Phạm Văn Bản - Bàn về Đảng Chính Trị (Kết)

Phạm Văn Bản
Ðảng chính trị mà chúng ta mong muốn sớm có hôm nay, thì đảng đó không nên đóng khung trong một tôn chỉ hay một chủ thuyết nào, mà cần ứng dụng bằng những chính sách chính trị thực tế, và tránh nạn giáo điều. Muốn được như thế, chúng ta kết hợp sao cho hài hòa giữa hai hệ thống tư tưởng của dân tộc và nhân loại, rút tỉa tinh hoa văn hóa Tiên Rồng đưa vào quốc sách chính trị thì Việt Nam mới có cơ may thành công.
Chia sẻ bài viết này

VI. Nhiệm Vụ Chính Ðảng

Ở những nước độc đảng (Cộng Sản, Hồi Giáo), đảng viên ứng cử được chọn vào ghế trong chính quyền, họ giữ các chức vụ quan trọng nhằm bảo vệ đặc quyền đặc lợi của họ mà họ đang cai trị. Ðương nhiên bầu cử của họ phải thắng với tỷ lệ 100%, hoặc 95% vì không có đối thủ cạnh tranh. Nhưng quốc gia đa đảng/lưỡng đảng, mỗi đảng tranh cử tại nhiều địa phương với nhiều chức vụ ở những cấp độ khác nhau. Bởi thế cử tri có cơ hội chọn ứng viên tranh cử, và người nào nhiều phiếu thì đắc cử.

Vào thời mới lập quốc ở Hoa Kỳ, các lãnh tụ chọn người vào ghế chính quyền bằng những phiên họp của các ủy viên gọi là Caucus. Nhưng hình thức này trở thành không phù hợp lòng dân, vì có nhiều ứng cử viên của các đảng phái khác bị thất lợi trong cuộc xây dựng và phát triển công quyền. Hơn nữa, một người hay một nhóm nhỏ cũng có thể kiểm soát Caucus để đạt đến mục đích cá nhân. Vì thế từ năm 1840 tới nay thể thức đại hội chọn ứng cử viên đã trở thành phổ quát. Theo thể thức này, đảng viên sẽ chọn ứng viên đại diện cho mình qua kỳ đại hội. Nhưng rồi lãnh tụ đảng và guồng máy đảng đã kiểm soát được đại hội. Nhiều đại biểu bầu phiếu lại thực hiện theo chỉ thị, hoặc được mua chuộc. Ðại hội tới nay vẫn còn tổ chức tại một số tiểu bang Hoa Kỳ để chọn ứng viên cấp tiểu bang, cấp địa phương, hoặc thảo luận những công tác nội bộ.

Hai đảng chính trị quan trọng là Dân Chủ và Cộng Hòa tổ chức những đại hội toàn đảng mỗi bốn năm một lần, để chọn ứng viên tổng thống và phó tổng thống. Bắt đầu những thập niên 1900 nhiều tiểu bang đã thay thế đại hội đảng bằng phiếu sơ cấp để chọn ứng cử viên, cũng như muốn tránh sự kiểm soát của đảng vào các ứng cử viên. Bởi thế các tiểu bang ở Hoa Kỳ ngày nay tổ chức công khai hay nội bộ bầu cử sơ cấp. Trong cuộc bầu cử công khai, mỗi cử tri nhận phiếu ứng cử viên của các đảng. Tại thùng phiếu, cử tri chọn phiếu của ứng cử viên mà mình đã tuyển. Và trong cuộc bầu cử nội bộ, cử tri thường chỉ chọn phiếu ứng cử viên của đảng mình.

1. Tập quyền - tản quyền

Những nước có hệ thống tập quyền như Anh, Pháp, Ý… thì chính phủ trung ương nắm giữ nhiều quyền hành kể cả quyền kiểm soát các địa phương. Nhưng những nước có hệ thống liên bang như Hoa Kỳ, Gia Nã Ðại, Úc Ðại Lợi… thì quyền hành được phân ra giữa trung ương, và tiểu bang, hay tỉnh bang.

Những nước có thể chế trung ương tập quyền, các đảng chính trị tập trung để được quyền kiểm soát, tổ chức chính quyền trung ương, và các chính đảng cũng tổ chức và hoạt động theo cấp độ này. Và những nước có thể chế chính trị tản quyền, thì các chính đảng cũng phải hoạt động và tổ chức sao cho phù hợp với thể chế như tổng thống hay đại nghị.

2. Thể Chế Tổng Thống

Hiến Pháp Hoa Kỳ ấn định sự phân quyền giữa hành pháp, lập pháp, và tư pháp. Tổng thống không phải là đại biểu quốc hội, và cũng không phải là người của nội các, mà tổng thống được chọn qua cuộc phổ thông đầu phiếu. Trong Quốc Hội, thượng viện với các thượng nghị sĩ là tiếng nói của người dân, và hạ viện với các dân biểu là tiếng nói của chính quyền.

3. Thể Chế Đại Nghị

Thể chế dân chủ đại nghị như Anh Quốc thì người lãnh đạo là thủ tướng. Thủ tướng phải là đại biểu quốc hội và thường là lãnh tụ của đảng có đa số ghế tại hạ viện. Thủ tướng chọn thành phần nội các là những lãnh tụ các cấp của đảng có đa số ghế tại quốc hội. Anh Quốc là nước mà thủ tướng và chính phủ là những người có cả quyền lập pháp và hành pháp. Họ là nhân viên của lập pháp và chịu trách nhiệm việc thi hành luật. Nếu chương trình của thủ tướng không được quốc hội chấp thuận thì đảng đối lập yêu cầu tổ chức tuyển cử. Và dân bỏ phiếu lưu giữ chính phủ, hoặc là cho phép đảng đối lập có cơ hội thành lập tân chính phủ.

Mỗi đảng ở thượng viện và hạ viện đều chọn lãnh tụ tại mỗi viện (floor leader) và phụ tá (whip). Lãnh tụ đảng tại mỗi viện hướng dẫn đảng viên trong việc thảo luận và đề nghị dự luật. Người phụ tá giúp cho lãnh tụ biết ý kiến của đảng viên trong các vấn đề.

4. Ðối Lập

Những nước dân chủ thì đảng hoặc những đảng thất cử có nhiệm vụ phê bình các chương trình, các kế hoạch của đảng cầm quyền. Ở Pháp, Ý, và những nước có nhiều đảng, thì các đảng đối lập có nhiều quan điểm chính trị khác biệt nhau, từ quân chủ cho chí cộng sản. Nước lưỡng đảng thì đảng đối lập được thống nhất. Nhưng Quốc Hội Hoa Kỳ cũng ít khi xảy ra như thế, vì một số thành viên đảng lại ủng hộ chương trình của chính phủ dù trái với chủ trương đường lối của lãnh tụ đảng họ.

5. Gây quỹ

Chiến dịch vận động gây qũy tranh cử rất quan trọng đối với các nước dân chủ. Chiến dịch rất tốn kém nhưng các đảng phải chi tiêu để được đắc cử. Chính đảng của Hoa Kỳ phải chi tiêu cho chiến dịch tranh cử tất nhiên nhiều hơn ở các quốc gia khác, một phần vì chiến dịch dài, và tốn kém hàng triệu Mỹ kim cho cuộc vận động tranh cử thượng nghị sĩ, và nhiều triệu cho cuộc vận động tranh cử tổng thống.

B. Chính Đảng Việt Nam

Qua phần trình bày đại cương đảng chính trị của những quốc gia Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Úc Đại Lợi, Anh Quốc… chúng ta thấy rằng, chính đảng được nhiều đoàn thể và hiệp hội kết hợp để tạo thành tụ lực và làm nên sức sống của tổ chức đảng (Party Organization) trên tiến trình đấu tranh chính trị. Các đoàn thể hiệp hội tuy có mục tiêu chính trị, nhưng khả năng hoạt động của mỗi tổ chức lớn, nhỏ lại khác biệt. Các tổ chức này có thể ủng hộ một chính sách, hay ảnh hưởng bởi đường hướng hoạt động của một chính đảng nhưng lại hoạt động đơn thuần về một phương diện xã hội, tôn giáo, văn hóa, giáo dục hoặc kinh tế… Và cũng từ đó chính sách của một chính đảng đề ra để thực hiện công cuộc tổ chức chính là con người. Việc kiểm soát con người và kiểm soát công tác trở thành mấu chốt quyết định thành công hay thất bại trong hoạt động của một chính đảng.

Vì thế, việc giải quyết đúng đắn về một hệ thống tổ chức chính trị, tức là chúng ta giải đáp thông suốt những vấn đề của con người:

- Phải làm gì?

- Có bao nhiêu việc?

- Cần biết cái gì?

- Tuân theo qui định gì?

- Trực thuộc ai?

- Có trách nhiệm và quyền hạn đến đâu?

- Liên hệ với người và đại phận khác như thế nào?

- Do ai bổ nhiệm, hay bãi miễn?

Ngày xưa, khi nhóm người bất bình với chính quyền thì họ tập hợp nhau lại để mưu tính việc tuyển quân mộ lính mà khởi nghĩa, mà thực thi lý tưởng, nguyện vọng của mình. Nhưng ngày nay, để tránh chiến tranh, người thanh niên muốn thực hiện lý tưởng phục vụ quốc gia dân tộc thì cần tham gia hay thành lập chính đảng, từ đó tìm cách đại diện cho dân, ứng cử vào quốc hội, và đấu tranh nghị trường.

Ngày trước chính trị gia xuất thân là những trí thức đào tạo trong triều đình, tu viện, hay môn phái võ thuật. Thế nhưng qua tiến trình phát triển xã hội, người trí thức thời nay được đào tạo trong trường đại học của ngành giáo dục trở thành những chuyên viên, và những người này họp nhau thành hội thành đảng. Bởi vì những lời kêu gọi hay đòi hỏi nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do báo chí hay tự do tín ngưỡng… đều vô hiệu khi không có Lưỡng Đảng trong một thể chế tự do chính trị. Và chỉ khi chúng ta có đảng thứ hai đủ mạnh, có khả năng tranh đấu chính trị với đảng cầm quyền thì lúc đó người dân mới thực sự có tự do dân chủ và nhân quyền.

Xây dựng một chính đảng, trước hết chúng ta cần đề cập đến việc thành lập và phát triển đơn vị tổ chức địa phương nơi mình đang cư ngụ, thường gọi Quận Bộ (District) vì là nơi liên quan mật thiết chính đảng với đại chúng, nghe ý dân và đáp ứng nguyện vọng của dân. Quận bộ là cơ quan lãnh đạo đảng bộ để hướng dẫn dân chúng sinh hoạt chính trị, thành lập những Hội Đoàn và Câu Lạc Bộ để thu hút thanh niên nam nữ vào hoạt động chính trị. Quận bộ cũng là trường huấn luyện và đào tạo cán bộ đảng viên, thông thường các nhân tài của đảng sản sinh từ quận bộ rồi trưởng thành trong công tác lãnh đạo và quản trị tổ chức.

Cán bộ đảng viên là người tự nguyện nhận lãnh và hoàn thành công tác tổ chức tại quận bộ sao cho phù hợp trình độ nhận thức, khả năng chuyên môn, và sở trường của chính mình. Cán bộ đảng viên là người:

- Biết điều mình nói, muốn nói, và việc mình làm trong tổ chức một cách rõ ràng mạch lạc.

- Hiểu điều mình trình bày một cách sâu sắc, và tin tưởng vững vàng vào sự nghiên cứu (research), sự hiểu biết của chính mình.

- Thực hiện điều hiểu biết nói trên.

- Sống thực với điều hiểu biết của mình, chứ không lý thuyết suông.

- Ứng dụng điều hiểu biết của mình vào cuộc sống bản thân và xã hội.

C. Ðảng Chính Trị Việt

Nhìn lại đảng phái chính trị của người Việt Nam phải thừa nhận rằng dân tộc ta chưa có một đảng chính trị đúng nghĩa để “sinh hoạt tự do dân chủ”. Trước hết vì thiếu triết lý dân tộc, thiếu nguyên lý tổng hợp, thiếu tôn chỉ hay hệ thống tư tưởng chỉ đạo một cách “sống động hiện thực”… Hơn nữa, tôn chỉ hay chủ thuyết lại cần phải giải thích rộng rãi… cho nên đã tự gò bó, mâu thuẫn quyền lợi, kình chống lẫn nhau trong nội bộ đảng. Và từ đó các chính đảng đã không theo kịp trào lưu tiến hóa chung của nhân loại; đảng CSVN là một ví dụ điển hình.

Ðảng chính trị mà chúng ta mong muốn sớm có hôm nay, thì đảng đó không nên đóng khung trong một tôn chỉ hay một chủ thuyết nào, mà cần ứng dụng bằng những chính sách chính trị thực tế, và tránh nạn giáo điều. Muốn được như thế, chúng ta kết hợp sao cho hài hòa giữa hai hệ thống tư tưởng của dân tộc và nhân loại, rút tỉa tinh hoa văn hóa Tiên Rồng đưa vào quốc sách chính trị thì Việt Nam mới có cơ may thành công.

Chúng ta biết rằng, trong thể chế chính trị Tự Do Dân Chủ phải có hai đơn vị bình đẳng trong một cơ cấu sinh hoạt, cầm quyền và đối lập. Từ đó, chúng ta có quyền chọn lựa những ứng cử viên đại diện cho mình vào chính quyền để hoạt động xây dựng, kiến thiết quốc gia. Và những ai muốn “gánh vác sơn hà,” thì họ mới có cơ hội để tự do thực hiện những điều kiện như sau:

1. Chọn đảng chính trị để gia nhập.

2. Chọn đơn vị địa phương thích hợp để cho mình sinh hoạt.

3. Ðệ đơn xin ứng cử.

4. Tiến thân trong đảng và tiến lên trong những đơn vị bầu cử từ địa phương tới những cấp lớn hơn, hay trung ương.

5. Ðắc cử thành lãnh tụ khối dân cử của đảng.

6. Và vận động tranh cử để đảng có đa số phiếu trong quốc hội, rồi từ đó mà có chính quyền và giữ chính quyền.

Ðộng lực thúc đẩy các người thanh niên hăng hái gia nhập đảng chính trị là do khả năng. Vì khi thanh niên có khả năng chính trị thì họ mới chu toàn được nhiệm vụ, và khi có nhiệm vụ thì ắt sinh ra quyền lợi. Quyền lợi chính trị lại là phương tiện để giúp người thanh niên đó thực hiện lý tưởng, hoài bão giúp dân cứu nước mà mình hằng tâm mưu cầu. Phải có phương pháp tổ chức thực tiễn theo đà phát triển của xã hội như phân công phân nhiệm… thì đảng chính trị mới gặt hái được thành quả và xã hội mới tránh được nạn công thần.

Bằng ngược lại, đảng độc tài trong các nước chậm tiến thì thường đặt tình cảm làm động lực thúc đẩy cho tổ chức… rồi mới xét tính đến quyền lợi, lý tưởng, và khả năng của thành viên. Bởi thế, quyền lực thường bị rơi vào tay những kẻ bất tài vô đức, mặc tình thao túng chính trị… làm băng hoại xã hội, đưa dân nước lâm cảnh nghèo đói bần cùng.

Ngày nay, dân tộc ta muốn tồn tại, muốn sống còn thì Chính Sách Dựng Đảng là điều kiện tiên quyết. Vì chỉ có đảng chính trị mới là cơ cấu tổ chức chặt chẽ trong công cuộc dựng nước, dựng người. Ðảng chính trị phải có đủ quyền lực đối lập, tức là phải là tổ chức của dân và do dân. Ðảng phải có cán bộ nòng cốt hoạt động trong dân, tổ chức dân và lãnh đạo dân; bằng không thì chỉ là “đảng cuội”, và hao tiền tốn của bằng việc làm vô tích sự. Đảng chính trị cũng không thể bỗng nhiên mà có, và lại càng không thể có do ngoại nhân tạo ra mà thành. Nói khác đi đảng chính trị chỉ có khi có những người cưu mang tâm huyết của Tổ Tiên Việt để thực thi đại cuộc Cách Mạng Tiên Rồng.

Đảng chính trị đặt căn cứ trên nền tảng triết thuyết dân tộc. Từ cơ sở tư tưởng đó, chúng ta phát huy và xác định phương hướng, mục đích, mục tiêu, và nhiệm vụ hoạt động trong từng thời kỳ bao gồm từ việc tổ chức kín, tổ chức bán công khai, hoặc tổ chức công khai. Về mặt công tác hoạt động, đảng chính trị phân công phân nhiệm một cách cụ thể, rõ ràng cho từng thành viên, sao cho công tác vừa song hành với chương trình hợp đồng, đồng bộ của tổ chức, và lại vừa phù hợp với khả năng nhiệm vụ của mỗi người.

Đảng chính trị không phải là tổng hợp tài năng cá nhân, mà là một tập thể sinh hoạt có tổ chức, có hệ thống, có nguyên tắc, có quy luật phát triển riêng của hệ tư tưởng chỉ đạo và định hướng. Sức mạnh của đảng không phải cấp số cộng mà là cấp số nhân, và tình cảm tập thể cũng là cấp số nhân. Sức mạnh cũng như tình cảm tập thể thường đưa những người cán bộ đảng viên hoạt động trở thành danh tiếng. Giải quyết đúng đắn hệ thống tổ chức, tức là chúng ta giải quyết vấn đề cán bộ, và xin nhớ rằng, đảng chỉ vững mạnh nếu có lãnh đạo thừa kế.

Tóm lại, đảng chính trị phải tùy thuộc thực tế hiện hữu mà chúng ta tổ chức sao cho linh động, biến hóa toàn vẹn và hữu hiệu.

D. Kết Luận

1. Theo quan niệm tổ chức của Ðông phương, chúng ta thường dựa trên nền tảng Vì Nghĩa. Chúng ta ngồi lại với nhau vì thấy việc chung phải làm, và vì tình nghĩa với nhau mà làm việc chung, việc nghĩa. Bởi thế mới có những người Tụ Nghĩa, Kết Nghĩa rồi có Nghĩa Sĩ, Nghĩa Quân… Tất cả đều căn cứ trên động lực tinh thần, tấm lòng đối với việc chung, việc nước phải làm, với Quê Hương Dân Tộc hay ít ra vì nặng nợ ơn nghĩa với nhau.

Vì vậy mục đích của việc kết tụ là “đền ơn đáp nghĩa” hoặc làm ơn làm nghĩa… Với hình thức tổ chức của Ðông phương rất thích hợp với Tình Người, nhưng nặng phần chủ quan, lỏng lẻo, và nhẹ phần công tác. Do đó không khai thác và ứng dụng triệt để những điều kiện thành công khách quan, đây là điểm yếu trong công cuộc tổ chức đã thường dẫn đến thất bại của nhiều chính đảng hoạt động trên quê hương Việt Nam.

2. Ngược lại, theo quan niệm Tây phương, nền tảng tổ chức là “hợp tác” và cùng nhau làm việc chung, việc nước. Nhưng mục tiêu của tổ chức là “hữu hiệu” họ làm sao cho hoàn thành công tác trước mắt; tiếp đến mục đích của tổ chức là “hưởng lợi” mọi người đều có lợi và càng lợi nhiều thì càng tốt, bởi có lợi thì con người mới thích tham gia.

Do chủ trương “hợp tác sao cho hữu hiệu để hưởng lợi” đã phát sinh ra hình thức tổ chức mà ngày nay người ta mệnh danh là “dân chủ.” Hình thức này dựa trên nguyên tắc “đa số thắng thiểu số” và trên phương thức “bầu cử với nhiệm kỳ”. Hình thức tổ chức này thành công trong việc xử dụng tài sức và vật dụng để phát triển. Tuy nhiên, vì hạn hẹp vào “lợi” cho nên hình thức tổ chức chỉ thích ứng trong phương diện “có lợi” mà thôi.

Vì chủ đích hưởng lợi, nên hình thức tổ chức thường rơi vào tệ trạng với những nguy cơ man trá, thủ đoạn để thành công. Tóm lại, với chủ trương “đa số thắng thiểu số” của người Tây phương thì “mạnh được yếu thua”“ai thắng thì có công lý” cho nên thường trở thành hình thức hợp pháp giúp cho nhóm người mạnh đàn áp kẻ yếu, nhóm người có quyền lực áp bức bóc lột kẻ thế cô… Bởi thế chúng ta phải cẩn thận và đề ra cơ chế thích đáng nhằm ngăn ngừa nạn độc tài, đã từng đưa đất nước chúng ta xuống vực thẳm nghèo nàn và chậm tiến.

Phạm Văn Bản

__________________________________________

Ghi chú:

(1*) Rossiter, Clinton, Parties and politics in America, Ithaca, N.Y., Cornell University Press, 1960.

(2*) John Dewey, Democracy and Education: An Introduction to the Philosophy of Education, New York, Macmillan, 1916, 1944.

(3*) Chính đảng Gia Nã Đại:

• Canada's New Democratic Party/Nouveau Parti démocratique du Canada, NDP/NPD
• Liberal Party of Canada/Parti Libéral du Canada, LPC/PLC
• Conservative Party of Canada/Parti conservateur du Canada
• Bloc Québécois, BQ
• Animal Alliance Environment Voters Party of Canada, AAEV
• Canadian Action Party/Parti Action Canadienne, CAP/PAC
• Christian Heritage Party of Canada/Parti de l'Héritage Chrétien du Canada, CHP/PHC
• Communist Party of Canada/Parti communiste du Canada, CPP/PCC
• Communist Party of Canada (Marxist-Leninist)/ Parti communiste du Canada (marxiste-léniniste), CPP(M-L)/PCC(M-L)
• First Peoples National Party of Canada, FPNP
• Freedom Party of Canada/Parti de la Liberté du Canada, FP/PL
• Green Party of Canada/Parti vert du Canada, GPC/PVC
• Grey Party of Canada
• Libertarian Party/Parti Libertarien
• Marijuana Party/Parti Marijuana, MJP/PMJ
• Parti Populaire des Putes, PPP
• Progressive Canadian Party/Parti Progressiste-Canadien, PC Party/Parti PC
• Rhinoceros Party of Canada
• Western Block Party, WBP
• Western Canada Concept, WCC

Tuy nhiên, hai trong 4 đảng lớn là đảng Tự do (Liberal Party of Canada) và đảng Bảo thủ (Conservative Party of Canada) thường nắm chính quyền liên bang. Tại quốc hội Canada hiện nay có dân biểu của hai đảng vừa kể và của các đảng Tân Dân chủ (Canada's New Democratic Party), Khối Québecois (Bloc Québécois, BQ) và 1 dân biểu độc lập. Tại mười tỉnh bang (province) và ba lãnh địa (territory), chính phủ cũng thường do đảng lớn nắm quyền British Columbia, Ontario, Quebec: đảng Tự do; Alberta, New Brunswick, Nova Scotia, New Foundland, Prince Edward Island: đảng Bảo thủ; Manitoba, Saskatchewan: đảng Tân Dân chủ.

Phạm Văn Bản gửi hôm Thứ Bảy, 01/10/2011
Bạn đánh giá bài viết này thế nào?

Cơn mưa giữa đêm khuya, chợt nhớ căn phòng giam không được cài cửa sổ

Nguyễn Lân Thắng - Lời dặn nhau

Nguyễn Văn Thạnh - Những sai lầm "thơm ngon"

Peter Lâm Bùi - Nỗi đau Long An

Tuyên bố của Mạng lưới Blogger Việt Nam về cáo trạng và phiên tòa xét xử Đinh Nhật Uy


Tổ chức theo hai vòng (khách viếng thăm) gửi lúc 23:43, 03/10/2011 - mã số 42379

Ở Pháp thì tổ chức theo hai vòng cho bầu cử tổng thống và chính phủ.
Vòng hai chỉ còn hai đảng có số phiếu cao nhất ở vòng một. Ai thắng vòng hai là trở thành tổng thống và đề cử thủ tướng

Đa số thắng thiểu số? viết:
Trích dẫn:
Tóm lại, với chủ trương “đa số thắng thiểu số” của người Tây phương thì “mạnh được yếu thua” và “ai thắng thì có công lý” cho nên thường trở thành hình thức hợp pháp giúp cho nhóm người mạnh đàn áp kẻ yếu, nhóm người có quyền lực áp bức bóc lột kẻ thế cô…

“đa số thắng thiểu số” của người Tây phương (?) thì đương nhiên rồi vì nó hợp với logic toán học.

Tuy nhiên trong xã hội văn minh, hiến và luật pháp phải dự trù những trường hợp bảo vệ quyền lợi của thiểu số.

Ở châu Âu có những nước đa nguyên đa đảng áp dụng cách bỏ phiếu theo tỷ lệ. Đảng A phải thắng áp đảo trên 50% số phiếu thì mới tự một mình lập chính phủ. Và cho dù trên 50% mà dưới 65% thì vẫn chưa phải đa số tuyệt đối ở thượng và hạ viện cho nên những đề nghị của chính phủ vẫn có thể bị bác bỏ bởi lưỡng viện quốc hội.
Do có nhiều đảng (hơn 2 đảng), cho nên khó có đảng nào thăng tuyệt đối áp đảo 65%. Các đảng phải phối hợp với nhau (liên minh) để có đủ 60-65% số đại biểu ở ít nhất tại hạ viện.

Cách bỏ phiếu theo tỷ lệ có vẻ theo sát với ý nguyện của dân hơn cả. Tuy nhiên có thể gây khó khăn khi lập chính phủ vì phải có một liên minh sao cho đủ 65% số đại biểu. Một vấn đề khác là không nhất định đảng A có nhiều phiếu lại có thể thành lập được chính phủ mà có thể vài đảng khít khao số phiếu với A (33%) như B (30%), C (20%), D (15%) liên minh với nhau để loại A ra khỏi chính phủ.

Thông thường các đảng cánh tả và trung tả hay liên minh với nhau trong chính phủ (mô hình Social democracy) nghiêng về dân sinh xã hội cho đa số dân cho nên dễ thắng các đảng cánh hữu và trung hữu nghiêng về phát triển kinh tế của giai cấp trung lưu và chủ công ty.
Giới bình dân và di dân thích bỏ phiếu cho social democracy vì có an sinh xã hội cao nhưng bù lại phải đóng thuế cao hơn đối với những ai có thu nhập cao (trung lưu và tư bản). Việc đánh thuế cao, chi phí an sinh xã hội cao khiến giá thành sản phẩm tăng cao là một trong những nguyên nhân khiến tư bản đổ qua các nước Á châu như TQ, VN, ... để đầu tư, nơi mà có ưu đãi thuế và hầu như không có an sinh xã hội

Đây là một trong những lý do mà tôi cho rằng chủ nghiã cộng sản là không tưởng bởi không thể có một xã hội nào có thể đủ sức thực hiện chiêu bài "làm theo khả năng hưởng theo nhu cầu".
Trừ phi Mác và Lenin định nghĩa rõ ràng "con người chỉ có nhu cầu duy nhất là ăn no, mặc đủ ấm, có tivi, tủ lạnh"

Phạm Văn Bản gửi lúc 01:56, 03/10/2011 - mã số 42339
JLN viết:
Kính thưa bác Bản,

Tôi đồng ý với kết luận của bác: " Ðảng chính trị mà chúng ta mong muốn sớm có hôm nay, thì đảng đó không nên đóng khung trong một tôn chỉ hay một chủ thuyết nào, mà cần ứng dụng bằng những chính sách chính trị thực tế, và tránh nạn giáo điều. Muốn được như thế, chúng ta kết hợp sao cho hài hòa giữa hai hệ thống tư tưởng của dân tộc và nhân loại, rút tỉa tinh hoa văn hóa Tiên Rồng đưa vào quốc sách chính trị thì Việt Nam mới có cơ may thành công.", nhưng tôi cho như thế là chưa đủ để thành công.

Đảng chính trị ở VN muón thành công, ngoài "kết hợp sao cho hài hòa giữa hai hệ thống tư tưởng của dân tộc và nhân loại, rút tỉa tinh hoa văn hóa Tiên Rồng đưa vào quốc sách chính trị...", thì còn nên góp phần xây dựng lại hoàn toàn nền văn hoá chính trị của dân tộc VN mà trong đó các đảng chính trị sẽ hoạt động.

Văn hoá chính trị của VN ta hiện nay là gì? Là hầu như trên 80 tiệu dân không coi chính trị liên quan mật thiết đến sinh mệnh và cuộc sống hàng ngày của mình, nên xa lánh chính trị. là sự phó thác (bát buộc)lĩnh vực chính trị vì họ bị làm cho không hiểu biết, ngu muội và rất sợ hãi, cho một nhóm nhỏ vài triệu kẻ cầm quyền thao túng hoàn toàn. Trong tâm thức các thế hệ người Việt hôm nay không có tư duy chính trị lành mạnh của con người tự chủ, mà là của những con người nô lệ - chấp nhận sự nô dịch chính trị của số ít cộng sản trên toàn dân tộc Việt.

Tôi nhớ trên Dân Luận đã có các tác giả chỉ ra thực trạng này (như bác Hồng Lạc, và cô sinh viên trẻ Huỳnh Thục Vy...), vốn là sản phẩm của nền chính trị cộng sản mị dân, lừa bịp và ức hiếp dân nhân danh nhân dân suốt hơn nửa thế kỷ qua?

Nếu không nhìn nhận và xử lý đúng tình trang văn hoá chính trị hay tâm thức chính trị u tối (vì sợ hãi)của đại đa số người Việt(ở hạ tầng cơ sở xã hội) hiện nay thì các tư tưởng tốt đẹp tiến bộ của các đảng chính trị dân chủ cấp tiến như bác Bản giới thiệu (vốn được hình thành từ thượng tầng kiến trúc của xã hội), sẽ khó mà thành công.

Nếu Dân tộc có những hạt giống tốt, đó là Nội dung tốt, thì còn cần gieo nó trên một mảnh đất tốt phù hợp nữa - đó là Bối cảnh tốt. Trong đó, Bối cảnh quan trọng hơn Nội dung.

Như vậy, cần thay đổi (ở đây là diệt trừ) Bối cảnh chính trị thối nát hiện nay của đất nước trước đã. Có Bối cảnh chính trị tốt, các đảng chính trị tiến bộ sẽ xuất hiện, vì dân tộc muốn thế, xu hướng phát triển của Loài người là thế.

JLN

Cám ơn Bạn JLN. Những nhận xét của bạn rất tinh tế và già dặn! Nhờ ơn Tổ và Hồn Thiêng Dân Tộc, tôi có duyên may được học Bộ Kinh Việt sau 7 năm tù cải tạo tại VN, và cùng gia đình vượt biên năm 1982. Rồi trở lại học đường nhiều năm, qua nhiều chương trình: Polictical Science, Education, Economic... của đại học và cao học Hoa Kỳ. Có thể nói, Bộ Kinh Việt là sách gối đầu giường của tôi. Trong đó, có Sách Lược Cứu Nước của Tổ Tiên, và xin chia sẻ với bạn:

Kinh Phù Đổng

1. CHÍNH KINH

Vào thời Vua Hùng, có giặc Ân xâm lấn nước ta. Vua Hùng làm đủ cách nhưng vẫn không ngăn được giặc.

Nhà vua liền lập đàn cầu xin Tổ về giúp. Trong một cơn mưa to gío lớn, bỗng có một cụ gìa áo đỏ, hình dung cổ quái, đến đùa giỡn với đám trẻ con ở ngã ba đường.

Dầu thấy lạ, Vua Hùng cũng đến xin Cụ chỉ cách để cứu nước. Cụ cười nói: “Nhà vua hãy sai sứ đi khắp nơi mà tìm!”

Theo lời Tổ dạy, Vua Hùng liền sai người chia nhau đi khắp nơi để loan tin Tổ về và tìm người cứu nước.

Đang khi đó, tại làng Phù Ðổng, có một em bé đã ba tuổi mà không biết nói cười đi đứng gì cả. Nhưng khi nghe sứ vua rao tin, Cậu liền bật nói.

Cậu xin sứ cho Cậu một con ngựa sắt và một roi sắt để Cậu phá giặc. Từ đó, láng giềng đem gạo vải tới giúp Cậu ăn mặc, và Cậu lớn lên như thổi.

Khi sứ vua đem ngựa và roi tới, Cậu bé Phù Ðổng liền vươn vai thành người to lớn. Khi Cậu nhảy lên ngựa sắt thì ngựa liền cử động và phun lửa.

Với ngựa lửa roi sắt, Cậu đánh bọn giặc một trận tơi bời. Khi roi sắt gãy, Cậu nhổ tre mà đánh. Ngựa cũng phun lửa cháy mất mấy làng.

Giặc tan, Cậu cỡi ngựa lên núi mà về trời.

Các gốc tre Cậu đã xử dụng, lại hóa thành tre la ngà.

Vua Hùng phong Cậu là Phù Ðổng Thiên Vương.

DIỄN KINH

2. CỨU NƯỚC VÀ CẢI HÓA

Theo nội dung, Kinh Phù Đổng là Kinh Cứu Nước, vì Kinh chính là sách lược cho đại cuộc phục quốc, mà cũng là phương thức hành động cho tổ chức cứu nước, và là chương trình sống cho bất cứ ai quyết tâm phá giặc.

Dưới khía cạnh Con Người và Xã Hội, Kinh Phù Đổng lại là Kinh Cải Hóa, cải hóa từng người cũng như cải hóa toàn thể nhân loại. Kinh đưa phương thức cải hóa chúng ta khỏi tất cả mọi thứ giặc.

Trong giai đoạn thống khổ này của dân tộc Việt và của cả nhân loại, chúng ta cần học hỏi thấu đáo và ứng dụng kỹ càng vừa bài học Cứu Nước, vừa bài học Cải Hóa.

Công cuộc thực to lớn và phức tạp. Cần thực nhiều người tận tâm tận lực, và chung tài chung đức, để khai triển chi tiết bài học thâm sâu và ứng dụng thích đáng mọi người.

Ở đây chỉ nhìn đại cương như là sơ đồ của sách lược cứu nước.

* * * *

3. NGƯỜI CỨU NƯỚC

3.1 Giặc Xâm Lấn

Để dạy cách Cứu Nước, Tổ Tiên đã khởi đầu với sự kiện nước bị giặc xâm lăng (*1). Việc giặc Ân xâm lấn nước ta có thể là một sự kiện lịch sử. Nếu câu ghi ở sử Trung Hoa “Ân Cao Tôn phạt Qủy Phương tam niên” là xác thực, thì đúng là vua Ân đã xua quân vào nước ta.

Thời nhà Ân bên Tàu cũng là thời Hùng ở nước ta, và lúc đó nước ta gồm cả vùng đất thuộc ngôi sao Quỷ, theo sự phân giới bầu trời ứng với mặt đất của thời xưa (*2).

Do đó, nhân việc kể đi kể lại chiến tích chống ngoại xâm này, Tổ Tiên ta đã gói ghém thêm nhiều bài học quan trọng cho việc Cứu Nước và Cứu Người.

* *

3.2 Nhận Chân Thực Trạng

Trước nạn xâm lăng, nước nhục dân khổ, Vua Hùng đã làm hết cách, nhưng vẫn không ngăn được giặc.

Tuy là bối cảnh của câu chuyện, nhưng đây cũng là yếu tố quan trọng cho việc chuẩn bị cứu nước. Đã làm hết sức, đã tận lực, nhưng thua. Giờ đây nước mất nhà tan, mọi phương thức chống giặc đều vô hiệu, mọi lực lượng đều tan rã, lòng dân phân tán, đồng minh quay mặt… giặc lại thừa thắng, giặc thêm oan nghiệt, giặc gây tang tóc cho đồng bào, cho đất nước, cho giống nòi…

Thực vậy, để có thể thực sự khởi đầu công cuộc cứu nước, trước hết phải nhận chân được thảm trạng mất nước. Nếu không lượng định chính xác sức mạnh của giặc và tình trạng yếu kém của ta, ở mọi phương diện, chúng ta hoặc sẽ lạc quan trái mùa, hoặc quá sợ giặc, hoặc không nhận ra giặc.

Đây là điều kiện đầu tiên của Người Cứu Nước, tức là phải nhận chân thực trạng, biết giặc biết ta.

* *

3.3 Sống Lại Hồn Nước

a. Vua Hùng cầu Tổ

[1]. Trong ngõ bí của thời cuộc, trong phũ phàng của thực trạng mất nước, Tổ Tiên cho bùng lên một vừng sáng hy vọng chói chang: Vua Hùng lập đàn cầu Tổ về giúp.

Việc lập đàn chứng tỏ lòng thành và ý thức của Vua Hùng về tầm mức quan trọng vượt bực qua công cuộc cứu nước. Cứu một người đã khó thay, huống nữa là cứu cả một dân, một nước, cả giống dòng, lịch sử.

Tổ là biểu trưng cho Tinh Thần, cho Sức Sống tối cao, Hồn Thiêng của Dân Tộc. Ngài là nguồn gốc, mà cũng là sự sống còn, là niềm hy vọng, và là tụ điểm của toàn dân (*3).

Cầu Tổ là bộc lộ niềm tin bất diệt, niềm hy vọng tuyệt đối vào sức sống vô biên, và truyền thống siêu việt của Dân Tộc.

Ðây chính là nền tảng đích thực của công cuộc Cứu Dân Cứu Nước. Bất cứ nền tảng nào khác sẽ đều đưa đến kết quả là biến dân nước thành vong nô của ngoại bang, của tà thuyết, hoặc của cường quyền bạo lực (*4).

[2]. Ngoài ra, việc cầu Tổ còn nối kết cách tuyệt diệu Kinh Phù Đổng với Kinh Tiên Rồng và Kinh Tiết Liêu. Ở Kinh Tiên Rồng, Cha Rồng đã dặn: “Khi cần thì gọi, Ta về ngay.” Ở Kinh Tiết Liêu, khi Tiết Liêu thành tâm việc an dân thịnh nước, Tổ cũng về giúp.

Thời bình mà Tổ còn thương như vậy, huống chi thời loạn lạc khổ đau. Con cháu có lúc nào cần Tổ thương giúp bằng khi đất nước đại nạn, đồng bào thống khổ? Con cháu đã khẩn thiết kêu cầu, vua Hùng đã lập đàn, và Tổ đã về giúp.

b. Cụ Tổ Hiện Về

[1]. Trong một cơn mưa to gío lớn, bỗng có một ông cụ gìa xuất hiện.

Mưa gío chính là điềm báo sự linh hiển của Cha Rồng. Rồng chủ tể việc mưa gío ở biển cả, nên Rồng linh thì biển động. Ðây là phần giới thiệu bản chất của Cụ Gìa, tức tinh hoa văn hóa Việt.

Cụ gìa lại mặc áo đỏ, là màu tượng trưng cho phong tục, cho nếp sống truyền thống của dân tộc Việt suốt mấy ngàn năm. Khảo cổ hiện nay đã phát hiện nhiều di tích chứng tỏ ngay cả từ sáu bảy ngàn năm trước, dân Việt đã dùng màu đỏ và mặt trời làm biểu hiệu của mình.

* Như vậy, Cụ Gìa đã mang hai dấu hiệu, một thuộc bản chất, một thuộc đặc trưng, chứng tỏ Cụ qủa thực là Tổ, là sức sống đích thực của dân tộc Việt. Cụ chính là biểu tượng của nền văn hóa, của phong tục, của truyền thống, của tinh thần dân tộc.

[2]. Nhưng Cụ lại có hình dung cổ quái. Sở dĩ Cụ bị coi là cổ quái, chỉ vì con cháu đã quên Cụ, không còn quen thuộc với Cụ nữa. Ở Kinh Tiết Liêu, trong thời mọi người đang sống hạnh phúc theo đúng truyền thống Tổ Tiên, thì Cụ Tổ được nhận ra là người quắc thước phi phàm.

Ðây là nhát búa bổ vào đầu chúng ta. Khi mất nước chính là lúc con cháu thường đã xa lạ với Tổ Tiên, đã quên Tổ, đã mất tinh thần dân tộc, mất niềm tin nơi chính mình. Bài học Hồn mất trước Nước mất sau ở Kinh Mỵ Châu đã thực rõ ràng và thấm thía.

*

c. Tổ về với dân

[1]. Nhưng dầu con cháu có xa lạ, Tổ cũng đã về. Cụ về và đùa giỡn với đám trẻ con ở ngã ba đường.

Theo quan niệm truyền thống thì trẻ con, con đỏ, con dân, là biểu trưng của đại chúng. Họ là những người đơn sơ thành thật, sống theo những bộc phát tự nhiên và thuần hậu của Con Người (*5).

Ngòai ra, ngã ba đường chính là nơi dân chúng tụ họp, là chợ chòm hỏm của thời xưa.

Như vậy, Cụ đã không về trên đàn, không về với vua quan, nhưng về giữa đám đại chúng bình dân.

Lịch sử cho thấy, xưa cũng như nay, thời suy thoái là lúc giới quyền chức sao lãng văn hóa dân tộc để vọng ngoại và cầu ngoại nhiều nhất. Trong các thời kỳ đó, truyền thống, tinh thần, và ý thức dân tộc, chỉ còn thấy ở giới thường dân, ở đầu đường góc chợ (*6).

[2]. Lại nữa, không phải Tổ chỉ hiện về một cách oai vệ trong giây lát, mà Tổ còn đùa giỡn, còn hoà mình với đám trẻ con. Tổ cùng chung cuộc sống, cùng chung tâm hồn với đại chúng. Tổ ở trong đại chúng. Tổ là đại chúng.

Như vậy, ai muốn gặp Tổ thì phải tìm tới, phải để tâm hồn mình hoà nhập đại chúng, chớ không phải hời hợt bên ngoài (*7).

*

d. Ðể nhận biết Tổ, để thực sự nhận biết đích xác đâu là truyền thống dân tộc, Kinh đã nêu rõ mọi yếu tố, từ bản chất, qua nét đặc trưng, qua chính phản ứng của chúng ta, tới cả hạng người, cả nơi chốn và cả những điều kiện tâm lý cần thiết (*8).

Kinh Phù Đổng đặt nền tảng công cuộc cứu nước trên niềm tin tuyệt đối vào Sức Sống Truyền Thống nơi Toàn Dân.

* *

3.4 Lột Xác

a. Người dám đến với đại chúng để tìm gặp Tổ, chính là vua Hùng. Vì quyết tâm cứu nước, nên dầu thấy những cảnh tượng bất thường của Cụ Gìa, Vua Hùng cũng tìm tới gặp Cụ và xin Cụ dạy cách cứu nước.

Vua đã lập đàn cầu Tổ. Trên đàn có ngai qúy để Tổ về ngự, có hương trầm nghi ngút, đèn nến sáng ngời. Vua quan thì thân thanh tâm tịnh, thành tâm thành ý. Dân chúng thì vây quanh khẩn cầu thống thiết. Nơi đàn uy nghi trang trọng như thế, nên ai ai cũng trông chờ Tổ về, sẽ linh hiển tại đàn, oai vệ chưa từng thấy.

Ngờ đâu, trên đàn chưa có dấu hiển linh, thì ở ngã ba đường lại có một cụ già tới đùa giỡn.

Phải thành tâm cùng tột, tuệ linh sáng ngời như Vua Hùng, mới có thể nhận ra đó không phải là quái nhân quấy rối, mà là chính Cụ Tổ đã về.

Tuy đã lập đàn, đã chuẩn bị mọi sự, tức là đã dự tính nhiều kế hoạch, nhiều chương trình, nhưng Vua Hùng nhất quyết gạt bỏ tất cả để tới ngã ba đường gặp Cụ Gìa cổ quái, và học cách cứu nước (*9).

*

b. đây là điểm đột phá quan trọng cho người muốn cứu nước. Lột xác.

Không vượt nổi điểm đột phá này, không lột xác, không từ bỏ dự tính và phương thức cũ, không thể thích ứng với điều kiện và hoàn cảnh mới, không thể đón nhận kiến thức mới, không thể hội nhập vào tổ chức mới, không mở rộng tâm trí để đón nhận những bất ngờ, những cổ quái… thì không thể nghe Tổ nói, tức là không thể nhận ra những phương thức thực sự hữu hiệu cho việc cứu nước (*10).

Vượt điểm đột phá này, lột xác, thì có cơ may cứu nước mới ló dạng, mới được Tổ chỉ cách.

* *

a. Bất chấp sự phản đối của đám quần thần kênh kiệu, Vua Hùng đã bỏ đàn, đội mưa gió tới ngã ba đường và đã được Tổ dạy phương thức cứu nước.

Nhưng phương thức của Tổ lại cũng cổ quái. Tổ dạy vua sai sứ đi khắp nơi để tìm người cứu nước.

Thực là kỳ lạ. Tại sao Tổ không nói rõ vị cứu tinh đó là ai? Tại sao lại chỉ biểu cho người đi tìm? Nếu chỉ thế, thì tại sao Tổ lại phải hiện về? Vua Hùng đã chẳng đang tìm đó sao?

*

b. Nhưng, chỗ kỳ quái đó lại chính là bài học. Tổ nhắc nhở, Tổ chỉ dạy, chớ Tổ không thể làm thay cho chúng ta. Tổ không giết giặc, Tổ không chỉ huy, Tổ cũng không làm gián điệp, cũng không cho nỏ thần, hoặc thị uy tiêu diệt giặc.

Biết bao lần chúng ta cầu mong phép lạ điềm linh giết giặc thay chúng ta. Biết bao lần chúng ta than trách các Đấng Linh Thiêng không tích cực độ trì, để chúng ta khoanh tay nhìn giặc chết! Cũng vậy, bao lần chúng ta kết tội người khác, vì họ không làm cho chúng ta hưởng.

Vấn đề không phải là Tổ làm, mà là chúng ta biết và thực thi ý muốn của Tổ. Khi biết Tổ Tiên, và các Đấng Thiêng Liêng, muốn cứu dân lành, thì chính chúng ta phải tỏ ra là con thảo, là tín đồ thuận thành, bằng cách chính chúng ta ra công phá giặc cứu người, để hoàn thành ý muốn của các Ngài.

Chính chúng ta phải làm, phải dấn thân, thì mới cứu được nước.

* *

3.6 Tư Cách Người Cứu Nước

a. Vua Hùng đã được Tổ chỉ cách. Nhưng trước khi vua thể hiện ý Tổ, chúng ta thử nhìn lại giai đoạn qua.

Trước hết, Vua Hùng đã sống với thực trạng mất nước, và cũng khởi công từ thực trạng đó. Vua không nuối tiếc hão huyền, cũng không mơ mộng viển vông.

Tiếp đến, nhà vua tìm về nền tảng của công cuộc cứu nước. Nền tảng đó là Tổ, là Sức Sống, là Truyền Thống siêu việt đang tiềm tàng trong nếp sống của đại chúng.

Và rồi, với quyết tâm cứu nước, vua đã lột xác, đã sẵn sàng thích ứng và xử dụng mọi hoàn cảnh mới, mọi điều kiện mới.

Cuối cùng là dấn thân, không do dự, không ỷ lại, sẵn sàng biến mọi sự, cả những chướng ngại, thành phương tiện hữu hiệu.

*

b. Đó là Vua Hùng. Nhưng Vua Hùng là biểu tượng của con người cứu nước đích thực. Vì vậy những đức tính trên cũng chính là những điều kiện cần thiết cho bất cứ ai muốn thực sự góp phần vào việc phá giặc cứu dân.

* Nhìn chung với Kinh Mỵ Châu: ví An Dương Vương đã từ bỏ Hồn Nước, nên đưa tới mất Nước. Ở đây Vua Hùng đã gặp lại Tổ, đã sống lại Hồn Nước, nên khởi sự cứu nước.

* * * *

4. Phương Thức Cứu Nước

4.1 Theo Lời Tổ dạy

Vua Hùng đã lập đàn cầu Tổ và được Tổ dạy cách cứu nước.

Lời dạy của Tổ chính là phương thức cứu nước. Lời dạy của Tổ là ý muốn của Tổ, mà cũng là chính Tổ trong hiện thực và sống động trong hiện trạng đất nước.

Vì vậy, Theo lời Tổ Dạy sẽ là động lực mọi hành động của vua Hùng. Sở dĩ vua Hùng sai sứ đi tìm Người Cứu Nước, sở dĩ các sứ chịu đi, và sở dĩ toàn dân chịu nghe theo họ cũng chỉ vì Theo Lời Tổ Dạy.

Theo lời Tổ Dạy trở thành Sức Sống, trở thành Hồn Thiêng tạo dựng, thúc đẩy, điều hợp và hoàn thành Công Cuộc Cứu Nước.

Sức Sống này sẽ từ Vua Hùng truyền qua đoàn sứ nhân, và đoàn sứ nhân truyền qua toàn dân.

* *

4.2 Lên Đường Hành Động

Được Tổ chứng giám, được Tổ chỉ dạy, giờ đây vua Hùng mạnh dạn sai sứ lên đường.

Các sứ nhân chính là đại diện, là hiện thân của Vua Hùng. Họ là chính Vua Hùng đi đến với dân.

Như vậy, đoàn sứ nhân là Người Cứu Nước lên đường hành động. Họ dấn thân thể hiện sứ mạng theo Lời Tổ dạy. Họ đem Sức Sống của Tổ đến cho toàn dân. Nhờ họ, toàn dân mới nhận được sứ điệp của Tổ và mới cứu được nước.

Vai trò của đoàn sứ nhân, của tổ chức cứu nước đích thực, là vai trò nền tảng trong công cuộc cứu nước (*11).

* *

4.3 Đến Với Toàn Dân

Ðoàn sứ nhân lên đường, đoàn cán bộ đi hoạt động công tác tổ chức cứu nước. Các sứ nhân này đã chia nhau đi đến với người dân ở khắp nơi.

Mục tiêu hành động đầu tiên của tổ chức cứu nước là Dân, chớ họ chưa trực tiếp đối đầu với giặc. Công tác chính là vận động toàn dân đứng lên chống giặc. Có như thế thành công mới trọn vẹn (*12).

Họ đi khắp nơi, không bỏ sót, không từ khước bất cứ một nơi chốn hay một phạm vi nào. Nơi đó có thể là trong hay ngoài nước, nơi thân thiện hay ở ngay trong lòng địch… mà cũng là các lãnh vực như văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự, kỹ thuật, văn nghệ, giáo dục, thể thao, giải trí, truyền thông… hoặc là các cộng đồng, hội đoàn, chòm xóm, tộc họ, gia đình… hay là trí óc, con tim, cuộc sống của bất cứ ai… ở bất cứ nơi đâu, trong bất cứ hoàn cảnh hay sinh hoạt của Con Người, cá nhân cũng như tập thể.

Như thế, đoàn sứ nhân cũng cần có những khả năng thích ứng, để có thể phổ biến sứ điệp của Tổ tới cho mọi tầm độ, mọi hoàn cảnh, mọi con người đặc thù.

* *

4.4 Chia Nhau Công Tác

Họ chia nhau đi, không dồn chung một chỗ, không dành nhau một việc. Mỗi người tùy khả năng và hoàn cảnh riêng mà nhận phần trách nhiệm của mình. Có phân nhiệm mới có tổ chức (*13).

Tổ chức cứu nước là những con người cùng thể hiện các đức tính của sứ nhân, và theo hiện tình và khả năng linh động, mà chia nhau trách nhiệm hoàn thành các công tác thực thi sách lược cứu dân.

* * * *

5. Vận Ðộng Tinh Thần

5.1 Thức Tỉnh Niềm Tin

a. Ðoàn sứ nhân chia nhau đi khắp nơi để loan tin. Nhưng tin của họ thực là đơn sơ: Tổ đã về và sai đi tìm người cứu nước.

Nội dung tuy ngắn gọn, nhưng tác dụng lại hệ trọng. Tổ đã về và Tổ bảo đi tìm chứng tỏ Tổ đã độ trì cho công cuộc cứu nước, Tổ đã cho phương thức, và chắc chắn có người cứu được nước.

Chúng ta đã có Sức Sống, có sách lược, có nhân sự… Ðây là lúc khám phá, đây là lúc thực hiện! Dầu giặc đang mạnh, nhưng chắc chắn chúng ta sẽ thắng!

Có gì khích động và hứng khởi hơn để khơi dậy niềm Tự Tin Dân Tộc bằng nguồn tin tuyệt diệu này? Dầu ai có tuyệt vọng, cũng vụt phải hăng say, vui sướng!

*

Như vậy, đoàn sứ nhân đi loan tin khắp nơi, chính là thể hiện công tác đem Tinh Thần dân tộc đến cho toàn dân.

Nước mất vì dân quên Tổ, quên nếp sống truyền thống siêu việt của tổ tiên. Giờ đây, đoàn sứ nhân nhớ tới Tổ, thức tỉnh niềm tin, sống lại tinh thần và sức sống dân tộc.

* *

5.2 Nhận Lãnh Trách Nhiệm

Khi đến với dân, đoàn sứ nhân không chỉ loan tin, mà còn phải có hành động cụ thể: họ lục lạo tìm kiếm người cứu nước. Hoạt động này cũng gây tác dụng thiết yếu.

Khi đã phấn khởi nhờ sống lại niềm tin, mọi người cũng tiếp tay với đoàn sứ nhân mà đi tìm Người cứu nước.

Khi góp phần tìm kiếm như thế, chính là lúc mọi người đều thấm thía nạn mất nước. Do đó, mỗi người sẽ ý thức đích xác về phận vụ của mình trong công cuộc cứu nước. Mọi người sẽ lột xác, lãnh nhận trách nhiệm, và dấn thân chu toàn sứ mạng lịch sử (*14).

* *

5.3 Công Tác Đầu Tiên

Như vậy, đoàn sứ nhân loan tin và tìm kiếm chính là thực hiện công tác làm cho người dân sống lại Hồn Nước, ý thức nạn nước, nhận lãnh trách nhiệm, và dấn thân cứu nước.

Ðây cũng là công tác làm cho Mọi Người sống trọn nếp sống Việt, trở thành Người Dân Đích Thực, trở thành Người Cứu Nước.

* Nhìn chung Kinh Mỵ Châu: An Dương Vương làm mất nước, vì đã xa cách dân, loại dân ra khỏi việc nước. Giờ đây Vua Hùng , qua đoàn sứ nhân, đã tìm lại dân, giúp dân ý thức và chung phần việc nước.

* * * *

6. Thực Trạng Sức Nước

6.1 Sức Ở Làng Thôn

a. Mọi người đã cùng cố công tìm kiếm, và rồi tại làng Phù Ðổng họ đã gặp người cứu nước.

Việc gặp thấy người cứu nước tại một làng cũng là nét đặc trưng của văn hóa Việt. Kinh nhấn mạnh người cứu nước được tìm gặp ở trong làng, chớ không phải trong cung điện vua hay nơi đô thị.

Trong nếp sống dân ta, làng giữ một vai trò nền tảng. Thể chế làng nước đã được Tổ tiên đặc biệt chú trọng và lưu truyền trong lịch sử, cũng như Kinh An Tiêm.

*

b. Với thể chế và cơ cấu sinh hoạt tự lập trong lũy tre xanh, làng chính là nơi bảo toàn và hun đúc nếp sống thuần túy dân tộc ngay giữa thời giặc xâm lăng.

Trong suốt mấy ngàn năm, xa xưa cũng như hiện đại, mọi thứ giặc từ quân sự cho đến văn hóa, xã hội… dầu tới từ phương bắc, phương tây, hay phương đông, đều chỉ có thể hoành hành ở các đô thị. Trong làng thôn, những cố gắng muôn mặt của giặc vẫn luôn gặp bức tường ngăn cản.

Lịch sử cứu nước của dân tộc ta là một bản liệt kê không dứt những anh hùng áo vải, ở mọi tầm độ và mọi nơi mọi thời.

Dưới khía cạnh quân sự, làng lại là nơi huấn luyện mọi người trở thành nghĩa sĩ chống giặc. Chẳng những hệ thống canh gác nghiêm nhặt luôn luôn bảo đảm có người túc trực, mà các lò võ thuật còn đào tạo ra nhiều vị anh hùng, nhiều cấp chỉ huy (*15).

Làng là nơi phát xuất sức mạnh dân tộc, về mọi phương diện. Vì vậy, trong công cuộc cứu nước, làng giữ vai trò then chốt. Sức Nước phải được phục hồi từ làng thôn.

* *

6.2 Sức Là Người Dân

Tại làng, đã xuất hiện người cứu nước. Nhưng nhân vật này cũng kỳ lạ. Ðây chỉ là cậu bé ba tuổi.

Tính cách bé bỏng của cậu bé tượng trưng cho đại chúng, cho toàn dân. Lại nữa, cậu bé lên ba cũng phù hợp với khoản thời gian mà sử Trung Hoa ghi là Ân Cao Tôn xâm lấn nước ta.

Như vậy, cậu bé ba tuổi này chính là biểu tượng cho đại chúng, cho toàn dân. Vị cứu tinh chính là người dân.

* *

6.3 Sức Đang Tê Liệt

Dầu tê liệt câm nín, nhưng Cậu Bé lại lắng nghe.

Sống trong nạn nước, toàn dân, qua Cậu Bé Phù Ðổng, phải lặng im bất động. Tuy nhiên mọi người chúng ta đều luôn luôn nôn nóng trông chờ ngày được giải thoát khỏi ách giặc. Mọi người luôn nôn nóng trông chờ ngày gỉai thoát, mọi người vẫn sôi sục trông đợi dịp vùng lên, mọi người hằng lắng tai nghe ngóng mọi nguồn tin đem lại hy vọng cứu nước.

Vì vậy, khi sứ nhân vừa loan tin Tổ về, Cậu Bé đã cấp thời hưởng ứng. Khi nghe sứ nhân, chính là lúc Cậu Bé bùng lên niềm hy vọng, sống lại Hồn Nước.

* * * *

7. Sức Dân Bộc Lộ

7.1 Ðòi Hỏi Phương Tiện

a. Ðã gặp lại Tổ, đã sống lại niềm tin, Cậu Bé liền bật nói, toàn dân đều bật nói.

Bật nói là dám hiên ngang bộc lộ. Dầu mới chỉ bằng lời nói, đây cũng là dấu chỉ của lòng tự tin và phấn khởi. Từ đây người dân đã dám tự hào về mình, dám nói lên niềm tin tưởng của chính mình.

*

b. Cậu phát biểu lời đầu tiên là đòi ngựa và roi sắt. Cậu đòi hỏi phương tiện để phá giặc cứu nước.

Ðây là dấu chứng sức mạnh tinh thần đã bộc lộ. Khi thoát khỏi tình trạng câm nín, khi tinh thần đã được củng cố, khi ý thức được trách nhiệm với nước, điều đầu tiên người dân nghĩ tới là phương tiện chiến đấu.

*

c. Người dân đòi phương tiện chiến đấu cũng là dấu hiệu cho thấy các sứ nhân, tức tổ chức nòng cốt cứu nước đã thành công trong công tác thức tỉnh người dân.

Tại khúc quanh quyết định này, vai trò của sứ nhân cũng đổi khác.

Trước đây, sứ nhân nói cho dân nghe. Nay dân đã nghe và đã nói, thì sứ nhân lại trở thành người nghe dân.

Thực vậy, khi người dân đã thành tâm tiếp nhận và đã sống đúng tinh thần Tổ, thì tiếng dân trở thành tiếng của Tổ. Tiếng dân là ý Tổ trong hiện trạng của đất nước.

Vì vậy, giờ đây tiếng dân chính là phương thức thiết thực và hữu hiệu cho công cuộc cứu nước (*18).

Khúc quanh này đặc biệt rất quan trọng cho tổ chức cứu nước, chẳng những vì nó quyết định sự thành bại, mà còn thẩm định bản chất của tổ chức. Tổ chức không biến đổi, không trở thành người nghe dân, thì chắc chắn tổ chức đó không phải của dân (*19).

* *

7.2 Ðóng Góp Tài Sức

Từ đó, láng giềng từ đem gạo vải tới giúp Cậu ăn mặc. Khi đã tự tin, người dân tự động khởi công.

Ăn mặc là nhu cầu nền tảng của đời sống con người. Vì vậy, gạo vải là tất cả những thiết yếu cho công cuộc cứu nước.

Ðẹp thay cảnh toàn dân tấp nập góp gạo góp vải. Mọi người tự nguyện góp của góp công, cộng tài cộng đức.

Bao thiện chí bấy nhiêu nung nấu, bao tài năng bấy lâu che đạy, bao sức mạnh bấy lâu đè nén, bao phương tiện bấy lâu tích trữ, bao diệu kế bấy lâu ấp ủ… giờ đây tất đều bộc phát, tất cả đều bộc hiện, tất cả đều bùng lên (*20).

Khi đã lãnh nhận trách nhiệm, người dân tự nguyện đóng góp, tự túc chu cấp những nhu yếu cơ bản của cuộc chiến đấu.

* *

7.3 Tự Động Quây Quần

a. Tất cả gạo vải, mọi sự đóng góp đó, đều để giúp cho Cậu Bé Phù Ðổng ăn mặc. Tất cả tự nguyện của dân đều tập trung vào Cậu Bé.

Người dân chỉ quy tụ quanh Cậu Bé, chớ không tập họp theo các sứ nhân.

Trong giai đoạn đầu của công cuộc thức tỉnh, người dân chỉ mới tin tưởng vào những người thân cận quanh mình, trong tầm vóc làng thôn. Những gì sứ nhân hứa hẹn, dầu sao, cũng còn quá xa vời.

*

b. Lại nữa, theo đúng tâm trạng Con Người, người dân chỉ tự ý quy tụ quanh Cậu Bé Phù Ðổng, vì chính Cậu đã tỏ ra vài dấu hiệu đặc biệt, chỉ Cậu đáp ứng phần nào công tác tìm kiếm anh hùng cứu nước.

Dân chỉ quy tụ theo ai tỏ ra thực sự có tâm huyết, có tinh thần, hết lòng vì đại cuộc, dấn thân chu toàn sứ mạng chung (*21).

Có dân tự ý quy tụ chính là tiêu chuẩn để thẩm định một công cuộc đích thực của dân, do dân (*22).

* *

7.4 Vận Dụng Điều Hợp

Khi mọi người góp sức, Cậu Bé Phù Ðổng lớn nhanh như thổi. Gạo vải thu tích không phải để chất đống, mà tất cả đều được xử dụng làm tăng trưởng sức sống toàn diện.

Trong việc tập trung sức mạnh, vấn đề phân nhiệm và điều hợp giữ phần quan trọng hàng đầu. Sức mạnh toàn dân chỉ có thể thực sự hữu hiệu, khi được vận dụng và điều hợp đúng mức. Nếu không phân nhiệm, không định hướng, sự quy tụ sẽ trở thành hỗn loạn, phân hóa, và đối nghịch nội bộ.

* *

7.5 Bài Học Chung Sức

Ðây là giai đoạn tập trung năng lực toàn dân, mà cũng là bài học đoàn kết.

Mọi người vây quanh Cậu Bé Phù Ðổng, là vì họ đã sống lại niềm tin dân tộc, họ đã ý thức trách nhiệm cứu nước, họ đã tìm ra Cậu Bé, và Cậu Bé đã bật nói.

Như vậy, công tác kết hợp toàn dân đã thành công, chẳng những giúp cho mọi người sống thực tinh thần dân tộc và ý thức trách nhiệm, mà còn nhờ chứng tỏ kế sách hữu hiệu, qua một số hoạt động có kết qủa thực tiễn (*23).

Ðây là những điều kiện thiết yếu cho việc đoàn kết toàn dân. Khi không hội đủ các yếu tố này, việc đoàn kết chỉ là chòm xóm, giai đoạn và hời hợt theo các mục tiêu hạn hẹp. (*24).

* * * *

8. Phù Ðổng Vươn Vai

8.1 Sức Mạnh Phương Tiện

Sứ vua đem ngựa và roi sắt tới. Ngựa sắt và roi sắt chính là sức mạnh và phương tiện chiến đấu.

Ngựa và roi sắt cũng là biểu trưng của sức mạnh quân sự để phá giặc (*25).

Trong bầu khí mất nước và toàn dân vừa vùng lên góp tài góp của, thì ngựa và roi sắt chính là sự đóng góp của toàn dân.

* *

8.2 Sức Mạnh Tổ Chức

a. Tuy nhiên, sức mạnh phương tiện đó lại do sứ nhân đem tới.

Ðoàn sứ nhân, tức là tổ chức cứu nước đã đem Hồn Nước về với toàn dân, nhờ đó Toàn Dân vùng dậy. Giờ đây, đoàn sứ nhân còn phải điều hợp sức mạnh ở các tổ chức làng xã thành tầm vóc toàn nước, biến sự đóng góp của toàn dân thành sức mạnh chiến đấu chống giặc.

Sức mạnh này không chỉ nhấn mạnh ở lãnh vực quân sự, mà còn bao trùm mọi lãnh vực khác, như kinh tế, xã hội, chính trị, giáo dục, ngoại giao… ảnh hưởng tới cuộc chiến đấu (26).

*

b. Như vậy, phận vụ của tổ chức cứu nước còn là nhận rõ sức mạnh hiện thực tiềm ẩn trong dân nước, rồi tùy theo hoàn cảnh và điều kiện thực tế đương thời, mà ứng biến thành sức mạnh cứu nước hữu hiệu.

Việc tổ chức và điều hợp lại cần nhân sự, khả năng đặc biệt, và ngành nghề chuyên môn… Tất cả đều xác định đúng vai trò quan trọng của một tổ chức khả dĩ có đủ sức nhìn xa trông rộng để mà biết quyền biến với tình thế (*27).

* *

8.3 Sức Mạnh Hành Động

Khi nhận được ngựa và roi sắt, Cậu Bé liền vươn vai thành người cao lớn. Cậu đã ăn nhiều, đã lớn như thổi, nhưng phải chờ cho tới khi có ngựa và roi. Cậu mới vươn vai vượt tới tầm vóc đúng mức của mình (*28).

Trước đây, khi nghe về Tổ, Cậu đã bật nói, đã dám bộc lộ chính mình. Nhưng nay, có thêm ngựa và roi sắt, Cậu mới vùng dậy, mới đi đứng, mới hành động.

Dầu mọi người đã thức tỉnh, đã quyết tâm, nhưng phải có phương tiện thì toàn dân mới có thể ra tay, mới có thể đối đầu được với giặc.

* *

8.4 Sức mạnh Toàn Dân

Thế là, nhờ có sứ nhân trao ngựa sắt, Cậu Bé đã vươn vai. Nhưng khi cậu nhảy lên ngựa, thì ngựa sắt lại biến thành ngựa thần, sống động và phun lửa.

Ở Kinh Mỵ Châu, An Dương Vương đã ỷ vào thành ốc và nỏ thần để mất dân. Nỏ thần dầu bắn một phát giết cả vạn giặc, mà vì không có dân, nên mất hiệu nghiệm, không bằng gỗ đá. Ở đây, khi được sức mạnh dân tộc xử dụng, thì dầu là ngựa sắt cũng hóa thành ngựa thần.

Không có dân, nỏ thần thành nỏ gỗ. Có toàn dân, ngựa sắt hóa ngựa thần! Toàn dân vươn vai thì mọi sự cũng đều vươn theo. Sức mạnh của toàn dân làm cho mọi phương tiện trở thành hiệu lực cách thần kỳ, trở thành linh hiển.

Không có hình ảnh nào diễn tả sức mạnh và vai trò của toàn dân một cách rõ ràng và đầy đủ hơn (*29).

* * * *

9. Vùng Lên Ðuổi Giặc

9.1 Giành Lại Đất Nước

Ðã có Hồn Nước, đã có toàn dân. Sức mạnh đã tập trung, đây là lúc vùng lên đuổi giặc để giành lại Đất Nước. Với ngựa lửa roi sắt, vị anh hùng Phù Ðổng đã oai dũng đánh bọn giặc một trận tơi bời.

Khi toàn dân đã có tinh thần, đã có sức mạnh, đã có phương tiện, thì việc đuổi giặc ra khỏi bờ cõi, cũng là chuyện đương nhiên.

Lịch sử mấy ngàn năm đã nhiều lần minh chứng hùng hồn.

* *

9.2 Ngọn Roi Nhân Thứ

a. Ngựa lửa là sức mạnh của đấu tranh, nhưng Phù Ðổng lại dùng roi sắt. Hình ảnh dùng roi sắt nói lên lòng nhân thứ của Tổ Tiên.

Phù Ðổng dùng roi chứ không dùng gươm. Roi mang ý nghĩa sửa dạy, đánh phạt, dầu là roi sắt; còn gươm giáo luôn là vũ khí chém giết. Ngay trong ngôn ngữ chúng ta cũng dùng chữ đánh, dầu là giặc, đánh giặc. Cương quyết, dũng mãnh, nhưng không tàn bạo.

Ôi tinh thần nhân thứ, khoan dung, và qúy trọng con người của văn hóa Việt (*30).

*

a. Nhân thứ, nhưng chúng ta không nhẹ da, mù quáng. Từ bi hỷ xả như Phật mà còn có mười tám tầng địa ngục với đủ thứ khổ hình. Bác ái yêu thương như Chúa mà còn có hỏa ngục thiêu đốt muôn đời.

b. Ở Kinh Mỵ Châu, An Dương Vương đã trọng dụng Thành Ốc và Nỏ thần làm sức mạnh giữ nước. Tuy nhiên, vì ông bỏ Hồn Nước, bỏ Dân Nước, nên Sức Nước đó cũng bị giặc mưu mô chiếm đoạt. Vì đó, đã mất Nước.

Ở đây, để cứu nước, toàn Dân cũng cần Sức mạnh chiến đấu để đánh giặc. Tuy nhiên, thay vì cái Thành Ốc bất động, thì là Ngựa thần oai dũng; thay vì Nỏ thần bắn giết, thì là ngọn Roi sửa phạt.

Để phá giặc, không thể không dùng sức mạnh, đặc biệt sức mạnh quân sự. Có thể cải hóa từng cá nhân mà không cần võ lực, nhưng không thể chỉ dùng lý thuyết suông mà cải hóa một hệ thống giặc.

Quân sự là phương thức bất đắc dĩ, nhưng nó lại cần thiết. Không có quân sự, sức mạnh dân tộc không thể bộc phát đúng mức để đánh đuổi giặc.

* *

9.3 Tận Dụng Năng Lực

Tuy dùng ngọn roi nhân thứ, nhưng không phải nhân thứ mà là ủy mị, mà thiếu quyết tâm. Vì giặc qúa hung bạo và cố chấp, Phù Ðổng đã phải đánh đến gãy roi sắt. Khi roi gãy, Phù Đổng nhổ tre để tiếp tục đánh.

Chi tiết này nhắc nhở lũy tre xanh. Làng xã thôn xóm là căn bản giữ nước và cứu nước suốt mấy ngàn năm. Nhổ tre đánh giặc nói lên việc tận dụng mọi năng lực, đặc biệt cơ chế chính trị, kinh tế, và xã hội đặc thù của dân nước. Tận dụng tất cả để phá giặc.

* *

9.4 Chấp Nhận Hy Sinh

Kinh còn nói thêm: trong trận chiến, có mấy làng bị ngựa lửa làm cháy lây. Sức mạnh chiến tranh chẳng những phá giặc mà cũng tàn hại một phần đất nước.

Không phải tổ tiên không nhìn thấy tai hại của chiến tranh. Nhưng khi cần thiết, vẫn cứ chấp nhận. Chấp nhận hy sinh, chấp nhận thiệt hại.

Tuy vậy, chi tiết trên chứng tỏ Tổ Tiên vẫn không giấu nỗi đau buồn vì sự tàn phá của chiến tranh. Tận thâm tâm, tận nền tảng tinh thần Việt, không bao giờ chúng ta vui sướng trên máu lửa.

Chấp nhận chiến tranh để cứu người, cứu dân, chớ không vì hiếu chiến, vì chủ trương (*31).

* *

9.5 Toàn Dân Toàn Diện

Với việc Tổ trở về, với vua Hùng và đoàn sứ nhân dấn thân, với tổ chức cứu nước, với mọi người góp gạo góp vải, với ngựa sắt roi sắt, với tre làng bị nhổ, với số làng bị cháy… tính cách toàn dân toàn diện của công cuộc cứu nước đã bộc lộ rõ ràng.

Mọi người và tất cả, đều được vận dụng để chống giặc: từ những phương tiện vật chất, gạo, vải, sắt, lũy tre, thú vật… đến làng thôn, hệ thống tổ chức quốc phòng, chính trị, xã hội, văn hóa… cho đến tinh thần dân tộc, qúa khứ lịch sử, và cả sông núi, Hồn Thiêng… tất cả đều gom đúc thành Sức Mạnh thần diệu của Dân Tộc, tất cả đều góp phần vào việc cứu dân cứu nước.

Nhờ có vậy, giờ đây chiến thắng mới thực sự là chiến thắng toàn vẹn của toàn thể dân tộc. Có như vậy, cuộc sống mới thực sự mở đầu cho tất cả mọi người.

* * * *

10. Lập Cuộc Sống Mới

10.1 Thăng Hoa và Phong Thưởng

a. Kinh đã dạy cách đánh giặc cứu nước. Giờ đây giặc đã tan, nhưng việc cứu nước vẫn chưa xong. Kinh vẫn còn tiếp: Phù Đổng cỡi ngựa lên núi và về trời.

Núi là nơi của Tiên. Lên núi là hình ảnh trở thành phần Tiên.

Phù Ðổng là biểu tượng của sức mạnh tập trung của dân tộc, tức phần Rồng. Sức mạnh đó đã được vận dụng tối đa và đã oai dũng đánh đuổi quân giặc.

Giờ đây giặc đã tan, dân nước lại vui hưởng thanh bình, nên Sức Mạnh đó lên núi, tức không còn cần phải bộc lộ oai dũng, mà được thăng hoa tiềm tàng vào sông núi, vào tâm hồn của dân nước.

Chiến công đuổi giặc trở thành kinh nghiệm sống của toàn dân, trở thành phần Tinh Thần, phần Truyền Thống bất diệt, xáp nhập vào phần Tiên của dân tộc.

*

b. Về trời là sự phong thưởng cao qúy nhất của văn hóa Việt.

Như Chữ Đồng Tiên Dung đã được về trời sau khi trọn đời chăm lo an dân thịnh nước, thì Phù Ðổng cứu được nước nên đã về trời.

Trong Kinh Phù Đổng, Tổ Tiên cũng phong thưởng tất cả mọi người đã hy sinh trong công cuộc cứu nước (*32).

* *

10.2 Giảm Quân Chuyển Tiếp

Về phần ngựa sắt, đã thành ngựa thần, nên cũng được theo về trời. Vì là sức mạnh chiến đấu, bộc lộ trong sức mạnh quân sự, nên khi xong giặc ngựa cũng phải thăng hoa. Hết giặc mà ngựa lửa vẫn còn luẩn quẩn, mà sức mạnh quân sự vẫn còn tập trung, thì chỉ hại dân (*33).

Trong suốt lịch sử dân tộc, bất cứ thời nào, hễ xong giặc là gỉam bớt quân số. Phần lớn được trở về làng thôn để cày cấy phát triển (*34).

Thời bình, quân đội của nước ta được luân phiên và chỉ ở mức tượng trưng.

Trong suốt mấy ngàn năm, mãi cho đến năm 1950 dl, nước ta không hề có quân đội chính quy.

* *

10.3 Tái Thiết Quê Hương

a. Giặc tan, các sức mạnh vận dụng chống giặc cũng đã thăng hoa. Nhưng vẫn chưa hết. Tổ Tiên vẫn chưa cho thế là xong việc cứu nước: các gốc tre Phù Ðổng đã xử dụng nay hóa thành tre la ngà.

Tre la ngà là một loại tre cứng, đẹp và bền hơn những loại tre thường. Phù Ðổng đã nhổ tre làng để phá giặc, nhưng lại hoàn trả bằng loại tre qúy hơn.

Ðây chính là hình ảnh xây dựng quê hương. Lũy tre làng tượng trưng cho xã hội ta, đã vì giặc, vì phá giặc, mà bị hư hại, thì nay sức mạnh phá giặc đó, chính Phù Đổng cũng làm cho lũy tre vững chắc hơn, tốt đẹp hơn.

* *

b. Thực vậy, qua diễn tiến vận động cứu nước, để hun đúc Sức Mạnh Phù Ðổng, toàn dân đã tìm gặp lại Tổ, đã sống lại niềm tự tin dân tộc, đã ý thức lại trách nhiệm, đã lột xác, đã dấn thân. Từ đó, toàn dân cũng đã tận tình cộng tài cộng đức, cùng nhau chia sẻ trách nhiệm, cùng gánh vác gian lao, cùng hy sinh chiến đấu bên nhau.

Tất cả đều góp phần để dân tộc vươn vai, tất cả đều góp phần để mọi người trở thành Người Dân toàn vẹn. Do đó giờ đây, đời sống người dân đã trở thành tốt đẹp hơn.

Lũy tre không còn là lũy tre thường, mà là tre la ngà!

* *

10.4 Sống Kỷ Nguyên Mới

a. Mọi thứ giặc đã tan, mọi gánh nặng đã cất. Kinh kết thúc bằng việc Vua Hùng phong tước cho Phù Đổng là Thiên Vương.

Như ở các Kinh khác, Vua Hùng tượng trưng cho uy thế tối cao của Dân Tộc. Vì vậy, Vua Hùng phong tước chính là để tôn vinh kinh nghiệm tuyệt vời và những bài học vô giá của Công Cuộc Cứu Nước. Với uy thế của Vua Hùng, toàn dân ghi nhớ và lưu truyền với tất cả lòng kính tôn, yêu quý, và tận tâm học hỏi, noi gương (*35).

*

b. Tước vị Thiên Vương của Phù Đổng còn xác nhận kết quả toàn hảo của tiến trình cứu nước.

Qua toàn bộ công cuộc, chẳng những toàn dân đã đánh đuổi giặc nước, mà mỗi người còn dẹp tan được mọi thứ giặc trong chính bản thân. Trong tiến trình trở thành người cứu nước, mọi người cũng trở thành Con Người toàn vẹn. Khi cứu được nước, dân tộc ta đã trở thành một khối hiệp nhất, toàn hảo, toàn hiệp.

Với mọi chướng ngại đã được đánh tan, với những kinh nghiệm tuyệt hảo, với niềm tin chan chứa, và với sức sống tràn đầy, giờ đây khối người toàn hiệp này đem trọn tâm sức cùng nhau xây dựng một cuộc sống mới.

Với cuộc sống phát xuất từ tâm khảm của những con người thấm nhuần tinh hoa Nền Văn Hóa Siêu Việt, toàn dân hiên ngang bước vào một KỶ NGUYÊN MỚI, kỷ nguyên của một xã hội loài người tràn đầy hạnh phúc.

Đa số thắng thiểu số? (khách viếng thăm) gửi lúc 00:36, 03/10/2011 - mã số 42334
Trích dẫn:
Tóm lại, với chủ trương “đa số thắng thiểu số” của người Tây phương thì “mạnh được yếu thua” và “ai thắng thì có công lý” cho nên thường trở thành hình thức hợp pháp giúp cho nhóm người mạnh đàn áp kẻ yếu, nhóm người có quyền lực áp bức bóc lột kẻ thế cô…

“đa số thắng thiểu số” của người Tây phương (?) thì đương nhiên rồi vì nó hợp với logic toán học.

Tuy nhiên trong xã hội văn minh, hiến và luật pháp phải dự trù những trường hợp bảo vệ quyền lợi của thiểu số.

Ở châu Âu có những nước đa nguyên đa đảng áp dụng cách bỏ phiếu theo tỷ lệ. Đảng A phải thắng áp đảo trên 50% số phiếu thì mới tự một mình lập chính phủ. Và cho dù trên 50% mà dưới 65% thì vẫn chưa phải đa số tuyệt đối ở thượng và hạ viện cho nên những đề nghị của chính phủ vẫn có thể bị bác bỏ bởi lưỡng viện quốc hội.
Do có nhiều đảng (hơn 2 đảng), cho nên khó có đảng nào thăng tuyệt đối áp đảo 65%. Các đảng phải phối hợp với nhau (liên minh) để có đủ 60-65% số đại biểu ở ít nhất tại hạ viện.

Cách bỏ phiếu theo tỷ lệ có vẻ theo sát với ý nguyện của dân hơn cả. Tuy nhiên có thể gây khó khăn khi lập chính phủ vì phải có một liên minh sao cho đủ 65% số đại biểu. Một vấn đề khác là không nhất định đảng A có nhiều phiếu lại có thể thành lập được chính phủ mà có thể vài đảng khít khao số phiếu với A (33%) như B (30%), C (20%), D (15%) liên minh với nhau để loại A ra khỏi chính phủ.

Thông thường các đảng cánh tả và trung tả hay liên minh với nhau trong chính phủ (mô hình Social democracy) nghiêng về dân sinh xã hội cho đa số dân cho nên dễ thắng các đảng cánh hữu và trung hữu nghiêng về phát triển kinh tế của giai cấp trung lưu và chủ công ty.
Giới bình dân và di dân thích bỏ phiếu cho social democracy vì có an sinh xã hội cao nhưng bù lại phải đóng thuế cao hơn đối với những ai có thu nhập cao (trung lưu và tư bản). Việc đánh thuế cao, chi phí an sinh xã hội cao khiến giá thành sản phẩm tăng cao là một trong những nguyên nhân khiến tư bản đổ qua các nước Á châu như TQ, VN, ... để đầu tư, nơi mà có ưu đãi thuế và hầu như không có an sinh xã hội

Đây là một trong những lý do mà tôi cho rằng chủ nghiã cộng sản là không tưởng bởi không thể có một xã hội nào có thể đủ sức thực hiện chiêu bài "làm theo khả năng hưởng theo nhu cầu".
Trừ phi Mác và Lenin định nghĩa rõ ràng "con người chỉ có nhu cầu duy nhất là ăn no, mặc đủ ấm, có tivi, tủ lạnh"

JLN (khách viếng thăm) gửi lúc 12:47, 02/10/2011 - mã số 42308

Kính thưa bác Bản,

Tôi đồng ý với kết luận của bác: " Ðảng chính trị mà chúng ta mong muốn sớm có hôm nay, thì đảng đó không nên đóng khung trong một tôn chỉ hay một chủ thuyết nào, mà cần ứng dụng bằng những chính sách chính trị thực tế, và tránh nạn giáo điều. Muốn được như thế, chúng ta kết hợp sao cho hài hòa giữa hai hệ thống tư tưởng của dân tộc và nhân loại, rút tỉa tinh hoa văn hóa Tiên Rồng đưa vào quốc sách chính trị thì Việt Nam mới có cơ may thành công.", nhưng tôi cho như thế là chưa đủ để thành công.

Đảng chính trị ở VN muón thành công, ngoài "kết hợp sao cho hài hòa giữa hai hệ thống tư tưởng của dân tộc và nhân loại, rút tỉa tinh hoa văn hóa Tiên Rồng đưa vào quốc sách chính trị...", thì còn nên góp phần xây dựng lại hoàn toàn nền văn hoá chính trị của dân tộc VN mà trong đó các đảng chính trị sẽ hoạt động.

Văn hoá chính trị của VN ta hiện nay là gì? Là hầu như trên 80 tiệu dân không coi chính trị liên quan mật thiết đến sinh mệnh và cuộc sống hàng ngày của mình, nên xa lánh chính trị. là sự phó thác (bát buộc)lĩnh vực chính trị vì họ bị làm cho không hiểu biết, ngu muội và rất sợ hãi, cho một nhóm nhỏ vài triệu kẻ cầm quyền thao túng hoàn toàn. Trong tâm thức các thế hệ người Việt hôm nay không có tư duy chính trị lành mạnh của con người tự chủ, mà là của những con người nô lệ - chấp nhận sự nô dịch chính trị của số ít cộng sản trên toàn dân tộc Việt.

Tôi nhớ trên Dân Luận đã có các tác giả chỉ ra thực trạng này (như bác Hồng Lạc, và cô sinh viên trẻ Huỳnh Thục Vy...), vốn là sản phẩm của nền chính trị cộng sản mị dân, lừa bịp và ức hiếp dân nhân danh nhân dân suốt hơn nửa thế kỷ qua?

Nếu không nhìn nhận và xử lý đúng tình trang văn hoá chính trị hay tâm thức chính trị u tối (vì sợ hãi)của đại đa số người Việt(ở hạ tầng cơ sở xã hội) hiện nay thì các tư tưởng tốt đẹp tiến bộ của các đảng chính trị dân chủ cấp tiến như bác Bản giới thiệu (vốn được hình thành từ thượng tầng kiến trúc của xã hội), sẽ khó mà thành công.

Nếu Dân tộc có những hạt giống tốt, đó là Nội dung tốt, thì còn cần gieo nó trên một mảnh đất tốt phù hợp nữa - đó là Bối cảnh tốt. Trong đó, Bối cảnh quan trọng hơn Nội dung.

Như vậy, cần thay đổi (ở đây là diệt trừ) Bối cảnh chính trị thối nát hiện nay của đất nước trước đã. Có Bối cảnh chính trị tốt, các đảng chính trị tiến bộ sẽ xuất hiện, vì dân tộc muốn thế, xu hướng phát triển của Loài người là thế.

JLN

Vandam (khách viếng thăm) gửi lúc 05:42, 02/10/2011 - mã số 42299

Ông Pham Van Bản lý luận dài dòng để rồi kết luận ngắn ngủi: chế độ dân chủ dựa trên nguyên tắc 'đa số thắng thiểu số', 'mạnh được yếu thua' và vì dựa vào sự hợp tác để 'hưởng lợi' nên rất nguy hiểm!

Mỗi con người độc lập đều có thể có những ý kiến khác biệt phát xuất từ trong môi trường sống khác biệt của cá nhân trong xã hội. Để tìm được sự đồng thuận cao nhất trong một dự án hay một quốc sách nào nguyên tắc 'đa số thắng thiểu số' phải là nguyên tác căn bản của mọi chính đảng lương thiện hoặc chế độ dân chủ. Nguyên tắc 'đa số thắng thiểu số' là bước đầu của tiến trình điều hành quốc gia. Bước quan trọng cuối cùng là khi các dự án ấy được trình bày ra quốc hội (tức dân chúng)có được đa số chấp thuận hay không. Một cá nhân, một tập thể có thể 'mạnh' trong một đảng chính trị nhưng không thể 'mạnh' trước tuyệt đại đa số dân chúng vốn không nằm trong đảng. Mọi đảng chính trị dân chủ không thể áp đặt được ý chí chính trị của mình nếu không có sự đồng thuận của đa số cử tri. Có thể nói trong mọi chế độ dân chủ thật sự (xin miễn 'dân chủ nhân dân' dân chủ' xã hội chủ nghĩa' bịp bợm) nguyên tắc 'đa số thắng thiểu số' sẽ bảo đảm mọi chính sách của đảng cầm quyền luôn luôn phục vụ ước nguyện và quyền lợi của tập thể.

visitor (khách viếng thăm) gửi lúc 04:41, 02/10/2011 - mã số 42298
tác giả viết:
2. Thể Chế Tổng Thống
...
Trong Quốc Hội, thượng viện với các thượng nghị sĩ là tiếng nói của người dân, và hạ viện với các dân biểu là tiếng nói của chính quyền.

Đề nghị bác Bản giải thích thêm điểm này.

Tôi đọc trong
http://usgovinfo.about.com/od/uscongress/a/whyhouseandsenate.htm
thấy nói cả hai cơ quan Thượng nghị viện và Hạ nghị viện Mĩ đều được bầu bởi nhân dân và là đại diện cho nhân dân (members of both are elected by, and represent the people).

Phan Sơn (khách viếng thăm) gửi lúc 02:04, 02/10/2011 - mã số 42294
Phạm Văn Bản viết:
“Theo quan niệm tổ chức của phương Đông, chúng ta thường dựa trên nền tảng Vì nghĩa. Chúng ta ngồi lại với nhau vì thấy việc chung phải làm, và vì tình nghĩa với nhau mà làm việc chung, việc nghĩa. Bởi thế mới có những người Tụ nghĩa, Kết nghĩa rồi có Nghĩa sĩ, Nghĩa quân… Tất cả đều căn cứ trên động lực tinh thần, tấm lòng đối với việc chung, việc nước phải làm, với quê hương dân tộc hay ít ra vì nặng nợ ơn nghĩa với nhau…

Ngược lại, theo quan niệm phương Tây, nền tảng tổ chức là “hợp tác” và cùng nhau làm việc chung, việc nước. Nhưng mục tiêu của tổ chức là “hữu hiệu” họ làm sao cho hoàn thành công tác trước mắt; tiếp đến mục đích của tổ chức là “hưởng lợi” mọi người đều có lợi và càng lợi nhiều thì càng tốt, bởi có lợi thì con người mới thích tham gia…”

Nền dân chủ chính trị ở EU (Political Democracy in Europe). Chế độ đa đảng ở EU xem ra lại dễ dàng đem lại sự đồng thuận (consensus) hơn là chế độ “độc quyền lưỡng đảng" (two-party duopoly) ở Mỹ. Lối bỏ phiếu theo tỷ lệ (proportional voting) ở EU khiến cho vị dân cử phải đáp ứng nguyện vọng của cử tri hơn là lối “được ăn cả ngã về không” (winner-take-all) của Mỹ.

Chi phí vận động tranh cử ở Mỹ do tư nhân đài thọ; không có thời lượng truyền thông miễn phí, ứng cử viên phải trả chi phí rất cao về quảng cáo chính trị; nhiều đơn vị và tiểu bang chỉ có độc đảng; khoảng hơn 70 triệu cử tri không được ghi danh đi bầu; số cử tri đi bầu rất thấp, có khi dưới 10%; Thượng nghị viện Mỹ có quyền hành ngang với Hạ nghị viện; chính sách ngoại giao dựa trên cơ sở đơn phương và “quyền được tấn công trước” (preemptive strikes).

Phạm Văn Bản gửi lúc 01:06, 02/10/2011 - mã số 42293
Phan Sơn viết:
Chúng ta phải biết học cách coi đối thủ chính trị là người đồng hành. Chúng ta học để có một xã hội đa thanh - hay như người ta nói ở phương Tây: một xã hội đa nguyên. Một xã hội mà trong đó người ta nhìn nhận hy vọng và máu của người khác là một giá trị; cũng có ý nghĩa như chính máu và hy vọng của mình; chứ không phải một thứ đáng khinh bỉ..."

Christoph Hein

Bạn Phan Sơn mến, Cám ơn bạn đã quan tâm. Chẳng những chúng ta phải xem đối thủ chính trị của mình là 'người đồng hành.' Hơn thế nữa, theo quan niệm sống 'Bọc Mẹ Trăm Con' của Tổ Tiên Việt, chúng ta coi đối thủ chính trị là 'người đồng bào' trên hành trình phục vụ Dân Nước. Tức là người anh em ruột thịt, cùng một mẹ cha Tiên Rồng (nguyên lý Tiên Rồng Song Hiệp Hoàn Chỉnh, Thân Thương và Bình Đẳng, Một Bọc Trăm Con). Trăm mà là một. Một mà là trăm. Và làm Việc Nước là trăm người trăm việc, để mỗi người một việc... Việc nước, có khi chúng ta làm một việc mà suốt cả dòng đời cũng chưa xong. Bạn Sơn nghĩ như thế nào?

Phan Sơn (khách viếng thăm) gửi lúc 20:42, 01/10/2011 - mã số 42281

Chúng ta phải biết học cách coi đối thủ chính trị là người đồng hành. Chúng ta học để có một xã hội đa thanh - hay như người ta nói ở phương Tây: một xã hội đa nguyên. Một xã hội mà trong đó người ta nhìn nhận hy vọng và máu của người khác là một giá trị; cũng có ý nghĩa như chính máu và hy vọng của mình; chứ không phải một thứ đáng khinh bỉ..."

Christoph Hein

Gửi phản hồi mới (xin gõ tiếng Việt có dấu và tuân thủ Nguyên tắc Dân Luận để được chấp nhận)

Bạn có thể bịa một địa chỉ email bất kỳ, ví dụ test@gmail.com. Thông tin này sẽ không xuất hiện công khai khi phản hồi được đăng.
  • Use special [news] tag to display title, source and url of news.
  • Bạn có thể sử dụng các thẻ BBCode trong bài. Các địa chỉ URL sẽ được tự động chuyển thành liên kết.
  • Bạn có thể trích bài của người khác bằng thẻ [quote], ví dụ: [quote]Nội dung muốn trích dẫn[/quote]
  • Bạn có thể sử dụng những thẻ HTML sau: <a> <em> <strong> <ins> <b> <i> <u> <br> <cite> <code> <ul> <ol> <li> <dl> <dt> <dd> <h1> <h2> <h3> <h4> <h5> <table> <tbody> <td> <tr> <pre> <img> <div> <span> <object> <hr> <center> <font> <blockquote> <strike> <embed> <param> <del> <ins> <sub> <sup>
  • Bạn có thể chèn video vào bài viết bằng thẻ [video:địa_chỉ_url_của_video]
  • Cách dòng và cách đoạn sẽ được tự động chuyển thành xuống dòng.
  • Web page addresses and e-mail addresses turn into links automatically.

Nhấn vào đây để biết thêm chi tiết về cách định dạng bài viết...

To prevent automated spam submissions leave this field empty.
CAPTCHA
Bạn bắt buộc phải trả lời câu hỏi kiểm tra dưới đây. Nó giúp chúng tôi nhằm lọc bỏ các nội dung spam do robot tự động thực hiện.
4 + 15 =
Giải bài toán đơn giản này và nhập kết quả vào ô phía trên. Ví dụ, nếu thấy 1+3, thì hãy nhập 4.

Suy ngẫm

Nếu chúng ta không nói thì ai sẽ nói thay cho chúng ta? Nếu chúng ta không làm thì ai sẽ làm thay cho chúng ta? Và nếu chúng ta không làm ngay bây giờ thì đợi đến khi nào?

— Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ

Mới Mới Mới

Từ khóa trong bài viết

Thống kê truy cập

Hiện có 1 thành viên455 khách truy cập.

Thành viên online

Admin

Kỷ lục: Có 4638 người ghé thăm vào 15-05-2014 lúc 09h47.

Độc giả Dân Luận từ đâu đến?

Locations of visitors to this page

Quỹ Dân Luận

ung-ho-dan-luan-3.png