Cắt điện hay là cái giá của độc quyền

Trần Vinh Dự
Chia sẻ bài viết này

Thời báo Kinh tế Sàigòn số 9 (949) phát hành ngày 19/2/2009 có đăng bài “Điện lực Việt Nam trước ngưỡng cửa cải cách” của Trần Vinh Dự. Thật ra bài viết này tác giả đã viết từ 8/7/2008 được đăng trên Minhbien.org với tựa đề “Cắt điện hay là cái giá của độc quyền”. Theo tác giả thì : “Tôi viết bài này hồi đầu tháng 7, 2008, lấy cảm hứng từ chuyện gia đình và bạn bè ở VN nói nhiều về chuyện mất điện. Bài được post lần đầu trên Minh Biện. Sau đó Thông Tấn Xã VN đăng lại trong tập Tài Liệu Tham Khảo Đặc Biệt, cuối cùng gần đây Tuổi Trẻ Cuối Tuần lấy đăng, trích nguồn từ TTXVN. Bản TTXVN và TTCT sử dụng đã bị hiệu đính đi chút ít so với bản gốc trên MB”.

Ngày 12/2/2009, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết định số 21/2009/QĐ-TTg phê duyệt giá bán điện năm 2009 và các năm 2010-2012 theo cơ chế thị trường. Như vậy, từ ngày 1-3-2009, mức giá bán lẻ điện bình quân là 948,5 đồng/kWh (chưa gồm thuế giá trị gia tăng) được áp dụng thống nhất toàn quốc cho các đối tượng khách hàng tại những vùng nối lưới điện quốc gia. Nhận thấy khan hiếm điện là một trong những nút thắt cổ chai lớn nhất đối với phát triển ở Việt Nam, và những ngày gần đây trở nên một vấn đề thời sự nóng bỏng. Dân Luận xin được phép đăng lại bài viết “Cắt điện hay là cái giá của độc quyền” của Trần Vinh Dự trên Minhbien.org để độc giả hiểu thêm về nguyên nhân của tình trạng thiếu điện hiện nay của nước ta.
DÂN LUẬN

…và Thượng Đế phán rằng, ‘Hãy để ánh sáng tới’ … nhưng Công ty Điện lực nói rằng Ngài phải chờ đến sáng mai vì tối nay có lịch cắt điện toàn thành phố.

Lịch Cắt Điện là một mục được đặt trang trọng trên trang nhất của các trang web Công ty Điện lực ở Hà nội, Sài gòn và nhiều địa phương khác. Trong khi Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) liên tục khẳng định chỉ cắt điện sinh hoạt, không ít doanh nghiệp khắp nơi đã lên tiếng chỉ trích EVN là nói sai sự thật. Tình trạng thiếu điện ở VN nghiêm trọng tới mức nhiều người bắt đầu ví von rằng sau 20 phát triển kinh tế thì Việt Nam lại quay lại tình trạng phải liên tục cắt điện như thời còn bao cấp.

Theo EVN – ông trùm của ngành điện Việt Nam – thì việc thiểu điện là do tốc độ tăng trưởng tiêu dùng quá nhanh. Việc đổ thừa cho người tiêu dùng ít nhiều đã khiến dư luận phẫn nộ. Trên thực tế thì thì không phải EVN nói sai. Trong những năm gần đây tốc độ tăng trưởng của nhu cầu dùng điện trung bình đạt khoảng 15% một năm. So với năm 2004, nhu cầu tiêu dùng điện năm 2010 sẽ gấp tăng gấp đôi, tới năm 2015 sẽ tăng gấp 3 và tới năm 2020 sẽ tăng gấp 5,5 lần. Tốc độ này có thể cao hơn nếu tăng trưởng kinh tế trong dài hạn có triển vọng tốt.



Bảng 1: Tăng trưởng nhu cầu dùng điện ở VN. - Nguồn: Ngân hàng Thế giới

Cũng theo EVN, lý do quan trọng thứ 2 là việc Chính phủ VN (CP) không cho phép tăng giá điện. Trong khoảng 10 năm trở lại đây, giá điện đã tăng từ mức 600 đồng một KWh hồi năm 1997 lên tới mức hiện tại là 860 đồng một KWh. Như vậy trung bình giá điện chỉ tăng có 43% trong hơn 10 năm. Nếu điều chỉnh theo lạm phát thì giá điện thực tế thậm chí đã giảm. EVN cho rằng do không thể tăng giá điện, họ không có đủ nguồn lực để đầu tư xây dựng năng lực phát điện mới. Và như thế, lỗi thiếu điện chung quy lại là tại CP.

Việc thiếu hàng hóa trong một nền kinh tế thường không phải là lỗi của doanh nghiệp. Trong trường hợp này cũng vậy. Lỗi thiếu điện phải được nhìn từ phía quản lý điều hành ngành điện của CP. Nhưng CP đã sai ở chỗ nào? Việc thiếu điện hiện nay gợi nhớ cho chúng ta thời kỳ thiếu gạo những năm 80. Rõ ràng Việt Nam hồi đó không thiếu khả năng sản xuất gạo, cũng như bây giờ chúng ta không thiếu khả năng sản xuất điện. Vấn đề là động cơ để sản xuất. Động cơ chỉ tồn tại trong những cơ chế thích hợp. CP đã không tạo ra một cơ chế thích hợp để ngành điện phát triển.

Thị trường điện hiện đại

Nếu bạn đọc viếng thăm trụ sở một công ty điện lực lớn ở Mỹ như Texas Utility ở Dallas, Texas thì sẽ được chứng kiến một sàn giao dịch không khác gì một sàn giao dịch chứng khoán lớn ở VN – với các màn hình điện tử khổng lồ, với hàng trăm traders cổ cồn trắng ngồi dán mắt vào màn hình hoặc ra hiệu cho nhau từ xa. Cái khác chỉ là những người làm trên sàn này đều là nhân viên của Texas Utility và họ mua bán các hợp đồng điện với các công ty khác qua mạng điện tử.

Hoạt động giao dịch này là một phần của thị trường bán buôn của ngành điện. Một thị trường điện hiện đại bao gồm nhiều mảng hoàn toàn độc lập với nhau như các công ty cung ứng đường dây tải điện (transmission grids), các công ty bán lẻ (retailers), các công ty sản xuất điện (power generators), và các đại lý buôn bán điện (electricity traders) độc lập.

Việc tách rời các mảng này là chìa khóa để xây dựng một thị trường điện hiện đại. Các điểm mấu chốt nhất của quá trình tái cơ cấu thị trường điện truyền thống là (1) tách dịch vụ cung ứng đường dây tải điện ra khỏi hoạt động bán lẻ (2) phát triển một thị trường bán lẻ cạnh tranh cao với nhiều doanh nghiệp có khả năng phân phối điện tới một địa bàn. (3) phát triển thị trường bán buôn cạnh tranh theo đó một nhà bán lẻ có thể lựa chọn mua điện từ nhiều nhà bán buôn khác nhau.

Texas Utility là một công sản xuất điện và sàn giao dịch của nó thực chất là phòng kinh doanh của công ty, nơi các traders quyết định việc sản xuất bao nhiêu, bán cho ai, bán với giá bao nhiêu và bán vào lúc nào. Texas Utility hoạt động chính trên thị trường bán buôn. Điện do nó sản xuất ra được bán đi dưới nhiều hình thức. Hình thức ổn định nhất là các hợp đồng cung ứng điện dài hạn ký trước cả tháng, thậm chí cả năm với các nhà bán lẻ hoặc với những khách hàng lớn. Hình thức thứ hai là các bilateral contracts (hợp đồng tay đôi) ký trước một ngày – tức là ký ngày hôm nay để giao hàng vào ngày mai. Cuối cùng là bán trên sàn giao dịch balancing energy service (BES – dịch vụ cân bằng năng lượng). Việc mua bán điện trên BES được thực hiện qua các cuộc auction diễn ra liên tục 15 phút một lần và được điều phối bởi một super-computer được lập trình sẵn. Vì thị trường điện đòi hỏi cung – cầu phải bằng nhau tại mọi lúc, và vì các nhà bán lẻ (người mua trên thị trường bán buôn) không thể điều chỉnh mức cầu của họ mà buộc phải chấp nhận mua với bất kỳ mức giá nào mà nhà sản xuất đòi hỏi trên BES, giao dịch trên BES thường khiến xuất hiện các đợt tăng vọt về giá gọi là price spikes.

Phát triển một thị trường bán buôn điện hiện đại là một việc cực kỳ phức tạp. Ngay cả các nước phát triển như Mỹ hiện nay vẫn còn rất nhiều việc phải làm. Một trong những ví dụ nổi tiếng về thất bại của cơ chế bán buôn trong ngành điện thường được nhắc đến là trường hợp ở California hồi cuối thập kỷ 90. Cuộc cải cách chóng vánh thị trường này ở California đã mắc nhiều sai lầm, tạo cơ hội cho các công ty sản xuất điện thao túng bằng cách tạo ra khan hiếm giả tạo (capacity withholding) nhằm nâng giá bán buôn. Trong một thời gian khá dài, California thường xuyên bị thiếu điện và giá điện bán buôn tăng lên nhiều lần khiến nhiều nhà bán lẻ phải tuyên bố phá sản(1).

Việc này cuối cùng thì cũng được điều chỉnh lại, tuy nhiên hoạt động buôn bán và đầu cơ trên thị trường bán buôn nói chung ở khắp nơi vẫn thường khiến giá cả diễn biến phức tạp hơn nhiều lần so với thị trường chứng khoán. Không như thị trường chứng khoán nơi chỉ số chứng khoán thường chỉ giao động vài phần trăm trong một ngày, mức giá điện trong ngày trên các sàn giao dịch bán buôn có thể giao động tăng giảm tới hàng chục lần(2). Giá điện bán buôn trên thị trường PJM có độ lệch tiêu chuẩn (standard deviation) là 34% trong giai đoạn 1997-2000. Trong khi đó độ lệch chuẩn của chỉ số chứng khoán S&P 500 trong thời kỳ biến động nhất kể từ vài thập kỷ gần đây cũng chỉ là 5,7% (tháng 10, 1987).

Một thị trường điện hiện đại hoạt động hiệu quả sẽ tạo môi trường cạnh tranh tích cực giữa các công ty sản xuất điện, giữa các nhà bán lẻ và giữa các công ty cung cấp đường giây tải. Việc cạnh tranh sẽ khiến các doanh nghiệp này liên tục phải tìm cách cắt giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh và có những kế hoạch dài hạn thích hợp. Một thị trường điện hiệu quả cũng tạo ra cơ chế ngăn cản các doanh nghiệp sử dụng sức mạnh thị trường (market power) để gây sức ép tăng giá nhằm trục lợi bằng sự tổn thất của người tiêu dùng.

Biện pháp hành chính, độc quyền và hiệu quả

Các công ty luôn tìm cách để tư lợi. Đó là mục đích tối cao của họ. Tư lợi là bản chất của các doanh nghiệp. Việc của chính phủ là tạo ra cơ chế để hoạt động tư lợi của họ song hành với- hay ít ra cũng không đi ngược lại- lợi ích của người tiêu dùng. Tuy nhiên đây là một việc khó khăn. Và vì vậy, đôi khi các chính phủ phải dùng đến biện pháp quản lý hành chính (regulations). Tuy nhiên, các biện pháp hành chính thường dẫn tới những méo mó và khiến các doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả(3).

Trường hợp của EVN cũng không khác. EVN là tập đoàn có độc quyền kinh doanh điện. Nó sở hữu hệ thống đường dây tải điện trên cả nước, hệ thống các công ty bán lẻ như Công ty Điện lực Hà Nội hay Công ty Điện lực TP HCM. EVN cũng sở hữu khoảng 85% năng lực sản xuất điện toàn quốc (số còn lại do các nhà sản xuất điện độc lập (IPPs) cung cấp). EVN mua điện của các IPPs này qua các hợp đồng dài hạn. Nó có ưu thế thể ép giá các nhà cung ứng độc lập vì nó là người mua duy nhất. Nó cũng không gặp tổn hại gì nếu hoạt động không hiệu quả. Trên thực tế, nó ít có động cơ phải hoạt động hiệu quả hơn trừ phi Chính phủ ép buộc nó phải làm. Một ví dụ về phi hiệu quả là thất thoát trên đường truyền và trong phân phối của ngành điện là 12,2% năm 2004 (theo số liệu của World Bank), 11,02% năm 2006(4) - ở mức cao so với các nước trong khu vực. Con số giảm khiêm tốn từ năm 2004 tới năm 2006 là do sức ép của thủ tướng CP yêu cầu ngành điện phải cắt giảm thất thoát xuống dưới mức 8%. Tuy nhiên, EVN thường khẳng định là khó lòng có thể giảm xuống thấp hơn(5).

Gần như độc quyền trên thị trường bán buôn, độc quyền bán lẻ và đường giây tải, EVN không có lý do gì phải làm hài lòng khách hàng. Người dùng điện hoặc phải tìm đến với nó, hoặc tự sản xuất điện. Là một nhà độc quyền, EVN sẽ liên tăng muốn tăng giá, tối thiểu cũng tới mức làm cung – cầu cân bằng. Nói cách khác, nếu nó sản xuất được 10 MW, nó sẽ tăng giá tới mức mà nhu cầu dùng điện chỉ còn đúng 10 MW. Thậm chí nó có thể đóng cửa một số nhà máy điện không hiệu quả để tiếp tục giảm nguồn cung điện xuống và gây sức ép tăng giá lên hơn nữa(6). Bằng chứng là hầu như không có năm nào EVN không đề nghị CP cho tăng giá. Tháng 5, 1997, EVN yêu cầu CP cho tăng giá thêm 13%. Tháng 6, 1998, EVN đòi tăng giá 32% từ 689 đồng/kw lên 910 đồng/kw. Tháng 9, 1999, EVN lại đòi tăng giá thêm 6% cho khu vực hộ gia đình và 10-12% cho công nghiệp. Tháng 7, 2000 tăng 10%. Tháng 10, 2002 tăng 12-13%. Cuối 2003 tăng 5.4%(7)… Hiện nay EVN đang đề nghị CP cho tăng giá từ 860 đồng lên 917 đồng. EVN dựa vào lý do cần vốn cho đầu tư dài hạn để tăng giá. Tuy nhiên phần lớn các đề nghị này bị CP từ chối.

Hoạt động thiếu hiệu quả và liên tục đòi đăng giá này không phải là lỗi của EVN. Chúng là sản phẩm tất yếu của độc quyền. Một nhà độc quyền thì không phải là ông già Noel: anh ta sẽ bòn rút khách hàng tới tận xương trừ khi anh ta bị ngăn cấm làm điều đó. Nhưng ngay cả khi bị cấm, một nhà độc quyền vẫn có thể tìm ra cách để tư lợi cho mình. Phương pháp cổ truyền là đẩy chi phí lên cao bằng nhiều cách, trong đó có việc tăng lương cho nhân viên lên cao hơn hẳn mặt bằng chung hoặc thường xuyên bỏ tiền vào các khoản chi phù phiếm. Một chuyên gia tư vấn kinh tế cho biết ông làm cho công ty điện thoại Bell của Mỹ trong thời còn độc quyền. Khi đó Bell có những khu văn phòng hoành tráng với bể bơi và khu xông hơi. Các văn phòng của cấp trưởng phòng trở lên thời đó được trang hoàng với các tác phẩm nghệ thuật đắt điền. Sau khi thị trường viễn thông Mỹ được cải tổ, ông quay lại khu văn phòng này và thấy toàn bộ các dịch vụ đắt tiền cho nhân viên đã biến mất, các tác phẩm nghệ thuật trang trí thời trước cũng không còn và ngay cả tổng giám đốc cũng phải ngồi loại ghế da cũ.

Thị trường điện ở Việt Nam trước ngưỡng cửa của cải cách.

Việt Nam đang thiếu điện nghiêm trọng, và sẽ còn tiếp tục thiếu điện nghiêm trọng. Đây là một thực tế. Việc xây dựng năng lực cung ứng điện đủ đáp ứng với nhu cầu đòi hỏi nguồn tài chính khổng lồ. Riêng trong giai đoạn 2005-2010 cần khoảng 3 tỉ USD. Giai đoạn 2005-2020 sẽ cần tối thiểu 13.5 tỉ USD. EVN không thể tự đầu tư nguồn tài chính này trừ khi nó được phép tăng giá bán điện tùy tiện. EVN cũng không thể sử dụng nguồn tiền đi vay. Theo như tính toán của World Bank[8], việc tài trợ thuần túy bằng nguồn tiền vay sẽ khiến tỉ lệ nợ-trên-vốn của EVN quá cao. Do đó, đối với các nguồn cung cấp tín dụng quốc tế, cho EVN vay trở nên rủi ro quá mức chịu đựng. Việc này khiến việc vay mượn về lâu dài là không khả thi. Việc CP VN đứng ra bảo lãnh các nguồn vay cho EVN có lẽ cũng không khả thi, nhất là trước viễn cảnh kinh tế không có nhiều điểm sáng như hiện nay.

Lối ra khỏi ma trận này là mở cửa thị trường điện. CP cũng đã tính đến con đường này và đã phác thảo ra một lộ trình dài hạn để thực hiện, bao gồm 4 bước:

1. Cho phép tư nhân và quốc tế đầu tư sản xuất điện. EVN mua điện của các IPPs này qua các hợp đồng dài hạn (đang thực hiện).

2. Tự do hóa một phần thị trường bán buôn: để các IPPs tự do canh tranh với nhau, trong khi EVN giữ vị thế độc quyền trên thị trường bán lẻ (lộ trình 2010-2014 của Bộ Công Nghiệp). Giai đoạn này thị trường bán buôn có nhiều người bán nhưng chỉ có 1 người mua (a single buyer).

Trong hai giai đoạn này, có nhiều người bán buôn nhưng chỉ có một người mua (EVN) để bán lại trên thị trường bán lẻ. Ở giai đoạn 1, từng người bán buôn ký hợp đồng với EVN, các hợp đồng này độc lập với nhau và giá cả được xác định kín giữa 2 bên. Trong giai đoạn 2, những người bán buôn phải cạnh tranh trực tiếp với nhau để bán cho EVN. Giá cả được xác định theo mức thị trường, công khai và chỉ có 1 giá duy nhất cân bằng cung – cầu.

3. Tự do hóa hoàn toàn thị trường bán buôn thông qua việc phá thế độc quyền bán lẻ của EVN (thí dụ thông qua việc xé nhỏ tổng công ty này) và cho phép các người mua lớn (thí dụ các khu công nghiệp lớn) có thể mua điện trực tiếp từ người bán buôn. Khi giai đoạn này kết thúc, thị trường bán buôn sẽ có nhiều người bán và nhiều người mua. Theo lộ trình của Bộ Công nghiệp, giai đoạn này sẽ được thực hiện trong thời gian 2014-2022.

4. Giai đoạn cuối cùng là tự do hóa cả thị trường bán lẻ điện. Khi giai đoạn này được thực hiện, người mua điện nhỏ cũng có quyền lựa chọn mua điện của các công ty bán lẻ khác nhau. Giai đoạn này sẽ được thực hiện sau 2022 - cũng theo lộ trình của Bộ Công nghiệp.

CP Việt Nam hi vọng việc tự do hóa thị trường sẽ tạo động lực cho giới đầu tư tư nhân và quốc tế tham gia sản xuất điện. Tuy nhiên, đây không phải là một kết quả tất yếu. Như đã đề cập ở phần trên, nếu không được thực hiện tốt thì việc tự do hóa thị trường điện sẽ tạo ra những bẫy giá cả nguy hiểm cho người mua và không chắc sẽ giải quyết được tình trạng khan hiếm điện. Việc tái cơ cấu lại thị trường điện, vì thế, là một việc khó khăn, có nhiều rủi ro và đòi hỏi các nhà quản lý và hoạch định chính sách phải có kiến thức tốt (hoặc được tư vấn tốt) về thị trường điện hiện đại và cách xây dựng nó.



Biểu đồ 1: Lộ trình cải cách thị trường điện ở VN

Kết luận

Việt Nam trong những năm gần đây luôn ở tình trạng khan hiếm điện. Việc này là việc dễ thấy trước vì nhu cầu tiêu dùng điện của VN tăng nhanh và tương đối ổn định. Khác với xăng dầu là cái có thể nhập khẩu tùy ý để cân bằng cung cầu, điện là mặt hàng đặc biệt và VN phải dựa chủ yếu vào năng lực sản xuất điện trong nước. Bằng việc giữ ngành điện trong tình trạng độc quyền và quản lý giá cả, CP đã đẩy EVN vào tình trạng kinh doanh không hiệu quả và không có động lực phát triển năng lực sản xuất mới để đáp ứng nhu cầu, và không có động lực để hoạch định chiến lược dài hạn. Những vấn đề này không phải là lỗi của EVN – với tư cách là một tập đoàn kinh doanh. Chúng là sản phẩm tất yếu của độc quyền. Để giải được bài toán điện, con đường duy nhất là tái cấu trúc thị trường điện. Tuy nhiên, đây là con đường khó khăn và có nhiều rủi ro. Có lẽ vì vậy mà CP đang muốn giữ một nhịp độ cải cách chậm. Điều này cũng đồng nghĩa việc khan hiếm điện và các hệ quả bất lợi của nó đến sản xuất và sinh hoạt sẽ không thể được khắc phục trong trung hạn.

Và một khuyến nghị vui chỉ rành cho Minh Biện là bạn đọc có thể giảm thiểu các phiền muộn khi bị cắt điện trong mùa hè bằng cách thường xuyên tới các hồ bơi. Nếu các bạn chưa biết thì hồ bơi là một môi trường lý tưởng để gặp gỡ, làm quen và mở rộng các mối quan hệ. Điều này cũng cần đến sự can đảm nhất định để vượt qua cái gọi là bất an khi tiếp cận (approach anxiety). Tự nó, approach anxiety là một chủ đề hết sức thú vị mà tôi và Khoa Trần sẽ có dịp bàn đến trong tương lai gần.

Chú thích :

(1) Xem thêm: http://oversight.house.gov/documents/20050408123544-16103.pdf
(2) Giá điện bán buôn ở vùng Midwest của Hoa Kỳ tăng từ $30/MWh lên hơn $7,000/MWh (hơn 200 lần) trong một ngày vào tháng Sáu, 1998.
(3) Bạn đọc quan tâm tới chủ đề này có thể tìm đọc các nghiên cứu trên tạp chí Journal of Regulatory Econonmics. Thí dụ bài “Price-Cap Regulation and Inefficiency in Relative Pricing” của Cowan Simon.
(4) Việc giảm tỉ lệ thất thoát một phần là do sức ép của CP. Thủ tướng Chính phủ đã giao cho EVN đến năm 2010 giảm tổn thất điện năng xuống còn 8%.
(5) http://www.vneconomy.vn/?home=detail&page=category&cat_name=08&id=0d8c924eb8dd6f
(6) Vấn đề cắt giảm sản xuất để gây sức ép tăng giá cũng đã được báo chí nói đến trong trường hợp của EVN.http://www.sggp.org.vn/kinhte/2008/3/146392/
(7) Xem chi tiết trong báo cáo ‘Vietnam Electricity Rate Hikes (1997-2006) của Mekong Utility Watch.
(8) World Bank “Power Strategy: Managing Growth and Reform”.

Bien-Tap gửi hôm Thứ Sáu, 20/02/2009
Bạn đánh giá bài viết này thế nào?

Lê Đoàn Hùng - Tham nhũng: Nhìn từ nhân tố con người

Nguyễn Văn Thạnh - Đảng và Vua

Bức chân dung LS Lê công Định do họa sĩ Trần Thúc Lân vẽ

Lê Công Định - Trả lại hào khí Diên Hồng

Nelson Mandela đã thống nhất một đất nước đầy chia rẽ bằng cách nào?

Dân Làm Báo - Những người mang tên Yêu Nước


Bien-Tap gửi lúc 08:30, 20/02/2009 - mã số 244

Từ ngày 1/3/2009, giá điện bình quân tăng thêm 8,92%, mà chi phí tiền điện chiếm 30% chi phí giá thành sản xuất nước sạch. Do đó, theo ước tính thì giá nước sẽ tăng khoảng 3-4% khi giá điện tăng. Bà Nguyễn Lệ Chung, Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) cho biết, theo chỉ đạo của Chính phủ, từ năm 2009, giá nước sạch sẽ theo cơ chế thị trường. Dự kiến trong tháng 3 sẽ có thông tư bổ sung Thông tư 104 về việc xác định giá tiêu thụ nước sạch theo nguyên tắc tính đúng, tính đủ mọi chi phí.

Gửi phản hồi mới (xin gõ tiếng Việt có dấu và tuân thủ Nguyên tắc Dân Luận để được chấp nhận)

Bạn có thể bịa một địa chỉ email bất kỳ, ví dụ test@gmail.com. Thông tin này sẽ không xuất hiện công khai khi phản hồi được đăng.
  • Bạn có thể sử dụng các thẻ BBCode trong bài. Các địa chỉ URL sẽ được tự động chuyển thành liên kết.
  • Bạn có thể trích bài của người khác bằng thẻ [quote], ví dụ: [quote]Nội dung muốn trích dẫn[/quote]
  • Bạn có thể sử dụng những thẻ HTML sau: <a> <em> <strong> <ins> <b> <i> <u> <br> <cite> <code> <ul> <ol> <li> <dl> <dt> <dd> <h1> <h2> <h3> <h4> <h5> <table> <tbody> <td> <tr> <pre> <img> <div> <span> <object> <hr> <center> <font> <blockquote> <strike> <embed> <param> <del> <ins> <sub> <sup>
  • Bạn có thể chèn video vào bài viết bằng thẻ [video:địa_chỉ_url_của_video]
  • Cách dòng và cách đoạn sẽ được tự động chuyển thành xuống dòng.

Nhấn vào đây để biết thêm chi tiết về cách định dạng bài viết...

To prevent automated spam submissions leave this field empty.
CAPTCHA
Bạn bắt buộc phải trả lời câu hỏi kiểm tra dưới đây. Nó giúp chúng tôi nhằm lọc bỏ các nội dung spam do robot tự động thực hiện.
5 + 1 =
Giải bài toán đơn giản này và nhập kết quả vào ô phía trên. Ví dụ, nếu thấy 1+3, thì hãy nhập 4.

Suy ngẫm

Chính những người CÔNG DÂN đã đưa thể chế chính trị và bộ máy nhà nước của chúng ta lại gần với cuộc sống, khiến cho nó có trách nhiệm và chịu trách nhiệm, và giữ cho nó trung thực. Không ai khác có thể làm được điều này...

— John Gardner

Mới Mới Mới

Từ khóa trong bài viết

Thống kê truy cập

Hiện có 0 thành viên473 khách truy cập.


Kỷ lục: Có 4638 người ghé thăm vào 15-05-2014 lúc 09h47.

Độc giả Dân Luận từ đâu đến?

Locations of visitors to this page

Quỹ Dân Luận

ung-ho-dan-luan-3.png