Phạm Hồng Sơn - Vài phản biện về bài “Thoát Trung Luận”

Phạm Hồng Sơn
Chia sẻ bài viết này

Cách đây ít hôm một bài viết có nhan đề “Thoát Trung Luận” của tác giả Giáp Văn Dương đã được đăng tải trên nhiều trang mạng phi nhà nước. Tác giả Giáp Văn Dương đã đề cập đến một vấn đề không chỉ có tính thời sự mà còn có tính chiến lược cho sự phát triển của đất nước Việt Nam: “Cần thoát khỏi sự ảnh hưởng của Trung Quốc!” Như tác giả nhận định, quan điểm vừa nêu phần lớn mới chỉ được nhiều người thể hiện ở mức “trực giác”, chưa có tính “hệ thống” hay “mạch lạc”. Tiếp theo, tác giả trình bày cơ sở lý luận của mình cho quan điểm “Thoát Trung” đó, có thể tóm tắt làm hai ý chính: phần 1: tác giả chứng minh “Thoát Trung” đã là ý muốn của tổ tiên ta từ xa xưa; phần 2: tác giả mô tả sự phụ thuộc, rập khuôn tai hại hiện nay của Việt Nam vào Trung Quốc ở nhiều lĩnh vực và cuối cùng tác giả đưa ra lời kêu gọi “Thoát Trung hay là chết” như tổ tiên đã ra lệnh.

Tuy nhiên toàn bộ bài viết “Thoát Trung Luận” của Giáp Văn Dương vẫn cho thấy tác giả chủ yếu dựa vào sự nhiệt huyết dân tộc và cảm tình với tổ quốc để chứng minh cho một quan điểm hơn là dựa vào các cứ liệu hay tư duy hệ thống. Sau đây là vài điểm minh họa cho nhận định này:

Giáp Văn Dương viết: “Khi còn nhỏ, tôi đã từng ngạc nhiên khi đọc bài hịch của vua Quang Trung khích lệ tướng sĩ trước khi ra trận: “Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để răng đen…”. Tôi đã tự hỏi, vì sao nhà Vua không chọn những biểu tượng lớn lao hơn mà lại chọn những điều nhỏ nhặt như vậy để động viên quân sĩ ? Nhưng càng ngày tôi càng thấm thía : Đó là lòng kiên định của tổ tiên nhằm thoát khỏi vòng kiềm tỏa của nền văn hóa Trung Hoa, ngay từ những việc nhỏ nhất.

Việc chỉ căn cứ vào lời nói của một ông vua trong cả một lịch sử hàng ngàn năm để kết luận đó là “lòng kiên định của tổ tiên” thì đó là một suy diễn quá xa và yếu ớt trong nghiên cứu lịch sử. Hơn nữa một “nền văn hóa” không chỉ thể hiện hay kết tụ ở kiểu tóc hay màu răng. Dĩ nhiên chữ “tóc” và “răng” trong lời hiệu triệu của Quang Trung có thể chỉ có tính biểu tượng nhưng nếu ta quá câu nệ vào đó thì sẽ dễ làm cho chúng ta quên mất cái hệ lụy quan trọng nhất của một sự ảnh hưởng của văn hóa không phải là những thứ hữu hình mà là những giá trị vô hình – cách tư duy.

Giáp Văn Dương viết tiếp phần trên: “Ý thức vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa này là thường trực. Tuy nhiều lúc bị chao đảo bởi sự tấn công mạnh mẽ đến từ phương Bắc, nhưng mỗi khi cần đến thì ý thức vùng thoát này lại bùng lên dữ dội.

Ở đây tác giả lại tiếp tục suy diễn quá xa theo kiểu khẳng định đồng nhất ý muốn của các triều đại phong kiến Việt Nam. Nhìn vào trường lịch sử của Việt Nam thì đúng ra là mọi triều đại phong kiến Việt Nam chỉ thường trực ý thức cảnh giác với ý đồ xâm lược từ phương Bắc. Và thường mỗi khi bị phương Bắc xâm lược thì các triều đại phong kiến Việt Nam có phản ứng chống lại một bộ phận văn hóa phương Bắc như một biện pháp tuyên truyền để cổ xúy tinh thần chống ngoại xâm hơn là ý thức thoát khỏi ảnh hưởng văn hóa của Trung Quốc một cách cơ bản. Một bằng cớ rõ ràng là Văn Miếu (nơi thờ Khổng Tử - một biểu tượng và là một trong những tác giả lớn của nền văn hóa Trung Quốc) vẫn luôn được bảo vệ và tôn tạo từ đời Lý Thánh Tông trở về sau.

Tiếp theo Giáp Văn Dương đưa ra thêm một số cứ liệu minh chứng cho tinh thần “Thoát Trung” của tổ tiên chúng ta như vấn đề chữ viết, tên nước:

+ “Nỗ lực xây dựng chữ viết riêng cho dân tộc như chữ Nôm của cha ông.” (Giáp Văn Dương)

Thực ra chữ Nôm cũng chỉ là một phó bản kém của chữ Hán. Vấn đề “Thoát Trung” điều quan trọng không phải là từ bỏ một cách manh mún những sản phẩm hay công cụ văn hóa của Trung Quốc mà phải là nhận ra những điểm yếu, lạc hậu, cản trở của nền văn hóa đó đối với sự phát triển và phải xây hoặc tìm lấy được những giá trị văn hóa tiến bộ hơn.

+ “, và gần đây nhất là việc toàn dân đồng loạt chuyển sang sử dụng chữ quốc ngữ, là minh chứng rõ ràng cho sự vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa này.” (Giáp Văn Dương)

Thực tế đây chỉ là một phản ứng thụ động của sự biến đổi do những người ở phương Tây đem lại và nếu là ý thức chủ động thoát khỏi phương Bắc thì cũng chỉ của một bộ phận nhỏ của sĩ phu đương thời (đã có tiếp cận với văn hóa phương Tây) mà thôi.

+ “Riêng với việc chuyển sang sử dụng chữ quốc ngữ, có thể nói, đây là một cuộc thoát Trung ngoạn mục.” (Giáp Văn Dương)

Chữ quốc ngữ chỉ là một yếu tố, một điều kiện thuận lợi cho việc rời xa văn hóa Trung Quốc mà thôi. Thực tế đã cho thấy hai Việt Nam (Bắc và Nam từ 1954-1975) cùng sử dụng chữ quốc ngữ nhưng miền Bắc lại gần như hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Quốc.

+ “Thành quả của nó thật đáng nể: Số người biết đọc biết viết tăng lên gấp bội, số lượng văn bản sử dụng chữ quốc ngữ chỉ trong một thời gian ngắn đã tăng lên gấp nhiều lần so với số văn bản chữ Nho của toàn bộ lịch sử nước ta trước đó.” (Giáp Văn Dương)

Điều này lẽ ra phải ghi nhận cho tính chất dễ sử dụng, dễ truyền bá của chữ quốc ngữ hơn là ý thức thoát Trung của người Việt.

+ “Cũng chính nhờ chữ quốc ngữ mà về mặt hình thức, ngôn ngữ của chúng ta đã thoát khỏi vòng kiềm tỏa của tiếng Hán. Tỷ như đến giờ phút này, nước Việt ta vẫn dùng chữ Nho để viết và giao tiếp với thế giới, thì đối với họ, ta có khác nào một quận huyện của Trung Quốc? Ta sẽ gặp khó trong việc thuyết phục họ rằng, ta là một quốc gia độc lập, có ngôn ngữ và văn hóa riêng.” (Giáp Văn Dương)

Nhật bản và Hàn quốc, thậm chí Đài Loan cũng vẫn sử dụng chữ viết tương tự hay đúng như của Trung Quốc nhưng đâu có trở thành quận huyện của Trung Quốc và họ cũng đâu có gặp khó khăn trong việc xác định sự độc lập với Trung Quốc vì vấn đề chữ viết hay văn hóa có nhiều điểm giống Trung Quốc.

+ “Tên gọi của nước ta cũng không phải là một sự ngẫu nhiên. Đằng sau mỗi cái tên đều là một lời nhắn nhủ hoặc một mong đợi sâu thẳm. Ông cha ta đã chọn hai chữ Việt Nam để đặt làm tên nước.” (Giáp Văn Dương)

Tác giả đã quên mất cứ liệu lịch sử rằng thoạt kỳ thủy vua Gia Long (tức Nguyễn Ánh) đề nghị với vua triều Thanh của Trung Quốc cho nước ta lấy tên là Nam Việt. Nhưng vua Trung Quốc lúc đó vì sợ chữ Nam Việt gợi lại lịch sử trước đây nước Nam Việt (thời Triệu Đà) gồm cả đất Lưỡng Quảng nên chỉ chuẩn thuận cho tên nước ta là Việt Nam.

+ “Việt Nam có nghĩa là tiến về phương Nam. Điều này có nghĩa là gì? Chỉ có thể cắt nghĩa: Tiến về phương Nam để thoát khỏi vòng kiềm tỏa của người phương Bắc. Đó là di lệnh của tổ tiên cho các thế hệ con cháu người Việt Nam mình.” (Giáp Văn Dương)

Đây lại là một suy diễn quá xa và liều lĩnh.

- Giáp Văn Dương nhận định: “Nhưng điều không may cho chúng ta là nền văn hóa Trung Hoa có sức ảnh hưởng quá lớn. Nó như một đại nam châm hút các dân tộc xung quanh về phía mình. Nên dù luôn có ý thức vùng thoát khỏi ảnh hưởng của người Trung Quốc, dù đã được cha ông di lệnh kỹ càng, thì lịch sử của Việt Nam luôn là sự giằng xé giữa hai luồng vận động: Vùng thoát khỏi Trung Quốc và chầu về Trung Quốc.

Tác giả tiếp tục dường như quên mất Nhật Bản, Hàn Quốc, kể cả Bắc Triều Tiên và Đài Loan cũng là các “dân tộc xung quanh” nhưng gần như tất cả đã không chỉ “Thoát Trung” mà còn vượt hơn cả Trung. Tác giả có lẽ cũng đã quên mất một nửa nước Việt dưới vĩ tuyến 17 từ 1954-1975 đã hoàn toàn thoát khỏi Trung Quốc. Và tác giả dường như cố tình quên yếu tố Đảng Cộng sản Việt Nam/Hồ Chí Minh trong vấn đề phụ thuộc Trung Quốc của Bắc Việt Nam từ 1950-1975 và của toàn Việt Nam gần như toàn bộ giai đoạn tiếp theo từ 1975 đến nay.

Trong phần 2, Giáp Văn Dương chủ yếu liệt kê và mô tả thực trạng đất nước Việt Nam hiện nay bị thâm nhập, lệ thuộc vào Trung Quốc ở hầu khắp các lĩnh vực (văn hóa, kinh tế, chính trị,…), cùng với thể hiện một cảm xúc chua xót, đau buồn là chính, hơn là phân tích để vạch ra nguyên nhân sâu xa và cơ bản của thực trạng đó. Ví dụ, tác giả viết: “Xin hỏi: Một dân tộc được định hình chính bởi cái gì? Có phải là bởi đất đai, tài nguyên của dân tộc đó hay không? Chắc hẳn là không. Người ta phân biệt dân tộc này với dân tộc khác bởi chính văn hóa của nó. Nay văn hóa của ta đang bị áp đảo mà dân ta lại vui vẻ cổ vũ chấp thuận, thì khác nào tay ta đã yếu, mắt ta đã chậm mà ta lại tự mua dây về bịt mắt trói tay mình?

Có lẽ tác giả không nhận thấy hoặc không chỉ ra một nguyên nhân chính của thực trạng này chính là chính sách độc quyền về giáo dục, truyền thông của nhà nước hiện nay.

Hay Giáp Văn Dương nhận định chính xác rằng: “những thói hư tật xấu này đang tác oai tác quái làm suy đồi văn hóa và đạo đức của ta quá thể. Bệnh hình thức hư danh, tật khoe khoang thành tích, thói hành dân, nịnh trên lừa dưới, tệ chạy chức chạy quyền… đã thành phổ biến, nên không còn cách nào khác là phải dứt bỏ để học những giá trị tiến bộ của phương Tây như dân chủ, tự do, bình đẳng, bác ái, thực học thực nghiệp… thì mới có thể tiến kịp người.

Nhưng lẽ ra tác giả cần phải đề cập thêm một vấn nạn nguy hiểm là đã có nhiều người đang cố gắng truyền bá, cổ xúy những tư tưởng, giá trị tiến bộ của phương Tây nhưng họ lại có nguy cơ rất cao bị nhà nước hiện nay kết tội là “thù địch”, “phản động”.

Tóm lại, bài viết “Thoát Trung Luận” của Giáp Văn Dương đã nêu ra một vấn đề lớn, quan trọng và thiết thực trong tình hình hiện nay nhưng lập luận của tác giả vẫn chưa thoát khỏi sự chủ quan thường có của những người có tinh thần yêu nước nồng nàn nhưng chủ yếu chỉ dựa trên tinh thần tự tôn dân tộc và chỉ đề cập vấn đề với một tình trạng nửa vời. Cổ xúy lòng yêu nước, tinh thần dân tộc khi đất nước đang bị đe dọa xâm lăng là điều quí giá và cần thiết nhưng việc cổ xúy không dựa trên một tinh thần khách quan, duy lý, triệt để, thì sự cổ xúy đó vô hình chung lại duy trì hay tiếp tục tạo ra những lối mòn có hại cho một nền văn hóa vốn đã và đang bị ghìm giữ trong lối suy nghĩ cảm tính, thiên vị, cải lương – những đặc tính rất có lợi cho những kẻ cầm quyền mỵ dân, độc tài. Thiết nghĩ, nếu nhìn ở phạm vi ngay trước mắt thì Việt Nam cần phải xa rời Trung Quốc để hướng đến và thắt chặt với phương Tây, nhưng nếu nhìn ở phạm vi dài hạn thì vấn đề không phải là “Thoát Trung” hay không “Thoát Trung” mà vấn đề là đất nước phải có sự sáng suốt, tỉnh táo để nhận ra được cần phải du nhập cái gì, tránh cái gì hay cần phải đồng minh với quốc gia nào, giữ khoảng cách với quốc gia nào trong mọi quan hệ, các mối quan hệ không bao giờ thuần nhất và bất biến, với các quốc gia, dân tộc khác. Mà để có sự sáng suốt, tỉnh táo đó thì dân chúng và đặc biệt là giới trí thức phải có suy nghĩ độc lập, khoa học và có khả năng ảnh hưởng, tham gia vào các quyết định liên quan đến mọi vấn đề của quốc gia, xã hội. Khi đó mọi vấn đề “thoát” hay “nhập” với bất cứ cái gì không còn là vấn đề khó khăn, mông lung hay bế tắc nữa. Dĩ nhiên đây là vấn đề không hề nhỏ hay dễ dàng để một ý kiến có thể đạt được tính đầy đủ và thuyết phục cho mọi góc cạnh. Vì vậy những góp ý trên đây với tác giả Giáp Văn Dương cũng chỉ là một nỗ lực nhỏ nhoi với hy vọng cùng góp thêm vài suy nghĩ nhỏ cho một vấn đề lớn mà tác giả Giáp Văn Dương đã là người nêu rõ ra trong bối cảnh rối bời và nhiều phần rất lâm nguy của đất nước hiện nay.

Phạm Hồng Sơn

17/8/2011

Khách gửi hôm Thứ Tư, 17/08/2011
Bạn đánh giá bài viết này thế nào?

Tống Văn Công - Kính gửi Hội nghị Trung ương 8: Đất nước đòi hỏi phải đổi mới chính trị!

Phạm Chí Dũng - Ý nghĩa của Diễn đàn Xã hội Dân sự

Hoàng Đức Minh - Đất nước ta và những dòng chảy thú vị

Nguyễn Vạn Phú - Hai cột trụ của xã hội

Phạm Nhật Bình - Đã đến lúc bỏ đảng chưa?


Lỗ Trí Thâm gửi lúc 05:59, 20/08/2011 - mã số 39621

Vấn đề thoát Trung theo tôi mang đầy cảm tính và lòng yêu nước trong sáng.Nhưng về mặt lí trí là không thực tế và mang nhiều cái hại hơn là cái lợi.

Một nghịch lý là giữa VN và TQ luôn luôn có mâu thuẫn sống còn nhưng số phận của hai dân tộc luôn gắn bó với nhau.
Sự hình thành của dân tộc VN hiện nay từ ngàn xưa có liên quan đến TQ như thế nào tôi không nhắc lại nữa, mà chỉ nhắc lại thời hiện đại.

Việc thực dân Pháp chiếm được VN là do nhà Thanh lúc đó quá yếu .

Việc ở miền Bắc có chế độ cộng sản đơn giản không phải những người cộng sản tài giỏi mà đơn giản bên TQ Mao trạch Đông lên nắm chính quyền.Nếu lúc đó Tưởng giới Thạch mà thắng, chắc chắn bên VN chính thể cộng sản không tồn tại đến vài tháng.Ở miền Nam lúc đó cũng đã thoát Trung được một thời gian , nhưng phải với sự trợ giúp của nước lớn khác và tốn rất nhiều tiền .Ở miền Bắc thời Lê Duẫn cũng ̣định thoát Trung ngả hẳn theo LX nhưng cuối cùng cũng phải quay về với TQ.Đến đây chắc có nhiều bác nói thay đổi chế độ CS đi , nhưng xin thưa , không có hậu thuẫn từ bên TQ , khó mà có chính quyền khác, Mĩ đã làm thử rồi.

Vào thời điểm hiện tại ,đành rằng Tq ỷ to xác lấn chiếm hải đảo nhưng về kinh tế , ta vào WTO cạnh tranh hoàn toàn tự do nhưng tại sao Kinh tế ta phụ thuộc nhiều vào họ?Đó chính là do mức độ phát triển , tài năng kinh doanh của ta chỉ phủ tầm gần ngang ngang với họ nên vẫn chỉ có thể quanh quển trong vòng tay của họ , không thoát ra ngoài được.

Trung Quốc hiện nay đang vươn lên để trở thành một trong những cường quốc của thế giới , nhất là về kinh tế.Do đó hợp tác và chịu ảnh hưởng có lợi cho chính mình hơn là đứng tách biệt hẳn ra,Thoát Trung đừng nói là đối đầu.Vấn đề là chịu ảnh hưởng bao nhiêu là đủ. Đấy mới là thực sự giúp nước còn các hình thái cực đoan khác là có trái tim nhưng không có đầu.

Phong Kiến và Quân Chủ khác biệt nhau (khách viếng thăm) gửi lúc 01:30, 20/08/2011 - mã số 39611
Phạm Văn Bản viết:
Tôi đồng ý với nội dung bài phản biện, tuy nhiên tác giả cũng có điểm mà tôi cần góp ý với cái gọi là "triều đại phong kiến Việt Nam!"

Chúng ta cần biết rằng, "phong kiến" là cái nhìn chuyên chính vô sản của người Cộng Sản khi phê bình chế độ quân chủ, với ý tưởng khinh miệt, chà đạp... Do đó, mỗi khi nhắc tới triều đại quân chủ của Tổ Tiên, chúng ta nên tránh danh từ "phong kiến," bởi vì "phong kiến" khác biệt với "quân chủ" và Định Chế Làng Nước của nền Dân Chủ Việt.

Định chế Làng Nước của Tổ Tiên Việt, dù đã trải qua những triều đại quân chủ (vua làm chủ), nhưng không phải là "phong kiến" như nhiều nền quân chủ của Trung Quốc, Nhật Bản, hay Tây phương. Chữ "Phong Kiến" xuất phát từ "phong điền kiến địa" là cắt đất phong vương như bao các lãnh chúa Tây phương hay Đông phương. Triều đại quân chủ đã có từ thời các Vua Hùng dựng nước, và lịch sử của dân tộc Việt Nam đã không có các lãnh chúa, nên không thể gọi là "phong kiến" -- ngoại trừ Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản VN tuyên truyền và đầu độc tư tưởng.

Bởi thế, để tôn kính Tổ Tiên và Dân Tộc Việt, chúng ta nên gọi là triều đại quân chủ Việt Nam. Cám ơn Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn và bạn đọc.

Cám ơn bác Phạm Văn Bản đề cập đến sự khác nhau giữa "quân chủ" và "phong kiến". Quả thật tôi "đã" không biết sự khác nhau

Tìm kiến trên internet có cái trang này :
http://dactrung.net/dtphorum/tm.aspx?high=&m=548776&mpage=1#548776

Còn Quân Chủ là chỉ do một người làm chủ, cai quản đất nước, người đó là vua. Vì vua không có thể có mặt khắp nơi trên đất nước, nên vua phái các quan đi trấn nhiệm ở các trấn, phủ, huyện…, để thay mặt vua mà cai quản đất nước và huấn dụ nhân dân. Các quan là những công chức, ăn lương của triều đình, chứ các trấn, phủ, huyện không là của riêng của họ, mà của chung cả đất nước.

Vậy căn bản của chế độ Phong Kiến là chế độ Quân Chủ, nhưng nhiều chủ có đặc quyền, đặc lợi rất lớn, rồi ganh ghét nhau, đố kị nhau. Mạnh ai nấy làm, mạnh ai nấy chiếm, sinh ra chiến tranh loạn lạc khắp nơi, chỉ làm cho dân khó yên ổn làm ăn, mà phải phục dịch, đầu quân, đói khát, chết chóc. Một chế độ đáng bãi bỏ thật.

Nền Quân Chủ xưa của Việt Nam, bất kỳ dưới triều đại nào, ngay cả trong thời kỳ « Đàng Trong, Đàng Ngoài » cũng không hề có cái nạn chiếm hữu nô lệ.

Phạm Văn Bản gửi lúc 01:09, 20/08/2011 - mã số 39608

Tôi đồng ý với nội dung bài phản biện, tuy nhiên tác giả cũng có điểm mà tôi cần góp ý với cái gọi là "triều đại phong kiến Việt Nam!"

Chúng ta cần biết rằng, "phong kiến" là cái nhìn chuyên chính vô sản của người Cộng Sản khi phê bình chế độ quân chủ, với ý tưởng khinh miệt, chà đạp... Do đó, mỗi khi nhắc tới triều đại quân chủ của Tổ Tiên, chúng ta nên tránh danh từ "phong kiến," bởi vì "phong kiến" khác biệt với "quân chủ" và Định Chế Làng Nước của nền Dân Chủ Việt.

Định chế Làng Nước của Tổ Tiên Việt, dù đã trải qua những triều đại quân chủ (vua làm chủ), nhưng không phải là "phong kiến" như nhiều nền quân chủ của Trung Quốc, Nhật Bản, hay Tây phương. Chữ "Phong Kiến" xuất phát từ "phong điền kiến địa" là cắt đất phong vương như bao các lãnh chúa Tây phương hay Đông phương. Triều đại quân chủ đã có từ thời các Vua Hùng dựng nước, và lịch sử của dân tộc Việt Nam đã không có các lãnh chúa, nên không thể gọi là "phong kiến" -- ngoại trừ Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản VN tuyên truyền và đầu độc tư tưởng.

Bởi thế, để tôn kính Tổ Tiên và Dân Tộc Việt, chúng ta nên gọi là triều đại quân chủ Việt Nam. Cám ơn Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn và bạn đọc.

Trần Độ (khách viếng thăm) gửi lúc 23:30, 17/08/2011 - mã số 39428

Tôi nghĩ BS Phạm Hồng Sơn có những nhận xét rất sắc bén. Nếu nhìn vào tác phẩm "Thế nào là dân chủ" được BS Sơn dịch, tôi tin chắc BS biết làm thế nào để xây dựng một đất nước tốt hơn. Vấn đề không phải ở chỗ phải thoát Trung, mà phải xây dựng một xã hội tốt đẹp dựa trên nền tảng vững chắc. Ý tưởng thoát Trung theo tôi (giống như BS Sơn viết) cũng mang đậm tính chất cảm tính (dân tộc), thiếu một tư tưởng mạch lạc về các vấn để cốt lõi để xây dựng đất nước.

Vấn đề cốt lõi để xây dựng đất nước đó chính là thượng tôn pháp luật, không ai, không nhóm người nào có quyền nhân danh nhân dân, dân tộc để đứng trên pháp luật (như ĐCS làm). Một xã hội phải có được sự tự do lành mạnh, tự do được đảm bảo bằng pháp luật rõ ràng, minh bạch (không được mập mờ khi đe dọa "lợi dụng các quyền tự do dân chủ")...

Giả sử ý tưởng "thoát Trung" thành công. Chúng ta trở nên giàu mạnh. Thì rất có thể nó sẽ biến chúng ta thành một dân tộc hẹp hòi như chính Trung Quốc khi họ có tư tưởng phải "khác" hay "không theo" phương Tây.

Theo tôi trong thế giới ngày này, chúng ta phải có ý tưởng phải làm tốt hơn người ta đã làm thì mới thành công được. Nếu chỉ có ý tưởng là phải khác, thoát, biến tấu hay rũ bỏ, thì có lẽ chưa được.

Lila (khách viếng thăm) gửi lúc 20:10, 17/08/2011 - mã số 39408

Cái dở nhất là bài của ông Dương không nêu được giải pháp. Hô hào chung chung thì ai chả nói được. Một dân tộc không phải là một cá nhân, mà có trăm người, trăm ý, trăm kỳ vọng và động lực khác nhau. Vậy làm thế nào để hướng trăm cái kỳ vọng ấy hoặc ít ra nhiều phần của trăm cái kỳ vọng ấy vào một hướng là chuyện khó.

Có thể nhiều người lãnh đạo Đảng cũng có phe muốn thoát Trung. Nhưng họ không có cách gì dập được phe kia. Không thể đẩy lui lòng tham bằng nước bọt được.

Tôi cũng nghĩ cách tư duy của ông Dương còn rất gần với Trung hoa.

Khách JLC (khách viếng thăm) gửi lúc 16:48, 17/08/2011 - mã số 39401

Tôi đánh giá cao bài "Thoát Trung Luận" của Giáp Văn Dương vì đó là hướng đúng cho vấn đề sống còn của dân tộc ta, dù lý luận còn chưa chỉ ra gốc vấn đề.

Tôi cũng đồng ý với đa số ý phản biện của Phạm Hồng Sơn, vì dù gọi là phản biện, nhưng đó là những bổ sung rất giá trị của tác giả.

Tuy nhiên tôi thấy tiếc là tác giả Phạm Hồng Sơn đã không chỉ rõ ra nguyên nhân hay lý do tại sao hiện nay VN phải có cuộc thoát Trung triệt để có tính chất sống còn.

Vấn đề thoát Trung đối với dân tộc VN ta hiện nay cần thiết và quan trong hơn bao giờ hết trong suốt chiều dài lịch sử Đất nước, không phải chỉ vì văn hóa Trung Hoa kìm hãm từng cá nhân của nó và các dân tộc khác (vì lý do này Nhật đã làm cuộc thoát Á suốt hàng hơn trăm năm nay), mà vì nền chính trị văn hóa Trung Hoa Cộng sản đã gây bao hiểm họa cho dân Việt và đang trói buộc, đè nén, đang làm mất chủ quyền dân tộc Việt suốt hơn 60 năm nay. Vì thế, vấn đề thoát Trung của các dân tộc láng giềng với Trung quốc xưa nay, với VN trở thành Thoát Trung Cộng Sản. Mà muốn thoát Trung Cộng thì Việt Nam trước hết phải tự thoát khỏi chế độ độc tài cộng sản của chính mình đã.

Như vậy, nói đến thoát Trung cho VN là nói đến tháo bỏ chế độ cộng sản độc tài cho dân Việt, là nói đế tự do dân chủ cho Việt Nam.

JLC

Gửi phản hồi mới (xin gõ tiếng Việt có dấu và tuân thủ Nguyên tắc Dân Luận để được chấp nhận)

Bạn có thể bịa một địa chỉ email bất kỳ, ví dụ test@gmail.com. Thông tin này sẽ không xuất hiện công khai khi phản hồi được đăng.
  • Bạn có thể sử dụng các thẻ BBCode trong bài. Các địa chỉ URL sẽ được tự động chuyển thành liên kết.
  • Bạn có thể trích bài của người khác bằng thẻ [quote], ví dụ: [quote]Nội dung muốn trích dẫn[/quote]
  • Bạn có thể sử dụng những thẻ HTML sau: <a> <em> <strong> <ins> <b> <i> <u> <br> <cite> <code> <ul> <ol> <li> <dl> <dt> <dd> <h1> <h2> <h3> <h4> <h5> <table> <tbody> <td> <tr> <pre> <img> <div> <span> <object> <hr> <center> <font> <blockquote> <strike> <embed> <param> <del> <ins> <sub> <sup>
  • Bạn có thể chèn video vào bài viết bằng thẻ [video:địa_chỉ_url_của_video]
  • Cách dòng và cách đoạn sẽ được tự động chuyển thành xuống dòng.

Nhấn vào đây để biết thêm chi tiết về cách định dạng bài viết...

To prevent automated spam submissions leave this field empty.
CAPTCHA
Bạn bắt buộc phải trả lời câu hỏi kiểm tra dưới đây. Nó giúp chúng tôi nhằm lọc bỏ các nội dung spam do robot tự động thực hiện.
1 + 13 =
Giải bài toán đơn giản này và nhập kết quả vào ô phía trên. Ví dụ, nếu thấy 1+3, thì hãy nhập 4.

Suy ngẫm

Các lãnh đạo nhà nước và chính phủ vừa là thành viên trung ương đảng, thậm chí là thành viên ban bí thư, hay bộ chính trị, đồng thời lại là đại biểu quốc hội. Sự phân quyền rõ ràng giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp không được thể hiện trong cơ chế chính trị hiện tại ở VN. Có thể nói Đảng làm thay tất cả!

— Nam Nguyên

Mới Mới Mới

Thống kê truy cập

Hiện có 1 thành viên211 khách truy cập.

Thành viên online

Tâm Như

Kỷ lục: Có 4638 người ghé thăm vào 15-05-2014 lúc 09h47.

Độc giả Dân Luận từ đâu đến?

Locations of visitors to this page

Quỹ Dân Luận

Hãy bấm để ủng hộ tài chính cho Dân Luận. Thu chi quỹ Dân Luận được công bố công khai tại đây!