Trình Nga Một Lần Nữa của ông Nguyễn Gia Kiểng

Trương Đình Trung
Chia sẻ bài viết này

Thật tình tôi không dám có ý phản bác toàn bộ ý kiến trong bài Theo Lộ Trình Nga Một Lần Nữa? (TLTN) của của ông Nguyễn Gia Kiểng, bởi vì một cách căn bản tôi đồng ý với ông Kiểng rằng Việt Nam chúng ta không thể đi theo lộ trình của người Nga hiện nay. Nhưng vì sự đồng ý ấy của tôi lại xuất phát từ một lý do khác, đơn giản và tổng quát hơn, nên sau đây tôi xin được trình bày vắn tắt những khác biệt ấy để rộng đường dư luận về đề tài khá thích thú này mà ông Kiểng đã đưa ra.

Trước hết, xin tạm gác lại nhận định về "Công thức Putin đang phá sản" của báo TQ số 125, sẽ bàn sau, trong một dịp khác, để xem thế nào là "Công thức Putin" và có thật sự công thức đó có "đang phá sản" không. Ở đây chỉ xin đi vào từng điểm trong bài TLTN.

Trong đoạn đầu ông Kiểng viết rằng: "Việt Nam càng ngày càng có dấu hiệu tiến gần đến mô hình Nga". Thú thật câu đó không thuyết phục tôi, hay nói nôm na như người Mỹ là "I don't buy it". Không hiểu ông Kiểng đã căn cứ vào thực tế phát triển nào của hai nước Nga - Việt trong những năm qua để đi đến một nhận định có tính chất khẳng định như đinh đóng vậy. Không hiểu những "dấu hiệu" mà ông Kiểng nói đó là những "dấu hiệu" nào. Nếu hiểu "mô hình Nga" của ông Kiểng là cơ cấu chính trị - kinh tế của nước Nga từ năm 1991 đến nay thì mô hình đó, một cách đại thể, có những điểm chính như: đảng Cộng Sản không còn cầm quyền, mà chỉ còn là một chính đảng thông thường, chiếm cao nhất được chừng 17% số phiếu trong kỳ bầu cử vừa qua. Nga theo Tổng Thống Chế, có tự do báo chí, tuyển cử theo hệ thống đa đảng, theo kinh tế thị trường, vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh không còn.v.v... Trong khi đó thì Việt nam, chính danh vẫn là một nước theo chế độ Cộng Sản, đảng CSVN độc quyền lãnh đạo, kinh tế thị trường nhưng theo định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế quốc doanh vẫn là chủ đạo.v.v... So sánh tổng quát như vậy thì chẳng thấy ở đâu "dấu hiệu" của Việt Nam đang tiến gần đến mô hình Nga cả. Người đọc như tôi không tránh khỏi nghĩ rằng ông Kiểng, có lẽ, đã "chỉ kết luận trên một cảm giác"!

Kế đến, khi đề cập đến lịch sử hình thành nước Nga, ông Kiểng đã tỏ ra có định kiến, không giữ được thái độ khách quan cần thiết khi nhận định về nước Nga: người dân, lịch sử và văn hóa. Chẳng hạn Ông viết, trong một đoạn (paragraph) trường thiên, rằng "một nước thường có nhiều chủng tộc khác nhau, với những ngôn ngữ và phong tục khác và không hội nhập được với nhau, có khi còn thù ghét nhau.", hoặc "Các quốc gia ở đây không phải là những quốc gia như người ta thường hiểu, nghĩa là một tập thể những con người nhiều hay ít chia sẻ cùng một ngôn ngữ, một văn hoá, và một lịch sử". Những nhận định đó được ông Kiểng dùng để nói về nước Nga, ám chỉ rằng sự hình thành quốc gia Nga chẳng có gì tốt đẹp. Nhưng trình bày như vậy, ông Kiểng quên rằng không chỉ nước Nga là quốc gia duy nhất chịu tình trạng đó, mà nhiều quốc gia hiện đại khác cũng có tình trạng tương tự, như các quốc gia Ả Rập ở Trung Đông chẳng hạn là nơi mà sự phân chia ranh giới quốc gia là rất tuỳ tiện, hoặc như Thuỵ Sĩ, Malysia.v.v.... Đáng nói nhất là Mỹ, một quốc gia hỗn chủng nổi tiếng, ở đó các sắc dân tứ phương, có nguồn gốc lịch sử, văn hoá khác biệt chung sống với nhau. Điều đó có nghĩa rằng sự ám chỉ của ông Kiểng về nguồn gốc hình thành không mấy tốt đẹp của nước Nga rõ ràng nặng tính chất thiên vị, không khách quan.

Cũng trong paragraph trường thiên đó, ông Kiểng, để nêu lên một khía cạnh xấu khác của nước Nga, đã cho rằng: "việc Nga tấn công Georgia không thể nhân danh một chính nghĩa nào - thí dụ như một tình cảm dân tộc hay một chủ quyền lịch sử - ngoài ý đồ bá quyền khu vực", và Ông cho rằng dân cư hai lãnh thổ tự trị Abkhazia và South Ossetia "không phải là dân Nga, người Nga hầu như không có". Việc người Nga có hay không, đông hay ít ở hai tỉnh tự trị đó, thiết nghĩ không quan trọng và cũng dễ xác nhận thực hư. Nhưng còn việc Nga tấn công Georgia mà không "nhân danh được một chính nghĩa nào" cũng chỉ là một việc bình thường, bởi vì cũng như Mỹ tấn công Iraq, hay khối NATO do Mỹ lãnh đạo không tập, và lén đưa chuyên viên - vũ khí vào Libya để lật đổ Gadhafi vậy, người sáng suốt có ai màng đem vấn đề chính nghĩa ra mà bàn đâu, người ta đều hiểu rằng trong chính trị quốc tế chỉ có những ai ngây thơ, hay yếu thế, mới bám víu vào công lý, còn kẻ mạnh và cường quốc thì chỉ tin vào sức mạnh và khả năng áp dụng vũ lực cho việc thành đạt mục tiêu của mình mà thôi. Chưa kể là trên thực tế, Georgia do TT Saakashvili lãnh đạo, đã do cậy trông quá nhiều vào sự hậu thuẫn của Mỹ, ỷ lại rằng Georgia đã gởi 2000 quân tham chiến ở Iraq, nên chủ động tấn công vào Nam Ossetia trước, giết hại hàng ngàn thường dân, trong đó có nhiều công dân Nga, và giúp cho chính phủ Nga có lý cớ để xua quân qua đánh trả. Về mặt này thì dường như, do thiên kiến, ông Kiểng đã không trình bày đầy đủ sự thật như đã xảy ra, rằng Georgia, do tính toán sai lầm, đã vô tình trở thành con chốt thí trong tay siêu cường trên bàn cờ quốc tế. Đáng ra ông Kiểng nên khách quan tường trình sự thật, giúp giới lãnh đạo các quốc gia nhỏ yếu rút ra bài học là đừng quá trông mong vào những cam kết suông của siêu cường mà có lúc mang hoạ, như VNCH trước đây từng phú thác vận mệnh mình vào tay Mỹ; đừng vội tin rằng hễ nước mình bắt tay thực hiện Dân Chủ "một cách thực sự và quả quyết" là ngay tức khắc sẽ đương nhiên trở thành đồng minh của cường quôc lãnh đạo thế giới tự do và được bảo vệ khỏi mọi hiểm hoạ ngoại xâm. Georgia của Saakashvili, mặc cho mọi cam kết suông của Mỹ, đã bị quân Nga đập phá tan hoang, trong khi chính phủ Bush, và khối NATO, chỉ phản đối bằng... miệng! Đơn giản chỉ vì Saakashvili, tuy tốt nghiệp Luật ở Mỹ, đã quên một điểm hết sức sơ đẳng rằng nền tảng của bang giao quốc tế không phải là lý tưởng hay đạo đức, mà chỉ có quyền lợi quốc gia. Nước Mỹ sẽ không đổ xương máu ra để bảo vệ một nước Georgia nhỏ bé, xa xôi chỉ vì Georgia là quốc gia Dân Chủ, mà chỉ can thiệp khi Georgia, bất kỳ thuộc chính thể nào, hứa hẹn đem lại những lợi ích quốc gia cho Mỹ lớn hơn hậu quả gây ra do một sự can thiệp như vậy.

Ở những đoạn kế tiếp, ông Kiểng tiếp tục phê phán cá nhân ông Putin và chế độ chính trị hiện nay của nước Nga. Bản thân tôi rất mong đợi có những phân tích sâu sắc, với chứng liệu cụ thể và lối lập luận vững chắc về hiện tình nước Nga để có thể học hỏi thêm được thực chất của những diễn biến đã xảy ra tại một cường quốc quan trọng của thế giới trong suốt mấy thập niên qua kể từ ngày chế độ cộng sản ở đó sụp đổ. Tiếc rằng, cũng như những đoạn trước, ông Kiểng với thái độ chủ quan, thiên vị như cũ, đã chỉ liên tiếp đưa ra những lời công kích mà không hề trưng dẩn lấy được số liệu hay chứng cứ nghiên cứu có giá trị nào về thực trạng các mặt của xã hội Nga để chứng minh, hay chí ít support cho sự công kích của Ông. Chứng cứ nhiều nhất mà ông Kiểng có liên quan đến nhân thân của Putin là việc Putin là cựu sĩ quan tình báo cao cấp dưới thời Cộng Sản. Còn lại những điều như Đảng Nước Nga Thống Nhất của Putin, tham nhũng và cướp bóc gấp nhiều lần đám Cộng Sản trước kia, hay tài sản của Putin đến 40 tỉ dollars, hoặc chế độ Dân Chủ ở Nga hiện nay là chế độ trong đó băng đảng xã hội đen trở thành cánh tay nối dài của nhà nước, một chế độ Dân Chủ đạo tặc, v.v...Tất cả những phê phán đó, ông Kiểng đã toàn đưa ra dưới dạng statements, lập lại luận điệu của giới truyền thông Âu - Mỹ, mà không trưng dẩn lấy bất kỳ một số liệu hay nguồn tin nào để support hết. Có thể nói rằng ông Kiểng đã tin tưởng mạnh mẽ rằng nước Nga trước đây là xấu, thời Cộng Sản cũng xấu, và hiện nay cũng xấu luôn,không có gì đáng cho người Việt Nam chúng ta noi theo cả. Phải nói rằng Ông đã tuyên xưng đức tin của Ông về tình hình nước Nga khá mạnh mẽ; giống như một tín hữu vậy, Ông không thấy cần thiết chứng minh điều mình tuyên xưng, cứ viết ra là đủ rồi!

Nhưng độc giả, sau khi đọc những khẳng định trên của ông Kiểng, chắc sẽ trở nên lúng túng khi đọc từ những nguồn khác, những nguồn tương đối đứng đắn, về tình hình nước Nga, kể từ năm 1991, đến nay. Nhìn chung thì thông tin từ những nguồn đó cho thấy tình hình của nước Nga không phải là hoàn toàn tồi tệ như ông Kiểng khẳng định, xét về mức độ xây dựng Dân Chủ và cải thiện kinh tế.

Về chính trị, một cách tổng quát, việc chuyển từ một chế độ độc tài, do đảng Cộng Sản cầm quyền,qua một chế độ đa đảng và phân quyền, tuy chưa đạt được mức độ cao như các quốc gia Âu - Mỹ, chắc chắn phải được đánh giá, một cách công bằng, là một bước tiến lớn, nếu không nói là rất lớn, so với những quốc gia trước đó thuộc khối Cộng Sản, như so với Trung Quốc và Việt Nam chẳng hạn.

Nói đến Dân Chủ thì một trong những sinh hoạt quan trọng luôn được chú ý là sự tuyển cử. Về mặt này thì nước Nga đã có những tiến bộ đáng kể. Kết quả tuyển cử vào viện Duma tháng 12/2003 cho thấy rằng nước Nga có nhiều chính đảng tham gia, trong đó đảng CS chỉ đứng ở hàng thứ 2 và chỉ chiếm được 52 ghế trên tổng số 450 ghế của Viện. Chỉ nội một kết quả đó thôi cũng đủ để thấy rằng VN chẳng có được "dấu hiệu" gì tiến gần đến mô hình Nga cả.

Table 1. Kết quả bầu cử Viện Duma tháng 12/2003


Chính Đảng % Vote List Tổng số ghế
United Russia 37.57 224
Communist 12.61 52
Motherland 9.02 36
Liberal Democratic 11.45 36
Independents Unknown 32
Other parties 24.65 67
Total 100% 450

Nguồn: Trích từ CRS Report for US Congress năm 2006

Ngoài ra, cuộc bầu cử Tổng Thống năm 2008 của Nga cũng tỏ ra có những chỉ dấu rất tích cực của nền Dân Chủ đang còn phôi thai của nó. Đó là bách phân cử tri tham gia đầu phiếu (voter turnout) khá cao so với các nước Dân Chủ tiên tiến khác; bách phân của Nga hơn hẳn bách phân tham gia bầu cử của Mỹ cùng trong năm đó: Ở Nga có đến 69%; trong lúc ở Mỹ chỉ có 56.8%. Điều đó cho thấy rằng công dân Nga đã thể hiện ý thức Dân Chủ và tích cực thực hiện quyền đầu phiếu của mình. Sự thể hiện ý thức đó của cử tri, cộng với cơ cấu chính đảng hiện nay trong sinh hoạt bầu bán ở Nga, diễn đạt mạnh mẽ sự tiến bộ đáng kể của nước Nga trong quá trình xây dựng Dân Chủ.

Trong những ngày này dư luận, do hệ thống truyền thông của Mỹ tạo ra, đã dựa vào kết quả bầu cử viện Duma hôm 4/12 và vào những cuộc biểu tình trên nhiều thành phố ở Nga, đưa ra một số dự đoán tiêu cực về tương lai chính trị của ông Putin, và phê phán đường lối lãnh đạo của ông ta và chế độ Dân Chủ của Nga. Kết quả cuộc bầu cử ấy được tóm tắt theo bảng sau đây:


Table 2.- Kết quả bầu cử Viện Duma 4/12/2011


Chính đảng Seats (Số ghế) % số phiếu
United Russia 238 49.5%
Communist (CPRF) 92 19.16%
Liberal Democratic 56 11.66%
A Just Russia 64 13.22%
Yabloko 0 3.3%
Các đảng nhỏ khác 0 1.6%
Tổng cộng 450 100%

Kết quả trên cho thấy rằng đảng United Russia của Putin vẫn tiếp tục chiếm đa số ở viện Duma, tuy không còn giữ được đa số 2/3 như trước; trong khi đó đảng Cộng Sản lại chiếm thêm nhiều ghế hơn, còn đảng Liberal Democratic lại tỏ ra sa sút. Và tuy đảng Cộng Sản chiếm thêm 35 ghế, nhưng đảng đó không đòi hỏi sự phục hồi các điều kiện độc tài của thời Soviet, mà chỉ tập trung vào những đòi hỏi về an sinh xã hội, hưu bổng và tái quốc hữu hoá một số lãnh vực của nền kinh tế. Riêng đảng A Just Russia thì lại là một đảng thân chính quyền. Ngoài ra, một số chính đảng nhỏ biến mất trên chính trường, thay thế bằng những đảng mới. Những biến thiên trong kết quả bầu cử của các giai đoạn, cũng như sự hình thành hay mất đi một chính đảng do sự thay đổi của tình hình kinh tế - chính trị của các giai đoạn đó, là một điều bình thường và là triệu chứng lành mạnh của một nền Dân Chủ đang tiếp tục phát triển.

Chỉ dựa trên sinh hoạt bầu bán mà xét một cách khách quan, có lưu ý đến quá khứ lịch sử, thì phải thừa nhận rằng người dân Nga đang đạt được nhiều tiến bộ trong việc xây dựng Dân Chủ, dần dần đi vào nề nếp sinh hoạt của một quốc gia Dân Chủ bình thường như nhiều quốc gia khác trên thế giới. Tiến bộ đó cho thấy rằng nước Nga hiện nay không quá xấu như ông Kiểng liên tiếp khẳng định trong bài viết của mình. Trái lại những biến chuyển ở đó đáng cho chúng ta theo dõi, quan sát và học hỏi. Tất nhiên nói vậy không có nghĩa là Việt Nam nên rập theo khuôn mẫu của Nga.

Việc giới truyền thông Âu - Mỹ cứ tìm cách công kích chính tình nước Nga có những lý do chính trị quốc tế riêng của nó, chứ không hẳn là xuất phát từ những nhận định khách quan mang tính xây dựng. Xin mở ngoặc ở đây là nhiều người trong chúng ta vẫn luôn giả định (assume) về sự trung thực của truyền thông Tây Phương, và vì vậy hay nhắm mắt nghe theo. Những công kích đó không giúp ích cho người Việt Nam chúng ta trong việc tìm hiểu sự thật về nỗ lực xây dựng Dân Chủ của nước Nga. Tiếc rằng nhiều người Việt Nam, cả ở trong Nước lẫn ở hải ngoại, vẫn còn nặng mang não trạng của thời chiến tranh lạnh (The Cold War mentality), bị chi phối bởi định kiến rằng ngoài Tây Phương, Âu - Mỹ ra, không dân tộc nào có chế độ chính trị tốt, kể cả những dân tộc lớn, như dân Nga, vốn đã cống hiến nhiều nhân tài lừng lẫy cho nhân loại trong các lãnh vực văn học (Leon Tolstoy, Ivan Turgenev, Solzhenitsyn...), khoa học - kỹ thuật (Pavlov, Mendeleev...), âm nhạc (Tchaikovsky, Vavilov...), điêu khắc (M. Antokolsky...) , v.v...

Những ai theo dõi tình hình Nga đều nhớ rằng cũng chính giới truyền thông Tây Phương trước đây đã không ngớt lời tán tụng dành cho Boris Yeltsin, mặc dầu chính dưới thời của Yeltsin mà đặc quyền của giới Oligarch Nga lên đến mức cao nhất, và mức độ thối nát là vô cùng trầm trọng, nếu không nói là tệ hại hơn những năm sau này dưới thời Putin và Medvedev. Chính Borsi Yeltsin đã dùng tiền ủng hộ của các Oligarch để tạo ra gian lận trong các cuộc bầu cử. Sự thối nát của tập đoàn Yeltsin đã bị ứng cử viên đảng CS, ông Gennady Zyuganov, trong cuộc bầu cử hồi năm 1996 vạch trần. Cũng chính dưới thời Boris Yeltsin mà nguồn tài nguyên dầu hoả và khí đốt của Nga đã bị tư bản Tây Phương thao túng, và vùng ảnh hưởng của Nga bị khối NATO thu hẹp dần. Có lẽ đó là lý do khiến truyền thông Tây Phương đã ca ngợi Yeltsin!

Trong một đoạn văn khác, ông Kiểng đã viết nguyên văn: "Trong suốt bốn thế kỷ rưỡi, từ đầu thế kỷ 16 đến thế chiến II người phương Tây đã là những kẻ xâm lược ức hiếp, dầy xéo và làm nhục phần còn lại của thế giới. Chỉ từ cuối thập niên 1970 trở đi, sau một giai đoạn chuyển tiếp kéo dài hơn ba thập niên và chủ yếu là nhờ chính sự trỗi dậy phản kháng của thế giới, họ mới trở thành khối chuyên chở những giá trị dân chủ, nhân quyền, hợp tác và thị trường." Đó là một câu rất đáng chú ý vì hai điểm. Thứ nhất là nó nêu lên thắc mắc tại sao sau "bốn thế kỷ rưỡi" xâm lăng, bóc lột Á - Phi và Mỹ Latin tàn tệ, mà rồi đùng một cái, chỉ vì sự trỗi dậy phản kháng trong vòng có mấy mươi năm của thế giới, từ thập niên 1970 đến nay người Phương Tây lại trở thành kẻ chuyên chở những giá trị dân chủ, nhân quyền, hợp tác và thị trường. Thứ hai là ông Kiểng đã có chủ ý gì khi viết ra câu đó sau khi đã dùng cả một đoạn rất dài để chê bai nước Nga và tình hình chính trị ở đó hiện nay.

Cho rằng "nhờ chính sự trỗi dậy phản kháng của thế giới" mà người Tây Phương thay đổi hành vi thống trị của họ thì chắc chắn là không đúng, bởi lẽ không có phép lạ nào của Chúa hoặc của Phật có thể giúp kẻ chuyên đi ăn cướp lại tức thời "đốn ngộ" mà buông dao đồ tể cả. Hình thái bên ngoài có thể thay đổi, nhưng bản chất của kẻ mạnh lấn hiếp kẻ yếu thì vẫn nguyên vẹn. Phương thức của những thuyền chiến nổ đại bác thị uy bắt người ta phải mở cửa giao thương, hay mang quân và quan cai trị đến chiếm cứ xứ người để khai thác tài nguyên nhân lực phục vụ cho sự phát triển kỹ nghệ mẫu quốc đã không còn. Nhưng điều ấy không có nghĩa là Phương Tây đã trở nên nhân đạo hơn, tôn trọng nhân quyền hơn trước. Tất nhiên sự phản kháng của kẻ bị áp bức có vai trò của nó. Nhưng chính yếu là vì có những phương thức mới tinh vi hơn, với hiệu năng cao hơn thay thế cho những phương thức đã cũ, không còn thích hợp. Việc đem quân chiếm đóng, cử người cai trị, là rất tốn kém; ngay cả với chế độ thuộc điạ hiệu năng cao nhất như của Anh Quốc: chỉ cần 100,000 quân sĩ và viên chức, mà cai trị được cả một Ấn Độ đông đến 300 triệu, cũng không còn được xem là phương thức tối ưu. Bằng cách nào mà không cần chiếm đóng, nhưng vẫn khai thác được tài nguyên - nhân lực của nước khác phục vụ cho nền kinh tế của chính quốc thì đó mới là giải pháp cao nhất. Đó chính tư tưởng nền tảng làm xuất phát điểm cho sự ra đời một trật tự thế giới mới, thay cho chế độ thuộc địa cũ trước Đệ Nhị Thế Chiến.

Thử nhìn về Việt Nam thôi sẽ thấy sự thay đổi vừa nêu. Mỹ không cần phải chiếm đóng Việt Nam, nhưng dầu thô, hải sản, lâm sản của Việt Nam, do người Việt Nam khai thác, vẫn bằng cách này hay cách khác tuôn vào thị trường của Mỹ, phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ ở đó. Không cần có đốc công Mỹ, người thợ may Việt Nam vẫn cần cù ngày đêm may những bộ áo quần thật đẹp cho người dân Mỹ, đổi lấy những đồng tiền công ít ỏi. Đã vậy, người Việt Nam còn cảm thấy sung sướng được bán hàng vào nước Mỹ, cảm thấy hảnh diện rằng càng ngày nước mình càng có quan hệ kinh tế chặt chẻ hơn, khối lượng mậu dịch gia tăng, càng bán được nhiều cho Mỹ, mà mua về thì ít. Nhưng có lẽ không mấy ai đặt ra câu hỏi rằng, trong mối quan hệ mậu dịch Mỹ - Việt ấy, như với dầu thô chẳng hạn, ai là kẻ định giá, hoặc có thật sự là "thuận mua, vừa bán" chăng, hay là có một cơ chế định giá phức tạp mà ở đó phía Việt Nam, tuy có sự "lãnh đạo tài tình của Đảng bách chiến", vẫn chỉ đóng vai phụ thuộc? Để suy tư thêm về vấn đề đó xin lưu ý rằng dollars là tiền tệ quốc tế, dù rằng chế độ kim bản vị (giá dollar căn cứ trên vàng) đã không còn, và mọi quốc gia trên thế giới, kể cả Việt Nam, đều luôn luôn dự trữ một lượng lớn dollars trong ngân hàng trung ương của mình, xem đó không khác gì vàng; hơn nữa có những hàng hoá, như dầu hỏa chẳng hạn, bị bắt buộc phải bán và mua bằng dollars, không mua được bằng bất kỳ một loại tiền tệ nào khác. Ngoài ra, bốn chữ "tiền tệ quốc tế", còn có nghĩa rằng hầu hết mọi giao dịch, thanh toán quốc tế: vay nợ, trả nợ, mua bán, v.v... đều bằng dollars.Và khỏi nói ai cũng biết Mỹ là quốc gia có toàn quyền in thêm dollars; nghĩa là có quyền làm giảm giá trị số lượng dự trữ ngoại hối của mọi quốc gia trên thế giới! Như vậy quyền lực tài chánh thuộc về ai thì đã rõ. Và quyền lực tài chánh ấy, cùng với cơ chế gồm 3 trụ cột: IMF, World Bank, và WTO, chính là phương thức tối ưu hiện đại thay thế cho chế độ thuộc địa xưa cũ kia. Thiết nghĩ việc tìm hiểu sâu hơn về ba định chế quốc tế đó là đề tài đáng cho các bạn trẻ trong Nước quan tâm nghiên cứu để có một cái nhìn đúng đắn hơn về chính trị quốc tế.

Trình bày những điểm như trên, một cách sơ lược, để thấy rằng nhận định của ông Kiểng rằng "nhờ chính sự trỗi dậy phản kháng của thế giới" mà Tây Phương thay đổi hành vi thống trị thế giới là không chính xác; có vẻ như Ông đã lờ đi mặt tiêu cực nhất, mặt thống trị, của Tây Phương để dễ dàng hơn cho Ông trong việc ca tụng và đề cao vai trò "chuyên chở những giá trị Dân Chủ, nhân quyền, hợp tác và thị trường" của khối các quốc gia đó. Thật ra, Tây Phương đã xây dựng chế độ Dân Chủ trong nội bộ mỗi nước của họ đồng thời với việc xâm chiếm thị trường ở Á - Phi và Mỹ Latin để phát triển kỹ nghệ. Nghĩa là một mặt Tây Phương xây dựng Dân Chủ, nhân quyền cho dân của họ, nhưng lại cùng lúc bóp chết Dân Chủ và chà đạp nhân quyền của dân thuộc điạ.

Đến đây có lẽ chúng ta đã hiểu được lý do của những phê phán ông Kiểng viết dành cho chế độ Dân Chủ ở Nga hiện nay. Mục đích duy nhất của sự phê phán đó là để củng cố cho sự tán tụng Tây Phương như là mẫu mực của Dân Chủ và Nhân quyền, và chính yếu là để chứng minh cho luận điểm toàn bài viết của Ông: Việt Nam không nên noi theo mẫu mực Dân Chủ của Nga!

Trước khi bàn tiếp về một đoạn quan trọng khác trong bài viết của ông Kiểng xin đề cập một chi tiết nhỏ ở câu ông Kiểng viết rằng: "Trước Thế Chiến II chúng ta ở một mức độ phát triển tương đương với Hàn Quốc và Thái Lan và hơn hẳn Mã Lai". Điểm đáng thắc mắc là trước Thế Chiến II thì VN chúng ta là một thuộc điạ của Pháp, chứ không là một nước độc lập như Thái Lan, vậy thì làm thế nào để xác định mức phát triển kinh tế của tình trạng lệ thuộc đó. Và nếu nói như vậy thì sự độc lập của Thái Lan lại chẳng có ý nghĩa gì hơn một Việt Nam thuộc địa sao? Và không hiểu ông Kiểng đã dùng chữ Phát triển ở đây theo nghĩa nào? Hơn nữa, ở đây một lần nữa ông Kiểng cũng đã chỉ nhận định mà không có chứng liệu gì đi kèm.

Trong một đoạn khác, ông Kiểng đã khẳng định một điều rất thú vị; đó là Ông cho rằng so với TQ và Nga thì "Việt Namcó thể trở thành một nước DC đúng nghĩa", nhưng "Nga cũng như TQ có rất nhiều khả năng sẽ tan vỡ nếu dân chủ hoá thực sự". Nếu đúng như vậy, thì không hiểu tại sao chúng ta lạ mất thì giờ phê phán chế độ Dân Chủ của Nga hiện nay? Bởi vì nếu Nga sẽ bị tan vỡ nếu đi vào Dân Chủ hoá thật sự thì đúng rồi tốt nhất họ đừng có bày đặt đa đảng và bầu bán làm gì cho mất công, cứ trở lại thời CS Soviet không hay hơn sao? Và cả Trung Quốc cũng vậy, nếu nhận định của ông Kiểng là đúng thì không trách đảng CSTQ, và cả nhân dân TQ, cứ cố sống cố chết bám theo chế độ toàn trị. Với khẳng định như vậy, ông Kiểng đã vô tình bào chữa cho chế độ hiện thời ở Trung Quốc. Điều này thật khó hiểu đối với tôi, một độc giả trung bình.

Cũng cùng trong đoạn đó, ông Kiểng nêu lên những điều kiện thuận lợi của Việt Nam trong việc xây dựng Dân Chủ. Trước hết Ông nêu lên yếu tố về thuần nhất ngôn ngữ và văn hoá. Đúng là Việt Nam chúng ta có ưu điểm về đồng nhất ngôn ngữ. Nhưng còn về văn hoá, một yếu tố quan trọng nhất trong sự định hình một nền Dân Chủ, thì có nhiều điểm phải bàn. Cho đến nay người Việt Nam chúng ta dường như chưa có những thảo luận, nghiên cứu kỹ càng về mối tương quan giữa Văn hoá - Dân Chủ. Ở Á Châu, người nêu lên mối tương quan Văn hoá - Dân Chủ được biết đến nhiều là ông Lý Quang Diệu. Một số tác giả Tây Phương đã không đồng ý với ông Diệu, cho rằng Ông đã dùng đặc trưng văn hoá Trung Hoa để bào chửa cho một số bất cập trong nền DC của Singapore. Tóm lại tương quan văn Văn hoá - Dân Chủ là một đề tài lớn vượt rất xa khuôn khổ kiến thức của một cá nhân, một bài viết; nhưng một cách vắn tắt, dựa vào kinh nghiệm của Miền Nam trước đây cũng như sinh hoạt của cộng đồng người Việt trên đất Mỹ, thì văn hoá Việt Nam e rằng chính là một trong những trở ngại cho tiến độ của quá trình xây dựng Dân Chủ, chứ không là một thuận lợi như ông Kiểng đã khẳng định.

Sự khẳng định của ông Kiểng rằng Việt Nam chúng ta đã "tiếp xúc nhiều và lâu với các nước Dân Chủ lớn""đã có kinh nghiệm Dân Chủ" và xem đó như những thuận lợi nghe có vẻ như "chỉ kết luận trên một cảm giác" hơn là những luận cứ được chứng minh vững vàng, có sức thuyết phục. Vắn tắt thì chúng ta đã bị Pháp đô hộ trong hơn 80 năm, và có lẽ không ai nghĩ rằng thời kỳ thuộc điạ đó có thể giúp dân ta học hỏi được gì về Dân Chủ, dù rằng người Phú-Lang-Sa đã không ngớt tuyên truyền về công lao "khai hóa" của họ dành cho đám An-nam-mit. Còn người Mỹ thì đã đến Miền Nam trong tình trạng chiến tranh, họ cũng không dạy cho chúng ta bao nhiêu về DC nhiều hơn là dạy đảo chánh và ám sát lãnh tụ, sau đó là cách mua phiếu "thân chính" và thực hiện việc "Mỹ cử, dân bầu" (Hội Đồng Quân Lực đã phải tham khảo ý kiến của các giới chức Mỹ trong việc nên chọn ai trong hai người Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ ra ứng cử Tổng Thống) không khác gì kiểu "Đảng cử, dân bầu" hiện nay, rồi cuối cùng thì "Đồng Minh tháo chạy". À quên người Mỹ có giúp chúng ta sao chép hiến pháp của họ với Lưỡng viện Quốc Hội, Tối Cao Pháp Viện, và Tổng Thống; tiếc rằng chúng ta đã sao chép nguyên xi cơ cấu đó mà không chú ý gì đến những khác biệt về địa lý, lịch sử, văn hoá của hai quốc gia: Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa cả!

Tóm lại, mặc dù với những điểm bất đồng được trình bày ở trên, tổng quát tôi đồng ý với ông Kiểng rằng Việt Nam chúng ta không thể "noi theo lộ trình Nga một lần nữa" được. Nhưng lý do của tôi về sự không thể noi theo lộ trình của Nga trong việc xây dựng Dân Chủ không phải là vì cho rằng mô hình Dân Chủ của Nga thì xấu, không bằng mô hình Dân Chủ của Tây Phưong, nhưng chỉ đơn giản như sau:

Trước hết, chúng ta không thể noi theo Nga vì giữa Việt Nam và Nga có quá nhiều khác biệt về văn hoá, lịch sử, địa lý, trình độ khoa học kỹ thuật và mức độ phát triển kinh tế. Chúng ta có thể quan sát, theo dõi và rút tiả kinh nghiệm từ người Nga, nhưng do những khác biệt vừa nói, quá trình xây dựng Dân Chủ của Việt Nam chắc chắn sẽ không giống với của Nga. Mặt khác, Tây Phương tuy có lịch sử Dân Chủ lâu dài, cũng không giúp cung cấp cho Việt Nam một khuôn mẫu Dân Chủ để rập theo. Vắn tắt thì nền Dân Chủ của một quốc gia là nét đặc thù của quốc gia đó, kết tinh do mối tương quan của các yếu tố văn hoá, lịch sử, địa lý, kinh tế, tâm lý, dân số và bối cảnh chính trị quốc tế của từng thời kỳ nhất định. Do sự khác biệt giữa các quốc gia về những yếu tố định hình Dân Chủ ấy, sẽ không có hai nền Dân Chủ hoàn toàn giống nhau ở hai quốc gia khác nhau; ngay cả khi hai quốc gia đó cùng ở chung trên một lục điạ và chia sẻ biên giới với nhau. Vì vậy, việc mong đợi để noi theo một mô hình Dân Chủ nào đó làm mẫu mực cho việc xây dựng Dân Chủ cho quốc gia mình là điều không thực tế. Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia phải tự mình kiến tạo riêng nền Dân Chủ cho mình, dựa trên chính những đặc điểm văn hoá, lịch sử, điạ lý, và kinh tế của mình.

Đó là lý do khiến tôi đồng ý với ông Kiểng rằng chúng ta không nên theo lộ trình Nga một lần nữa.

Sunnyvale, 22/12/2011

Trương Đình Trung

Hồ Gươm gửi hôm Thứ Sáu, 23/12/2011
Bạn đánh giá bài viết này thế nào?

Đơn kiến nghị của bà Nguyễn Thị Vân (vợ thứ hai của ông Lê Duẩn) về Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Bùi Minh Hào - Tản mạn về tinh thần công dân trong xã hội dân chủ

Luật sư Ngô Ngọc Trai - Quốc hội đã bị tiếm quyền?

Athena - Người Việt Nam lớn mà chưa trưởng thành, do đâu?

Võ Thị Hảo: "Việt Nam, dù chậm, vẫn dịch chuyển về phía ánh sáng"


myanmar (khách viếng thăm) gửi lúc 13:26, 30/12/2011 - mã số 48422
Trích dẫn:
À quên người Mỹ có giúp chúng ta sao chép hiến pháp của họ với Lưỡng viện Quốc Hội, Tối Cao Pháp Viện, và Tổng Thống; tiếc rằng chúng ta đã sao chép nguyên xi cơ cấu đó mà không chú ý gì đến những khác biệt về địa lý, lịch sử, văn hoá của hai quốc gia: Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa cả!

Bác Trương Đình Trung phát biểu câu này không mấy chính xác: chính phủ Miền Nam trước đây vừa có Tổng thống, vừa có Thủ tướng (trong khi Hoa kỳ không có Thủ tướng). Và so với vài nước khác thì quyền hạn của Tổng thống VNCH rất cao chứ không chỉ có tính tượng trưng và nghi lễ.

Cách tổ chức này tương tự với Đệ Ngũ Cộng Hòa Pháp (1958) nhưng không phải miện Nam bắc chước Pháp vì Đệ Nhất Cộng hòa ở Miền Nam đã ra đời từ 1956.

Ngoài ra các Bộ của Miền Nam thời Đệ II Cộng hòa do một Tổng trưởng đứng đầu, không phải do Bộ trưởng như ở Hoa kỳ (khác nhau không chỉ ở cái tên mà về quyền hạn và trách nhiệm).

maile (khách viếng thăm) gửi lúc 22:37, 26/12/2011 - mã số 48158
Phan Sơn viết:
Giao Điểm viết:
Bài này có "một số ý" giống bài được đăng 12/2011 ở Giao Điểm của tác giả Nguyễn Văn Hùng về Montesquieu (1689-1755).

"Phan Sơn không thực hiện theo yêu cầu trích nguồn của Giao Điểm, trừ phi Phan Sơn là Nguyễn Văn Hùng hoặc một thành viên của Giao Điểm."

Em không hiểu ý của bác trong còm này. Nhờ bác giải thich hộ.
Bác là TG Nguyễn Văn Hùng hay là thành viên của Giao Điểm??

Nếu là TV của Giao Điểm thì nick name của bác là gì????

Em cám ơn nhiều.

Phan Sơn (khách viếng thăm) gửi lúc 22:33, 26/12/2011 - mã số 48157
Giao Điểm viết:
Bài này có "một số ý" giống bài được đăng 12/2011 ở Giao Điểm của tác giả Nguyễn Văn Hùng về Montesquieu (1689-1755).

"Phan Sơn không thực hiện theo yêu cầu trích nguồn của Giao Điểm, trừ phi Phan Sơn là Nguyễn Văn Hùng hoặc một thành viên của Giao Điểm."

Hỏi bác Trương Đình Trung (khách viếng thăm) gửi lúc 14:10, 26/12/2011 - mã số 48121
Trung Truong viết:
Thật tình tôi không hiểu do đâu mà có người dùng chữ Chế Độ Pháp Quyền, cũng không hiểu dùng như vậy có đúng hay không. Bởi, tuy tôi không am hiểu chữ Hán, nhưng theo thiển ý thì Quyền là năng lực để làm, để hành xử trong một giới hạn nào đó; chữ Quyền nguyên nghĩa là nắm tay, tượng trưng cho việc thực hiện hay thi hành. Còn Pháp, nghĩa là phép tắc, quy tắc, luật lệ; nguyên nghĩa của chữ Pháp là phép để trừ khử điều xấu. Hai chữ Pháp Quyền, có lẽ để nói về những quyền hạn do luật pháp ấn định. Hiểu như vậy thì tôi e rằng không thể đồng ý với bạn là dùng Chế Độ Pháp Quyền để dịch Rule of Law.

Thời trước, ở Miền Nam, tôi thường hay nghe người ta nói Chế Độ Nhân Trị, Chế Độ Pháp Trị. Chữ Trị có nghĩa là sửa sang, uốn nắn, trừng phạt, cai trị. Nhân Trị vắn tắt là sự cai trị dựa trên, hay tuỳ thuộc vào, con người, ở đây là kẻ -hay tầng lớp cai trị. Hiểu rộng rãi hơn thì Nhân Trị là chế độ đặt yếu tố con người làm trung tâm; tin tưởng rằng bản chất con người vốn tốt (nhân chi sơ tính bổn thiện), trật tự và tiến bộ xã hội có thể duy trì và đạt được thông qua những quan hệ nhân sinh vốn luôn hướng thiện. Quan niệm như vậy, Nhân Trị xem pháp luật chỉ là phương tiện, và có thể được giới cai trị xử dụng một cách uyển chuyển tuỳ từng tình huống riêng biệt.

Chế độ Pháp Trị, trái lại, không tin rằng bản chất con người vốn tốt; trật tự và tiến bộ xã hội cần phải được duy trì bằng Luật Pháp, một hệ thống pháp lý khách quan, đứng trên mọi cá nhân hay tầng lớp người cai trị. Pháp Trị xem Nhân Trị là chủ trương cai trị chủ quan, tuỳ tiện, thường dẩn đến bất công và lạm quyền.
Tôi nghĩ dùng Pháp Trị để dịch Rule of Law thì đúng hơn là Chế độ Pháp Quyền.

Nhân đây tôi cũng xin bày tỏ cảm nghĩ rằng trong những thập niên qua, người VN chúng ta đã xử dụng từ ngữ hơi cẩu thả; mạnh ai nấy dùng, nhất là khi cần phải diễn đạt những khái niệm mới trong các lãnh vực của đời sống. Thường chúng ta có thói quen hễ thấy một từ được một vị trí thức, hay có chức quyền, nào dùng là bắt chước dùng theo mà không hề có một đắn đo, suy xét nào cả. Có lẽ VN chúng ta cần hoặc là một viện hàn lâm Việt ngữ, hoặc là một tập hợp gồm các nhà soạn tự điển và các cơ quan truyền thông lớn, thường xuyên theo dõi tình hình xử dụng Việt ngữ để bảo đảm Việt ngữ phát triển tốt đẹp, tiến kịp với đà tiến chung của nhân loại trên các lãnh vực, giúp Việt ngữ trở nên một ngôn ngữ đồng nhất, chính xác và trong sáng, đồng thời duy trì được sắc thái riêng của mình. Nói về sắc thái của ngôn ngữ, cần phải luôn lưu tâm rằng do hoàn cảnh lịch sử, tiếng Việt đã vay mượn rất nhiều từ chữ Hán, điều đó ít nhiều biểu lộ sự lệ thuộc về mặt ngôn ngữ. Cần thiết phải giảm thiểu sự lệ thuộc đó, và tìm cách giữ được càng nhiều càng tốt những nét riêng của tiếng Việt. Lấy một ví dụ thôi: trong tiếng Việt tĩnh từ luôn đi sau danh từ; ngược với tiếng Hán thì tĩnh từ đi trước danh từ. Gọi là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, hay Việt Nam Cộng Hoà thì đúng là nét của tiếng Việt; nhưng còn Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa VN thì rõ ràng là nét của tiếng Hán. Có thể nói rằng, vô tình hay chủ ý, một quốc hiệu như vậy thể hiện sự lệ thuộc nặng nề hán văn, thiếu ý thức tự chủ dân tộc!

Về sự phân biệt giữa Rule of Law (RoL) và Rule by Law(RbL), theo như tôi hiểu, không có gì phức tạp lắm. Sự khác nhau của hai giới từ of và by đã ít nhiều chỉ rõ sự khác biệt. RoL nhấn mạnh vai trò tối cao của Luật Pháp, nhà nước phải phục tùng Luật Pháp. Trong khi đó với RbL, Luật Pháp được nhà nước sử dụng sao cho thuận tiện cho sự cai trị của mình. Hiểu như vậy, RoL ít có khả năng dẩn đến sự độc đoán; trong khi RbL dễ có khuynh hướng dẩn đến một hình thái độc tài nào đó. Cũng do hiểu như vậy nên tôi dùng chữ Chế độ Pháp trị để dịch RoL, chứ không cho RbL. Vắn tắt, ngay lúc này, đó là vài phân biệt nhỏ giữa RoL và RbL, xin được trình bày đối với thắc mắc mà bạn vừa nêu ra.

Về vấn đề ý thức DC và vai trò của giới trí thức mà bạn nêu ra thì tôi không dám có những trả lời mang tính chất đánh giá. Nhưng ở bất kỳ xã hội nào, giới trí thức, thường thuộc về tầng lớp ưu tú (elite) , đều có vai trò hướng dẩn xã hội và dìu dắt dư luận. Nhưng do lịch sử thuộc địa, tiếp theo là một thời gian dài giới trí thức bị vùi dập, nhất là ở Miền Bắc, nên giới trí thức VN cỏ vẻ đã không giữ được vai trò thông thường vừa nêu. Nói ra thì dông dài, nhưng cứ quan sát cung cách ứng xử của các bậc trí thức trong Nước, nhất là những vị vẫn được xem là đối kháng với chế độ và không ngớt cổ vũ cho việc xây dựng chế độ DC, cũng thấy ngay rằng họ chưa thật sự ngang tầm với vai trò của mình. Điểm đáng chú ý là tuy hô hào DC, nhưng họ lại ít nổ lực để " nói cho dân ta nghe" hơn là cố gắng để kêu gọi sự hổ trợ từ bên ngoài và tìm cách để tiếp xúc với chính khách ngoại quốc. Hoặc thay vì dốc sức nghiên cứu, tìm hiểu, rồi thông tin rộng rãi cho đồng bào cả nước những điều kiện xã hội đang tạo thuận lợi cho sự tồn tại của chế độ độc tài và cản trở DC, nhiều trí thức lại cố gắng viết ra những lá thư kêu gọi bằng ngoại ngữ gởi cho nguyên thủ các cường quốc. Những việc làm đó thường gợi lại hình ảnh về thói quen cầu viện ngoại quốc của tiền nhân ngày trước, mỗi khi Đất Nước gặp phải khó khăn hay tranh chấp. Làm vậy các vị trí thức ấy dường như đã quên một điều vô cùng căn bản, nhưng quan trọng, trong mọi sự nghiệp chính trị; đó là công tác quần chúng. Trước đây phe Quốc gia đã thua phe CS cũng chỉ vì đã không chú trọng làm tốt công tác ấy. Riêng việc tìm cách tiếp xúc với chính khách ngoại quốc thì thiển nghĩ việc ngọai trưởng Mỹ, mới đây, tự tìm gặp bà Aung San Suu Kyi, nhà đối lập nổi tiếng cuả Myanmar, đáng cho chúng ta suy ngẫm và tự hỏi tại sao không một nhà đối kháng nào của VN có một hân hạnh tương tự. Tự hỏi như vậy tức cũng đồng thời chú ý rằng đằng sau lưng bà Aung San Suu Kyi có cả một lực lượng dân chúng hậu thuẩn; trong khi đó các nhà đối kháng của chúng ta chỉ là những anh hùng đơn độc. Và các chính khách nước ngoài thì luôn luôn " trông giỏ, bỏ tiền"; họ chỉ nói chuyện với người có thực lực, chứ không hoài hơi tiếp xúc với những người không có bao nhiêu vốn liếng chính trị.
...

Tôi sanh trưởng ở miền Nam, ra đi sớm cho nên tiếng Việt chắc chắn bị quên một phần. DL và các báo khác, là môi trường tốt để luyện tập viết tiếng Việt

"công tác quần chúng", " trong khi đó các nhà đối kháng của chúng ta chỉ là những anh hùng đơn độc ".

Những nhận xét của bác Trung là đúng và cũng đã có nhiều người nêu ra. Đáng tiếc là chưa cải thiện được nhiều. Các báo "ngoài nước" như DL, ... đóng góp phần nào vào "công tác quần chúng" đấy

Chúc bác Trung nhiều sức khỏe

Trung Truong (khách viếng thăm) gửi lúc 10:33, 26/12/2011 - mã số 48110

Thật tình tôi không hiểu do đâu mà có người dùng chữ Chế Độ Pháp Quyền, cũng không hiểu dùng như vậy có đúng hay không. Bởi, tuy tôi không am hiểu chữ Hán, nhưng theo thiển ý thì Quyền là năng lực để làm, để hành xử trong một giới hạn nào đó; chữ Quyền nguyên nghĩa là nắm tay, tượng trưng cho việc thực hiện hay thi hành. Còn Pháp, nghĩa là phép tắc, quy tắc, luật lệ; nguyên nghĩa của chữ Pháp là phép để trừ khử điều xấu. Hai chữ Pháp Quyền, có lẽ để nói về những quyền hạn do luật pháp ấn định. Hiểu như vậy thì tôi e rằng không thể đồng ý với bạn là dùng Chế Độ Pháp Quyền để dịch Rule of Law.

Thời trước, ở Miền Nam, tôi thường hay nghe người ta nói Chế Độ Nhân Trị, Chế Độ Pháp Trị. Chữ Trị có nghĩa là sửa sang, uốn nắn, trừng phạt, cai trị. Nhân Trị vắn tắt là sự cai trị dựa trên, hay tuỳ thuộc vào, con người, ở đây là kẻ -hay tầng lớp cai trị. Hiểu rộng rãi hơn thì Nhân Trị là chế độ đặt yếu tố con người làm trung tâm; tin tưởng rằng bản chất con người vốn tốt (nhân chi sơ tính bổn thiện), trật tự và tiến bộ xã hội có thể duy trì và đạt được thông qua những quan hệ nhân sinh vốn luôn hướng thiện. Quan niệm như vậy, Nhân Trị xem pháp luật chỉ là phương tiện, và có thể được giới cai trị xử dụng một cách uyển chuyển tuỳ từng tình huống riêng biệt.

Chế độ Pháp Trị, trái lại, không tin rằng bản chất con người vốn tốt; trật tự và tiến bộ xã hội cần phải được duy trì bằng Luật Pháp, một hệ thống pháp lý khách quan, đứng trên mọi cá nhân hay tầng lớp người cai trị. Pháp Trị xem Nhân Trị là chủ trương cai trị chủ quan, tuỳ tiện, thường dẩn đến bất công và lạm quyền.
Tôi nghĩ dùng Pháp Trị để dịch Rule of Law thì đúng hơn là Chế độ Pháp Quyền.

Nhân đây tôi cũng xin bày tỏ cảm nghĩ rằng trong những thập niên qua, người VN chúng ta đã xử dụng từ ngữ hơi cẩu thả; mạnh ai nấy dùng, nhất là khi cần phải diễn đạt những khái niệm mới trong các lãnh vực của đời sống. Thường chúng ta có thói quen hễ thấy một từ được một vị trí thức, hay có chức quyền, nào dùng là bắt chước dùng theo mà không hề có một đắn đo, suy xét nào cả. Có lẽ VN chúng ta cần hoặc là một viện hàn lâm Việt ngữ, hoặc là một tập hợp gồm các nhà soạn tự điển và các cơ quan truyền thông lớn, thường xuyên theo dõi tình hình xử dụng Việt ngữ để bảo đảm Việt ngữ phát triển tốt đẹp, tiến kịp với đà tiến chung của nhân loại trên các lãnh vực, giúp Việt ngữ trở nên một ngôn ngữ đồng nhất, chính xác và trong sáng, đồng thời duy trì được sắc thái riêng của mình. Nói về sắc thái của ngôn ngữ, cần phải luôn lưu tâm rằng do hoàn cảnh lịch sử, tiếng Việt đã vay mượn rất nhiều từ chữ Hán, điều đó ít nhiều biểu lộ sự lệ thuộc về mặt ngôn ngữ. Cần thiết phải giảm thiểu sự lệ thuộc đó, và tìm cách giữ được càng nhiều càng tốt những nét riêng của tiếng Việt. Lấy một ví dụ thôi: trong tiếng Việt tĩnh từ luôn đi sau danh từ; ngược với tiếng Hán thì tĩnh từ đi trước danh từ. Gọi là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, hay Việt Nam Cộng Hoà thì đúng là nét của tiếng Việt; nhưng còn Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa VN thì rõ ràng là nét của tiếng Hán. Có thể nói rằng, vô tình hay chủ ý, một quốc hiệu như vậy thể hiện sự lệ thuộc nặng nề hán văn, thiếu ý thức tự chủ dân tộc!

Về sự phân biệt giữa Rule of Law (RoL) và Rule by Law(RbL), theo như tôi hiểu, không có gì phức tạp lắm. Sự khác nhau của hai giới từ of và by đã ít nhiều chỉ rõ sự khác biệt. RoL nhấn mạnh vai trò tối cao của Luật Pháp, nhà nước phải phục tùng Luật Pháp. Trong khi đó với RbL, Luật Pháp được nhà nước sử dụng sao cho thuận tiện cho sự cai trị của mình. Hiểu như vậy, RoL ít có khả năng dẩn đến sự độc đoán; trong khi RbL dễ có khuynh hướng dẩn đến một hình thái độc tài nào đó. Cũng do hiểu như vậy nên tôi dùng chữ Chế độ Pháp trị để dịch RoL, chứ không cho RbL. Vắn tắt, ngay lúc này, đó là vài phân biệt nhỏ giữa RoL và RbL, xin được trình bày đối với thắc mắc mà bạn vừa nêu ra.

Về vấn đề ý thức DC và vai trò của giới trí thức mà bạn nêu ra thì tôi không dám có những trả lời mang tính chất đánh giá. Nhưng ở bất kỳ xã hội nào, giới trí thức, thường thuộc về tầng lớp ưu tú (elite) , đều có vai trò hướng dẩn xã hội và dìu dắt dư luận. Nhưng do lịch sử thuộc địa, tiếp theo là một thời gian dài giới trí thức bị vùi dập, nhất là ở Miền Bắc, nên giới trí thức VN cỏ vẻ đã không giữ được vai trò thông thường vừa nêu. Nói ra thì dông dài, nhưng cứ quan sát cung cách ứng xử của các bậc trí thức trong Nước, nhất là những vị vẫn được xem là đối kháng với chế độ và không ngớt cổ vũ cho việc xây dựng chế độ DC, cũng thấy ngay rằng họ chưa thật sự ngang tầm với vai trò của mình. Điểm đáng chú ý là tuy hô hào DC, nhưng họ lại ít nổ lực để " nói cho dân ta nghe" hơn là cố gắng để kêu gọi sự hổ trợ từ bên ngoài và tìm cách để tiếp xúc với chính khách ngoại quốc. Hoặc thay vì dốc sức nghiên cứu, tìm hiểu, rồi thông tin rộng rãi cho đồng bào cả nước những điều kiện xã hội đang tạo thuận lợi cho sự tồn tại của chế độ độc tài và cản trở DC, nhiều trí thức lại cố gắng viết ra những lá thư kêu gọi bằng ngoại ngữ gởi cho nguyên thủ các cường quốc. Những việc làm đó thường gợi lại hình ảnh về thói quen cầu viện ngoại quốc của tiền nhân ngày trước, mỗi khi Đất Nước gặp phải khó khăn hay tranh chấp. Làm vậy các vị trí thức ấy dường như đã quên một điều vô cùng căn bản, nhưng quan trọng, trong mọi sự nghiệp chính trị; đó là công tác quần chúng. Trước đây phe Quốc gia đã thua phe CS cũng chỉ vì đã không chú trọng làm tốt công tác ấy. Riêng việc tìm cách tiếp xúc với chính khách ngoại quốc thì thiển nghĩ việc ngọai trưởng Mỹ, mới đây, tự tìm gặp bà Aung San Suu Kyi, nhà đối lập nổi tiếng cuả Myanmar, đáng cho chúng ta suy ngẫm và tự hỏi tại sao không một nhà đối kháng nào của VN có một hân hạnh tương tự. Tự hỏi như vậy tức cũng đồng thời chú ý rằng đằng sau lưng bà Aung San Suu Kyi có cả một lực lượng dân chúng hậu thuẩn; trong khi đó các nhà đối kháng của chúng ta chỉ là những anh hùng đơn độc. Và các chính khách nước ngoài thì luôn luôn " trông giỏ, bỏ tiền"; họ chỉ nói chuyện với người có thực lực, chứ không hoài hơi tiếp xúc với những người không có bao nhiêu vốn liếng chính trị.

Vắn tắt vài điểm trao đổi cùng người bạn mà tôi không có hân hạnh được biết tên, nhưng đã nêu ra những câu hỏi hay và nhiều điểm rất đáng trao đổi.
Kính,
Trương Đ. Trung

myanmar (khách viếng thăm) gửi lúc 05:35, 26/12/2011 - mã số 48097
Trích dẫn:
À quên người Mỹ có giúp chúng ta sao chép hiến pháp của họ với Lưỡng viện Quốc Hội, Tối Cao Pháp Viện, và Tổng Thống; tiếc rằng chúng ta đã sao chép nguyên xi cơ cấu đó mà không chú ý gì đến những khác biệt về địa lý, lịch sử, văn hoá của hai quốc gia: Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa cả!

Cả hai bài của bác NGK và của bác TĐT đểu khá dài, tôi không đọc kỹ nhưng có thể nhận xét rằng bác Kiểng vẫn phong cách viết do tưởng tượng là phần chính (có khi do tưởng tượng thuần túy); bác Trung thực tế hơn nhưng mắc phải một ít cực đoan, muốn chỉ trích cho mạnh thì chỉ đưa ra những yếu tố thuận lợi cho việc chỉ trích.

Ví dụ trong đoạn trích trên, bác Trung nói không chính xác vì Miền Nam lúc trước vừa có Tổng Thống, vừa có Thủ Tướng (mà Mỹ không có). Tổng thống của miền Nam có nhiều quyền lực cao, không giống TT của Đức hay Ấn độ,... vì ở hai nước này TT chỉ đóng vai trò tượng trưng, không có thực quyền. Các Bộ ở Miền Nam đứng đầu có Tổng trưởng chứ không phải Bộ trưởng như ở Mỹ.

Ngoài ra bác Trung lấy cớ rằng vì khác biệt về văn hoá, lịch sử, địa lý, trình độ khoa học kỹ thuật và mức độ phát triển kinh tế cho nên không đi theo mô hình Nga. Nhưng thử hỏi có hai nước nào lại không khác biệt với nhau? VN giống TQ về nhiều thứ (ngoại trừ trình khoa học, kinh tế, kỹ thuật) như vậy VN có nên theo mô hình TQ?

Dù khác nhau thế nào đi nữa, đã là con người, đã là xã hội (tập thể của nhiều con người) thì phải có những giá trị cơ bản chung như nhân quyền, bình đẳng, tự do, hạnh phúc, phát triển, giàu mạnh... Dựa vào những tiêu chí này mà ta sàng lọc những kinh nghiệm của thế giới, chọn những cơ chế tốt thích hợp cho VN (và phải lưu ý sự chuyển tiếp sang những cơ chế ấy có thực tế và suông sẻ hay không)

Hỏi bác Trương Đình Trung (khách viếng thăm) gửi lúc 23:14, 25/12/2011 - mã số 48079
Trung Truong viết:
...

Trên đây là một so sánh sơ lược sự khác biệt về mô hình DC của một vài quốc gia tiêu biểu nhằm minh hoạ cho đoạn tôi viết mà bạn đã trích và thắc mắc. Do hiểu biết ít ỏi của mình và do khuôn khổ của một phản hồi, tôi xin trình bày vắn tắt như vậy.

Về phần thứ hai trong thắc mắc của bạn, tôi xin nói vắn gọn thế này. Điểm chung nhất, cho mọi mô hình DC, theo thiển ý của tôi, quy vào trong nguyên tắc chủ quyền thuộc về dân và sự phân quyền. Nền tảng của nguyên tắc chủ quyền thuộc về dân là các Nhân quyền căn bản và dân quyền. Còn sự phân quyền là để tránh độc quyền , duy trì được sự độc lập của các quyền, đồng thời giúp các quyền hợp tác vì lợi ích chung. Sỡ dĩ người Tây Phương đặt nặng việc phân quyền là vì họ tin rằng nhân loại, do bản chất của mình, luôn lạm dụng khi có quyền lực trong tay (Power corrupts: quyền lực gây thối nát), ngay cả ở những minh quân danh tiếng.

Đó là lý thuyết, thể hiện các nguyên tắc trên vào thực tế, điểm chung nhất của các mô hình DC là định chế đa đảng, sự độc lập và tự do truyền thông-ngôn luận, chế độ tuyển cử tự do. Điểm chung của nguyên tắc phân quyền, là sự độc lập của quyền tư pháp, bất kể là theo TT chế hay Đại nghị chế, các chế độ DC đều giống nhau ở điểm là một ngành tư pháp độc lập, không bị hoặc hành pháp hoặc lập pháp chi phối. Điểm chung quan trọng khác, thể hiện trên thực tế của nguyên tắc phân quyền, là chế độ pháp trị, hay cai trị bằng Luật pháp (rule of law). Trên thực tế, một điểm chung quan trọng khác là ý thức DC của người dân.

Xin đề nghị bạn đem so chiếu những điểm chung tôi vừa nêu trên vào thực tế VN để tìm xem VN chúng ta hiện nay, về thực chất, có được gì trong những nét chung nhất của một mô hình DC. Đặc biệt nhất là về mặt Ý thức DC của người dân. Mong rằng tôi sai, nhưng dường như ngay những nhà đối kháng, vận động DC cũng không chú ý nhiều đến việc có một nổ lực vận động rộng rãi nhằm nâng cao ý thức DC của mọi người, kể cả của các đảng viên CS lên. Ở đây thiết nghĩ nên sửa lại câu nói trước đây: " Muốn xây dựng CNXH, cần có con người XHCN" thành câu: " Muốn xây dựng chế độ DC, cần có con người với Ý thức DC."

Đã quá dài cho một phản hồi, tôi xin ngừng lại ở đây. Mong sao tôi đã trả lời được phần nào thắc mắc của bạn Khách viếng thăm mã số 47943.

Cám ơn bác Trương Đình Trung đã giải thích với minh họa vài mô hình DC về tổ chức bộ máy nhà nước của các nước Mỹ, Canada, Pháp, Đức

Trước đây tôi vẫn nghe nói nhiều về thủ tướng Đức (Chancellor) chứ không ngờ là có cả tổng thống Đức.

Tôi đồng ý phần lớn các giải thích về "Điểm chung nhất, cho mọi mô hình DC" của bác Trung. Thanks bác.

Có một câu về "chế độ pháp trị, hay cai trị bằng Luật pháp (rule of law)", có lẽ nên sửa là "chế độ pháp quyền". Tôi hiểu là có sự khác nhau giữa "chế độ pháp quyền" (rule of law) và "chế độ pháp trị" (rule by law). Khác nhau thế nào, tôi tạm thời phải tra cứu lại.

Trên thực tế, một điểm chung quan trọng khác là ý thức DC của người dân.

Đây cũng là điểm quan trọng.
Nhưng nếu người dân chưa đủ ý thức DC thì chỉ cần, bước đầu, những trí thức, nhà cầm quyền có ý thức DC thì đây có phải là "điều kiện ắt có" (điều kiện cần) hay không ?
Chỉ cần có được "điều kiện ắt có" thì sẽ làm khung để thúc đẩy cho "điều kiện đủ" tức "người dân"

Theo ý bác Trung, VN ta có được "những trí thức" + "nhà cầm quyền" có ý thức DC hay chưa ?

Chúc bác Trương Đình Trung và mọi độc giả DL một mùa giáng sinh 2011 đầm ấm

Giao Điểm (khách viếng thăm) gửi lúc 21:34, 25/12/2011 - mã số 48075

http://giaodiemonline.com/2011/12/hientriet.htm

Bài này có "một số ý" giống bài được đăng 12/2011 ở Giao Điểm của tác giả Nguyễn Văn Hùng về Montesquieu (1689-1755).

Giao Điểm yêu cầu : Mọi cá nhân và tổ chức đều được tự do trích đăng lại một phần hay toàn phần nội dung trên Trang nhà giaodiemonline, chỉ xin ghi rõ xuất xứ.
http://giaodiemonline.com/chutruong.php

Phan Sơn không thực hiện theo yêu cầu trích nguồn của Giao Điểm, trừ phi Phan Sơn là Nguyễn Văn Hùng hoặc một thành viên của Giao Điểm

Muốn giải quyết nạn tham nhũng một cách nhanh chóng thì sẽ phải đổ máu, và như thế, nạn vu khống sẽ lan tràn khắp nơi, tạo nên một tình thế càng thêm nan giải.

Tại sao lại phải đổ máu ? Tại sao lại đe doa để rồi không làm gì cả hay sao ? Việc giải quyết nạn tham nhũng phải làm ngay và từng bước với lộ trình rõ ràng. Tác giả Nguyễn Văn Hùng không cho ra một đề nghị giải pháp mà chỉ đưa ra lời đe doa để không làm gì cả. Việc chống tham nhũng một cách cụ thể là việc khó và lâu dài, phải có một nghiên cứu chiến lược rộng lớn chứ không phải chỉ vài dòng rồi thôi

Phan Sơn viết:
Trương Đình Trung viết:
"Muốn xây dựng CNXH, cần có con người XHCN".
"Muốn xây dựng dân chủ, cần có con người với ý thức dân chủ".

Ở thời đại chúng ta, khi nghĩ đến Montesquieu, người ta hay nhầm tưởng rằng vì nước Mỹ đã có một hiến pháp dựa theo những tư tưởng của Montesquieu (Exécutif-Législatif-Judiciaire), nên họ xứng đáng để làm gương cho thế giới.

Nhận thức sai này đã được “giới truyền thông” lợi dụng triệt để, và làm biết bao người đã hăng say, quyết chiến, để thiết lập một cách tương tự. Những người này nghĩ rằng cứ theo Mỹ là giải phóng cho quyền tự do, kỳ vọng rằng sẽ giảm bớt quyền lực của một chính phủ độc tài. Họ tin tưởng như thế, vì rằng người Mỹ đã chứng minh được bằng cách áp dụng nó trong xã hội Mỹ.

Sự sai lầm ấy rất dễ vướng phải, vì nó cũng chẳng khác gì lối suy nghĩ của những lớp quan lại và giới “untouchable” Việt theo Pháp trong gần 100 năm đô hộ. Hạng quan lại vô dụng đó đã thấy nước Pháp "văn minh" hơn, và vì thế, trong tư tưởng của họ, những người theo Pháp như họ cũng là kẻ muốn nước nhà tiến mau đến nền "văn minh" kiểu Pháp-Mỹ và sau này là lớp người theo quốc tế vô sản.

Những tư tưởng của Montesquieu còn có biết bao khía cạnh sâu sắc nữa. Ông đã từng viết: "Tự do là quyền làm bất cứ những gì luật lệ cho phép". Nhưng tiếc thay, khi đến Việt Nam, thì câu nói đó đã biến thành: "Tự do là quyền làm bất cứ những gì luật lệ - còn sơ khai - cho phép!". Vì lý do đó chúng ta rất dễ hiểu tình trạng tham nhũng và lạm quyền.

Trong hoàn cảnh bị bao vây (état de siège) của buổi giao thời hậu chiến, luật lệ vẫn khắt khe về phương diện quốc phòng, nhưng còn quá lỏng lẻo trên phương diện thương mại. Và cũng vì thế, trên phương diện chính trị, chính quyền vẫn giữ lấy lối tổ chức xã hội "dictature du proletariat" và những luật lệ thời chiến (centralisation des pouvoirs et sur des industries) nghiêm khắc. Nhưng trên phương diện kinh doanh và hành chính, những luật lệ sơ khai của thời bình đã đưa đến một tình trạng tham nhũng tràn lan và cần những thay đổi quan trọng.

Mở rộng tự do trong chính trị, chấp thuận một thành phần đối lập, cũng không phải là chuyện dễ dàng khi “nội lực” chúng ta còn yếu, hiểu biết chính trị của người dân còn giới hạn và dễ bị ngoại bang mua chuộc, chia rẽ, lũng đoạn như chúng ta đã thấy. Thay đổi luật lệ trong thương mại, kinh doanh và hành chính để giảm bớt tham nhũng, là những việc rất tỉ mỉ, công phu, cần phải có một tầng lớp hiền tài, mà những tài năng đó đã phải được rèn luyện cho phù hợp trong thời bình - với những nhu cầu rất khác với thời chiến. Muốn giải quyết nạn tham nhũng một cách nhanh chóng thì sẽ phải đổ máu, và như thế, nạn vu khống sẽ lan tràn khắp nơi, tạo nên một tình thế càng thêm nan giải.

Khi luật pháp còn thô sơ, nếu "tự do là quyền làm bất cứ những gì luật lệ - còn thô sơ - cho phép", thì biết bao nhiêu kẻ sẽ lạm dụng những tự do ấy. Trước hoàn cảnh đó, nhà chức trách cũng đã phải tùy cơ ứng biến, dùng cả những hạng người không đủ khả năng để diễn giải pháp luật, vì khốn thay, hạng bất tài ấy quá đông vì đám đông này đã không may mắn được đào tạo trong suốt thời kỳ chiến tranh.

Hiện chính phủ Việt Nam đang hợp tác với chính phủ Hoa Kỳ trong việc đào tạo nhân lực pháp lý theo chuẩn thế giới. Trong tình thế khó khăn hiện nay đã gây nên rất nhiều chỉ trích của quốc tế. Nhiều cuộc bàn luận xây dựng cũng đã cố tâm đưa ra nhiều giải pháp hữu ích cho nước nhà. Bàn luận nghiêm túc và đứng đắn, nhưng than ôi, những tiếng nói xa xăm ấy đã chìm đắm như những tiếng vang, suy tàn trong một khung cảnh tự do vô hạn định. Những tiếng nói xây dựng đó không được mấy ai lưu tâm đến, như để chứng minh rằng Montesquieu vẫn chí lý, khi ông đã đưa ra một quy luật mà người ta không thể vượt qua: Đó là, tự do cũng suy tàn khi người ta cảm thấy rằng không cần phải theo luật lệ nào nữa.

Trong một khung cảnh cần đổi thay thì không phải cứ thay đổi tư duy của lãnh đạo là sẽ đưa đến tự do, vì những người đấu tranh cho dân tộc đã quen lối hy sinh tự do trong hiện tại để đổi lấy tự do cho những thế hệ mai sau. Cải cách luật pháp cho gọn gàng, trong một môi trường người tài muốn phục vụ, cho thích hợp với những nhu cầu thời đại thì những giới hạn của quyền tự do cũng sẽ rõ ràng hơn, và bớt đưa đến những sự bất công.

Trong thâm tâm, những người Việt chân chính đã đấu tranh cho quyền lợi căn bản của con người, được ghi nhận trong các dòng tư tưởng của một thời đại khai sáng. Vì những sự tương tự đó, công cuộc giải phóng dân tộc của Cách mạng Việt Nam 1945 cũng đã gợi lại tất cả những hình ảnh oai hùng, nhưng cũng ghê rợn, của cuộc Cách mạng Pháp 1789, vì cuộc cách mạng ấy cũng bắt nguồn từ những lý tưởng chung của nhân loại. Đó là quyền được sống trong tự do, và quyền dân tộc tự quyết.

Rồng Tiên (khách viếng thăm) gửi lúc 21:16, 25/12/2011 - mã số 48074

Xin gửi lời chúc Giáng Sinh vui vẻ tới tất cả độc giả dân luận cùng các bác N.G.Kiểng, T.Đ. Trung, P.Sơn.
Qua theo dõi bài viết của các bác trong phạm vi phản hồi lại bài viết của Bác NGK, em thấy các bác kiến văn quảng đại. Thật sướng khi được theo dõi dòng tư duy của các bác.
Theo nhận xét riêng của em, bác N.G.Kiểng đã dùng kho kiến thức khổng lồ của bác để chỉ ra rằng mô hình dân chủ và con đường dân chủ của nước Nga là không có gì tốt đẹp cho nước Việt bắt chước. Bác lo ngại rằng nước Việt đã có những dấu hiệu đi theo mô hình Nga. Em e là cả một bài viết dài của bác NGK là vô tác dụng vì nước Việt đến bây giờ hoàn toàn chưa có một định hướng dân chủ hóa sinh hoạt chính trị của đất nước. Trong giai đoạn hiện nay, chưa nảy ra trong đầu của 14 ông UV BCT Việt Nam cùng hơn 200 Ủy Viên Trung Ương đảng con đường dân chủ hóa sinh hoạt chính trị VN. Vì vậy mà em nói, dân chủ sơ khai như nước Nga đã là một mô hình quá sang trọng với người dân Việt nói gì tới các mô hình khác. Nên chi tranh luận của bác T.Đ.Trung chỉ tỏ rõ bác là người hiểu biết rộng về các mô hình dân chủ, còn các phản bác của bác Trung cũng vô ích vì đã đặt trên một tiền đề sai của bác Kiểng ( Tiền đề về nỗi lo nước Việt chọn sai mô hình dân chủ.)
Về bác Phan Sơn, em suy đoán bác là một trí thức ở VN, làm nghề khoa học xã hội, có mối quan tâm về dân chủ, nhưng tư duy về dân chủ hóa xã hội của bác không vượt hơn tư duy chính thống của đảng cầm quyền VN hiện nay. Bác thật sự đang bào chữa rất khéo cho đảng cầm quyền nên em nghi rằng bác là người trí thức trong ngành an ninh. Cả bài viết của bác chỉ để bào chữa cho tình trạng tham nhũng ( cho rằng vì luật sơ khai ), bào chữa cho tình trạng mất dân chủ bằng cách cho rằng khó quá khó quá, dân còn ngu quá ngu quá, cần thời gian nhiều nhiều nữa, cần nhiều người tài lắm, v.v.

Phan Sơn viết:
Mở rộng tự do trong chính trị, chấp thuận một thành phần đối lập, cũng không phải là chuyện dễ dàng khi “nội lực” chúng ta còn yếu, hiểu biết chính trị của người dân còn giới hạn và dễ bị ngoại bang mua chuộc, chia rẽ, lũng đoạn như chúng ta đã thấy. Thay đổi luật lệ trong thương mại, kinh doanh và hành chính để giảm bớt tham nhũng, là những việc rất tỉ mỉ, công phu, cần phải có một tầng lớp hiền tài, mà những tài năng đó đã phải được rèn luyện cho phù hợp trong thời bình - với những nhu cầu rất khác với thời chiến. Muốn giải quyết nạn tham nhũng một cách nhanh chóng thì sẽ phải đổ máu, và như thế, nạn vu khống sẽ lan tràn khắp nơi, tạo nên một tình thế càng thêm nan giải.

Em đồng ý tất cả với lập luận của bác nhưng em có ý thế này: Cái đảng của bác Sơn tự cho là đang lo cho dân cho nước này đã có đặt ra một lộ trình để cởi trói về chính trị cho dân chưa? Bao nhiêu năm nữa để có báo chí tư nhân không bị kiểm duyệt? bao nhiêu thời gian nữa thì cho phép lập hội thoải mái? bao nhiêu thời gian nữa thì Quốc hội có thực quyền? bao lâu nữa có tòa án độc lập với hành pháp? Nói thật là nếu đảng cầm quyền đã có dự án về lộ trình cho con đường dân chủ hóa đất nước thì dân ta cám ơn lắm lắm. Dân ta sẵn sàng chờ đợi. Còn nếu chưa có một dự án như thế thì xin lỗi, đảng của bác là đảng bất lương, bất trí, lời bào chữa của bác đáng vứt sọt rác và những trí thức như bác chỉ là loại trí thức bất lương mà thôi. So với những loại đảng viên - đại biểu Quốc hội - nghị IQ thì bác thuộc loại quá nguy hiểm với nhân dân. Vì nghị IQ làm trò cười cho dân nên dân bớt kính nể nhóm chóp bu chính trị. Còn như bác thì dân thấy kinh quá kinh quá, đảng viên loại này kinh thư đầy bụng, biết cách ru ngủ dân để rồi cái nước Việt này tiếp tục không biết khi nào mới bằng nước người. Em nói thẳng mong bác đừng giận.

Phan Sơn (khách viếng thăm) gửi lúc 17:42, 25/12/2011 - mã số 48065
Trương Đình Trung viết:
"Muốn xây dựng CNXH, cần có con người XHCN".
"Muốn xây dựng dân chủ, cần có con người với ý thức dân chủ".

Ở thời đại chúng ta, khi nghĩ đến Montesquieu, người ta hay nhầm tưởng rằng vì nước Mỹ đã có một hiến pháp dựa theo những tư tưởng của Montesquieu (Exécutif-Législatif-Judiciaire), nên họ xứng đáng để làm gương cho thế giới.

Nhận thức sai này đã được “giới truyền thông” lợi dụng triệt để, và làm biết bao người đã hăng say, quyết chiến, để thiết lập một cách tương tự. Những người này nghĩ rằng cứ theo Mỹ là giải phóng cho quyền tự do, kỳ vọng rằng sẽ giảm bớt quyền lực của một chính phủ độc tài. Họ tin tưởng như thế, vì rằng người Mỹ đã chứng minh được bằng cách áp dụng nó trong xã hội Mỹ.

Sự sai lầm ấy rất dễ vướng phải, vì nó cũng chẳng khác gì lối suy nghĩ của những lớp quan lại và giới “untouchable” Việt theo Pháp trong gần 100 năm đô hộ. Hạng quan lại vô dụng đó đã thấy nước Pháp "văn minh" hơn, và vì thế, trong tư tưởng của họ, những người theo Pháp như họ cũng là kẻ muốn nước nhà tiến mau đến nền "văn minh" kiểu Pháp-Mỹ và sau này là lớp người theo quốc tế vô sản.

Những tư tưởng của Montesquieu còn có biết bao khía cạnh sâu sắc nữa. Ông đã từng viết: "Tự do là quyền làm bất cứ những gì luật lệ cho phép". Nhưng tiếc thay, khi đến Việt Nam, thì câu nói đó đã biến thành: "Tự do là quyền làm bất cứ những gì luật lệ - còn sơ khai - cho phép!". Vì lý do đó chúng ta rất dễ hiểu tình trạng tham nhũng và lạm quyền.

Trong hoàn cảnh bị bao vây (état de siège) của buổi giao thời hậu chiến, luật lệ vẫn khắt khe về phương diện quốc phòng, nhưng còn quá lỏng lẻo trên phương diện thương mại. Và cũng vì thế, trên phương diện chính trị, chính quyền vẫn giữ lấy lối tổ chức xã hội "dictature du proletariat" và những luật lệ thời chiến (centralisation des pouvoirs et sur des industries) nghiêm khắc. Nhưng trên phương diện kinh doanh và hành chính, những luật lệ sơ khai của thời bình đã đưa đến một tình trạng tham nhũng tràn lan và cần những thay đổi quan trọng.

Mở rộng tự do trong chính trị, chấp thuận một thành phần đối lập, cũng không phải là chuyện dễ dàng khi “nội lực” chúng ta còn yếu, hiểu biết chính trị của người dân còn giới hạn và dễ bị ngoại bang mua chuộc, chia rẽ, lũng đoạn như chúng ta đã thấy. Thay đổi luật lệ trong thương mại, kinh doanh và hành chính để giảm bớt tham nhũng, là những việc rất tỉ mỉ, công phu, cần phải có một tầng lớp hiền tài, mà những tài năng đó đã phải được rèn luyện cho phù hợp trong thời bình - với những nhu cầu rất khác với thời chiến. Muốn giải quyết nạn tham nhũng một cách nhanh chóng thì sẽ phải đổ máu, và như thế, nạn vu khống sẽ lan tràn khắp nơi, tạo nên một tình thế càng thêm nan giải.

Khi luật pháp còn thô sơ, nếu "tự do là quyền làm bất cứ những gì luật lệ - còn thô sơ - cho phép", thì biết bao nhiêu kẻ sẽ lạm dụng những tự do ấy. Trước hoàn cảnh đó, nhà chức trách cũng đã phải tùy cơ ứng biến, dùng cả những hạng người không đủ khả năng để diễn giải pháp luật, vì khốn thay, hạng bất tài ấy quá đông vì đám đông này đã không may mắn được đào tạo trong suốt thời kỳ chiến tranh.

Hiện chính phủ Việt Nam đang hợp tác với chính phủ Hoa Kỳ trong việc đào tạo nhân lực pháp lý theo chuẩn thế giới. Trong tình thế khó khăn hiện nay đã gây nên rất nhiều chỉ trích của quốc tế. Nhiều cuộc bàn luận xây dựng cũng đã cố tâm đưa ra nhiều giải pháp hữu ích cho nước nhà. Bàn luận nghiêm túc và đứng đắn, nhưng than ôi, những tiếng nói xa xăm ấy đã chìm đắm như những tiếng vang, suy tàn trong một khung cảnh tự do vô hạn định. Những tiếng nói xây dựng đó không được mấy ai lưu tâm đến, như để chứng minh rằng Montesquieu vẫn chí lý, khi ông đã đưa ra một quy luật mà người ta không thể vượt qua: Đó là, tự do cũng suy tàn khi người ta cảm thấy rằng không cần phải theo luật lệ nào nữa.

Trong một khung cảnh cần đổi thay thì không phải cứ thay đổi tư duy của lãnh đạo là sẽ đưa đến tự do, vì những người đấu tranh cho dân tộc đã quen lối hy sinh tự do trong hiện tại để đổi lấy tự do cho những thế hệ mai sau. Cải cách luật pháp cho gọn gàng, trong một môi trường người tài muốn phục vụ, cho thích hợp với những nhu cầu thời đại thì những giới hạn của quyền tự do cũng sẽ rõ ràng hơn, và bớt đưa đến những sự bất công.

Trong thâm tâm, những người Việt chân chính đã đấu tranh cho quyền lợi căn bản của con người, được ghi nhận trong các dòng tư tưởng của một thời đại khai sáng. Vì những sự tương tự đó, công cuộc giải phóng dân tộc của Cách mạng Việt Nam 1945 cũng đã gợi lại tất cả những hình ảnh oai hùng, nhưng cũng ghê rợn, của cuộc Cách mạng Pháp 1789, vì cuộc cách mạng ấy cũng bắt nguồn từ những lý tưởng chung của nhân loại. Đó là quyền được sống trong tự do, và quyền dân tộc tự quyết.

Trung Truong (khách viếng thăm) gửi lúc 09:05, 25/12/2011 - mã số 48041

Thưa quý vị,

Trước hết xin cảm ơn những phản hồi của quý vị, đặc biệt là anh Sơn và vị Khách viếng thăm mã số 47943, dành cho các ý kiến vừa rồi của tôi.
Những góp ý của anh Sơn về việc trao đổi ý kiến là rất đúng; việc không đồng ý hoàn toàn với nhau về một vấn đề nào đó không nên và không nhất thiết dẩn đến bất hoà, nhất là khi đề tài đang bàn là về DC, một chế độ xem trọng sự khác biệt ý kiến và sự thoả hiệp. Người VN chúng ta thường hay đồng nhất việc người dưới có ý kiến khác với người trên như sự thiếu tôn trọng, còn sự bất đồng ý kiến giữa người cùng trang lứa thường dẩn đến bất hoà hay ngay cả thù nghịch. Thiết nghĩ đó là một thói quen hẹp hòi. Người Tây Phương không như vậy. Karl Marx và Feuerbach đều là học trò của Hegel và họ luôn tôn trọng thầy mình, dù rằng cả hai ông đều chủ trương duy vật, trái với chủ trương duy tâm của Hegel. Có nhiều trường hợp khác, người môn đệ Tây Phương dựa trên lý thuyết của thầy mình, nhưng sửa sai, cải tiến và phát triển thành một lý thuyết hay hơn, phù hợp với thực tế hơn, không quên cương vị học trò của mình.

Trong phạm vi hạn hẹp của đề tài mà ông K. nêu ra, tôi tuy không hoàn toàn đồng ý với Ông, nhưng trong thâm tâm tôi vẫn tôn trọng Ông, và sự hâm mộ của tôi dành cho Ông không thay đổi. Chính ra tôi đã phát triển những ý kiến bất đồng của mình dựa trên các ý kiến khởi phát của Ông, đã dùng chúng để suy tư và lập luận cho các phản biện của mình; nghĩa là phần nào đó tôi đã học hỏi được ở Ông, chứ không bất hoà với Ông.

Kế đến xin trả lời sự thắc mắc của Khách Viếng Số 47943.
Không biết tuổi tác giữa chúng ta như thế nào, nhưng để cho thân tình cho phép tôi xưng hô như bằng hữu vậy. Phải nói là bạn đã có những câu hỏi rất hay và thực tế. Tôi sẽ không dám cho rằng mình có đủ khả năng để giải thích thỏa đáng những câu hỏi bạn nêu, nhưng sẽ cố gắng hết mình với sự thành thật, và trong khuôn khổ giới hạn của sự phản hồi cho phép, trình bày đôi điều liên quan đến những thắc mắc bạn nêu ra.

Trước hết, tôi đã viết đoạn văn đó dựa trên việc quan sát, một cách tổng quát, nền DC của một số quốc gia trên thế giới. Như bạn thấy đó, gần nhất là các quốc gia trong khối ASEAN, trong đó có VN là một thành viên. Từ Thái Lan, Philippines, Singapore, v.v... tuy gần gũi về địa lý, nhưng chế độ chính trị ở các quốc gia đó không cái nào hoàn toàn giống cái nào.

Nhưng nói về chế độ DC, có lẽ tiện nhất là nên đem so sánh một số quốc gia Âu-Mỹ, chẳng hạn giữa Mỹ và Canada, hay giữa Pháp và Đức, là những quốc gia cùng chung lục điạ, ở sát bên cạnh nhau, thì sẽ dễ dàng thấy ngay rằng tuy cùng đều là theo chế độ DC, nhưng nền DC của mỗi quốc gia có những nét riêng, đặc thù, không nước nào giống nước nào cả.

Sự khác nhau giữa Mỹ-Canada là rất rõ nét, tuy rằng cả hai cùng có chung bối cảnh lập quốc, nguồn gốc văn hoá và chủng tộc. Canada, vốn chịu ảnh hưởng nặng nề của Anh, nên theo chế độ nghị viện (có khi còn gọi là chế độ đại nghị, hay đại nghị chế, parliamentary system).Kể từ năm 1982, cũng như Anh Quốc, Canada có hoàng tộc (monarch), trên hình thức, đứng đầu quốc gia, gia thông qua chức Governor-General (Toàn Quyền). Vị Toàn quyền này, trên danh nghĩa (de jure) đề cử một dân biểu của Viện Thứ Dân (House of Commons) ra làm Thủ Tướng. Đặc điểm của Đại nghị chế là quyền lực thuộc về quốc hội; cơ quan hành pháp từ quốc hội mà ra, bởi vì thủ tướng là một đại biểu quốc hội, thường là lãnh tụ của khối đa số. Quốc hội có quyền bãi miễn Thủ tướng và nội các của thủ tướng. Quyền tư pháp tối cao thuộc về Tối Cao Pháp viện, cũng có 9 thẩm phán như ở Mỹ, nhưng không có thẩm quyền lớn như TCPV của Mỹ.

Trong khi đó thì Mỹ lại theo Tổng Thống Chế, với lưỡng viện quốc hội và tam quyền phân lập chặt chẻ (lập pháp thuộc về quốc hội, hành pháp thuộc về TT, và tư pháp thuộc về Tối Cao Pháp viện). Quốc hội Mỹ không có quyền bãi miễn TT hay bãi miễn thẩm phán của TCPV, ngoại trừ những vị này phạm trọng tội (high crime or traitor). TCPV Mỹ có quyền tư pháp lớn hơn TCPV của Canada, quyền (Judicial Review), duyệt xét tính cách hợp hiến (constitutionality) các đạo luật của quốc hội và của hành pháp. Chính yếu thì hệ thống của Mỹ chú ý đến sự kiểm soát lẫn nhau và giữ cân bằng (check and balance) giữa ba quyền :lập pháp, hành pháp và tư pháp. Dầu vậy do định chế lưỡng đảng, nhiều khi uy thế của TT, tức của hành pháp, có phần trội hơn, nhất là đối với những vấn đề liên quan đến quốc phòng-an ninh quốc gia, hoặc trong các trường hợp khẩn cấp-chiến tranh.
Đó là những khác biệt về cơ cấu chính quyền, còn về chính đảng thì trong lúc ở Canada có rất nhiều chính đảng; ở Mỹ chỉ có hai đảng lớn, và với một hai đảng nhỏ không có ảnh hưởng.

Trên đây chỉ là những nét đại lược sự khác nhau về chế độ DC của Mỹ và Canada, sau này có dịp tôi sẽ xin đi sâu hơn vào chi tiết về các mặt cơ cấu chính quyền, các định chế DC của xã hội, nguồn gốc văn hoá, lịch sử của các khác biệt,v.v...

Hai quốc gia khác, cùng chung lục địa và chia nhau biên giới, nhưng lại có mô hình DC khác nhau rất tiêu biểu là Pháp và Đức.
Pháp theo TT Chế, nhưng có những khác biệt với TT Chế của Mỹ. TT Pháp do dân bầu, có quyền giải tán rồi tổ chức bầu quốc hội mới. TT chọn thủ tướng, thường là từ đảng đa số ở hạ viện, để lập nội các cho mình. TT Pháp, khác với TT Mỹ, không có quyền phủ quyết (veto) luật của quốc hội thông qua, chỉ có quyền yêu cầu xem xét lại. Xem ra TT Pháp có nhiều quyền lực hơn TT Mỹ. Hệ thống của Pháp mang tính tập trung (centralized) hơn.

Trong khi đó ở Đức, cũng có TT, nhưng chỉ có danh vị, không có thực quyền, được bầu bởi hạ viện và hội đồng lập pháp của các tiểu bang. Người đứng đầu chính quyền thật sự là một Chancellor, tương đương như thủ tướng, được đảng, hay liên minh đa số ở hạ viện bầu ra do sự đề nghị của TT. Chancellor là người thành lập nội các để điều hành ngành hành pháp của quốc gia. Đặc điểm của chế độ ở Đức là Chancellor không bị bãi chức theo quy chế bất tín nhiệm như Thủ tướng Anh, hay thủ tướng của một số quốc gia theo chế độ đại nghị khác, và tương đối ổn định hơn nhiều quốc gia khác. Nhược điểm là vì ở Đức có nhiều chính đảng, và tuyển cử theo lối ti lệ, nên thường không có đảng nào chiếm được đa số tuyệt đối, mà các đảng phải liên minh với nhau để có đa số nhằm chọn Chancellor. Điểm khác nữa là Đức lập quốc theo lối liên bang, có phần tản quyền hơn (decentralized).

Trên đây là một so sánh sơ lược sự khác biệt về mô hình DC của một vài quốc gia tiêu biểu nhằm minh hoạ cho đoạn tôi viết mà bạn đã trích và thắc mắc. Do hiểu biết ít ỏi của mình và do khuôn khổ của một phản hồi, tôi xin trình bày vắn tắt như vậy.

Về phần thứ hai trong thắc mắc của bạn, tôi xin nói vắn gọn thế này. Điểm chung nhất, cho mọi mô hình DC, theo thiển ý của tôi, quy vào trong nguyên tắc chủ quyền thuộc về dân và sự phân quyền. Nền tảng của nguyên tắc chủ quyền thuộc về dân là các Nhân quyền căn bản và dân quyền. Còn sự phân quyền là để tránh độc quyền , duy trì được sự độc lập của các quyền, đồng thời giúp các quyền hợp tác vì lợi ích chung. Sỡ dĩ người Tây Phương đặt nặng việc phân quyền là vì họ tin rằng nhân loại, do bản chất của mình, luôn lạm dụng khi có quyền lực trong tay (Power corrupts: quyền lực gây thối nát), ngay cả ở những minh quân danh tiếng.

Đó là lý thuyết, thể hiện các nguyên tắc trên vào thực tế, điểm chung nhất của các mô hình DC là định chế đa đảng, sự độc lập và tự do truyền thông-ngôn luận, chế độ tuyển cử tự do. Điểm chung của nguyên tắc phân quyền, là sự độc lập của quyền tư pháp, bất kể là theo TT chế hay Đại nghị chế, các chế độ DC đều giống nhau ở điểm là một ngành tư pháp độc lập, không bị hoặc hành pháp hoặc lập pháp chi phối. Điểm chung quan trọng khác, thể hiện trên thực tế của nguyên tắc phân quyền, là chế độ pháp trị, hay cai trị bằng Luật pháp (rule of law). Trên thực tế, một điểm chung quan trọng khác là ý thức DC của người dân.

Xin đề nghị bạn đem so chiếu những điểm chung tôi vừa nêu trên vào thực tế VN để tìm xem VN chúng ta hiện nay, về thực chất, có được gì trong những nét chung nhất của một mô hình DC. Đặc biệt nhất là về mặt Ý thức DC của người dân. Mong rằng tôi sai, nhưng dường như ngay những nhà đối kháng, vận động DC cũng không chú ý nhiều đến việc có một nổ lực vận động rộng rãi nhằm nâng cao ý thức DC của mọi người, kể cả của các đảng viên CS lên. Ở đây thiết nghĩ nên sửa lại câu nói trước đây: " Muốn xây dựng CNXH, cần có con người XHCN" thành câu: " Muốn xây dựng chế độ DC, cần có con người với Ý thức DC."

Đã quá dài cho một phản hồi, tôi xin ngừng lại ở đây. Mong sao tôi đã trả lời được phần nào thắc mắc của bạn Khách viếng thăm mã số 47943.

Cũng xin lỗi vì nhằm ngày Christmas Eve nên tôi quá bận và vì vậy đã trả lời quý vị trễ.

Kính,
Truong Đ Trung

Ai phủ định nội dung cơ bản của bản Hiến pháp 1946? (khách viếng thăm) gửi lúc 19:32, 24/12/2011 - mã số 47996
Thử trả lời viết:
Hỏi bác Trương Đình Trung viết:
Trích dẫn:
Vắn tắt thì nền Dân Chủ của một quốc gia là nét đặc thù của quốc gia đó, kết tinh do mối tương quan của các yếu tố văn hoá, lịch sử, địa lý, kinh tế, tâm lý, dân số và bối cảnh chính trị quốc tế của từng thời kỳ nhất định. Do sự khác biệt giữa các quốc gia về những yếu tố định hình Dân Chủ ấy, sẽ không có hai nền Dân Chủ hoàn toàn giống nhau ở hai quốc gia khác nhau; ngay cả khi hai quốc gia đó cùng ở chung trên một lục điạ và chia sẻ biên giới với nhau. Vì vậy, việc mong đợi để noi theo một mô hình Dân Chủ nào đó làm mẫu mực cho việc xây dựng Dân Chủ cho quốc gia mình là điều không thực tế. Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia phải tự mình kiến tạo riêng nền Dân Chủ cho mình, dựa trên chính những đặc điểm văn hoá, lịch sử, điạ lý, và kinh tế của mình.

Tôi là dân đen, cần có minh họa cụ thể thì mới hiểu được ý nêu trên của bác Trung.

Bác Trương Đình Trung có thể cho những ví dụ cụ thể trong cuộc sống, trong tổ chức xã hội, tổ chức chính quyền ra sao cho xây dựng mô hình Dân Chủ ở VN không ?

Theo bác Trung, những điểm gì là quan trọng cho mô hình Dân Chủ mà nó có thể áp dụng cho tất cả các nước ? Đây là một tập hợp nhỏ nhất mà có thể chấp nhận được cho mô hình Dân Chủ, bác Trung có thể chỉ ra nó trong lý thuyết và thực tế VN được không ?

Vể việc minh họa, ông Trương Đình Trung chắc sẽ có ý kiến sau, ở đây tôi chỉ muốn đưa ra hai ví dụ để chứng minh Dân chủ phương Tây không thích hợp đối với Việt nam nói riêng và đối với các nước mang nặng truyền thống Khổng giáo nói chung.

Đó là qua hai sự kiện, thứ nhất là việc Việt nam phủ định nội dung cơ bản của bản Hiến pháp 1946 do ông Hồ Chí Minh khởi xướng dựa trên văn hóa Dân chủ Phương Tây. Thứ hai, như ông Trương Đình Trung cũng đã nói, đó là sự thất bại của nền Dân chủ ngoại lai ở miền Nam Việt nam sau 1954.

Hai sự kiện trên chứng tỏ người Việt nam không mặn mà đến Dân chủ ở dạng mà số đông các nước trên thế giới đang hướng tới. Cái người Việt nam cần, hiện tạm gọi là Dân chủ, vì vậy có thể sẽ mang nội dung hoàn toàn khác và có thể sẽ mang một cái tên cũng hoàn toàn khác phù hợp với nội dung của nó hơn.

việc Việt nam phủ định nội dung cơ bản của bản Hiến pháp 1946 do ông Hồ Chí Minh khởi xướng dựa trên văn hóa Dân chủ Phương Tây

Hiện nay chẳng phải Nguyễn Sinh Hùng đang hùng hổ tuyên bố HP mới dựa trên tinh thần HP 1946 đó sao ?

Bạn có văn bản chính thức nào của đảng CSVN phủ nhận nội dung cơ bản của bản Hiến pháp 1946 không ? HP 1960 do chính Hồ Chí Minh ký và ra lệnh ban hành đấy. Hoặc do chính Hồ Chí Minh phủ nhận HP 1946 hoặc Hồ Chí Minh thật sự không có quyền hành gì cả

=> Bạn có thể nêu ra, theo quan điểm của bạn, những nét quan trọng nhất, thể hiện văn hóa Dân chủ Phương Tây không ? Có như vậy mọi người mới có thể đi vào "chi tiết hơn" được và trên cùng một cơ sở

Chủ nghĩa Mác-Lê, hoàn toàn ngoại lai, với chuyên chính vô sản, có phải là phù hợp cho VN không ? Tại sao ?

Trích dẫn:
Hai sự kiện trên chứng tỏ người Việt nam không mặn mà đến Dân chủ ở dạng mà số đông các nước trên thế giới đang hướng tới.

Tại sao không làm trưng cầu dân ý thì mới khách quan và chính xác. Những việc chung và quan trọng, chỉ cần 10 năm là có thể người dân thay đổi ý kiến. VN chưa bao giờ làm trưng cầu dân ý về thể chế và tổ chức xã hội

Trích dẫn:
Cái người Việt nam cần, hiện tạm gọi là Dân chủ, vì vậy có thể sẽ mang nội dung hoàn toàn khác và có thể sẽ mang một cái tên cũng hoàn toàn khác phù hợp với nội dung của nó hơn.

Bạn có biết người Việt nam cần gì không ? Bạn có thể cho biết ý kiến "cá nhân bạn" về việc này không ? Cái "hiện tạm gọi là Dân chủ" là gì ?
Đa số người dân, họ cần biết kết quả cuối cùng và một số chi tiết cụ thể. Nếu các bạn chỉ nói lý thuyết chung chung, rất khó bàn luận chi tiết

Thử trả lời (khách viếng thăm) gửi lúc 18:20, 24/12/2011 - mã số 47993
Hỏi bác Trương Đình Trung viết:
Trích dẫn:
Vắn tắt thì nền Dân Chủ của một quốc gia là nét đặc thù của quốc gia đó, kết tinh do mối tương quan của các yếu tố văn hoá, lịch sử, địa lý, kinh tế, tâm lý, dân số và bối cảnh chính trị quốc tế của từng thời kỳ nhất định. Do sự khác biệt giữa các quốc gia về những yếu tố định hình Dân Chủ ấy, sẽ không có hai nền Dân Chủ hoàn toàn giống nhau ở hai quốc gia khác nhau; ngay cả khi hai quốc gia đó cùng ở chung trên một lục điạ và chia sẻ biên giới với nhau. Vì vậy, việc mong đợi để noi theo một mô hình Dân Chủ nào đó làm mẫu mực cho việc xây dựng Dân Chủ cho quốc gia mình là điều không thực tế. Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia phải tự mình kiến tạo riêng nền Dân Chủ cho mình, dựa trên chính những đặc điểm văn hoá, lịch sử, điạ lý, và kinh tế của mình.

Tôi là dân đen, cần có minh họa cụ thể thì mới hiểu được ý nêu trên của bác Trung.

Bác Trương Đình Trung có thể cho những ví dụ cụ thể trong cuộc sống, trong tổ chức xã hội, tổ chức chính quyền ra sao cho xây dựng mô hình Dân Chủ ở VN không ?

Theo bác Trung, những điểm gì là quan trọng cho mô hình Dân Chủ mà nó có thể áp dụng cho tất cả các nước ? Đây là một tập hợp nhỏ nhất mà có thể chấp nhận được cho mô hình Dân Chủ, bác Trung có thể chỉ ra nó trong lý thuyết và thực tế VN được không ?

Vể việc minh họa, ông Trương Đình Trung chắc sẽ có ý kiến sau, ở đây tôi chỉ muốn đưa ra hai ví dụ để chứng minh Dân chủ phương Tây không thích hợp đối với Việt nam nói riêng và đối với các nước mang nặng truyền thống Khổng giáo nói chung.

Đó là qua hai sự kiện, thứ nhất là việc Việt nam phủ định nội dung cơ bản của bản Hiến pháp 1946 do ông Hồ Chí Minh khởi xướng dựa trên văn hóa Dân chủ Phương Tây. Thứ hai, như ông Trương Đình Trung cũng đã nói, đó là sự thất bại của nền Dân chủ ngoại lai ở miền Nam Việt nam sau 1954.

Hai sự kiện trên chứng tỏ người Việt nam không mặn mà đến Dân chủ ở dạng mà số đông các nước trên thế giới đang hướng tới. Cái người Việt nam cần, hiện tạm gọi là Dân chủ, vì vậy có thể sẽ mang nội dung hoàn toàn khác và có thể sẽ mang một cái tên cũng hoàn toàn khác phù hợp với nội dung của nó hơn.

Hỏi bác Trương Đình Trung (khách viếng thăm) gửi lúc 00:27, 24/12/2011 - mã số 47943
Trích dẫn:
Vắn tắt thì nền Dân Chủ của một quốc gia là nét đặc thù của quốc gia đó, kết tinh do mối tương quan của các yếu tố văn hoá, lịch sử, địa lý, kinh tế, tâm lý, dân số và bối cảnh chính trị quốc tế của từng thời kỳ nhất định. Do sự khác biệt giữa các quốc gia về những yếu tố định hình Dân Chủ ấy, sẽ không có hai nền Dân Chủ hoàn toàn giống nhau ở hai quốc gia khác nhau; ngay cả khi hai quốc gia đó cùng ở chung trên một lục điạ và chia sẻ biên giới với nhau. Vì vậy, việc mong đợi để noi theo một mô hình Dân Chủ nào đó làm mẫu mực cho việc xây dựng Dân Chủ cho quốc gia mình là điều không thực tế. Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia phải tự mình kiến tạo riêng nền Dân Chủ cho mình, dựa trên chính những đặc điểm văn hoá, lịch sử, điạ lý, và kinh tế của mình.

Tôi là dân đen, cần có minh họa cụ thể thì mới hiểu được ý nêu trên của bác Trung.

Bác Trương Đình Trung có thể cho những ví dụ cụ thể trong cuộc sống, trong tổ chức xã hội, tổ chức chính quyền ra sao cho xây dựng mô hình Dân Chủ ở VN không ?

Theo bác Trung, những điểm gì là quan trọng cho mô hình Dân Chủ mà nó có thể áp dụng cho tất cả các nước ? Đây là một tập hợp nhỏ nhất mà có thể chấp nhận được cho mô hình Dân Chủ, bác Trung có thể chỉ ra nó trong lý thuyết và thực tế VN được không ?

Phan Sơn (khách viếng thăm) gửi lúc 20:40, 23/12/2011 - mã số 47918

Trương Đình Trung đã dùng tư duy biện chứng để nhìn vấn đề bao giờ cũng có hai mặt. Dùng phương pháp luận khoa học để truy tận căn nguyên gốc rễ của vấn để.

Con người thì thường hay sai lầm; do đó, một bài viết có những nhận định chủ quan hoặc mắc phải đôi ba sai lầm cũng là việc bình thường. Đó là lý do tại sao chúng ta cần có sự phản biện, trao đổi ý kiến, để cùng làm sáng tỏ một vấn đề còn đang tranh cãi. Chúng ta có thể bất đồng, nhưng không cần thiết phải bất hòa. Khi trưng ra cho nhau thấy những sai lầm thì không có nghĩa là để mạt sát, để tranh nhau ai trí thức, ai thiển cận, nhưng là để làm sáng tỏ một vấn đề được nhìn từ những góc cạnh khác nhau, tất cả cho sự lợi ích của học thuật.

Gửi phản hồi mới (xin gõ tiếng Việt có dấu và tuân thủ Nguyên tắc Dân Luận để được chấp nhận)

Bạn có thể bịa một địa chỉ email bất kỳ, ví dụ test@gmail.com. Thông tin này sẽ không xuất hiện công khai khi phản hồi được đăng.
  • Use special [news] tag to display title, source and url of news.
  • Bạn có thể sử dụng các thẻ BBCode trong bài. Các địa chỉ URL sẽ được tự động chuyển thành liên kết.
  • Bạn có thể trích bài của người khác bằng thẻ [quote], ví dụ: [quote]Nội dung muốn trích dẫn[/quote]
  • Bạn có thể sử dụng những thẻ HTML sau: <a> <em> <strong> <ins> <b> <i> <u> <br> <cite> <code> <ul> <ol> <li> <dl> <dt> <dd> <h1> <h2> <h3> <h4> <h5> <table> <tbody> <td> <tr> <pre> <img> <div> <span> <object> <hr> <center> <font> <blockquote> <strike> <embed> <param> <del> <ins> <sub> <sup>
  • Bạn có thể chèn video vào bài viết bằng thẻ [video:địa_chỉ_url_của_video]
  • Cách dòng và cách đoạn sẽ được tự động chuyển thành xuống dòng.
  • Web page addresses and e-mail addresses turn into links automatically.

Nhấn vào đây để biết thêm chi tiết về cách định dạng bài viết...

To prevent automated spam submissions leave this field empty.
CAPTCHA
Bạn bắt buộc phải trả lời câu hỏi kiểm tra dưới đây. Nó giúp chúng tôi nhằm lọc bỏ các nội dung spam do robot tự động thực hiện.
2 + 6 =
Giải bài toán đơn giản này và nhập kết quả vào ô phía trên. Ví dụ, nếu thấy 1+3, thì hãy nhập 4.

Suy ngẫm

Độc quyền thông tin có nghĩa là độc quyền dối trá.

Mới Mới Mới

Thống kê truy cập

Hiện có 3 thành viên716 khách truy cập.

Thành viên online

Mắt Bão, Sapphire, Biên tập viên

Kỷ lục: Có 4638 người ghé thăm vào 15-05-2014 lúc 09h47.

Độc giả Dân Luận từ đâu đến?

Locations of visitors to this page

Quỹ Dân Luận

ung-ho-dan-luan-3.png