Chọn lựa giữa ngoại bang cai trị tốt và chính quyền nội địa cai trị xấu?

Nông Duy Trường
Tiêu đề bài viết này được đặt theo câu hỏi thảo luận của các thầy trò lớp Công Dân Học - Học Viện Công Dân (http://icevn.org), mà tôi là một học viên. Bài viết này vốn là tài liệu tham khảo nội bộ, nay với sự đồng ý của tác giả - thầy Nông Duy Trường - nguời sáng lập Học Viện Công Dân, tôi xin được phổ biến bài viết. Sở dĩ tôi muốn gửi bài viết này tới Dân Luận, là bởi bài viết có liên quan tới một chủ đề được đăng tải trên Dân Luận gần đây, đó là: Thà bị thực dân Pháp đô hộ thêm vài chục năm nữa… của tác giả Mê Linh. Khi đọc bài viết này, các bạn sẽ không thấy câu trả lời thẳng cho câu hỏi (tiêu đề bài viết). Song, tôi có thể nói rằng: ý của tác giả - thầy Nông Duy Trường, cùng đa số học viên trong cuộc thảo luận là: Giữa 2 cái xấu, nên chọn cái ít xấu hơn. Mong rằng các bạn đọc của Dân Luận sẽ tìm thấy trong bài viết này nhiều điều bổ ích! Người gửi: Nguyễn Trang Nhung
Chia sẻ bài viết này

Trong mấy ngàn năm lịch sử của loài người, từ khi lập thành quốc gia, các nước luôn đánh lẫn nhau, nước lớn tìm cách thôn tính nước nhỏ nhằm mở mang bờ cõi, cướp bóc tài nguyên, bắt nô lệ, vân vân. Điều này được minh chứng rõ ràng trong lịch sử Á Đông, tiêu biểu là Trung Hoa, sang tới lịch sử Tây phương từ thời cổ Hy lạp. Rõ ràng là khi một nước bị ngoại bang xâm chiếm và cai trị thì chắc chắn là đau khổ triền miên xảy đến cho dân tộc bị trị. Tất cả các dân tộc bị trị đều tìm cách đánh đuổi ngoại bang xâm lược. Trong mỗi nước, cũng thế, các chế độ xấu, không sớm thì muộn, đều lần lượt bị nhân dân thay đổi.

Căn cứ trên thực tế lịch sử ta có thể đặt thành 2 quy luật: (1) Không có ngoại bang nào cai trị tốt, và (2) các chế độ xấu xa trong mỗi nước đều bị chính nhân dân nước đó thay đổi.

Tuy nhiên, đến thế kỷ 20, có hai trường hợp ngoại lệ, và một trường hợp nữa xảy ra vào đầu thế kỷ 21. Đó là trường hợp Nhật Bản và Đức sau Đệ nhị thế chiến. Trường hợp đầu thế kỷ 21 là ở Iraq; trong trường hợp này, vì vẫn còn nhiều dữ kiện lịch sử chưa được công bố, nên ta sẽ bàn đến trường hợp này trong dịp khác.

Bối cảnh lịch sử

Đệ nhị thế chiến do Đức và Nhật gây ra. Hai nước này có một số điểm tương đồng sau: cùng là nước độc tài: Đức là độc tài đảng trị (đảng Quốc Xã) và Nhật là độc tài quân phiệt, cùng là nước phát triển kỹ nghệ cao, cùng bị Mỹ cai trị sau chiến tranh, cùng trải qua một quá trình dân chủ hóa và tiến tới chế độ dân chủ bền vững.

Nhật Bản

Nước Nhật bị buộc phải mở cửa cho tàu chiến của Mỹ (do đề đốc Perry chỉ huy) vào năm 1853 để trình ủy nhiệm thư của tổng thống Filmore. Vào lúc này, Nhật Bản còn thuộc chế độ lãnh chúa (shogun), nhưng các lãnh chúa nhận thấy không chống cự được với sức mạnh của Tây phương nên đồng lòng phục hồi lại chế độ quân chủ và tôn Minh Trị lên ngôi hoàng đế và bắt đầu thời kỳ Minh Trị Duy Tân. Chính quyền Nhật được cải tổ với hoàng đế đứng đầu hành pháp và nội các gồm thượng thư các bộ và cơ mật viện (so sánh với cơ cấu chính quyền triều Nguyễn - Minh Trị sinh cùng thời với Tự Đức nước ta). Từ đó, nước Nhật canh tân, gửi người du học tại Mỹ và Âu châu, và tiến hành kỹ nghệ hóa; nhưng đại đa số dân Nhật vẫn là nông dân. Trong Đệ nhất thế chiến, Nhật bắt đầu "flex the muscle", biểu dương sức mạnh quân sự sau khi đánh thắng quân Tàu trong Trung Nhật Giáp Ngọ Chiến tranh (1894-95) nhằm giành quyền kiểm soát Triều Tiên, và đặc biệt là chiến thắng quân Nga ở eo biển Đối Mã (Tsushima, tiếng Nhật) nơi có hải cảng Lữ Thuận (Lushunkou, theo tiếng Hoa, Port Arthur, theo tiếng Anh) để giành quyền kiểm soát Hoàng hải và đường tiến xuống Thiên Tân (gần Bắc Kinh).


Tướng Douglas MacArthur và Nhật Hoàng Hirohito gặp gỡ lần đầu tại Đại Sứ Quán Hoa Kỳ ở Tokyo ngày 27/09/1945 (Nguồn: Wikipedia)

Các chiến thắng về quân sự cũng đồng thời đưa đến các thắng lợi khác về chính trị cho "các chính trị gia mặc quân phục" trong việc xây dựng chủ nghĩa quân phiệt tại Nhật Bản. Năm 1931, Nhật xua quân chiếm Mãn Châu, và đến năm 1936 ký hiệp ước với Đức và gia nhập phe Trục năm 1941, chính thức tham gia Đệ nhị thế chiến tại Á châu bằng trận Trân Châu Cảng tháng 12, 1941. Sau đó Nhật thua trận như chúng ta đã biết, nhưng chính sách của Mỹ đối với nước Nhật thua trận mới là điều cho ta tìm hiểu thêm.

Thống tướng (5 sao) Douglas MacArthur là tư lệnh tối cao quân Đồng minh chiếm đóng lãnh thổ Nhật sau chiến tranh; tuy mang tiếng là quân Đồng minh, nhưng chủ yếu vẫn là quân Mỹ. Tướng MacArthur là vị tướng chủ tọa buổi lễ ký biên bản đầu hàng của Nhật trên Khu trục hạm Missouri đậu ngoài khơi vịnh Tokyo vào ngày 2 tháng 9, 1945.

Là tư lệnh tối cao, MacArthur được coi là kiến trúc sư của nước Nhật hiện đại. Sau đây là những việc MacArthur làm trong thời gian làm toàn quyền tại Nhật:

  1. Nhận thức được vai trò quan trọng của Nhật hoàng Hirohito trong việc giữ thể diện quốc gia cho dân Nhật và ổn định chính trị: Đích thân Nhật hoàng sang tòa Đại sứ Mỹ gặp MacArthur và nhận chính ông hoàn toàn chịu trách nhiệm về cuộc chiến. Nhưng MacArthur đã lưu giữ Nhật hoàng tại vị dù gặp nhiều áp lực từ Mỹ buộc ông phải đem Nhật hoàng ra xử như tội phạm chiến tranh [1].
  2. Nhận thức được khả năng và lòng yêu nước của đối tác Nhật bản là thủ tướng Shigeru Yoshida và hợp tác với Yoshida trong việc tái thiết kinh tế và xây dựng dân chủ tại Nhật Bản.
  3. Đề ra chính sách căn bản cho nước Nhật hậu chiến: phi quân sự hóa (demilitarization), dân chủ hóa, và tái thiết kinh tế.
  4. Các chính sách cụ thể về chính trị: nên nhớ trong thời quân chủ, dân Nhật không có quyền chính trị cũng như dân quyền một cách rõ rệt. MacArthur nhanh chóng cho phép dân Nhật được hưởng các quyền này, như quyền được xét xử trong thời gian sớm nhất (hay còn gọi là quyền bảo hộ nhân thân chống lại sự giam gữ trái phép của chính quyền- tiếng Latinh là habeas corpus) [2], hủy bỏ toàn bộ mọi hạn chế các dân quyền, cho phép phụ nữ Nhật được quyền ứng cử/bầu cử (trong cuộc bầu cử tự do lần đầu tiên tại nước Nhật năm 1946, 14 triệu phụ nữ đi bầu và có 39 phụ nữ đắc cử vào quốc hội, trong số này là một gái giang hồ nổi tiếng, đắc cử với 256 ngàn phiếu) [3].
  5. Soạn thảo bản hiến pháp cho Nhật: MacArthur đề ra những điểm chính thiết yếu cho một chính quyền dân chủ. Hiến pháp Nhật vừa mang đặc tính của hành pháp theo kiểu Mỹ và quốc hội theo kiểu Anh. Kết quả là nước Nhật theo thể chế quân chủ lập hiến, lưỡng viện. Trước hết, Nhật hoàng cũng chỉ là một công dân của nước Nhật, nay ông là biểu tượng của quốc gia, còn chủ quyền quốc gia không còn thuộc về triều đình nữa mà nay thuộc về toàn dân. Đáng kể nhất là điều 9, cam kết từ bỏ dùng biện pháp quân sự để giải quyết tranh chấp với các nước khác, và một điều khoản quy định rõ ràng về dân quyền (bill of rights theo kiểu Mỹ) - Chương 3 [4].
  6. Sử dụng tối đa thẩm quyền của tư lệnh tối cao trong công việc "nation-building" lại Nhật Bản theo mô hình dân chủ, tạo điều kiện cho chính quyền dân cử của Nhật hoạt động và từng bước trưởng thành. Một trong những thí dụ điển hình là cứu đói năm 1946. Nhật bản thiếu lương thực trầm trọng trong năm 1946, ngay sau khi chấm dứt chiến tranh, đất nước còn chưa hồi phục, dân chúng bắt đầu biểu tình đầy đường đòi lương thực. MacArthur phải hứa với Yoshida là vận động Washington viện trợ thực phẩm dù yêu cầu này bị nhiều chính trị gia Mỹ phản đối không muốn dùng thực phẩm của Mỹ để nuôi kẻ cựu thù. MacArthur đã phải nói: "Hãy gửi cho tôi thực phẩm hay gửi cho tôi đạn dược"[5].
  7. Cải cách ruộng đất. Năm 1945 đa số nông dân Nhật vẫn là những "người cầy không có ruộng", đất đai thuộc về những chủ điền ở thành thị. Những người nông dân nghèo bất mãn, không có đất đai đã hưởng ứng lời kêu gọi của giới quân phiệt và giúp cho quân phiệt nắm được chính quyền một cách dễ dàng. Thành phần nông dân bần cố nông cũng là thành phần dễ bị ảnh hưởng của sự tuyên truyền của đảng cộng sản Nhật (được thành lập năm 1922). MacArthur chủ trương phải cải cách ruộng đất tại Nhật và chủ trương này được Yoshida thực hiện qua các đạo luật cải cách ruộng đất, và đến năm 1950, 90% nông dân Nhật được làm chủ ruộng đất của chính mình [6].

Đối tác Nhật Bản

Chính sách của Mỹ (thể hiện qua MacArthur) chắc chắn sẽ không thể nào thực hiện được suôn sẻ nếu không có một đối tác đủ tầm cỡ từ phía Nhật Bản đưa vào thực hành. Đối tác đó là Shigeru Yoshida (Cát Điền Mậu). Yoshida (1878-1967) bắt đầu sự nghiệp chính trị trong ngành ngoại giao; trong tư thế này ông có một cái nhìn đúng đắn và am hiểu về các nước phương Tây hơn các chính trị gia thuộc giới quân nhân, và được xem là có khuynh hướng thân Tây phương. Do đó, khi phe quân nhân lên cầm quyền, dù được thủ tướng lúc đó (1936) bổ nhiệm làm Ngoại trưởng, nhưng ông vẫn bị phe quân nhân phủ quyết, thay vào đó, ông được cử làm Đại sứ tại Anh quốc. Trong cương vị ngoại giao, Yoshida cổ võ cho chính sách dùng ngoại giao để giải quyết các tranh chấp quốc tế thay vì dùng đến sức mạnh quân sự như phe quân nhân chủ trương. Thái độ chính trị này rất nguy hiểm vì ông có thể bị bắt giam hoặc ám sát. Khi chiến tranh với Mỹ xảy ra tại Trân Châu Cảng, Đại sứ Mỹ là Joseph Grew bị giam lại tại tòa đại sứ. Trước tình cảnh đó, Yoshida đã gửi một lá thư xin lỗi cho Đại sứ Mỹ và lo cho ông được đối xử tử tế [7]. Trong chiến tranh, Yoshida là thành viên của một mạng lưới gồm những chính trị gia chống chiến tranh và hoạt động chống lại phe quân phiệt. Những hành động này khiến ông bị bắt vào tháng 4 năm 1945, nhưng chỉ bị giam có 40 ngày (4 tháng sau khi Nhật đầu hàng). Khi MacArthur chiếm đóng Nhật Bản, tất cả các chính trị gia quân phiệt đều bị thanh trừng, cho nên khi thành lập chính phủ, thành phần lãnh đạo đảng Tự Do [8] đành phải mời Yoshida đứng ra thành lập chính phủ vào năm 1946. Yoshida giữ chức thủ tướng suốt 7 năm cho đến khi Nhật được Mỹ trao trả toàn bộ chủ quyền qua Hiệp ước Hòa bình ký năm 1951.

Trong cương vị thủ tướng trong suốt 7 năm trời, trải qua 5 chính phủ, Yoshida đã lèo lái nước Nhật từ một nước bại trận đổ nát sang phục hồi kinh tế (dân sinh) và chấn hưng dân khí để trở lại vị trí cường quốc. Giai đoạn 7 năm này rất khó khăn vì Yoshida một mặt phải "deal" với những đòi hỏi của Mỹ về các cải cách xã hội và chính trị, một mặt phải đương đầu với các tranh chấp chính trị giữa các đảng phái (lần đầu tiên nước Nhật có chính trị thi đua kể từ thời Minh Trị Canh tân) và bị "chụp mũ" là tay sai của Mỹ. Một trong những thành công của Yoshida là ngăn chặn được việc Mỹ muốn giải tán các tập đoàn kinh tế zaibatsu, như Mitsubishi chẳng hạn. Người Mỹ tin rằng các tập đoàn tài phiệt là nguyên nhân gây ra những thảm họa trong thập niên 1930 như dùng sức mạnh quân sự để thực hiện giấc mộng Đại Đông Á, nhưng thực ra để thu thập, cưỡng chiếm tài nguyên thiên nhiên của các nước trong vùng. Đó là lý do Mỹ muốn giải tán các zaibatsu, nhưng Yoshida hiểu rằng, muốn làm cho kinh tế phục hồi, không thể không có zaibatsu. Chính sách này của ông khiến Yoshida bị phe "cấp tiến" của cả Nhật lẫn Mỹ chỉ trích kịch liệt, nhưng thực tế chứng minh rằng Yoshida đúng, không những trong chính sách kinh tế mà còn trong các lãnh vực khác từ lao động sang tới thương mại, giáo dục, và quốc phòng. Có thể nói thành công lớn nhất của Yoshida là đã đạt được một hiệp ước hòa bình và an ninh với Đồng Minh [9]. Căn cứ theo hiệp ước này, Đồng Minh trao trả toàn bộ độc lập và chủ quyền cho Nhật, nước Nhật sẽ không tái vũ trang (không có quân đội) mà chỉ có một lực lượng phòng thủ (75 ngàn quân vào thời điểm 1951)- Mỹ sẽ lo bảo vệ cho Nhật khi nước này bị nước khác lấn chiếm (Hiệp định An ninh 1952 ký song phương với Mỹ). Yoshida rời chính trường năm 1954 lúc 76 tuổi [10].

Tóm lại, Yoshida, trong cương vị thủ tướng, đã là một đối tác không thể thiếu của MacArthur, và có thể lịch sử nước Nhật đã đi vào một ngã rẽ khác nếu như thiếu một trong hai nhân vật này.

Đức quốc

Ta đều biết Đức là nước hai lần gây ra Thế chiến. Khi nước Đức hoàn toàn thống nhất các tiểu bang lại với nhau năm 1871, lúc đó Đế quốc Đức cũng thành hình và Vương quốc Phổ (Prussia) thuộc họ Hohenzollern trở thành dòng họ cai trị Đế quốc Đức. Khi Thế chiến thứ nhất xảy ra năm 1914, Đức là một trong những nước thuộc phe "Cường quốc Trung ương" khởi động chiến tranh. Đến năm 1918, khi chiến tranh sắp tàn, tại Đức xảy ra một cuộc cách mạng khiến cho vua William đệ II phải thoái vị, đưa đến việc thành lập nền Cộng hòa Weimar (vì quốc hội lập hiến được triệu tập tại thành phố Weimar) - ,ột chế độ cộng hòa, dân chủ hiến định. Tuy nhiên nền cộng hòa non trẻ này gặp nhiều khó khăn vì kinh tế suy thoái sau khi Đức thua trận và nhất là thái độ thiếu mã thượng của phe Đồng Minh (Anh Pháp Nga) khi bắt Đức phải ký bản tuyên bố đầu hàng trên một toa xe lửa tồi tàn và các khoản bồi thường chiến phí quá nặng nề khiến lòng tự ái dân tộc của người dân Đức bị tổn thương và mất tin tưởng vào chính quyền dân chủ. Chính điều này dọn đường cho đảng Quốc Xã lên nắm quyền qua bầu cử (sic). Nền Cộng Hòa Weimar được coi như chính thức cáo chung năm 1933 sau 15 năm thực tập dân chủ.

Sau đó thì chúng ta đã biết, Hitler phát động Đệ nhị thế chiến từ 1939-1945, và cuối cùng Đức lại bị phe Đồng Minh đánh bại [11]. Khác với nước Nhật khi đầu hàng chỉ có quân Mỹ vào tiếp quản, nước Đức bị Tứ Cường - Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô - chiếm đóng, với phe Anh Pháp Mỹ chiếm phía tây và Liên Xô phía đông. Tại Đức không có một nhân vật nào của Đồng Minh có "tầm cỡ" như MacArthur ở Nhật, và chính sách của Đồng Minh đối với Đức là chính sách được thảo luận và cùng chấp thuận. Tuy vậy, Mỹ vẫn là nước có tiếng nói quan trọng và ảnh hưởng lớn lao trong việc định hướng chính trị cho nước Đức hậu chiến. Điều đầu tiên phe Đồng Minh làm là nhanh chóng chuyển giao quyền lực từ chính quyền quân đội (ủy ban quân quản 4 bên, sau này khi Liên Xô trở mặt chiếm Đông Đức, còn lại ủy ban quân quản 3 bên) sang chính quyền dân sự, theo thể chế dân chủ cộng hòa. Nước Đức trước chiến tranh đã là một nước dân chủ, cho nên việc tái lập thể chế dân chủ không phải là điều khó khăn vì người dân, sau khi trải qua chế độ Quốc Xã, đã quá ngán ngẩm và chán ghét chế độ độc tài. Tuy nhiên, nước Đức hậu chiến thiếu một nhân vật đủ tài đức để lãnh đạo quốc gia, vì những người dân chủ tài giỏi đã bị Hitler giết, còn những người khác có tài thì lại dính dáng với Quốc Xã. Đó là lúc mà Konrad Adenauer xuất hiện.

Trước khi bàn về vai trò của Adenauer, không thể không nhắc đến vai trò của Mỹ trong việc định hình chính sách đối với châu Âu nói chung và nước Đức nói riêng. Sau chiến tranh, hạ tầng cơ sở của cả châu Âu bị phá hủy hầu như toàn diện với hàng triệu người vừa chết vừa bị thương, bị phiêu tán, thiếu hụt lương thực trầm trọng và nạn đói đe dọa toàn châu Âu. Trước tình cảnh này, năm 1947, ngoại trưởng Mỹ là George Marshall (cũng là thống tướng tổng tham mưu trưởng trong Đệ nhị thế chiến) đề nghị một kế hoạch viện trợ tái thiết Âu châu kể cả cho Liên Xô nhưng nước này từ chối không nhận. Kế hoạch này thường được gọi là Kế hoạch Marshall lên đến 12 tỷ USD. Trên danh nghĩa, đây là số tiền Mỹ cho vay và được gửi vào trong quỹ Tái thiết Âu châu (European Recovery Program - ERP) của Tổ chức Hợp tác Kinh tế Âu châu. Những nước Âu châu, kể cả Đức, mượn tiền từ quỹ này và trả góp từ từ để tái thiết, nhưng số tiền trả lại này không cần hoàn trả cho Mỹ mà được trả cho ERP để tái đầu tư cho các dự án xây dựng khác. Lâu dần số nợ này được "quên" đi. Riêng số tiền viện trợ cho Đức từ Kế hoạch Marshall lên tới 1,5 tỷ USD. Tới đây cần mở một câu hỏi, tại sao Mỹ lại "cho không, biếu không" số tiền lên đến 12 tỷ USD từ năm 1947-1951?) [12].

Nước Đức bị chia đôi kể từ năm 1949. Khu vực phía tây được Đồng Minh trao trả lại cho Đức và hình thành nước Cộng hòa Liên bang Đức (CHLBĐ) vào ngày 23 tháng 5, 1949. Khu vực phía đông do Liên Xô kiểm soát cũng tuyên bố trở thành một nước 5 tháng sau đó và trở thành nước Cộng hòa Dân chủ Đức. CHLBĐ là một nước dân chủ theo thể chế liên bang và người thủ tướng đầu tiên là Konrad Adenauer.

Đối tác Đức quốc

Konrad Adenauer sinh năm 1876, xuất thân trong một gia đình tiểu công chức ở Cologne, một trong 4 thành phố lớn nhất nước Đức và được coi là trung tâm thương mại và nghệ thuật, và cũng được coi là trung tâm của đạo Công giáo tại Đức. Adenauer học luật và gia nhập đảng Bảo thủ Cologne (đảng này là tiền thân của đảng Dân chủ Thiên chúa giáo do ông thành lập sau này). Năm 30 tuổi, Adenauer được bầu làm thị trưởng Cologne và bắt đầu sự nghiệp chính trị từ đây - ông làm thị trưởng Cologne qua suốt thời kỳ Thế chiến thứ nhất, và khi nền Cộng hòa Weimar bắt đầu, ông được đảng đề cử ra giữ chức vụ thủ tướng nhưng ông từ chối và tái đắc cử thị trưởng Cologne lần thứ hai (nhiệm kỳ 12 năm). Khi đảng Quốc Xã lên nắm quyền (qua bầu cử hẳn hoi), tư cách độc lập và tiếng tăm của Adenauer khiến ông trở thành cái gai trong mắt Hitler, vì trong tư cách thị trưởng Adenauer đã công khai tỏ thái độ chống lại đảng Quốc Xã như cấm đảng QX treo biểu ngữ của đảng trên cầu sông Rhine, từ chối gặp Hitler khi Hitler đến Cologne vận động tranh cử năm 1933 [13]. Do đó, khi Hitler cầm quyền, Adenauer bị cầm tù một thời gian ngắn, rồi bị ép rời khỏi chức vụ thị trưởng phải về quê ở ẩn suốt 11 năm. Khi âm mưu ám sát Hitler bị khám phá năm 1944, Adenauer bị bắt lần nữa, nhưng rồi cũng được thả ra vì nhờ có người con trai trong quân đội Quốc Xã "bảo lãnh".

Khi quân Đồng Minh tiến vào Cologne năm 1945, Mỹ định đưa Adenauer lên làm thị trưởng trở lại, nhưng vì một lý do nào đó, người Anh không đồng ý, nên Adenauer không được làm thị trưởng. Tuy nhiên, nhờ vậy mà Adenauer có thì giờ để thành lập đảng Dân chủ Thiên chúa (Christian Democratic Union - CDU) gồm cả tín đồ theo Tin Lành và Công giáo. Tài năng và đức độ (chúng ta sẽ thảo luận thêm thế nào là tài và đức mà người lãnh đạo cần có) của Adenauer giúp ông đắc cử vào Quốc hội Lập hiến năm 1948 và đã đóng vai trò trọng yếu trong việc hình thành hiến pháp cho CHLBĐ. Với vị thế này, Adenauer đắc cử thủ tướng của CHLBĐ năm ông đã 73 tuổi (1949).

Là lãnh tụ của một nước đang bị chiếm đóng, quyền lực mà Adenauer có được thực sự không là bao nhiêu. Một mặt phe Đồng Minh muốn nước Đức bại trận phải dẹp bỏ các đại kỹ nghệ cơ khí mà Đức có trước và trong khi chiến tranh (tương tự như trường hợp ở Nhật), một mặt, phe đối lập trong chính quyền cho ông là bù nhìn của Mỹ và Đồng Minh và luôn luôn gây khó khăn trong quốc hội. Tuy nhiên, những chính sách thực tế và uyển chuyển của ông đã từng bước một phục hồi kinh tế của Đức và thu hồi lại nền độc lập cho Tây Đức kể từ 1949 (4 năm sau khi bại trận).

Phân tích

Hai trường hợp nêu trên là hai thí dụ cho những ngoại lệ về sự cai trị "tốt" của ngoại bang trên một nước. Cả hai trường hợp này Mỹ là ngoại bang nhưng cai trị tốt so với hai chế độ nội địa đã đưa hai nước Nhật và Đức vào các cuộc chiến tranh khốc liệt, đất nước bị tàn phá gần như diệt vong. Việc làm hiển nhiên nhất và không thể chối cãi được của Mỹ là xây dựng thành công chế độ dân chủ tại hai nước này. Và sau khi nền chính trị dân chủ được củng cố bền vững, Mỹ không những trao trả lại độc lập, mà còn trở thành đồng minh về kinh tế và quốc phòng.

Hai trường hợp này có phải là vì nước Mỹ "nhân từ" hay chỉ vì quyền lợi của Mỹ?

Ta có thể nói nước Mỹ là một đảo quốc, vì quốc gia này được biển cả bao bọc chung quanh. Vị thế địa lý này khiến cho nước Mỹ dễ có khuynh hướng bảo thủ, hướng nội và theo chủ nghĩa tự cô lập (isolationism), không muốn dây dưa với những rắc rối của các nước khác ở Âu châu. Khuynh hướng này được thể hiện qua những chính sách ngoại giao từ những năm mới lập quốc từ 1776 đến 1801 khi xảy ra cuộc chiến với các nước thuộc đế quốc Ottoman ở Phi châu. Khi kinh tế phát triển và trở thành một cường quốc về kinh tế, chủ nghĩa tự cô lập dần dần chuyển hướng sang quyền lợi quốc gia, điển hình là chủ thuyết Monroe (1823): Tổng thống James Monroe tuyên bố rằng Mỹ sẽ không can thiệp vào nội tình các nước thuộc Âu châu và đổi lại các nước Âu châu cũng không được can thiệp vào nội tình các nước thuộc Mỹ châu (Tây bán cầu), nói một cách khác, Tây bán cầu thuộc về ảnh hưởng của Mỹ. Cũng trong thời gian này Mỹ bắt đầu Tây tiến, chinh phục toàn bộ lục địa Mỹ châu với các vùng đất như Texas, New Mexico, Arizona, California và Oregon về phía tây và Florida về phía đông nam. Chương trình Tây tiến bắt nguồn từ một chủ thuyết, tạm dịch là "nước Mỹ ngoại hạng" (American exceptionalism), chủ thuyết này cho rằng Mỹ là nước được thượng đế ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên, xây dựng thể chế dân chủ đầu tiên, và có bổn phận phát huy lý tưởng dân chủ trên toàn thế giới [14]. Người dân Mỹ qua các thăm dò gần đây nhất vẫn cho rằng Mỹ là một thí dụ xứng đáng cho thế giới noi theo [15].

Phát triển về kinh tế cũng như quyền lợi kinh tế đưa Mỹ đi tìm các thị trường khác trên thế giới như Nhật Bản và Trung Hoa ở Á châu (tại Nhật Bản, đề đốc Matthew Perry đã nổ súng buộc Nhật phải mở cửa cho vào buôn bán năm 1853). Trong giai đoạn này Mỹ cũng đi tìm các thuộc địa ở Thái Bình Dương như Philippines, các hải đảo như Guamm và Puerto Rico (cuối thế kỷ 19). Tuy nhiên, chủ nghĩa thực dân và thuộc địa của chính quyền Mỹ bị rất nhiều nhân sĩ nổi tiếng của Mỹ chỉ trích kịch liệt, điển hình là nhà văn Mark Twain, vua thép và nhà từ thiện Andrew Carnegie, cùng những người khác trong Liên đoàn Phản đế (Anti-Imperialist League).

Sang đầu thế kỷ 20, Mỹ theo chủ nghĩa "bế quan tỏa cảng" về chính trị dù vẫn giao thương với các nước khác. Khi Thế chiến thứ nhất xảy ra, Mỹ vẫn không muốn dính vào cuộc chiến ở Âu châu cho đến khi các tàu buôn của Mỹ bị tàu ngầm Đức đánh chìm, buộc lòng Mỹ phải tham chiến. Khi cuộc chiến chấm dứt, Tổng thống Woodrow Wilson đề nghị thành lập Hội Quốc Liên (League of Nations) là tiền thân của Liên Hiệp quốc bây giờ để giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia với nhau bằng đường lối ngoại giao và hòa bình; tuy nhiên, vì khuynh hướng của dân Mỹ sau chiến tranh lại muốn trở về tình trạng "đóng cửa rút cầu" nên Quốc hội Mỹ không phê chuẩn hiệp ước thành lập Hội Quốc Liên, nên việc này không thành [16].

Sang đến Thế chiến thứ hai [17] và khi vai trò siêu cường của Mỹ đã được công nhận trên thế giới là lãnh đạo của thế giới tự do đương đầu với Xô-viết trong cuộc Chiến tranh Lạnh thì chính sách ngoại giao của Mỹ thiên hẳn về các chính sách thực tế, cân bằng quyền lực, điển hình qua các chủ thuyết "ngăn chặn" (containment), "domino", vân vân. Khi theo đuổi các chính sách thực tế (realism), Mỹ đã ủng hộ rất nhiều các nhà độc tài vi phạm nhân quyền trầm trọng (tại Châu Mỹ Latinh, Á châu, và cả Phi châu) nhưng lại là đồng minh thân cận của Mỹ trong cuộc Chiến tranh Lạnh.

Kết luận

Tóm lại, dù hai trường hợp nêu trên là hai trường hợp ngoại lệ, nhưng cũng chứng tỏ được "lòng nhân" của Mỹ đối với nước bại trận, mặc dù số quân nhân Mỹ tử trận là 416.800 người và tốn kém hàng tỷ đô-la chiến phí [18]. Nếu đổi lại Mỹ với bất kỳ nước nào trên thế giới, thì số phận nước bại trận không biết sẽ ra sao. Còn về chính sách ngoại giao của Mỹ, ta có thể ví như một con lắc dao động giữa hai cực: lý tưởng và thực dụng. Các tổng thống Mỹ từ giữa đến cuối thế kỷ 20 thể hiện rất rõ nét sự tương phản giữa hai thái cực lý tưởng và thực dụng, hay pha trộn cả hai trong chính sách ngoại giao của mình. Bài học chúng ta có thể rút ra từ hai trường hợp này là (1) dù người có nhân từ, ta cũng phải có bản lãnh để không trở thành tay sai, và (2) quyền lợi quốc gia vẫn là yếu tố tối hậu quyết định bang giao quốc tế.

Nông Duy Trường

© 2009

[1] Nixon, Richard, Leaders, Warner Books, 1982, trang 115.
[2] Khi một người bị chính quyền bắt, thì trong thời hạn sớm nhất cảnh sát phải đưa người đó ra tòa để quan tòa luận xem những tội trạng bên chính quyền đưa ra có chính đáng và có đủ chứng cớ hay không.
[3] tlđd. (Tài liệu đã dẫn), trang 116. (Phụ nữ tại Mỹ cũng chỉ mới được quyền ứng/bầu cử vào năm 1921 qua Tu chính Án thứ 19).
[4] http://www.solon.org/Constitutions/Japan/English/english-Constitution.html
[5] tlđd, trang 114.
[6] tlđd.
[7] tlđd.
[8] Đảng phái chính trị (gọi tắt là chính đảng, chính không có nghĩa là công chính hay đối nghịch với tà) tại Nhật được hình thành khá sớm so với các nước tại Á châu, vào năm 1874; nhưng cũng phải trải qua nhiều giai đoạn để trưởng thành, lúc tăng trưởng, lúc bị chính quyền quân chủ đàn áp. Đến năm 1890 các chính đảng đã tham gia thường trực vào sinh hoạt chính trị của quốc gia. Đảng mạnh nhất là đảng Tự Do.
[9] Ký tên vào hiệp ước này có cả đại diện của Việt Nam Cộng Hòa là thủ tướng Trần Văn Hữu (Bản Hiệp ước lưu trữ tại Liên Hiệp Quốc: United Nations Treaty Series 1952 (reg. no. 1832), vol. 136, pp. 45 - 164. Online tại:
http://www.alpha-canada.org/learn/SanFran.htm
[10] tlđd.
[11] Nghị định đầu hàng vô điều kiện được ký vào ngày 7 tháng 5, 1945.
[12] Tham khảo thêm phân tích về Kế hoạch Marshall và Thỏa thuận về các món nợ của Đức tại http://www.cadtm.org/spip.php?article2162
[13] Nixon, tlđd.
[14] Lipset, M. American Exceptionalism: A Double-Edge Sword. W.W. Norton, 1996.
[15] Thimm, J. "American Exceptionalism: Conceptual thoughts and Empirical Evidence," bản điện tử tại:
http://www.politikwissenschaft.tu-darmstadt.de/fileadmin/pg/Sektionstagung_IB/Thimm-American_exceptionalism.pdf
[16] Xem thêm Chính sách 14 điểm tại http://en.wikipedia.org/wiki/Fourteen_Points
[17] Khi Thế chiến thứ hai xảy ra, Mỹ vẫn chưa muốn dính vào cuộc chiến tại Âu châu. Tổng thống F. Roosevelt phải ứng biến tạo ra chương trình "Lend-lease" để giúp cho Anh quốc, vì Quốc hội Mỹ cấm không cho can dự vào cuộc chiến tại Âu châu, cho đến khi Đức và Ý tuyên chiến với Mỹ ngày 11 tháng 12, 1941, 4 ngày sau khi Nhật tấn công Trân Châu Cảng (7/12/41).
[18] Wikipedia: http://en.wikipedia.org/wiki/World_War_II_casualties#endnote_US

Khách gửi hôm Chủ Nhật, 23/08/2009
Bạn đánh giá bài viết này thế nào?

Giáp Văn Dương - Học gì từ Nguyễn Trường Tộ?

Nguyễn Đại - Kém hiểu biết hay Thiếu trách nhiệm?

Lê Hoài Nguyên - Vụ Nhân Văn Giai Phẩm từ góc nhìn một trào lưu tư tưởng dân chủ, một cuộc cách mạng văn học không thành (5)

Lê Hoài Nguyên - Vụ Nhân Văn Giai Phẩm từ góc nhìn một trào lưu tư tưởng dân chủ, một cuộc cách mạng văn học không thành (4)

Phan Hồng Giang - Đừng nghe... nói, hãy xem... làm!


tò mò (khách viếng thăm) gửi lúc 13:13, 11/06/2013 - mã số 90001

Câu hỏi của tò mò tui là : VN là 1 nước nhược tiểu, và nay thì có lẽ
còn tệ hơn nữa. Vậy nếu Mỹ và Tàu (TQ) đi đêm với nhau, quyết định
vận mạng của VN (thường là đến giờ chót mới lộ ra, biết thì đã muộn, như trường hợp VNCH trước đây), thì VN sẽ phải làm gì, làm thế nào,
để sống còn, để có thể còn tạm gọi là độc lập, không bị "cai trị" ?
Nghĩ phòng như vậy để suy nghĩ VN phải làm gì ngay bây giờ, trước khi
quá muộn. Không chừng quá muộn rồi cũng nên !
Ai cứu cho mình ?

Hoàng Triết gửi lúc 08:20, 30/03/2013 - mã số 82913

Tựa đề là đề tài thảo luận, bài viết trình bày các chi tiết cần thiết để kích thích tư duy, giúp người đọc có một cái nhìn toàn diện hơn để cân nhắc khi đi đến nhận định riêng của mình đối với câu hỏi thảo luận.

Bài viết mở đầu bằng hai quy luật:
(1) Không có ngoại bang nào cai trị tốt, và
(2) các chế độ xấu xa trong mỗi nước đều bị chính nhân dân nước đó thay đổi.

Và với hai trường hợp ngoại lệ, bài viết đi đến kết luận:
(1) dù người có nhân từ, ta cũng phải có bản lãnh để không trở thành tay sai, và
(2) quyền lợi quốc gia vẫn là yếu tố tối hậu quyết định bang giao quốc tế.

Hai quy luật là một lời nhắc nhở, và hai kết luận ở cuối bài cũng là một nhắc nhở cần thiết cho những trò có khuynh hướng hấp tấp, không rẽ phải thì rẽ trái. Đối với một người thầy, tôi trân trọng cử chỉ này vì trách nhiệm của người thầy đối với tôi là kích thích tư duy, khi cần thì nhắc nhở phải cẩn thận và trả lời thắc mắc, chứ không áp đặt câu trả lời của mình hoặc định hướng tư duy.

oOo

Quy luật (1) có thể xem lại sau khi cân nhắc hai trường hợp trong bài. Sau khi xem xét chúng ta có thể cho là nó sai hoặc phải xét lại hai trường hợp trong bài có nên gọi là "cai trị" hay không? Trong khi đó thì quy luật (2) mãi đúng nên câu hỏi kế tiếp là: Khả năng ngoại bang "cai trị" xấu là bao nhiêu? Nếu phải đợi xem ngoại bang cai trị xấu rồi nhân dân ra tay thay đổi, tại sao nhân dân không tự ra tay thay đổi cái chính quyền nội địa xấu kia để khỏi phải tổn hao tài nguyên và mất mát thời gian nhiều thêm nữa? Có nên hoàn toàn tin cậy vào ngoại bang hay không?

Kết luận (1) và (2) là những nhắc nhở lúc nào cũng đúng, nhưng kết luận (2) cũng nên áp dụng để biết được ngoại bang muốn gì. Đối với họ, quyền lợi của họ vẫn là trên hết! Đối với tôi, hai kết luận này chỉ có thể hỗ trợ cho quy luật (1) khiến nó có phần thuyết phục hơn mà thôi. Và một lần nữa, nó đưa tôi về câu hỏi: Tại sao nhân dân không tự ra tay thay đổi cái chính quyền nội địa xấu kia để khỏi tổn hao và mất mát thời gian nhiều thêm nữa?

Tất nhiên là lựa chọn cái ít xấu hơn giữa hai cái xấu là câu trả lời. Nhưng nếu ai cũng vì quyền lợi quốc gia của họ thì ngoại bang cũng vậy thôi, tức là vẫn cần đến bãn lãnh như ở tướng Shigeru Yoshida và lãnh tụ Adenauer. Nếu không thì dù đối tác xây dựng đó có là Hoa Kỳ, sự cai trị của ngoại bang đó sẽ tiến dần đến mức xấu, tuy chậm. Ngay cả ở nước Mỹ, đấu tranh cho quyền lợi cũng là việc cần phải làm mỗi ngày.

oOo

So sánh lịch sử với bối cảnh Việt Nam hiện nay, tôi thấy có những sự khác biệt như sau:

(1) Quan hệ Mỹ-Nhật và Mỹ-Đức là quan hệ kẻ thắng người bại, trong khi quan hệ giữa Mỹ-VN hôm nay là đối tác kinh tế.

Việt Nam không cần phải tuân thủ các điều kiện Hoa Kỳ đưa ra một cách dễ dãi nên Hoa Kỳ nếu không cần thiết cũng chẳng muốn đặt quá nhiều điều kiện, sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của họ. Đối với Hoa kỳ, họ chỉ muốn hợp tác với chính quyền VN để làm kinh tế, sinh lợi cho họ. Cho nên câu hỏi chọn lựa của tiêu đề trở nên bất cập. Đối với Trung Quốc, họ chị muốn thống trị, cho nên cũng không cần hỏi như thế vì chấp nhận chính quyền nội địa xấu vẫn hơn.

(2) Thái độ của chính quyền Việt Nam và Trung Quốc có tính chất thống trị, áp bức trong đó, xứng với nghĩa của hai chữ "Cai Trị". Trong khi đó thì thái độ của chính quyền Hoa kỳ đối với dân không thích hợp lắm khi sử dụng từ này, ngay cả cách đối xử của Hoa kỳ sau khi chiến thắng cũng không có ý nghĩa "cai trị" đối với tôi.

Nếu thiên về Hoa Kỳ, câu hỏi đúng hơn là nhân dân Việt Nam phải làm gì để chính quyền Hoa Kỳ chú tâm đến họ và tạo sức ép khiến chính quyền VN trở nên "bớt xấu" hơn? Và khi chấp nhận sự giúp đỡ đối tác của Hoa kỳ, cả nhân dân và chính quyền VN phải làm gì, phải có bãn lãnh gì với đối tác của mình để khỏi bị họ dùng kinh tế thao túng và bòn rút của ta? Dân Mỹ còn phải đấu tranh liên tục để đảm bảo quyền lợi kinh tế/chính trị của họ đối với chính quyền Hoa Kỳ thì Việt Nam phải vậy hoặc hơn mới khá.

(3) Đối với Pháp và Nhật khi xưa thì Việt Nam ta bị "ngoại bang cai trị", còn hiện nay thì không phải ngoại bang.

Cụ Phan Châu Trinh (1872-1926) sinh ra trong thời Pháp thuộc (1862-1954) cụ vì không thích bạo động nên trông mong vào sự giúp đỡ của Pháp, chứ cụ đã không có chọn lựa giữa chính quyền nội địa xấu và ngoại bang cai trị tốt. Cho nên nếu ta trông chờ vào Hoa Kỳ hôm nay mà nghĩ mình đang noi theo tinh thần "chọn lựa ngoại bang cai trị tốt" của cụ thì tôi thấy oan cho cụ quá. Có noi theo thì chỉ là tinh thần bất bạo động mà thôi.

oOo

Tóm lại, những gì hữu ích Pháp và Hoa Kỳ đã làm, chúng ta đều biết. Người Việt có thể tự noi theo mà không cần nhờ vào sự cai trị hoặc thao túng chính trị trực tiếp của ngoại bang, ngoại trừ khi cần Hoa Kỳ đối phó với TQ nhưng đó là chuyện ngoại giao. Chính quyền cai trị xấu của VN có thể tự thay đổi hoặc nhân dân VN tự thay đổi chính quyền của họ rồi hợp tác với Hoa kỳ. Ai cũng vì lợi ích của đất nước họ mà thôi. Đối với một đất nước mà đại đa số dân chúng thụ động từ suy nghĩ đến thái độ chính trị thì họ sẽ mất nhiều thời gian tự hỏi "ngoại bang cai trị tốt không?" "Có nên chấp nhận chính quyền nội địa xấu hơn không?" Và với đất nước đó, họ sẽ không có một chính quyền nào tốt cả, dù chính quyền đó là ngoại bang hay nội địa.

Bài viết làm tôi suy nghĩ nhiều, góp ý dài dòng, ý tưởng rời rạc. Nhưng cảm giác sau cùng là: Trừ khi đến đường cùng, đây không phải là câu để hỏi.

NiMarxNiJesus gửi lúc 04:33, 30/03/2013 - mã số 82903
Khách viết:
Không biết tôi có tối dạ hay không, nhưng đọc kỹ toàn bài viết này, chẳng thấy chỗ nào toát lên cái ý của người viết là "trong hai cái xấu thì nên chọn cái ít xấu hơn" như Trang Nhung nhận định.
Trái lại, chỉ thấy ý của tác giả thể hiện rất rõ trong hai câu kết luận như sau.

Thứ nhất, cách đối xử của Mỹ với Đức và Nhật sau Đệ nhị thế chiến chỉ là hai trường hợp hết sức cá biệt, còn nói chung trong lịch sử loài người thì ngoại bang bao giờ cũng đem lại đau khổ cho dân tộc bị áp bức. Nhưng ngay cả khi đối phương tỏ ra "nhân từ", thì mỗi dân tộc cũng phải có bản lĩnh để không trở thành tay sai.

Thứ hai, cái sự thực rằng đối với nước này thì Mỹ ủng hộ chế độ dân chủ, còn đối với nước khác thì Mỹ lại ủng hộ chế độ độc tài, chỉ chứng tỏ rằng dân chủ hay độc tài đối với Mỹ hoàn toàn không quan trọng; cái quan trọng nhất là quyền lợi quốc qia của Mỹ, chính nó quyết định chính sách bang giao của Mỹ.

Riêng đối với Việt Nam, thì khi cha ông ta, từ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, cho tới các nhà cách mạng của mọi đảng phái, hết lớp người này đến lớp người khác ngã xuống trong cuộc đấu tranh giành lại độc lập từ tay thực dân Pháp - kẻ chưa từng tỏ ra nhân từ -, thì hoàn toàn không có chuyện "lựa chọn giữa hai cái xấu". Họ chỉ có một lựa chọn duy nhất: chịu làm nô lệ cho ngoại bang, hay đứng lên chiến đấu giành lại độc lập. Thế thôi!

Còn chuyện sau khi giành được độc lập thì sẽ thế nào, đối với họ không phải là vấn đề cần phải đặt ra để lựa chọn giữa việc giành độc lập và không giành độc lập. Cho nên, đặt vấn đề "chọn lựa giữa ngoại bang cai trị tốt và chính quyền nội địa cai trị xấu" là một cách đặt vấn đề thiếu xác đáng.

Phải chăng Lê Chiêu Thống là kẻ thức thời khi cho rằng thà chịu sự cai trị của nhà Thanh còn hơn chịu sự cai trị của nhà Tây Sơn thối nát? Hình như chưa thấy ai khen Lê Chiêu Thống về hành động đó cả.

Giả dụ, nếu bây giờ có một nước nào đó đem quân xâm lược Việt Nam, hứa hẹn sẽ thiết lập một nền cai trị tốt (giống như nhà Minh, nhà Thanh trước đây đã làm khi xâm lược nước ta vậy, trong chỉ dụ của hoàng đế Minh triều và Thanh triều đều nói rằng đem quân sang nước Nam là để lập lại triều chính, đem lại ơn mưa móc cho muôn dân), thì các bạn sẽ đứng về phía nào?

Tôi đồng ý với nhận định của bạn .

Nếu phải chọn lựa giữa anh Hoa Kỳ và TQ cai trị đất nước thì tôi sẽ không ngần ngại chọn Hoa Kỳ ... đó là chọn lựa giữa hai cái xấu, còn thì độc lập vẫn là ưu tiên 1. Nó chả khác gì làm con nuôi ( Thực ra sẽ là đầy tớ ) 1 anh nhà giàu và làm con đẻ có cha mẹ nghèo .

1 chế độ hà khắc rồi sẽ có lúc phải thay đổi hay tan vỡ nhưg một nước mất độc lập rất khó để giành lại .. Nhật và Đức có thể nói là may mắn vì kẻ thắng trận là đồng minh và Hoa Kỳ ( kẻ cai trị tốt nhất trong số các đại cường ) còn VN thì thật kém may mắn vì hết Tàu cai trị lại đến Pháp mà cứ nhìn các quốc gia bị Tàu hay Pháp đô hộ thì chả nước nào ngóc lên được . Ông Hồ ngày xưa cũng muốn Hoa Kỳ cho nắm tay lắm đấy chứ, chẳng qua là HK ngoảnh mặt mà thôi .

Trưởng thành trong thời gian HK " Chiếm đóng " miền Nam, từng làm việc với họ và dù HK không hay chưa kịp bóc lột gì miền Nam, thậm chí còn đổ của vào, mặc dù có sung sướng thật nhưng cũng có khối cái uất ức mà đó là HK còn nhân đạo và thé giới nhìn vào, thế thì chả biết thời xưa, khi Tàu với Pháp đô hộ thì còn nhục và uất ức đến mức nào .

Đừng nhìn thấy cuộc sống tự do bên Mỹ mà nghĩ rằng họ cũng đối xử với người dân VN thời kỳ đó tốt đẹp giống như họ đối xử tương đối bình đẳng như ở Cali.

Cho nên dù rằng là người tị nạn vì không thể sống với CS thời điểm 80 nhưng tôi vẫn thấm thía câu : Không có gì quý hơn độc lập tự do .

Tất nhiên sẽ có vị hỏi : Thế sao lại vượt biên, lại tị nạn ?

Xin trả lời là : "Hà chính ư mãnh hổ" và là người tị nạn có nhiều chọn lựa hơn, được đối xử bình đẳng với dân bản xứ chứ không giống như là dân 1 nước mất độc lập .

Dó cũng là lựa chọn cái ít xấu nhất và cho tương lai con cái chứ nếu có 1 chính quyền thực sự thương dân, lo cho dân thì dù đất nước khó khan cũng chả ai muốn bỏ xứ ra đi .

neofob (khách viếng thăm) gửi lúc 02:11, 30/03/2013 - mã số 82898

Trong trường hợp nước Đức (Tây Đức), thủ tướng Adenauer đã có công trì hoãn công cuộc đồng quê hóa nước Đức của Đồng Minh. Các nhà máy kỹ nghệ của Đức không bị dỡ bỏ hoàn toàn. Hơn nữa ông Adenauer đã có những hành động giúp đỡ nền công nghiệp nặng -- đặc biệt là tập đoàn Krupp(*). Chính sự hồi phục của nền công nghiệp Tây Đức đã duy trì và phát triển khoa học kỹ thuật của Đức cho đến nay. Có lẽ điều may cho Tây Đức là thái độ hung hăng của Sô Viết đã buộc Đồng Minh thay đổi ý kiến và cần một nước Đức mạnh cả kinh tế lẫn quân sự.

...

Sau khi Đông và Tây Đức thống nhất, một trong những thỏa thuận giữa NATO và Sô Viết là NATO sẽ không có căn cứ quân sự mới trên đất Đông Đức cũ, đổi lại, Sô Viết sẽ rút quân đóng trên đất Ba Lan; giới lãnh đạo của Đức đã thỏa thuận để không biến nước Đức thành chiến trường của người khác. Đó là quyền lợi quốc gia được thi hành trong thực tế. Nếu tui nhớ không lầm là vậy.

(*): Google Krupp Family, xem giai đoạn sau Đệ nhị Thế chiến.

slinkee (khách viếng thăm) gửi lúc 23:08, 29/03/2013 - mã số 82888

Một vài sai lầm cơ bản

Chủ nghĩa biệt lệ (exceptionalism) của Mỹ đã bị biến hóa thành người càng có tài càng được tưởng thưởng nhiều . Mỹ đang tìm cách đối phó với vấn đề thiếu thốn tài nguyên thiên nhiên . Cách biệt (isolationism) cũng đã bị thoái hóa so với nghĩa nguyên thủy của nó . Toàn cầu hóa (Globalism) bắt nguồn từ Mỹ . Để Isolationism và Globalism cạnh nhau, ông thầy này sẽ phải dùng biện pháp hoa chân múa tay .

Mỹ không có tham vọng chiếm đóng nước khác mà chỉ muốn các nước khác có thể chế giống mình và thân mình . Vì vậy, mối quan hệ của Mỹ đối với các nước trên không phải cai trị, cũng không phải "thực dân mới", mà là một thứ gì đó hoàn toàn khác chưa ai định nghĩa nổi . Một thứ pha trộn giữa lý tưởng và quyền lợi .

Thế kỷ 20, sau WWII, người ta phải nhìn nhận lại về mô hình bạo lực và chiến tranh . Tất nhiên vẫn còn tranh chấp, không thể hết được, nhưng cách giải quyết bây giờ khó và không thể là chiến tranh quy mô hoặc bạo lực .

Lãnh đạo quốc gia bắt buộc phải là lãnh đạo kiểu mới, cứng rắn nhưng cũng phải uyển chuyển và cởi mở, tùy theo lúc, và lúc nào cũng đặt quyền lợi của đất nước và dân tộc lên trước . Chính trị hiện đại đòi hỏi nhiều hơn từ các chính khách, và ai không hội đủ điều kiện sẽ bị đào thải . Tất nhiên ngoại trừ những chính khách muốn làm độc tài, thì (hầu như) không phải làm gì hết . Ô Diệm đã không bắt kịp tư tưởng mặc dù thời thế ở bên ông, các chính khách sau ông trễ thời thế và không có cả tư tưởng .

Còn về chuyện lựa chọn, không phải ai cũng có thể phân biệt được cái ít xấu hơn ? Lướt qua những tài liệu của Nam Việt cũ trong các thư viện Mỹ, có vẻ như miền Nam không hiểu chủ nghĩa Cộng Sản, ngay cả với tầm tư duy của thế giới vào lúc đó . Trong chính phủ cũng không có những nghiên cứu nghiêm túc về chủ nghĩa Cộng Sản . Ngay cả ngoài này, bây giờ, cũng chỉ có rất ít những nghiên cứu nghiêm túc bằng tiếng Việt mặc dù tư liệu ê hề . Có vẻ khả quan hơn nếu nhìn vào tư liệu viết bằng tiếng Anh bởi thế hệ trẻ hơn tàng trữ trong các trường đại học, nhưng có lẽ "không bắt mắt" các nhà xuất bản tiếng Việt . Tức là ngày xưa người ta rất lơ mơ về cái đầu đối thủ của mình .

Có lẽ cũng chẳng nên lấy làm lạ, người Việt cắm rễ ở ngoài này khá lâu, nhưng tư tưởng vẫn đi sau người ta giá chót 50 năm . Đọc bài này vẫn không khá hơn một bài giảng về chính trị học ở miền Nam khoảng cuối 60 đầu 70. Vẫn còn nguyên những nhận định hời hợt, chủ quan, theo thuyết lịch sử của Hegel, phân biệt, trong khi những mối quan hệ quốc tế phức tạp hơn nhiều, và sẽ sai lầm nghiêm trọng nếu cứ đơn giản hóa, và nhét tất cả vô không trắng thì đen, không đen thì trắng .

Chí Hải (khách viếng thăm) gửi lúc 21:24, 29/03/2013 - mã số 82885

Thời thế sinh anh hùng, anh hùng muốn làm nên chuyện cũng phải nhờ thời thế." Thế chiến quốc, thế xuân thu, gặp thời thế thế thì phải thế "

Eleanor gửi lúc 22:08, 01/08/2012 - mã số 64260

Cái tiêu đề có phần chưa chính xác lắm. Đọc bài viết, tôi không thấy đề cập tới sự lựa chọn giữa ngoại bang và nội địa. Cả hai ví dụ đưa ra đều là một sự hợp tác đôi bên cùng có lợi. Điều kiện cần là nội địa có một người hoặc một nhóm người có tư tưởng cởi mở, có đủ bản lãnh để đứng vững trước những yêu sách của ngoại bang, nhượng bộ có mức độ, giữ được sự tự chủ nhất định để không trở thành tay sai; ngoại bang thì cần có một sự hiểu biết nhất định với quốc gia mình chiếm được. Đây không hẳn là lòng nhân từ của ngoại bang. Có thể việc giúp đỡ các nước này sẽ tạo ra một thị trường lớn cho ngoại bang hoặc những lợi ích khác mà không phải ai cũng thấy được.
Rõ ràng, trên thế giới và trong lịch sử, những trường hợp như thế này là hiếm. Vả lại, điều kiện hiện nay cũng khác với ngày xưa. Với điều kiện hiện tại của mình, Việt Nam không chỉ nên dựa vào một mình Mỹ để chống lại những việc làm phi lý của Trung Quốc mà phải dựa vào tất cả các nước trên thế giới, dựa vào những quy tắc, những luật lệ quốc tế. Mỗi quốc gia, dù lớn hay nhỏ thì cũng đều đặt lợi ích quốc gia mình lên trên hết. Nếu trông chờ quá nhiều vào nước ngoài thì chính quyền nội địa đã tự mình làm cho mình trở nên tệ hại và không đáng tin cậy.

Khách Phương Xa gửi lúc 02:22, 31/07/2012 - mã số 64118

Cám ơn thầy Nông Duy Tường và anh/chị Nguyễn Trang Nhung đã đóng góp một bài học lịch sử giá trị như thế này. Qua bài phân tích này, tôi học hỏi thêm được rất nhiều đều về lịch sử cũng như học được một đều mà tôi nghĩ thầy muốn gởi đến cho các học sinh của mình: "Hãy học bài học lịch sử và lựa chọn con đường của mình qua những gì mình học được." Và sự lựa chọn cũng đã rỏ ràng trong bài biết "Hãy chọn cho mình một đồng minh tốt nhất." và đồng minh đó chính là Mỹ quốc. Với mối quan hệ ngoại giao hiện nay, người Mỹ không thể nào trở thành kẻ đô hộ mà chỉ có thể là đồng minh. Khi trở thành đồng minh, ta không thể phụ thuộc hoàn toàn mà cần phải có những Yoshida hay Adenauer để làm đối tác với người Mỹ trong việt xây đựng một đất nước độc lập, tự do, dân chủ, và phát triển. Không ai cho không chúng ta đều gì nhưng nếu cả hai cùng hợp tác vì lợi ích của nhau thì tại sao không cùng hợp tác.
Một số các anh chị phản hồi cho rằng không thấy một giải pháp trong bài viết chứng tỏ rằng các anh chị vẩn mang suy nghĩ nô lệ cũa người bị đô hộ. Chỉ biết trông chờ xem người ta làm gì mình chứ không biết mình phải làm gì cho chính mình. Nếu mang suy nghĩ như vậy, sự lựa chọn duy nhất của các anh chị là làm nô lệ cho Trung Quốc mà thôi.

visitor (khách viếng thăm) gửi lúc 03:18, 09/02/2012 - mã số 51918

Mỹ chắc chắn là tốt hơn TQ. Hãy nhìn cách cường quốc Mỹ đối xử với hai nước láng giềng yếu hơn là Canada và Mexico sẽ thấy rõ điều này. Mĩ cũng là cường quốc duy nhất không chiếm đất của nước khác làm thuộc địa.

Tất nhiên là nếu ta tự làm chủ, quản lí ta tốt thì vẫn là tốt nhất. Nhưng nếu bị đô hộ thì bị Anh Mĩ đô hộ vẫn tốt hơn Pháp.

Khách gửi lúc 20:38, 10/09/2009 - mã số 4450

thật là những người rỗi hơi với những suy nghĩ lẩn thẩn, rách việc

Khách gửi lúc 13:44, 25/08/2009 - mã số 4012
Khách viết:
Hoàn toàn đồng ý với bác Khách, tôi đọc đi đọc lại mãi cũng chẳng hiểu gì cả cái gọi là bài viết của một giáo sư. Tôi cũng mở lướt xem trang web của Học Viện Công Dân là cái gì.

K biết nói thế nào nữa về bài viết trên, cũng là một sự "khác biệt" mà, chỉ có thể nói theo ý kiến riêng của tôi đó là một tư tưởng nô lệ trông chờ. Đem cái ý này ra mà nói, tôi nhớ câu Tq có nói một câu đại loại như thế này: "Thật khó dùng chữ "nếu" hay "giá mà" để đánh giá lịch sử" khá là chính xác. Do đó, thật khó có chuyện "tốt, xấu" để mà chọn lựa???

Mỗi giai đoạn lịch sử nó có cái kết thúc của nó. K thể vì ông cha đã bảo vệ, giành lại được đất nước, mà sau này con cháu ăn tàn phá hại lại lôi cha ông ra chửi để mà "giá như" k có những xương máu của những người đã đổ xuống vì nền hoà bình thì VN k khổ như ngày nay!
phunusaigon

Chào chị,

Vui vì chị đã ghé qua Học Viện Công Dân. Nếu chị còn tiếp tục ghé qua, có thể chị sẽ tìm thấy nhiều điều hữu ích cho mình! :)

Về ý kiến riêng của chị, rằng đây là "tư tưởng nô lệ trông chờ", thì em cho là nghĩ như vậy hơi quá rồi! Ngày xưa cụ Phan Chu Trinh - nhà tư tưởng, nhà yêu nước lớn - cũng chẳng đã ít nhiều có tư tưởng trông mong vào sự giúp đỡ của Pháp quốc. Đường lối của cụ đến nay vẫn bị nhìn nhận là cải lương, nhưng mà ngẫm nghĩ kỹ lại, cách nhìn nhận đấy có phần hàm hồ.

Tất nhiên lịch sử làm gì có "nếu" hay "giá như". Đây chỉ là một cách đặt vấn đề cho chúng ta có dịp nhìn lại lịch sử để trao đổi quan điểm mà thôi. Nếu ai thấy vấn đề được đặt ra là hữu ích ở góc độ nào đó thì tốt, nếu không thì cũng không sao cả.

TN

Khách gửi lúc 11:03, 25/08/2009 - mã số 4011
Khách viết:
Không biết tôi có tối dạ hay không, nhưng đọc kỹ toàn bài viết này, chẳng thấy chỗ nào toát lên cái ý của người viết là "trong hai cái xấu thì nên chọn cái ít xấu hơn" như Trang Nhung nhận định.
...
Giả dụ, nếu bây giờ có một nước nào đó đem quân xâm lược Việt Nam, hứa hẹn sẽ thiết lập một nền cai trị tốt (giống như nhà Minh, nhà Thanh trước đây đã làm khi xâm lược nước ta vậy, trong chỉ dụ của hoàng đế Minh triều và Thanh triều đều nói rằng đem quân sang nước Nam là để lập lại triều chính, đem lại ơn mưa móc cho muôn dân), thì các bạn sẽ đứng về phía nào?

Hoàn toàn đồng ý với bác Khách, tôi đọc đi đọc lại mãi cũng chẳng hiểu gì cả cái gọi là bài viết của một giáo sư. Tôi cũng mở lướt xem trang web của Học Viện Công Dân là cái gì.

K biết nói thế nào nữa về bài viết trên, cũng là một sự "khác biệt" mà, chỉ có thể nói theo ý kiến riêng của tôi đó là một tư tưởng nô lệ trông chờ. Đem cái ý này ra mà nói, tôi nhớ câu Tq có nói một câu đại loại như thế này: "Thật khó dùng chữ "nếu" hay "giá mà" để đánh giá lịch sử" khá là chính xác. Do đó, thật khó có chuyện "tốt, xấu" để mà chọn lựa???

Mỗi giai đoạn lịch sử nó có cái kết thúc của nó. K thể vì ông cha đã bảo vệ, giành lại được đất nước, mà sau này con cháu ăn tàn phá hại lại lôi cha ông ra chửi để mà "giá như" k có những xương máu của những người đã đổ xuống vì nền hoà bình thì VN k khổ như ngày nay!

phunusaigon

Khách gửi lúc 07:24, 25/08/2009 - mã số 4005
Khách viết:
Không biết tôi có tối dạ hay không, nhưng đọc kỹ toàn bài viết này, chẳng thấy chỗ nào toát lên cái ý của người viết là "trong hai cái xấu thì nên chọn cái ít xấu hơn" như Trang Nhung nhận định.

Thưa với anh/chị/cô/chú/bác là ý đó không có trong bài viết này đâu ạ (như TN có viết trong phần giới thiệu về bài là "các bạn sẽ không thấy câu trả lời thẳng cho câu hỏi").

TN cũng không nhận định mà là TN biết thế, vì TN tham gia cuộc thảo luận (trong đó có một học viên đưa ra câu hỏi này), ở đó thầy Trường đã nói câu trả lời của thầy một cách chung nhất như vậy (giữa hai cái xấu, chọn cái ít xấu hơn). Tuy nhiên, ý của thầy xâu xa hơn câu trả lời đơn thuần này, mà ý xâu xa đó mọi người có thể tìm thấy trong bài viết.

Cảm ơn anh/chị/cô/chú/bác đã góp ý kiến! :)

Khách gửi lúc 23:20, 24/08/2009 - mã số 3992

Không biết tôi có tối dạ hay không, nhưng đọc kỹ toàn bài viết này, chẳng thấy chỗ nào toát lên cái ý của người viết là "trong hai cái xấu thì nên chọn cái ít xấu hơn" như Trang Nhung nhận định.
Trái lại, chỉ thấy ý của tác giả thể hiện rất rõ trong hai câu kết luận như sau.

Thứ nhất, cách đối xử của Mỹ với Đức và Nhật sau Đệ nhị thế chiến chỉ là hai trường hợp hết sức cá biệt, còn nói chung trong lịch sử loài người thì ngoại bang bao giờ cũng đem lại đau khổ cho dân tộc bị áp bức. Nhưng ngay cả khi đối phương tỏ ra "nhân từ", thì mỗi dân tộc cũng phải có bản lĩnh để không trở thành tay sai.

Thứ hai, cái sự thực rằng đối với nước này thì Mỹ ủng hộ chế độ dân chủ, còn đối với nước khác thì Mỹ lại ủng hộ chế độ độc tài, chỉ chứng tỏ rằng dân chủ hay độc tài đối với Mỹ hoàn toàn không quan trọng; cái quan trọng nhất là quyền lợi quốc qia của Mỹ, chính nó quyết định chính sách bang giao của Mỹ.

Riêng đối với Việt Nam, thì khi cha ông ta, từ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, cho tới các nhà cách mạng của mọi đảng phái, hết lớp người này đến lớp người khác ngã xuống trong cuộc đấu tranh giành lại độc lập từ tay thực dân Pháp - kẻ chưa từng tỏ ra nhân từ -, thì hoàn toàn không có chuyện "lựa chọn giữa hai cái xấu". Họ chỉ có một lựa chọn duy nhất: chịu làm nô lệ cho ngoại bang, hay đứng lên chiến đấu giành lại độc lập. Thế thôi!

Còn chuyện sau khi giành được độc lập thì sẽ thế nào, đối với họ không phải là vấn đề cần phải đặt ra để lựa chọn giữa việc giành độc lập và không giành độc lập. Cho nên, đặt vấn đề "chọn lựa giữa ngoại bang cai trị tốt và chính quyền nội địa cai trị xấu" là một cách đặt vấn đề thiếu xác đáng.

Phải chăng Lê Chiêu Thống là kẻ thức thời khi cho rằng thà chịu sự cai trị của nhà Thanh còn hơn chịu sự cai trị của nhà Tây Sơn thối nát? Hình như chưa thấy ai khen Lê Chiêu Thống về hành động đó cả.

Giả dụ, nếu bây giờ có một nước nào đó đem quân xâm lược Việt Nam, hứa hẹn sẽ thiết lập một nền cai trị tốt (giống như nhà Minh, nhà Thanh trước đây đã làm khi xâm lược nước ta vậy, trong chỉ dụ của hoàng đế Minh triều và Thanh triều đều nói rằng đem quân sang nước Nam là để lập lại triều chính, đem lại ơn mưa móc cho muôn dân), thì các bạn sẽ đứng về phía nào?

Khách gửi lúc 23:17, 24/08/2009 - mã số 3991

-Cũng có thể Mỹ ngại Liên Xô nên xây dựng mô hình xã hội tại Nhật và Đức. Nhưng dù lý do gì đi nữa mô hình xã hội của Mỹ dựng lên là đúng và đã thành công phát triển đất nước hùng mạnh.

Khách gửi lúc 23:12, 24/08/2009 - mã số 3990

Chào Dân Luận và các bạn đọc,

Tôi là Nguyễn Trang Nhung, người gửi bài viết này. Cảm ơn Dân Luận đã đăng bài viết.

Tôi có một yêu cầu nho nhỏ tới Dân Luận: Vì thầy giáo của tôi - thầy Nông Duy Trường - là tác giả bài viết, nên Dân Luận để tên thầy Nông Duy Trường dưới tiêu đề bài viết (thay cho tên của tôi) với nhé!

Tôi gửi lời cảm ơn tới những người đã (và sẽ) góp ý kiến cho bài viết. Tôi sẽ chuyển những ý kiến này tới thầy giáo của mình. :)

TN

Khách gửi lúc 21:04, 24/08/2009 - mã số 3985

Những tư tưởng để cho thực dân Pháp hay tư bản đô hộ thêm ,hòng mang lại những mô hình cơ bản trong mọi lĩnh vực kinh tế và chính trị cho Việt nam không phải mò mẫm lò dò từng bước bao năm mà không có hiệu quả.Theo tôi như thế cũng không có gì đảm bảo cho việt nam cả, Họ ( Anh,Pháp,Mỹ)có thể đối xử tốt với những nước bại trận hoặc bị đô hộ vì thời điểm đó chỉ có Liên bang Xô viết là nước cộng sản đầu tiên trên thế giới.Họ sợ chủ nghĩa CS lan rộng khắp các nước ảnh hưởng tới quyền lợi của họ thôi.Những người Việt chân chính họ không muốn người việt mình bị thêm một phút nào đô hộ nữa dù chấp nhận sự tụt hậu,đói nghèo. Nếu kinh tế việt nam khá thì những học sinh du hoc,những nhà trí thức đang học,thực tập ở nước ngoài họ sẽ không ở lại mà về nước xây dựng đất nước.Cũng chỉ về kinh tế,bất đồng chính trị mà một số nhà trí thức giỏi đã không trở về việt nam nữa, thật tiếc.Những ai có chút giòng máu việt hãy nghĩ tới việt nam.CÂMĐIÊC

Khách gửi lúc 09:05, 24/08/2009 - mã số 3967

Theo thiển ý của tôi, hãy bổ sung thêm trường hợp Hongkong vào bài viết này. Hongkong vẫn là thuộc địa của Anh cho tới năm 1997 mới trao trả lại cho Trung Quốc. Trong thời kỳ là thuộc địa của Anh, Hongkong đã vươn mình thành một "tô giới" phồn thịnh, tráng lệ, thu nhập bình quân theo đầu người rất cao. Bởi vì, Hongkong giống như một nước Anh thu nhỏ, hiện đại, lấy dịch vụ, kỹ nghệ và du lịch làm tôn chỉ để phát triển hài hòa.
Thế nhưng, từ khi "bị" giao về Đại Hán, Hong kong không còn giữ được chính mình, bởi bàn tay lông lá của cơ chế độc tài đã mò vào đây, kìm hãm sự đi lên của nó. Và các cuộc biểu tình ở HK chỉ xuất hiện khi Trung cộng cai trị, dù có nới lỏng hơn chính quốc và HK chỉ là "bán cộng sản", nhưng dân HK vẫn khó chịu với lối sống bất công.
Rút kinh nghiệm xương máu ấy, các thủ lĩnh Đài Loan đã thề rằng " Thà chết, chứ không thèm về với Trung Quốc". Và sức mạnh, nội lực của Đài Loan cho phép chính quyền này sẵn sàn tuyên chiến với Tàu bự tham lam, bất cứ lúc nào. Thể chế dân chủ với nền móng vững chắc ở Đài Loan đã khiến Đài Loan tự tin như vậy đấy. Họ thấy quá rõ bộ mặt tối tăm, phương pháp lãnh đạo đểu cáng của nhà nước độc tài Trung Quốc, do đó, họ bằng mọi giá củng cố nền dân chủ vốn ít khi bị lung lay ở đây.
Từ vài ý trên, bạn hãy nghĩ lại mà xem, nếu một nước hoặc vùng lãnh thổ đã từng ở trong thể chế dân chủ nghiêm chỉnh, thì họ rất "ớn lạnh" khi phải sa vào chế độ cộng sản, một thể chế mơ hồ đầy những chuyện bất an, bất công, tha hóa, vô nhân tính. Vì CN cộng sản thực chất chỉ là sự ngộ nhận của mấy gã râu xồm điên rồ có tên là Mác - Lê. Những nước theo CN Cộng sản thì chỉ có bế tắc, vì cái gọi là "chuyên chính vô sản" không thể tồn tại trong hòa bình. " Chuyên chính vô sản" chính là bạo lực cách mạng lật đổ chế độ đương thời để thiết lập chế độ mới. Nhưng khi giành được độc lập rồi thì " chuyên chính " với ai? Không còn kẻ thù, không còn "ai thắng ai" nữa thì chính quyền cộng sản phải quay ra ..."chuyên chính" với dân! Cái tệ hại và quẩn quanh không lối thoát của nhà nước Xã hội chủ nghĩa là ở đó. Cho nên, mâu thuẫn không bao giờ dừng lại khi còn tôn thờ chủ nghĩa cộng sản. Nó chỉ là mớ lý luận nguy hiểm để ăn cướp một cách toàn diện của dân, của quốc gia, chỉ để phục vụ cái lý tưởng xa rời thực tế, tàn bạo, gian xảo... của nhà cầm quyền.
Từ mệnh đề trên, một số người quá chán đời vì cộng sản đã nói rằng : có thể làm thuộc địa của một nước tư bản tương đối hào phóng, hùng mạnh (như Mỹ, Anh) trong một thời gian, nhằm xây dựng một nền dân chủ với mô hình chuẩn của nó, để cho dân ta quen với nếp sống dân chủ pháp quyền, thì vẫn tốt hơn lối đi tăm tối mò mẫm dốt nát và bệnh hoạn như Tàu hoặc Việt Nam.
Riêng tôi, tôi vẫn muốn VN ta tự đi lên thì tốt hơn. Vì nguyên khí trí tuệ của ta hiện nay rất nhiều nhưng đang tản mát, do Đảng CSVN ( rất có uy tín với dân trong chiến tranh cứu nước trước đây) hiện đã thoái hóa quá trầm trọng, hiện không đủ uy tín để tập hợp người tài đức. Người tài đức của VN hầu hết hiện nay đều căm ghét cộng sản, nếu chưa làm gì được thì cũng tìm cách né tránh Đảng. Chỉ có bọn tham nhũng mới thích Đảng CS. Đó là lý do mà Đảng CSVN vì quá ngạo mạn, không chịu tìm hiểu nên không thể hiểu nổi vì sao Đảng toàn "kết nạp nhầm" phải bọn ba trợn, cơ hội. Nếu VN ta tranh thủ sự ủng hộ của các nước dân chủ phương Tây, tạo lập nên xã hội Việt Nam mới mẻ, hiện đại, phù hợp xu thế chung của loài người văn minh, nhân bản và dân chủ hợp hiến qua bầu cử thì người tài VN sẽ hiện ra, các nhà đại tư bản quốc tế sẽ hiện diện, giúp ta cải tổ nhanh nền kinh tế bát nháo này. Chứ cứ mãi lẽo đẽo như con bò, đi theo "thằng cha" Trung Quốc vốn tham tàn, độc ác hơn quỷ sứ, ( đến dân nó, nó còn cho xe tăng cán bẹp dúm cả đám giữa Thiên An Môn), nó lại là bọn lạc hậu và mất cân đối đến mức nhiều vùng còn xài đèn dầu (miền núi), độc tài như truyền thống Tần Thủy Hoàng, Mao bệu, Đặng lùn ... thì VN ta chẳng khá lên được, và có khá chăng nữa cũng không thể bền vững, hạnh phúc, chỉ luôn luôn âm ỷ chiến tranh mà thôi.
( Cụ bà Nguyễn Thị Khốt)

Gửi phản hồi mới (xin gõ tiếng Việt có dấu và tuân thủ Nguyên tắc Dân Luận để được chấp nhận)

Bạn có thể bịa một địa chỉ email bất kỳ, ví dụ test@gmail.com. Thông tin này sẽ không xuất hiện công khai khi phản hồi được đăng.
  • Bạn có thể sử dụng các thẻ BBCode trong bài. Các địa chỉ URL sẽ được tự động chuyển thành liên kết.
  • Bạn có thể trích bài của người khác bằng thẻ [quote], ví dụ: [quote]Nội dung muốn trích dẫn[/quote]
  • Bạn có thể sử dụng những thẻ HTML sau: <a> <em> <strong> <ins> <b> <i> <u> <br> <cite> <code> <ul> <ol> <li> <dl> <dt> <dd> <h1> <h2> <h3> <h4> <h5> <table> <tbody> <td> <tr> <pre> <img> <div> <span> <object> <hr> <center> <font> <blockquote> <strike> <embed> <param> <del> <ins> <sub> <sup>
  • Bạn có thể chèn video vào bài viết bằng thẻ [video:địa_chỉ_url_của_video]
  • Cách dòng và cách đoạn sẽ được tự động chuyển thành xuống dòng.

Nhấn vào đây để biết thêm chi tiết về cách định dạng bài viết...

To prevent automated spam submissions leave this field empty.
CAPTCHA
Bạn bắt buộc phải trả lời câu hỏi kiểm tra dưới đây. Nó giúp chúng tôi nhằm lọc bỏ các nội dung spam do robot tự động thực hiện.
3 + 5 =
Giải bài toán đơn giản này và nhập kết quả vào ô phía trên. Ví dụ, nếu thấy 1+3, thì hãy nhập 4.

Suy ngẫm

Cao hơn nữa, lịch sử cần phải được nhìn nhận như một bộ môn khoa học. Tại sao vậy? Bởi tri thức của con người gắn liền với lịch sử. Từ việc đơn giản như dùng đũa ăn cơm, tới phức tạp như điều hành một nhà nước, tất cả đều xuất phát từ những bài học lịch sử.

Mới Mới Mới

Thống kê truy cập

Hiện có 2 thành viên450 khách truy cập.

Thành viên online

Thuốc Lá, Nhiên Tuệ

Kỷ lục: Có 4638 người ghé thăm vào 15-05-2014 lúc 09h47.

Độc giả Dân Luận từ đâu đến?

Locations of visitors to this page

Quỹ Dân Luận

Hãy bấm để ủng hộ tài chính cho Dân Luận. Thu chi quỹ Dân Luận được công bố công khai tại đây!