Nguyễn Trung - Những bài học Lịch sử chưa thuộc đắt giá

Nguyễn Trung
Chia sẻ bài viết này

"Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải.

Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp.Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta.Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn:

"Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ
khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu.
" – Lời của Vua Trần Nhân Tông (1258-1308)

Ta phải giữ gìn cho cẩn thận, đừng dể ai lấy mất 1 phân núi, 1 tấc sông do vua Thái Tổ để lại.” – Lời của Vua Lê Thánh Tông (1442-1497)

Trên đây là những lời vàng ngọc liên quan đến chủ quyền và lãnh thổ quốc gia trước mưu đồ bành trướng của người láng giềng đến từ phương Bắc của hai vị Vua nổi tiếng trong lịch sử nước nhà. Không có gì là quá đáng nếu xem đó là những bài học lịch sử đáng giá ngàn vàng trong vấn đề chủ quyền và lãnh thổ của đất nước. Tiếc thay, lịch sử luôn lặp lại với những người không thuộc lịch sử.

Và Đảng Cộng Sản Việt Nam mà người đại diện là cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng là một trong những người không thuộc những bài học lịch sử mà Tiền nhân đã để lại. Ngày 14 tháng 9 năm 1958, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký Công hàm gởi người đồng nhiệm của mình là Chu Ân Lai để ghi nhận và tán thành “tuyên bố với quốc tế về quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Hoa Lục”! Nội dung của bức Công hàm do cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký như sau.


Hình 1: Bức Công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958

Gần đây, nhiều học giả của Việt Nam đã bỏ ra nhiều thời gian và công sức để chứng minh rằng bức Công hàm trên đây của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có giá trị khi phía Trung Quốc dùng bức Công hàm trên đây như như một bằng chứng là Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa vào năm 1958. Dù chúng tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm trên đây của nhiều học giả Việt Nam trong và ngoài nước nhưng chúng tôi thấy cần phải trình bày thêm những điểm sau đây để chúng ta có thể đánh giá vấn đề này một cách thấu đáo.

Thứ nhất. Ngày 4 tháng 9 năm 1958, Chu Ân Lai, Thủ tướng nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa công khai tuyên bố với quốc tế về quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Hoa Lục, có đính kèm bản đồ về đường ranh giới lãnh hải, trong đó bao gồm quần đảo Hoàng Sa. (1)

Như vậy, rõ ràng là một điều bất cập khi cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký Công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 bởi “Thủ tướng nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa công khai tuyên bố với quốc tế về quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Hoa Lục, có đính kèm bản đồ về đường ranh giới lãnh hải, trong đó bao gồm quần đảo Hoàng Sa.” Có nghĩa là phía Trung Quốc đã có gởi hình ảnh để làm bằng chứng “đường ranh giới lãnh hải, trong đó bao gồm quần đảo Hoàng Sa” mà cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng vẫn đặt bút ký Công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 để “ghi nhận và tán thành” tuyên bố của Trung Quốc thì rõ ràng là phía Việt Nam đã tự buột dây thòng lọng vào cổ mình.

Thứ hai. Là Thủ tướng của một nước thì không thể ký Công hàm một cách giỡn chơi được. Nhất là Công hàm liên quan đến chủ quyền và lãnh hải của quốc gia cũng như đối ngoại với lân bang hay bạn bè trên thế giới. Có phải là lố bịch hay không khi mà đảng cầm quyền vẫn tồn tại, thể chế lãnh đạo vẫn tồn tại nhưng lại cho rằng Công hàm ngoại giao của người tiền nhiệm không có giá trị pháp lý. Nói như vậy thì có khác nào tự vả vào mặt mình???

Thứ ba. Ngày 19 tháng 1 năm 1974, Trung Quốc đã đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa từ trong tay của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Khi đó, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng vẫn đang làm Thủ tướng có gởi Công hàm để phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền và lãnh hải của Việt Nam hay không? Nếu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có gởi Công hàm để phản đối hành động xâm lược này của Trung Quốc thì đương nhiên quần đảo Hoàng Sa trực thuộc chủ quyền của Việt Nam. Còn nếu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có phản đối hành động xâm lược này của Trung Quốc thì đã đồng nghĩa rằng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không coi trọng chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa.

Thứ tư. Đảng Cộng Sản là đảng cầm quyền mà thông qua cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký Công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 và đảng cầm quyền hiện nay tại Việt Nam vẫn là một đảng Cộng Sản. Tính đến nay là đã có 6 người giữ chức Thủ tướng sau cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Như vậy, đã có vị Thủ tướng nào của Việt Nam đã lên tiếng nói rằng Công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 được ký bởi cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có giá trị pháp lý hay chưa? Nếu chưa có vị nào đưa ra tuyên bố này thì hiển nhiên là Công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 được ký bởi cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng vẫn còn có giá trị.

Có lẽ bài học lịch sử “Công hàm 1958” là một bài học đắt giá mà lãnh đạo đảng CSVN phải ghi nhớ và nằm lòng để lấy đó làm kim chỉ nam trong quan hệ đối ngoại với Trung Quốc. Ngoài ra, cũng cần kể thêm bài học “mối nối đường xe lửa” của Trung Quốc để thấy rõ âm mưu bành trướng để lấn đất, cướp đất của Việt Nam chúng ta. Thế nhưng, lãnh đạo của đảng CSVN không bao giờ ghi nhớ những bài học xương máu. Để rồi Việt Nam lại mắc mưu thâm độc của Trung Quốc và lịch sử lại tiếp tục lặp lại.

... Những biến động lớn trong tình hình thế giới bên ngoài lúc này đã tác động mạnh mẽ tới suy nghĩ của lãnh đạo ta về phương hướng chiến lược đối ngoại. Cuộc khủng hoảng chính trị tại nhiều nước theo chế độ XHCN đã bùng nổ từ năm 1989 và đang có chiều hướng lan rộng ra. Tháng 6.89 xảy ra vụ Thiên An Môn ở Trung Quốc. Cũng trong năm 1989, chế độ XHCN ở các nước Đông Âu như CHDC Đức, Ba Lan, Rumani, Hung, Tiệp, Ba Lan đều đã sụp đổ. Đầu tháng 10.89, TBT Nguyễn Văn Linh đi dự kỷ niệm 40 năm Quốc khánh CHDC Đức, khi về đến Hà Nội thì bức tường Berlin đổ, Honecker bị lật. Lãnh tụ Rumani Ceaucescu, người mà khi ở Berlin anh Linh xem ra tâm đầu ý hợp trong việc bàn chuyện tâm huyết cữu vãn sự nghiệp XHCN thế giới đang lâm nguy, vừa chân ướt chân ráo về đến Bucarest thì bị truy bắt. Với “tư duy mới” của Gorbachov, tình hình Liên Xô ngày càng trở nên lộn xộn.

Các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Anh, Đào Duy Tùng, Đồng Sĩ Nguyên còn nhấn vào âm mưu của đế quốc Mỹ sau cuộc khủng hoảng chính trị ở Đông Âu. TBT có ý kiến: “Việt Nam và Trung Quốc là hai nước XHCN cùng chống âm mưu đế quốc xoá bỏ CNXH, phải cùng chống đế quốc. Trước hết phải phát triển quan hệ giữa 2 nước. Các vấn đề khác giải quyết sau… một Campuchia thân thiện với Trung quốc, thân thiện với Việt Nam là tốt nhất. Trên cơ sở điểm đồng này mà giải quyết vấn đề Campuchia có lợi cho Campuchia… Phương án 4 là tốt. Không để LHQ nhúng tay vào vì LHQ là Mỹ, Thái lan là Mỹ” … (Hồi ký Trần Quang Cơ, Chương 9)

Khi những quốc ở Đông Âu từ bỏ con đường XHCN trong những năm cuối của thập niên 80 của thế kỷ trước, Việt Nam đã có một cơ hội ngàn vàng để thoát khỏi vũng lầy lạc hậu và đói nghèo. Thế nhưng, lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam giai đoạn đó đã bỏ qua cơ hội ngàn vàng này để đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo đói và lạc hậu. Không những vậy, Bộ Chính Trị đã chọn con đường chống đế quốc bằng cách bắt tay với Trung Quốc để tiếp tục con đường xây dựng XHCN.

Hôm nay, sau hơn 20 năm kiên định đi theo con đường XHCN và đã có 4 người đảm nhiệm chức vụ Tổng Bí Thư kể từ thời TBT Nguyễn Văn Linh. Nhưng cho đến ngay lúc này, ông tân TBT Nguyễn Phú Trọng – một nhà lý luận (suông?) xuất sắc của đảng CSVN hiện nay vẫn không thể trả lời cho hơn 85 triệu người Việt Nam biết rằng, không thể nói rõ rằng Việt Nam hiện đang ở đâu trên nấc thang dẫn đến thiên đường bánh vẽ XHCN.

Hôm nay, sau hơn 20 năm kiên định đi theo con đường kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vẫn phụ thuộc vào xuất khẩu thủy hải sản, xuất khẩu lúa gạo, và xuất khẩu tài nguyên thô là chính. Hôm nay, sau hơn 20 năm kiên định đi theo con đường XHCN. Nền giáo dục nước nhà đã đi “đúng hướng” với những chỉ tiêu như học sinh cấp trung học thi đậu tốt nghiệp từ 98% đến 100%. Lãnh đạo của Bộ Giáo dục có thể tự hào vì Việt Nam đã có những trường đại học được xếp thứ hạng cao trong một trang mạng “vui là chính” nào đó. Thế nhưng, Việt Nam luôn thiếu nguốn nhân lực đảm trách các ngành sản xuất chế tạo công nghiệp cao mà những công ty kỹ thuật hàng đầu như Intel tìm kiếm.

Hôm nay, sau hơn 20 năm kiên định đi theo con đường XHCN. Việt Nam đã có những công trình hạ tầng cơ sở hoành tráng và hiện đại. Thế nhưng, những công trình hoàng tráng và hiện đại này có thể bị sụt lún hay xuống cấp trầm trọng trước khi được đưa vào sử dụng bởi do thời tiết. Hoặc là những công trình hoàng tráng có thể trở thành sông sau một cơn mưa lớn.(2)

image003.png

Hình 2: Đại lộ Thăng Long thành sông sau cơn mưa lớn

Hôm nay, sau hơn 20 năm kiên định đi theo con đường XHCN. Giai cấp công nhân – giai cấp tiên phong của chế độ được làm việc trong những điều kiện tồi tệ và bị bót lột đến tận xương tủy. Những người công nhân – giai cấp tiên phong của chế độ được sống và làm việc trong những môi trường không khác gì những giai cấp công nhân Âu Mỹ đã từng trải qua trong khoảng thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.

Hôm nay, sau hơn 20 năm kiên định đi theo con đường XHCN. Việt Nam đã nhận được rất nhiều hỗ trợ từ các quốc gia tiên tiến Âu Mỹ để xây dựng hệ thống Tư pháp được tốt hơn. Thế nhưng, thế giới biết đến Việt Nam không phải vì Việt Nam có một nền Tư pháp văn minh hiện đại mà thế giới biết đến Việt Nam qua những phiên tòa “bịt miệng” cũng như phiên tòa bắt đầu bằng “2 bao cao su”.

Hôm nay, sau hơn 20 năm kiên định đi theo con đường XHCN. Sân golf mọc lên khắp nơi để phục vụ những người lắm tiền nhiều của. Bên cạnh đó là người dân bị đẩy vào con đường cùng bởi mất ruộng, mất đất để làm kế sinh nhai. Chúng ta có thể thấy những khu biệt thự triệu đô bị bỏ hoang nhưng cũng không thiếu cảnh người dân không có mảnh đất cắm dùi.(3)

image005.png

Hình 3: Những biệt thự triệu đô bị bỏ hoang

Hôm nay, sau hơn 20 năm kiên định đi theo con đường XHCN. Tuy giới lãnh đạo của Việt Nam không thể cho hơn 85 triệu người dân biết được Việt Nam đang ở đâu trên con đường tiến lên XHCN nhưng hơn 85 triệu người Việt hiện nay có thể biết được, thấy được xã hội Việt Nam ngày nay đang đầy rẫy những bất ổn bởi sự quản lý yếu kém, tham nhũng, và tất nhiên là không thể không kể đến “một bầy sâu” như lời của ông Bí thư Thường trực Trương Tấn Sang đã nói cách đây không lâu.

Và tệ hại hơn, việc bắt tay với Trung Quốc để tiếp tục con đường xây dựng XHCN vào năm 1990 đã khiến Việt Nam lún sâu vào những cạm bẫy của Trung Quốc. Chúng tôi sẽ trình bày những vấn đề này trong bài kỳ sau với tựa đề “Tư duy và chiến lược Đà điểu”. Kính mời quý độc giả đón đọc kỳ tới.

N.T.
(Không phải Nguyễn Trung tác giả “Thời cơ vàng”)

(1) http://www.thuvienphapluat.vn/Default.aspx?CT=NW&NID=5586

(2) http://www.dothi.net/news/tin-tuc/doi-song-do-thi/2011/06/3b9b029a/

(3) http://phapluattp.vn/2011021310440350p0c1085/bo-hoang-biet-thu-trieu-do.htm

Admin gửi hôm Thứ Bảy, 02/07/2011
Bạn đánh giá bài viết này thế nào?
Cô bé bán diêm

Huỳnh Thục Vy - Bàn về Đạo đức thay lời chúc mừng Giáng sinh

Nguyễn Thanh Giang - Trông mong gì được!

Linh Hoang Vu - Ai bịt mắt những con ngựa?

Song Chi - Ổn định chính trị hay ổn định thật sự cho nhân dân

Thư gửi Tổng thống Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ Barack Obama của thân phụ ông Trần Huỳnh Duy Thức


Khách Qua Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 14:19, 04/07/2011 - mã số 36717

Bạn Visitor mến,

Theo một số tài liệu tôi đã đọc được, thí dụ như trong bài Hội nghị San Francisco với vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Phạm Ngọc Bảo Liêm (http://vanhoanghean.vn/van-hoa-va-doi-song/cuoc-song-quanh-ta/877-hoi-nghi-san-francisco-voi-van-de-chu-quyen-cua-viet-nam-doi-voi-quan-dao-hoang-sa-va-truong-sa.html) thì Thủ tướng Trần Văn Hữu phát biểu bằng tiếng Pháp (có ghi lại trong biên bản của Hòa Hội San Francisco, in trên Tạp chí France – Asia, số 66-67, tháng 11-12-1951, tr.505) – dẫn theo tác giả Trần Đăng Đại trong bài “Các văn kiện chính thức xác nhận chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thời Pháp thuộc tới nay, Tập san Sử Địa – số 29, tháng 1-3-1975, Sài Gòn, tr.284.

Nguyên văn tiếng Pháp như sau: “Et comme il faut franchement profiter de toutes occasions pour estouffer les germes de discorde, nous affirmons nos droits sur iles Spratly et Paracels qui de tout temps ont fait partie du Viet-Nam”.

(nghĩa là : Và cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa)

Trong bài Vietnam has uncontroversial sovereignty of Hoang Sa Archipelagocủa tác giả Thuy Xuan trên VietNamNet (http://english.vietnamnet.vn/en/special-report/5504/vietnam-has-uncontroversial-sovereignty-of-hoang-sa-archipelago.html ) cũng có đoạn như sau:

“On September 7 1951, the head of Bao Dai Government’s mission, Tran Van Huu, stated at San Francisco conference on signing a peace treaty with Japan that Hoang Sa and Truong Sa had been parts of Vietnam’s territory for a very long time. The statement was not protested by any of 51 countries participating in the conference.”

Ngoài ra trong các cuốn bạch thư của VNCH (tiếng Anh) và của CHXHCN VN bằng tiếng Anh(công bố vào thời ông Lê Duẩn) cũng đều có đề cập đến lời tuyên bố của Thủ tướng Trần Văn Hữu tại Hòa Hội San Francisco về chủ quyền của VN trên HS và TS.

visitor (khách viếng thăm) gửi lúc 10:10, 04/07/2011 - mã số 36708
Khách Qua Đường viết:
visitor viết:
Vấn đề là TQ nói rằng cho đến năm 1970, VN (cả VNCH và VNDCCH) chưa bao giờ tuyên bố chính thức HS và TS là của mình. VNCH tiếp nhận và quản lí QĐ HS và TS từ Pháp nhưng chưa bao giờ tuyên bố chính thức chủ quyền của mình đối với 2 quần đảo này. Họ chỉ công khai phản đối TQ và chính thức tuyên bố chủ quyền khi bị mất HS năm 1974 mà thôi. Thế nên tôi nghĩ cần thôi chuyện bới lông tìm vết. Thay cho việc đó hãy cố gắng tìm mọi dẫn chứng pháp lí cần thiết chứng minh HS-TS là thuộc chủ quyền của VN để trình lên LHQ cho rõ mười mươi. Đó mới là thượng sách.

Tôi nghĩ bạn Visitor nói không đúng vì vào năm 1951 tại Hòa Hội Cựu Kim Sơn, Thủ tướng Trần Văn Hữu, đại diện Chính phủ Quốc Gia VN (của Cụu Hoàng Bảo Đại), tiền thân của Chính phủ VNCH, đã long trọng tuyên bố chủ quyền của VN trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như sau: "Việt Nam rất là hứng khởi ký nhận trước nhất cho công cuộc tạo dựng hòa bình này. Và cũng vì vậy cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm móng các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa" (xin xem http://hoa-hao.com/kktd/ban_nuoc/tl_biengioi01.html target=new >Tuyên Bố Của Thủ Tướng Trần Văn Hữu Ở Hòa Hội 1951).

Cả 51 nước tham dự Hòa Hội San Francisco (Cựu Kim Sơn) này không có ai phản đối tuyên bố chủ quyền trên HS, TS của VN nói trên của Thủ tướng Trần Văn Hữu.

Việc truy tầm trách nhiệm gây ra đại họa mất biển đảo cho Tổ quốc do Công hàm Phạm Văn Đồng, theo tôi, không những hiện nay ta cần phải tìm hiểu cặn kẽ và phân tích rạch ròi, mà trong tương lai, lịch sử VN cũng sẽ không ngừng phê phán và chê trách hành động này của ông Hồ Chí Minh và ĐCSVN.

Chuyện này hoàn toàn độc lập với chuyện tìm phương sách thích hợp để thoát khỏi thế bí bị mất HS, TS và Biển Đông vào tay TQ (chẳng hạn như tuyên bố PHỦ NHẬN Công hàm PVĐ hoặc, tốt hơn nữa,toàn dân VN đồng lòng đứng lên loại bỏ Chính thể CHXHCN VN hiện nay để thay bằng một Chính thể mới, tuyên bố là kế thừa của Chính thể Quốc Gia VN và Chính thể VNCH).

Link trên đây chỉ là một bản lược dịch. Nếu có thể, xin bạn cung cấp đường link tới bản gốc phát biểu của Thủ tướng Trần Văn Hữu. Cám ơn trước.

Khách Qua Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 13:23, 03/07/2011 - mã số 36660
visitor viết:
Vấn đề là TQ nói rằng cho đến năm 1970, VN (cả VNCH và VNDCCH) chưa bao giờ tuyên bố chính thức HS và TS là của mình. VNCH tiếp nhận và quản lí QĐ HS và TS từ Pháp nhưng chưa bao giờ tuyên bố chính thức chủ quyền của mình đối với 2 quần đảo này. Họ chỉ công khai phản đối TQ và chính thức tuyên bố chủ quyền khi bị mất HS năm 1974 mà thôi. Thế nên tôi nghĩ cần thôi chuyện bới lông tìm vết. Thay cho việc đó hãy cố gắng tìm mọi dẫn chứng pháp lí cần thiết chứng minh HS-TS là thuộc chủ quyền của VN để trình lên LHQ cho rõ mười mươi. Đó mới là thượng sách.

Tôi nghĩ bạn Visitor nói không đúng vì vào năm 1951 tại Hòa Hội Cựu Kim Sơn, Thủ tướng Trần Văn Hữu, đại diện Chính phủ Quốc Gia VN (của Cụu Hoàng Bảo Đại), tiền thân của Chính phủ VNCH, đã long trọng tuyên bố chủ quyền của VN trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như sau: "Việt Nam rất là hứng khởi ký nhận trước nhất cho công cuộc tạo dựng hòa bình này. Và cũng vì vậy cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm móng các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa" (xin xem http://hoa-hao.com/kktd/ban_nuoc/tl_biengioi01.html target=new >Tuyên Bố Của Thủ Tướng Trần Văn Hữu Ở Hòa Hội 1951).

Cả 51 nước tham dự Hòa Hội San Francisco (Cựu Kim Sơn) này không có ai phản đối tuyên bố chủ quyền trên HS, TS của VN nói trên của Thủ tướng Trần Văn Hữu.

Việc truy tầm trách nhiệm gây ra đại họa mất biển đảo cho Tổ quốc do Công hàm Phạm Văn Đồng, theo tôi, không những hiện nay ta cần phải tìm hiểu cặn kẽ và phân tích rạch ròi, mà trong tương lai, lịch sử VN cũng sẽ không ngừng phê phán và chê trách hành động này của ông Hồ Chí Minh và ĐCSVN.

Chuyện này hoàn toàn độc lập với chuyện tìm phương sách thích hợp để thoát khỏi thế bí bị mất HS, TS và Biển Đông vào tay TQ (chẳng hạn như tuyên bố PHỦ NHẬN Công hàm PVĐ hoặc, tốt hơn nữa,toàn dân VN đồng lòng đứng lên loại bỏ Chính thể CHXHCN VN hiện nay để thay bằng một Chính thể mới, tuyên bố là kế thừa của Chính thể Quốc Gia VN và Chính thể VNCH).

visitor (khách viếng thăm) gửi lúc 12:15, 03/07/2011 - mã số 36653

Vấn đề là TQ nói rằng cho đến năm 1970, VN (cả VNCH và VNDCCH) chưa bao giờ tuyên bố chính thức HS và TS là của mình. VNCH tiếp nhận và quản lí QĐ HS và TS từ Pháp nhưng chưa bao giờ tuyên bố chính thức chủ quyền của mình đối với 2 quần đảo này. Họ chỉ công khai phản đối TQ và chính thức tuyên bố chủ quyền khi bị mất HS năm 1974 mà thôi. Thế nên tôi nghĩ cần thôi chuyện bới lông tìm vết. Thay cho việc đó hãy cố gắng tìm mọi dẫn chứng pháp lí cần thiết chứng minh HS-TS là thuộc chủ quyền của VN để trình lên LHQ cho rõ mười mươi. Đó mới là thượng sách.

Khách Qua Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 03:33, 03/07/2011 - mã số 36638
Khách Qua Đường viết:
Món nợ của Việt Nam

Về pháp lý, chúng ta có thể coi lời tuyên bố của Thủ Tướng Đồng là không có giá trị vì lúc đó Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về VNCH. Hơn nữa, theo hiến pháp 1956, mọi quyết định liên quan đến lãnh thổ đều phải có sự phê chuẩn của quốc hội, công hàm của Thủ Tướng Đồng không hội đủ điều kiện đó.

Nhưng về phương diện khác, có thể coi công hàm của Thủ Tướng Đồng như một lời hứa bán. Lúc đó, nguyên tắc “Promesse de vente vaut vente” được áp dụng, tức hứa bán có giá trị như bán, khi hai điều kiện sau đây hội đủ: (1) Vật hứa bán đã được xác định, đó là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. (2) Giá bán cũng đã được thỏa thuận, đó là Trung Quốc viện trợ cho Hà Nội đủ phương tiện để đánh chiếm miền Nam. Do đó, Trung Quốc có thể bắt Hà Nội phải giao nạp Hoàng Sa và Trường Sa sau khi chiếm miền Nam.

Hoa Kỳ và các cường quốc Tây phương chỉ can thiệp khi nào Trung Quốc nhất quyết dùng chế độ “quyền sở hữu lịch sử” (historic title) để chiếm Biển Đông, phương hại đến hải lộ quốc tế. Hoa Kỳ sẽ không can thiệp vào sự tranh chấp về "quyền sở hữu chấp hữu” (possessory title) các đảo trên Biển Đông. Vậy Hà Nội chỉ còn có thể trông chờ vào “Quy Tắc Ứng Xử ở Biển Đông” mà ASEAN chờ thông qua. Biểu tình, tuyên ngôn, tuyên cáo, kháng thư, hịch tướng sĩ... chẳng có ảnh hưởng gì.

Lữ Giang

Theo ngu ý, tác giả Lữ Giang đã KHÔNG ĐÚNG khi tuyên bố rằng "Vậy Hà Nội chỉ còn có thể trông chờ vào “Quy Tắc Ứng Xử ở Biển Đông” mà ASEAN chờ thông qua. Biểu tình, tuyên ngôn, tuyên cáo, kháng thư, hịch tướng sĩ... chẳng có ảnh hưởng gì". Cái SAI ở đây là ông Lữ Giang đã không phân biệt cuộc tranh chấp giữa BIỂN và ĐẢO là hai vấn đề (tuy liên quan chặt chẽ với nhau) nhưng lại KHÁC NHAU. Công hàm Phạm Văn Đồng 14/9/1958, như ông Lữ Giang nói, là một lời hứa bán Hoàng Sa và Trường Sa cho TQ. Chính nhờ vào lời hứa bán (hay sự bán đứt HS và TS qua môt mật ước ký kết giữa Ông Hồ và ông Mao chẳng hạn) này mà TQ có thể lý luận về chủ quyền của họ trên vùng biển bao bọc hai quần đảo HS, TS, một vùng biển rộng mênh mông mà TQ vẽ trong bản đồ hình Lưỡi Bò của họ. Nếu TQ không làm chủ được HS và TS (vì hai quần đảo này là của VN) thì họ hoàn toàn không có quyền xí phần vào Biển Đông. Cho dù TQ có đưa lý luận về “quyền sở hữu lịch sử” (historic title)ra thì, trước bằng chứng VN đã sở hữu Hoàng Sa và Trường Sa (giả sử không có Công hàm PVĐ bán, hay hứa bán cho TQ) thì lý lẽ này có thể bị thế giới hoàn toàn bác bỏ dựa vào các tài liệu lịch sử của VN. Và, như thế, Hoa Kỳ hay các cường quốc phương Tây sẽ không cần phải can thiệp vào vấn đề này, bởi vì phía VN chắc chắn không bao giờ tuyên bố chủ quyền trên 80 phần trăm Biển Đông như TQ.

Khách Qua Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 03:00, 03/07/2011 - mã số 36634

Món nợ của Việt Nam

(Trích bài “Vấn đề ngày càng sáng tỏ http://www.ethongluan.org/index.php?option=com_content&view=article&id=287:vn--ngay-cang-sang-t-l-giang của tác giả” Lữ Giang)

Trong cuộc hội thảo tại Washington, ông Tô Hảo, học giả của Trung Quốc, đã nói rằng “trong hệ thống luật quốc tế có một nguyên tắc là nếu một nước đã có tuyên bố về chủ quyền và một số nước đã chấp nhận tuyên bố này. Tuy nhiên rất tiếc là hiện có một số nước đã thay đổi quan điểm của mình”.

Lời tuyên bố này đặc biệt ám chỉ Việt Nam.

Năm 1958, một bản hoà tấu đã được thực hiện: Ngày 4.9.1958, Bắc Kinh chính thức tuyên bố hải phận của họ bao gồm 12 hải lý từ bất kỳ mốc lãnh thổ nào của Trung Quốc, trong đó tính gồm cả các đảo Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa và các đảo khác thuộc về Trung Quốc. Hà Nội hợp tấu ngay: Ngày 14.9.1958, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng gởi công hàm công nhận tuyên bố nói trên của Bắc Kinh.

Về pháp lý, chúng ta có thể coi lời tuyên bố của Thủ Tướng Đồng là không có giá trị vì lúc đó Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về VNCH. Hơn nữa, theo hiến pháp 1956, mọi quyết định liên quan đến lãnh thổ đều phải có sự phê chuẩn của quốc hội, công hàm của Thủ Tướng Đồng không hội đủ điều kiện đó.

Nhưng về phương diện khác, có thể coi công hàm của Thủ Tướng Đồng như một lời hứa bán. Lúc đó, nguyên tắc “Promesse de vente vaut vente” được áp dụng, tức hứa bán có giá trị như bán, khi hai điều kiện sau đây hội đủ: (1) Vật hứa bán đã được xác định, đó là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. (2) Giá bán cũng đã được thỏa thuận, đó là Trung Quốc viện trợ cho Hà Nội đủ phương tiện để đánh chiếm miền Nam. Do đó, Trung Quốc có thể bắt Hà Nội phải giao nạp Hoàng Sa và Trường Sa sau khi chiếm miền Nam.
Hoa Kỳ và các cường quốc Tây phương chỉ can thiệp khi nào Trung Quốc nhất quyết dùng chế độ “quyền sở hữu lịch sử” (historic title) để chiếm Biển Đông, phương hại đến hải lộ quốc tế. Hoa Kỳ sẽ không can thiệp vào sự tranh chấp về "quyền sở hữu chấp hữu” (possessory title) các đảo trên Biển Đông. Vậy Hà Nội chỉ còn có thể trông chờ vào “Quy Tắc Ứng Xử ở Biển Đông” mà ASEAN chờ thông qua. Biểu tình, tuyên ngôn, tuyên cáo, kháng thư, hịch tướng sĩ... chẳng có ảnh hưởng gì.

Lữ Giang

Khách Qua Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 01:41, 03/07/2011 - mã số 36630

Kính mời quý vị đọc thêm bài sau đây :

http://ubhoangsa.org/doc_public/hai-chien_hs.htm > HẢI QUÂN VIỆT NAM ANH DŨNG CHỐNG QUÂN XÂM LĂNG TRUNG CỘNG TẠI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA (Trích từ tài liệu "THẾ GIỚI LÊN ÁN TRUNG CỘNG XÂM LĂNG HOÀNG SA CỦA VNCH" do cục Tâm Lý Chiến- Tổng Cục CTCT- Quân Lực VNCH ấn hành vào năm 1974 (bản song ngữ Việt Anh)

Admin gửi lúc 22:02, 02/07/2011 - mã số 36615

Gặp những người chiến đấu bảo vệ Hoàng Sa năm 1974

Cập nhật lúc :8:53 AM, 28/06/2011

"58 người con nước Việt đã ngã xuống biển sâu trong trận chiến này vì đã chiến đấu đến cùng để bảo vệ vùng biên cương của Tổ quốc Việt Nam”, ông Tư Hà xúc động.

Gặp lại những nhân chứng sống trực tiếp tham gia trận hải chiến bảo vệ Hoàng Sa ngày 19/1/1974, có thể cảm nhận cảm xúc đặc biệt mà những người Việt đã phải trải qua khi chứng kiến biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc bị xâm chiếm bằng vũ lực.


Đại diện Báo Đại đoàn kết trao đổi với các nhân chứng của trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974 - Ông Nguyễn Văn Chọn, thủy thủ tuần dương hạm HQ-6 (trái); Ông Tư Hà, thủy thủ tuần dương hạm Nhật Tảo - HQ-10 (giữa)

Chiến đấu tới hơi thở cuối cùng

Giai đoạn 1973 – 1974, khi Quân đội Hoa Kỳ rút khỏi miền Nam Việt Nam theo Hiệp định Paris đã được ký kết, việc quản lý quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được trở thành việc riêng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Đặc biệt, cùng với rút quân trên bộ, Đệ nhất Hạm đội Hoa Kỳ cũng được lệnh rút hỏi khu vực Biển Đông.

Mỹ rút, đồng nghĩa với việc viện trợ quân sự của Mỹ ngày càng giảm buộc chính quyền Việt Nam Cộng hòa phải chuyển dần các lực lượng hải quân đang chiếm giữ tại quần đảo Hoàng Sa về hỗ trợ cuộc chiến trên đất liền, chỉ để lại một trung đội địa phương trấn giữ. Ngay sau đó, Trung Quốc tiến hành liên tiếp các cuộc đổ bộ xâm chiếm các đảo đá và bãi ngầm trên quần đảo Hoàng Sa, cho đến khi Hải quân Việt Nam Cộng hòa phát hiện được vào tháng 1/1974 và xảy ra trận thủy chiến để bảo vệ Hoàng Sa.

Ông Trần Văn Hà (tên thường gọi Tư Hà, 58 tuổi, hiện cư ngụ tại xã Phong Thạnh Đông A, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu), thủy thủ tàu Nhật Tảo (HQ - 10), một trong 4 chiến hạm của Việt Nam Cộng hòa tham gia vào trận chiến kể lại: "Chiều 18/1, khi đang tuần tra ở vùng biển Đà Nẵng – Quy Nhơn, tàu chúng tôi bất ngờ nhận được lệnh đi Hoàng Sa. Không khí của các thủy thủ tàu lúc đó đều hết sức căng thẳng, nhưng tất cả đều sẵn sàng chiến đấu vì chủ quyền thiêng liêng của cha ông để lại. Cũng ngay chiều cùng ngày chúng tôi được học các ký hiệu nhận dạng tàu địch để sẵn sàng chiến đấu”.

Theo ông Hà bồi hồi nhớ lại, cùng với tàu HQ-10, còn có 3 tàu khác của Việt Nam Cộng hòa tham gia trận chiến là tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16), tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5) và khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4). "Sáng 19/1, khi tàu Nhật Tảo tới đúng tọa độ vị trí tập trung thì đã thấy 3 tàu bạn có mặt, nhưng cách khu vực tập hợp vài hải lý còn có thêm 4 tàu Trung Quốc cùng xuất hiện. Linh tính tôi mách bảo chắc chắn sắp xảy ra giao tranh giữa hai phía”.

Tiếp đó, các tàu Việt Nam liên tục phát tín hiệu hàng hải yêu cầu tàu Trung Quốc di chuyển ra khỏi khu vực chủ quyền của Việt Nam. Tuy nhiên, phía tàu Trung Quốc cũng phản ứng lại tương tự. Tới 10h30 cùng ngày, khi Trung Quốc tiếp tục bất hợp tác, có dấu hiệu cố tình gây sự, dùng bạo lực tấn công xâm chiếm biển đảo thuộc chủ quyền Việt Nam thì không còn cách nào khác, tàu Nhật Tảo được lệnh khai hỏa.

Ngay sau đó, liên tục các tiếng nổ lớn dồn dập oang trời từ cả hai phía. Riêng tàu HQ-10 bị hỏa lực của địch bắn dữ dội; thông tin cháy ở các buồng máy 1, sau đó là buồng máy số 2 được truyền đi liên tục qua bộ đàm. "Bộ phận thủy thủ cơ khí chúng tôi được lệnh lên boong tàu hỗ trợ lực lượng trực chiến lúc này đã bị chết phần nửa. Xác chết đầy trên boong; tàu bị hư hỏng nặng và bốc cháy nhiều vị trí. Ngay cả hạm trưởng Ngụy Văn Thà cũng bị chết do đài chỉ huy bị hỏa lực địch bắn trúng”. Ông Hà nhớ như in: "Khi tàu đã mất khả năng khiển dụng, HQ-10 phát tín hiệu cầu cứu sang các tàu bạn, tuy nhiên lúc này cả HQ-4 và HQ-5 đã rời đi, còn tàu HQ-16 tuy chưa rút kịp nhưng cũng bị hư hỏng nặng, khó có thể tương trợ HQ-10. Ngay trong khoảnh khắc đó, chúng tôi nghe lệnh mới từ Bộ Chỉ huy yêu cầu thủy thủ tàu đào thoát xuống các bè lưới trôi trên biển”.

Ông Trần Văn Hà, một trong những thủy thủ thoát khỏi tàu sau cùng và nằm lênh đênh trên biển trong khu vực xảy ra trận chiến nên đã chứng kiến và kể lại: "dù bị hư hỏng nặng, phần nửa thủy thủ tàu đã chết, tuy nhiên những thủy thủ bị thương không còn khả năng đào thoát vẫn tiếp tục bám giữ vị trí chiến đấu. Các khẩu pháo 40 ly từ HQ-10 vẫn nổ giòn giã vào tàu Trung Quốc khiến các tàu này phải vất vả chống trả. Cuộc đấu súng cứ thế kéo dài tới chiều tối mới kết thúc khi hỏa lực từ tàu HQ-10 ngừng hẳn và chìm xuống biển sâu”.

"Có lẽ đến lúc đó những thủy thủ còn lại trên tàu đã kiệt sức hoặc bị trúng đạn. Họ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để hơn 20 đồng đội đào thoát thành công trên các bè lưới. 58 người con nước Việt đã ngã xuống biển sâu trong trận chiến này vì đã chiến đấu đến cùng để bảo vệ vùng biên cương của Tổ quốc Việt Nam”, ông Tư Hà xúc động.

"Cảm nhận chủ quyền dân tộc nơi đảo xa”

Ông Nguyễn Văn Chọn (61 tuổi, hiện ngụ tại xã Phú Nghĩa Trị, huyện Châu Thành, tỉnh Long An), thủy thủ tuần dương hạm HQ-6 kể lại: "Sáng ngày 19-1, tàu HQ-6 được lệnh tức tốc ra Hoàng Sa hỗ trợ trận chiến. Tuy nhiên, do xuất phát chậm, HQ-6 đã không thể tới kịp hỗ trợ đồng đội, cùng lúc đó thì tin hộ tống hạm Nhật Tảo bị nạn khiến chúng tôi hết sức lo lắng về số phận của anh em thủy thủ tàu. Thật may, 4 ngày sau tin anh Tư Hà (tên thường gọi của ông Trần Văn Hà-NV) cùng 19 thủy thủ khác được tàu Hà Lan cứu sống đã phần nào khiến chúng tôi nguôi ngoai. Sau đó hầu hết chúng tôi được phân công nhiệm vụ khác”.

Từng nhiều lần tuần tra trên quần đảo Hoàng Sa, ông Chọn cho biết: "trong giai đoạn từ năm 1971 – 1973, tuần dương hạm HQ-6 từng nhiều lần được lệnh tuần tra khu vực quần đảo Hoàng Sa. Trong những lần ấy, tôi từng trực tiếp phát hiện các bia chủ quyền có khắc ngự bút của vua Minh Mạng, ngoài ra có một đảo tương đối lớn (không nhớ tên) còn có cả Đài Khí tượng do Pháp dựng từ các thập kỷ trước đó”.

Về sau này, trong các tài liệu còn lưu giữ lại xác nhận Đài Khí tượng trên quần đảo Hoàng Sa là do Pháp xây, trực thuộc Ty khí tượng Đà Nẵng và được bảo vệ bởi một đơn vị hải quân của Chính quyền Sài Gòn cũ. Điều này cho thấy hồi ức của ông Chọn là có cơ sở, hơn nữa cũng phù hợp với các thư tịch từ thời Nhà Nguyễn đã xác định.

"Cuộc chiến đã lùi xa hơn 38 năm, dù không thể giữ được mảnh đất thiêng liêng của ông cha nhưng chúng tôi luôn nhận thức nơi biên cương ấy vẫn là vùng biển đảo chủ quyền của dân tộc Việt Nam; là máu, là nước mắt mà biết bao con người Việt Nam đã hi sinh để bảo vệ”, ông Chọn tâm sự.

Nguồn: http://baodatviet.vn/Home/chinhtrixahoi/Gap-nhung-nguoi-chien-dau-bao-ve-Hoang-Sa-nam-1974/20116/152144.datviet

Chịu trách nhiệm chính phải là Hồ Chí Minh (khách viếng thăm) gửi lúc 18:17, 02/07/2011 - mã số 36604
Khách Qua Đường viết:
“Đàng Cộng Sản là đảng cầm quyền mà thông qua cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký Công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 và đảng cầm quyền hiện nay tại Việt Nam vẫn là một đảng Cộng Sản. Tính đến nay là đã có 6 người giữ chức Thủ tướng sau cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Như vậy, đã có vị Thủ tướng nào của Việt Nam đã lên tiếng nói rằng Công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 được ký bởi cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có giá trị pháp lý hay chưa? Nếu chưa có vị nào đưa ra tuyên bố này thì hiển nhiên là Công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 được ký bởi cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng vẫn còn có giá trị.” (trích lời tác giả Nguyễn Trung)

Đúng thế. Tại sao đảng CSVN và Nhà Nước CHXHCN VN không chính thức lên tiếng PHỦ NHẬN cái Công hàm đại họa này ?
...

Đảng CSVN và Nhà Nước CHXHCN VN không thể chính thức lên tiếng PHỦ NHẬN cái Công hàm đại họa vì há miệng mắc quai. Và cũng không chịu chính thức công nhận VNCH lúc đó đang cai quản Hoàng Sa.

Hồ Chí Minh là chủ tịch nước và chủ tịch đảng. Qua đoạn video Pháp, phỏng vấn Hồ Chí Minh trong những năm 1964, cho thấy Hồ Chí Minh không phải là loại bị đàn em bịt mắt qua mặt và Hồ Chí Minh cũng thừa nhận là đang nhận viện trợ rất lớn của các nước anh em XHCN tức có TQ.
Phạm Văn Đồng không phải là kẻ thủ đoạn bằng Lê Duẩn, Lê Đức Thọ. Hơn nữa đây là việc liên quan đến TQ mà Hồ Chí Minh có quan hệ rất sâu xa với TQ với tin cho rằng vợ không chính thức của Hồ Chí Minh là người TQ. Qua những sự việc trên thì Đồng phải được Hồ Chí Minh đồng ý thì mới dám công nhận cái Công hàm ngu xuẩn này.

Hơn nữa trong giai đoạn 1956-1960 Hồ Chí Minh là Chủ tịch Ban chấp hành tạm thời nắm quyền Tổng bí thư thay Trường Chinh vì vụ cải cách ruộng đất theo kiểu Mao đẫm máu.

Kẻ chịu trách nhiệm chính phải là Hồ Chí Minh chứ không phải Phạm Văn Đồng hoặc Trường Chinh. Cả hai chỉ là kẻ chịu tôi thay cho Hồ Chí Minh mà thôi.

Đàn em của Hồ Chí Minh hiện nay như Mạnh, Phiêu, Trọng, Dũng, Triết, Rứa ... đang cố dùng hình tượng của Hồ Chí Minh để to son trét phấn thì làm sao có thể chính thức lên tiếng PHỦ NHẬN cái Công hàm đại họa này !
Đúng là một đám tư duy con rùa

Admin gửi lúc 14:33, 02/07/2011 - mã số 36596

Hoàng Thanh Trúc - “Liêm Sỉ”

- Anh Ba nè! Việt Nam mình có mấy Tổ Quốc???

- Trời đất!! bửa nay anh mắc cái giống gzì dzậy? trên thế giới này có quốc gia nào mà có hai tổ quốc đâu!

- Ủa! Vậy sao năm 1988 hải quân Miền Bắc uýnh nhau với quân Trung Quốc xâm lược đảo Trường Sa của mình, hy sinh mấy chục người, hằng năm tới ngày đám giỗ, mấy ổng cho tàu ra biển khơi tổ chức lễ truy điệu chiến sĩ trận vong linh đình, truyền thanh truyền hình về đất liền cho nhân dân tưởng nhớ. Còn trước đó 1974 Hải Quân Miền Nam cũng có trận hải chiến ác liệt với đám quân Trung Quốc xâm lược này để bảo vệ bờ cõi Hoàng Sa và cũng mấy chục chiến sĩ hy sinh vì tổ quốc nhưng từ đó đến nay 37 năm rồi không ai nhắc nhở, chưa một lần giỗ quảy hay truy điệu gì ráo trọi là sao???

- Có chớ, nhưng nhắc tới chỉ để gở thế “Bí” và níu kéo danh dự cho đảng CSVN…

- Hồi nào? tôi có thấy gì đâu???

- Mới đây thôi - một quan chức cao cấp của CSVN nói công khai nói với phía đại diện của Trung Quốc và công luận quốc tế rằng:

“ Tôi muốn cho quý vị được rõ là vào năm 1974 khi đất nước chúng tôi còn đang bị chia đôi, trong trận hải chiến Hoàng Sa, quân đội Trung Quốc đã dùng vũ lực để cướp đoạt quần đảo Hoàng Sa trong tay quân đội miền Nam Việt Nam. Chính trận Hải Chiến này, là minh chứng hùng hồn rằng Việt Nam chưa bao giờ thừa nhận quần đảo Hoàng Sa là của Trung Quốc. Ðây là một dữ kiện vô cùng quan trọng.”

- Đó, Anh thấy hông, đồ vô liêm sỉ, chiến tích máu xương của người ta thì mấy ổng lợi dụng nhưng công trạng thì cố tình dấu đi...

- Ủa! Ai nói cái Đảng Cộng Sản Việt Nam có liêm sỉ hồi nào đâu ???

Tác giả gửi tới Dân Luận

Hoàng Thanh Trúc

Khách Qua Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 07:57, 02/07/2011 - mã số 36583

Xin mạn phép post lại ý kiến sau đây đã được đưa lên Dân Luận trước đây (trong đó có phần dịch đoạn tiếng Anh trong ý kiến trước của tôi):

Để rộng đường dư luận, tôi xin mạn phép post lại dưới đây bài của độc giả Trúc Lê đưa lên Web Đàn Chim Việt đoạn ý kiến của Tiến sĩ Greg Austin về giá trị pháp lý của Công hàm PVĐ (bản dịch của Trúc Lê và bản gốc tiếng Anh)

Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã bác bỏ (estopped) tuyên bố chủ quyền của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

(trích cuốn “Biên Giới Đại Dương của Trung Quốc” của Greg Austin, trang 126-130)

Những lý lẽ mạnh nhất do nước CHND TH (Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa – ghi chú của Trúc Lê) đưa ra để hỗ trợ cho những tuyên bố chủ quyền của họ trên quần đảo Hoàng Sa là các tuyên bố này đã được thừa nhận bởi quốc gia kế tục An Nam, nước VNDCCH (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa – ghi chú của Trúc Lê), sau khi được độc lập đã lâu từ nước Pháp vào năm 1945. Nước CHND TH đã nêu ra những lý lẽ trên trong bức thư do Đại Diện Thường Trực của CHND TH gửi ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc ngày 23 tháng 11 năm 1980.[96] Bức thư khẳng định:

Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã là lãnh thổ của Trung Quốc từ thuở xa xưa… Đây là một sự kiện mà phía Việt Nam, qua các tuyên bố và các công hàm của chính phủ, qua các báo chí và tập san và qua các bản đồ và sách giáo khoa, đã nhiều lần trịnh trọng lên tiếng thừa nhận và tôn trọng.[97]

Nước CHND TH nêu ra một công hàm ngoại giao do ông Phạm Văn Đồng, Thủ Tướng nước VNDCCH, gửi cho CHND TH ủng hộ tuyên bố về lãnh hải của nước CHND TH vào năm 1958.[98] Công hàm của ông Phạm Văn Đồng không đặc biệt đề cập đến Quần đảo Hoàng Sa nhưng bởi vì bản tuyên bố của CHND TH có đề cập đến quần đảo này, CHND TH cho rằng việc thiếu sót của Việt Nam đã không phản kháng việc ghi quần đảo này như lãnh thổ của CHND TQ là một minh chứng rõ ràng là VNDCCH đã thừa nhận tuyên bố chủ quyền này của CHND TH.[99] Bức thư, trích dẫn công hàm của Việt Nam, đã nói rằng Việt Nam “thừa nhận và ủng hộ” bản tuyên bố và “tôn trọng quyết định này” của CHND TH.[100] Vào ngày 6 tháng 9 năm 1958, Nhân Dân, tờ nhật báo của Đảng Lao Động Việt Nam, đã đăng trang trọng lên trang đầu đầy đủ tất cả mọi chi tiết của bản tuyên bố của CHND TH mà không bình luận gì hết.[101] Tờ nhật báo này được xem như là ấn loát chính thức của chính quyền do sự lãnh đạo mạnh mẽ của Đảng Lao Động trên chính quyền.

Ngày 9 tháng 5 năm 1965, chính phủ nước VNDCCH ra tuyên bố về việc phân chia các vùng giao tranh dọc duyên hải Việt Nam của Hoa Kỳ.[102] Tuyên bố này của VNDCCH đã diễn tả vùng giao chiến này là xâm phạm “vùng biển của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa tại Quần đảo Tây Sa của Trung Quốc”. Vào ngày 13 tháng 5 năm 1969, báo Nhân Dân tường thuật một vụ xâm phạm của phi cơ Hoa Kỳ trên “Đảo Yongxing và Đảo Đông thuộc Quần đảo Tây Sa của tỉnh Quảng Đông Trung Quốc”.[103] Nước CHND TH tuyên bố rằng nhiều bản tường thuật tương tự như thế đã được báo chí Việt Nam đưa ra.[104]

Nước CHND TH cũng nêu ra các tuyên bố của một vị Thứ trưởng Ngoại giao và một công chức cao cấp trong Bộ Ngoại giao năm 1956 ủng hộ chủ quyền của CHND TH trên các Quần đảo Hoàng Sa (và Trường Sa).[105]
Trong cuốn Bạch Thư 1979 của nước CHXHCN VN gửi kèm theo một bức thư cho ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, sự thiếu vắng các hành động của VNDCCH và CHXHCN VN trong việc bảo vệ cái mục đích chủ quyền của Việt Nam là đáng kinh ngạc. Tất cả mọi hành động từ năm 1955 đến 1974 được nêu ra trong Bạch Thư đều do “nhà cầm quyền Sài Gòn” thực hiện. Tuyên bố minh bạch đầu tiên của VNDCCH và CHXHCN VN về chủ quyền trên Quần đảo Hoàng Sa chỉ xuất hiện vào tháng 6 năm 1976 cùng lúc với bản đồ chỉ rõ Hoàng Sa là lãnh thổ của VNDCCH.[106] Phản ứng chính thức của chính phủ VNDCCH đối với việc CHND TH dùng vũ lực chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974 cũng chỉ giới hạn trong một thời gian dài vào một tuyên bố đưa ra khoảng độ một tháng sau trận đánh:
…những tranh chấp lãnh thổ và biên giới phức tạp thường xảy ra giữa các nước láng giềng đòi hỏi sự thẩm xét thận trọng và cẩn mật. Các quốc gia liên hệ cần nên giải quyết các tranh chấp như thế qua các thương thuyết và trong tinh thần láng giềng hữu nghị.[107]

Trong tất cả mọi điều về bằng chứng do CHND TH đưa ra như là chứng cớ là VNDCCH đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Quần đảo Hoàng Sa, bằng cớ có tính kết luận nhất có thể là cái công hàm của Thủ Tướng VNDCCH ủng hộ tuyên bố lãnh hải của CHND TH. Công hàm này là một văn kiện trao đổi từ một chính phủ gửi cho một chính phủ khác. Và chủ đề của công hàm là về chủ quyền lãnh thổ trên, gồm cả, Quần đảo Hoàng Sa; và nước VNDCCH không những đã không phản kháng chủ quyền do CHND TH đưa ra mà lại còn ủng hộ nó. Như đã đề cập trong Phụ lục I, vài tác giả cho rằng luật quốc tế rất rõ ràng về điểm nói rằng một khi mà một nước đã thừa nhận tư cách chủ quyền [của một nước khác] thì nước đó trong tương lai sẽ không còn được thụ lý trong việc tranh chấp về tính hợp pháp của chủ quyền của nước đó nữa. Như thế, chỉ qua hành động này thôi nước VNDCCH có thể đã bác bỏ (ét-tốp) bất cứ quyền nào của họ trong việc tranh chấp tư cách chủ quyền với CHND TH về các đảo này.

Tuy nhiên CHND TH không cần nghỉ ngơi –và không nghỉ ngơi- trên hành vi bác bỏ (ét-tốp-pen) này. Một số những hành động khác của VNDCCH do CHND TH nại ra trên đây có thể được sử dụng như là bằng cớ thừa nhận của VNDCCH về tuyên bố chủ quyền của CHND TH.[109] Những hành động này gồm có việc xuất bản thường xuyên của các cơ quan chính quyền VNDCCH các bản đồ ghi rõ Quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ của CHND TH.[109] Mặc dù các bản đồ này không phải là bằng chứng bó buộc của sự thừa nhận của VNDCCH, tuy nhiên một cách hợp lý ta có thể xem chúng như là bằng cớ của một niềm xác tín trong chính phủ VNDCCH rằng Quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ của CHND TH.

Quan trọng hơn nữa, việc VNDCCH không phản kháng sự chiếm đóng một phần hay toàn thể Quần đảo Hoàng Sa trong một thời gian 20 năm từ 1955 tới 1975 hầu như chắc chắn sẽ được diễn giải như là một sự thừa nhận.[110] Đáng lưu ý đặc biệt là sự thất bại của VNDCCH đã không lên tiếng phản đối việc CHND TH đã dùng vũ lực chiếm đóng Quần đảo Hoàng Sa vào đầu năm 1974 và sự thất bại sau đó của VNDCCH trong việc phản kháng việc chiếm giữ này cho đến khi các liên hệ chính trị đã suy sụp trầm trọng, làm cho tuyên bố chủ quyền của CHXHCN VN có vẻ như là một tuyên bố chính trị thay vì một tuyên bố pháp lý.

Ý nghĩa pháp lý của việc thừa nhận của VNDCCH là như sau đây. Trong các trường hợp phân xét quyền sở hữu bất lợi về lãnh thổ, việc thừa nhận là điều cốt yếu trong tiến trình tậu được tư cách chủ quyền.[111] Các tuyên bố của CHXHCN VN về sự chiếm đóng Quần đảo Hoàng Sa của CHND TH là một sự sở hữu bất lợi như thế. Vậy mà trong suốt 20 năm chính phủ VNDCCH đã giữ im lặng. Trong hoàn cảnh của việc tranh chấp lãnh thổ này, thực không phải là không hợp lý nếu CHND TH lý luận rằng VNDCCH có nhiệm vụ phải phản kháng việc chiếm đóng nếu họ mong muốn giữ được bất cứ quyền nào tại đây.

Câu trả lời duy nhất mà CHXHCN VN có thể nêu ra trước những phản bác như thế là một khi nhà cầm quyền Sài Gòn (nước VNCH) còn phản kháng và chống đối bằng hành động cụ thể trước việc chiếm đóng Quần đảo Hoàng Sa, thì không cần gì phải có thêm sự phản kháng và chống đối của VNDCCH nữa. Nước CHXHCN VN có thể lập luận rằng họ là quốc gia kế tục của VNCH, cho nên họ được thừa hưởng mọi quyền lợi của VNCH trong việc tranh chấp lãnh thổ với CHND TH. Tuy nước CHXHCN VN không nói rõ ra điều này nhưng trong các tuyên bố của họ đã rõ là có hàm ý điều đó. CHXHCN VN cũng lý luận rằng do hoàn cảnh cực kỳ khó khăn mà họ đã phải đối diện trong suốt cuộc nội chiến kéo dài họ bắt buộc phải tập trung toàn lực để đối phó với những vấn đề quan trọng hơn là việc về chủ quyền trên các đảo bị tranh chấp.[112]

Tuy nhiên những phản biện này đã không đi vào vấn đề chính. Giá mà VNDCCH giữ im lặng, thì vấn đề có lẽ vẫn còn được bỏ ngỏ. Nhưng những bước chủ động do VNDCCH thực hiện để thừa nhận hoàn toàn mà không có chút ngần ngại lưỡng lự trước tuyên bố của CHND TH về chủ quyền lãnh hải trong đó có liệt kê Quần đảo Hoàng Sa như là lãnh thổ của CHND TH đã tạo cho CHND TH các căn cứ hợp lý để tin rằng VNDCCH đã không có cùng chủ quyền giống như VNCH đối các đảo này. Nếu VNDCCH giữ lại một chút kỳ vọng chủ quyền nào trên các đảo này, thì hầu như chắc chắn là họ bắt buộc phải đăng ký lập trường này khi họ nhận được lập trường chính thức trong bản tuyên bố chủ quyền của CHND TH. Sự thiếu vắng sau đó của phản kháng của VNDCCH/CHXHCNVN trong 20 năm đã nhân lên nhiều lần hiệu quả bất lợi cho CHXHCN VN trước sự thừa nhận của VNDCCH năm 1958.

Hiệu quả pháp lý của sự bác bỏ quyền thụ lý này chỉ giới hạn vào các hành vi trước khi CHXHCN VN thay đổi chính sách và tuyên bố chủ quyền trên Quần đảo Hoàng Sa. CHXHCN VN hoàn toàn có tự do thay đổi chính sách và đăng ký tuyên bố chủ quyền, nhưng việc bị bác bỏ (ét-tốp) có nghĩa là, khi tuyên bố chủ quyền, CHXHCN VN chỉ được phép dựa vào những biến cố sau ngày thay đổi chính sách để hỗ trợ cho tuyên bố của mình. Cơ sở duy nhất cho tuyên bố chủ quyền này là kỳ vọng chủ quyền chứa đựng trong các tuyên bố và các bản văn lập pháp của CHXHCN VN sau năm 1975, không đủ sức mạnh để trục bỏ tư cách chủ quyền do CHND TH và nước Trung Hoa thành lập qua việc thực thi chủ quyền trên các đảo này giữa các năm 1920s và thời điểm này.

Kết luận

Tuyên bố chủ quyền của CHND TH trên Quần đảo Hoàng Sa có lẽ nên được xem như là đã được chứng minh bởi những bằng cớ trong thảo luận trên đây, chủ yếu là dựa vào cơ sở của sức mạnh tương đối của các tuyên bố chủ quyền của CHND TH so sánh với các tuyên bố của CHXNCN VN, đặc biệt là trước “thời điểm tới hạn” hợp lôgic nhất là năm 1931.

Kết luận này không dựa vào các tuyên bố quyền sở hữu lâu đời. Sự thiếu sót bằng cớ rõ ràng về hành sử qua tư cách chủ quyền của cả hai phía Việt Nam hay Trung Quốc trong thời trung cổ đã làm hao mòn (yếu đi) giá trị của các tài liệu do hai bên trưng dẫn thuộc giai đoạn trước năm 1816. Trong khi Việt Nam có lẽ đã thành lập được tư cách chủ quyền hợp pháp qua việc sáp nhập vào năm 1816 và qua các cuộc thám sát theo sau, nhưng có vẻ là Pháp quốc, như là chính quyền bảo hộ sau 1884, đã ngự trị gây nên sự thất cách của tư cách pháp nhân của An Nam được thành lập trước đó- qua sự thất bại đã không phản kháng và ngăn cản việc hành sử chủ quyền thường xuyên của người Trung Hoa trong một khoảng thời gian đáng kể và qua sự thừa nhận chủ quyền của Trung Hoa trễ nhất là năm 1929.

Giá mà nước Pháp giữ được tư cách chủ quyền, thay mặt cho An Nam, từ những năm 1830s tới 1931, thì có lẽ là tư cách này có thể được nước CHXHCN VN tuyên bố như là quốc gia kế tục của VNCH, trên cơ sở là VNCH đã giữ được khẳng định chủ quyền và sự hiện diện cụ thể trên các đảo này kể từ lúc Pháp rút ra khỏi Đông Dương cho đến năm 1974. Tuy nhiên, có nhiều căn bản đáng kể để kết luận rằng việc VNDCCH thừa nhận chủ quyền của CHND TH trên quần đảo Hoàng Sa vào năm 1958 và việc họ đã không phản kháng tuyên bố của Trung Quốc trong thời gian từ 1958 đến 1975 đã tạo ra một ét-tốp-pen (tức là bác bỏ quyền thụ lý tranh chấp – ghi chú của Trúc Lê) đối với tuyên bố chủ quyền của CHXHCN VN trên Quần đảo Hoàng Sa.

Trọng lượng bằng chứng có vẻ cho thấy khẳng định chủ quyền của CHND TH trên Quần đảo Hoàng Sa là mạnh hơn của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Greg Austin

Khách Qua Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 07:45, 02/07/2011 - mã số 36582

“Đàng Cộng Sản là đảng cầm quyền mà thông qua cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký Công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 và đảng cầm quyền hiện nay tại Việt Nam vẫn là một đảng Cộng Sản. Tính đến nay là đã có 6 người giữ chức Thủ tướng sau cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Như vậy, đã có vị Thủ tướng nào của Việt Nam đã lên tiếng nói rằng Công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 được ký bởi cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có giá trị pháp lý hay chưa? Nếu chưa có vị nào đưa ra tuyên bố này thì hiển nhiên là Công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 được ký bởi cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng vẫn còn có giá trị.” (trích lời tác giả Nguyễn Trung)

Đúng thế. Tại sao đảng CSVN và Nhà Nước CHXHCN VN không chính thức lên tiếng PHỦ NHẬN cái Công hàm đại họa này ?

Chuyện người VN ta cãi chày cãi cối như ngài Đại biểu Dương Trung Quốc trong bài http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/agment-on-east-sea-bt-vn-cn-nn-07012011161316.html > Bí mật đồng thuận Việt Nam Trung Quốc? chẳng hạn thì chẳng có giá trị gì hết. Cần phải tranh cãi dựa vào kiến thức PHÁP LÝ đàng hoàng của những luật gia (về công pháp quốc tế) và nghiên cứu gia mới được.

Sau đây là lý luận của Tiến sĩ người Úc, Greg Austin, chuy ên gia về công pháp quốc tế, về cái Công hàm đại họa Phạm Văn Đồng này (xin quý vị lưu ý là tôi không hề có ý định bênh TQ đâu nhé):

“Of all the items of evidence presented by the PRC as proof of DRV recognition of Chinese sovereignty over the Paracel Islands, the most conclusive may be the note from the DRV Prime Minister supporting the PRC territorial sea declaration. The note was a government to government communication. And its subject was territorial sovereignty over, inter alia, the Paracel Islands; and the DRV not only raised no objection to the PRC claim but supported it. As mentioned in Appendix I, some writers suggest that international law is clear on the point that recognition by a state to a title estops that state from contesting its validity at a future time. By this one act alone, the DRV may have forfeited any right to challenge the PRC title to the islands.

More importantly, the lack of DRV protest at the PRC occupation of some or all of the Paracel Islands for the twenty years from 1955 to 1975 would almost certainly be interpreted as acquiescence.[110] Of particular note is the failure of the DRV to protest the armed take-over by the PRC of the Paracel Islands in early 1974 and the subsequent failure of the SRV to protest the continuing occupation until political relations had deteriorated seriously, making the SRV claim appear more like a political one than a legal one.

The legal significance of the DRV acquiescence is as follows. In cases proceeding from an adverse possession of territory, acquiescence is the essence of the process of acquisition of title.[111] The SRV claims that the PRC occupation of the Paracel Islands is such an adverse possession. Yet for twenty years the DRV government remained silent. In the circumstances of this territorial dispute, it would not be unreasonable for the PRC to argue that the DRV had a duty to protest the occupation if it wished to maintain any right there.

The only answer that the SRV may have to such contentions is that as long as the Saigon authorities (the RVN) were protesting and physically opposing the Chinese occupation of the Paracel Islands, there was no requirement for the DRV to have protested or opposed the occupation. The SRV could argue that as successor state to the RVN, it inherited the RVN’s rights in the territorial dispute with the PRC. The SRV does not explicitly make this point but it is clearly implied in its claims. The SRV also argues that the extreme circumstances in which the DRV found itself during the continuing civil war obliged it to pay attention to more serious issues than territorial sovereignty over the disputed islands.[112]

.....

These rebuttals do not address the basic point, however. If the DRV had remained silent, the question might remain open. But the active step taken by the DRV to recognise without demur or reservation the PRC declaration on the territorial sea which named the Paracel Islands as Chinese territory provided the PRC with reasonable grounds to believe that the DRV did not have the same claims as the RVN to the islands. If the DRV retained some pretension to sovereignty over the islands, it was almost certainly bound to register that position when it took an official position on the PRC declaration. The absence of a subsequent DRV/SRV protest over twenty years compounds the disadvantageous effect for the SRV of the DRV’s recognition in 1958.

The legal effect of this estoppel is confined to acts before the SRV changed its policy and claimed the Paracel Islands. The SRV is perfectly free to change its policy and register a claim, but the estoppel means that in making its claim, the SRV can only rely on events after the change of policy to support a claim. The only basis of such a claim is the pretension to sovereignty contained in SRV statements and legislation after 1975, which are inadequate to displace the title established by the PRC and China through exercise of sovereignty in the islands between the 1920s and that date.”
(Greg Austin)

Gửi phản hồi mới (xin gõ tiếng Việt có dấu và tuân thủ Nguyên tắc Dân Luận để được chấp nhận)

Bạn có thể bịa một địa chỉ email bất kỳ, ví dụ test@gmail.com. Thông tin này sẽ không xuất hiện công khai khi phản hồi được đăng.
  • Bạn có thể sử dụng các thẻ BBCode trong bài. Các địa chỉ URL sẽ được tự động chuyển thành liên kết.
  • Bạn có thể trích bài của người khác bằng thẻ [quote], ví dụ: [quote]Nội dung muốn trích dẫn[/quote]
  • Bạn có thể sử dụng những thẻ HTML sau: <a> <em> <strong> <ins> <b> <i> <u> <br> <cite> <code> <ul> <ol> <li> <dl> <dt> <dd> <h1> <h2> <h3> <h4> <h5> <table> <tbody> <td> <tr> <pre> <img> <div> <span> <object> <hr> <center> <font> <blockquote> <strike> <embed> <param> <del> <ins> <sub> <sup>
  • Bạn có thể chèn video vào bài viết bằng thẻ [video:địa_chỉ_url_của_video]
  • Cách dòng và cách đoạn sẽ được tự động chuyển thành xuống dòng.

Nhấn vào đây để biết thêm chi tiết về cách định dạng bài viết...

To prevent automated spam submissions leave this field empty.
CAPTCHA
Bạn bắt buộc phải trả lời câu hỏi kiểm tra dưới đây. Nó giúp chúng tôi nhằm lọc bỏ các nội dung spam do robot tự động thực hiện.
1 + 3 =
Giải bài toán đơn giản này và nhập kết quả vào ô phía trên. Ví dụ, nếu thấy 1+3, thì hãy nhập 4.

Suy ngẫm

Nghĩ cho cùng mỗi cuộc chiến tranh - phe nào thắng thì nhân dân đều bại!

— Nguyễn Duy

Mới Mới Mới

Thống kê truy cập

Hiện có 0 thành viên259 khách truy cập.


Kỷ lục: Có 4638 người ghé thăm vào 15-05-2014 lúc 09h47.

Độc giả Dân Luận từ đâu đến?

Locations of visitors to this page

Quỹ Dân Luận

Hãy bấm để ủng hộ tài chính cho Dân Luận. Thu chi quỹ Dân Luận được công bố công khai tại đây!