Suy nghĩ về Dự án Bauxit Tây Nguyên

Tô Văn Trường
Chia sẻ bài viết này

Anh bạn quen biết, sau khi đọc bài viết của tôi trong mục Thời sự và Suy nghĩ “Lô cốt trong thời bình” đăng trên trang nhất báo Tuổi Trẻ ngày 6/2/2009 đã nhắn nhủ đại ý như sau : “Chắc anh vẫn còn nhớ những trăn trở, suy tư của chú Sáu Dân, một “ông già” đã 86 tuổi vẫn còn nặng lòng với đất nước…”. Đôi lúc trầm tư, suy tưởng, tôi lại tự nhủ không hiểu tại sao mỗi khi phải “vắt óc” suy nghĩ, để giải đáp một vấn đề hóc búa nào đó trong cuộc sống đời thường thì người đầu tiên mà tôi muốn trao đổi, chia sẻ lại chính là ông Sáu, ngay cả khi ông đã về cõi vĩnh hằng.

Trong thời gian vừa qua, trên các phương tiện thông tin đại chúng đã đưa ra nhiều thông tin và ý kiến khác nhau, thậm chí “đối chọi” nhau, không ai phục ai khi nhận xét, đánh giá dự án khai thác bauxít ở Tây Nguyên đến mức Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng phải vào cuộc. Đây là dự án rất phức tạp, “nhạy cảm” liên quan đến chính trị, kinh tế, xã hội và môi trường của vùng kinh tế trọng điểm của cả nước. Lúc sinh thời, ông Sáu Dân nổi tiếng là người biết lắng nghe, phân tích các ý kiến trái chiều, biết chấp nhận cả ý kiến phê bình để tìm ra giải pháp đúng đắn, có sự đồng thuận cao. Ông thường bảo những vấn đề hệ trọng của đất nước cần phải phát huy trí tuệ của tập thể lãnh đạo, của người dân, của giới tri thức, thận trọng cân nhắc, không được áp đặt như chuyện đã rồi và phải biết đặt lợi ích của đất nước, của nhân dân lên trên tất cả. Ông cho rằng khi thảo luận, tranh luận có những ý kiến khác nhau đó là lẽ tự nhiên của quy luật phát triển, là hồng phúc của đất nước biết tôn trọng dân chủ. Cuộc sống là “bài toán động” với biết bao các bài học cần rút kinh nghiệm trong quá khứ để nhìn lại mình cho rõ hơn. Phải thực sự cầu thị, tôn trọng công tác phản biện khoa học và phản biện xã hội mới đi đến sự đồng thuận cao.

Gần đây, tôi nhận được khá nhiều thông tin của các nhà khoa học cho biết về dự án khai thác bauxit ở Tây Nguyên do Tập đoàn công nghiệp than và khoáng sản thực hiện. Nhớ về câu chuyện “Nghịch lý con mèo của Schrödinger” của nhà vật lý người Áo Erwin Schrödinger, xin phép được tản mạn đôi lời qua bài viết: ”Suy nghĩ về dự án bauxit Tây Nguyên”.

Đối với bất kỳ một quốc gia nào, tăng trưởng kinh tế bền vững phải luôn gắn với quá trình xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội được cân nhắc dựa trên một tư duy hợp lý và hợp lòng dân. Chiến lược ấy sẽ là cơ sở quan trọng cho lập quy hoạch phát triển và kế hoạch thực hiện theo từng giai đoạn trước mắt và lâu dài, phù hợp với yêu cầu thực tế của từng thời kỳ.

Các yếu tố giúp cho tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào nguồn vốn đầu tư, khả năng khai thác tài nguyên thiên nhiên và năng suất tổng hợp. Cả ba yếu tố này đều có giới hạn của nó, giới hạn về khối lượng, giới hạn về quá trình tự nhiên và giới hạn về khoa học công nghệ. Kinh nghiệm của các nước tiên tiến, muốn khai thác tài nguyên một cách khôn ngoan, sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả và đạt mục tiêu một cách tối đa thì khi xây dựng chiến lược phát triển phải có nguồn nhân lực tương xứng, đủ tâm và đủ tầm, đặc biệt cần coi trọng công tác phản biện khoa học và phản biện xã hội.

Quá trình thực thi nhiệm vụ tăng trưởng kinh tế xã hội của đất nước là một chuỗi các hoạt động và triển khai liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều ngành và ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của mọi tầng lớp trong xã hội. Vì thế, phản biện là trách nhiệm của cả cộng đồng của mọi người dân, trong đó vai trò của các nhà khoa học, các vị đại biểu cho dân trong các tổ chức chính trị là rất quan trọng. Phản biện khoa học và ngay cả phản biện xã hội không phải là bài toán đơn giản cấp số cộng mà là sự đúc kết tinh hoa và kinh nghiệm thực tiễn của cả cộng đồng, có nghĩa là nó vừa mang tính thực tiễn vừa mang tính khoa học. Tuy nhiên, để đạt được sự nhất trí và đồng thuận cao giữa người thực thi nhiệm vụ nhà nước và người phản biện dù là khoa học kỹ thuật hay xã hội đều mang tính trách nhiệm rất cao.

Một nhà khoa học người nước ngoài đưa ra hình ảnh xây dựng một tòa nhà, có những người lấy làm tự hài lòng, khi nắm trong tay ít dụng cụ là họ đào xới để mang lên những khối dị kỳ, chồng chất các khối này lên nhau dưới mắt của các công nhân cùng nghề, và có vẻ như không cần biết các khối ấy có thích hợp ở đây hay không. Cũng có những người khác, dò xét một cách kỹ lưỡng cho đến lúc một nhóm thợ siêng năng, đào lên một khối có tính chất trang trí đặc thù. Họ lắp khối ấy vào một vị trí với niềm thích thú, và cúi đầu chào đám đông. Vài nhóm thợ chẳng đào xới gì cả, mà chỉ lo tranh cãi với nhau về cách sắp xếp một gờ tường hoặc một trụ chống. Một số người cả ngày chỉ cố kéo xuống một hoặc hai khối mà nhóm đối địch đã đặt lên. Một số khác thì không đào xới mà cũng không tranh cãi nhưng nghe theo lời đám đông, cào chỗ này và xóa chỗ kia, rồi đứng ngắm cảnh. Một số người ngồi mà cho ý kiến, và một số khác chỉ ngồi yên một chỗ. Cũng có những người lớn tuổi đã trải qua tháng ngày lao động cật lực, đôi mắt đã mờ nên không trông rõ những chi tiết của nhịp uốn hoặc hoa văn đá đỉnh vòm, nhưng là những người đã xây nên một bức tường ở đây, một bức tường khác ở kia, và đã sống một thời gian dài trong tòa nhà. Họ là những người đã thấu hiểu để yêu mến tòa nhà và nắm bắt được đề xuất về ý nghĩa chung cục, bây giờ ngồi trong bóng râm mà động viên lớp người trẻ. Rồi cuối cùng, có những người tìm cách thuyết minh về tòa nhà, nói về lịch sử, ý nghĩa và vẻ đẹp của tòa nhà, tất cả đều đóng một vai trò trong việc hoàn thành tốt đẹp dự án.

Theo cả nghĩa đen và bóng, trong cuộc sống chúng ta thường gặp rất nhiều mâu thuẫn và nghịch lý mà ngay cả công tác phản biện đôi khi cũng nằm trong vòng xoay của nghịch lý. Vấn đề là cái nghịch lý đó diễn ra theo chiều nào, hướng cái thiện, cái đẹp, cái đúng về đâu. Lý luận hình như đúng để chứng minh một điều mà ai cũng biết là sai hay “Lý luận hình như sai để chứng minh một điều mà ai cũng biết là đúng”. Đấy chính là cái ranh giới rất khó vượt qua và khó thông cảm giữa người phản biện và người “được phản biện” nếu không lấy cái thiện ý, xây dựng làm đầu. Sở dĩ tôi phải “mào đầu” hơi dài như vậy để thấy rằng dự án khai thác bauxit Tây Nguyên cũng không nằm ngoài quy luật nói trên.

Tháng 11/2007, tôi cùng GSTS Võ Tòng Xuân và Tổng giám đốc Công ty tư vấn đầu tư và xây dựng quốc tế (ICIC) Đặng Minh Sơn đến Mange Bureh, huyện Port Loko thuộc Sierra Leone giúp nước bạn thực hiện thí điểm chương trình an ninh lương thực quốc gia. Tôi được nghe đến “bauxit” qua câu chuyện kể của quan chức và người dân địa phương về Trung Quốc đang giúp các nước Tây Phi khai thác bauxit.

Theo các tài liệu khoa học, bauxit là khoáng chất bao gồm Al(OH)3, boehmite y-AlO(OH) và diaspore-AlO(OH) gộp chung với sắt và một phần nhỏ anatase TiO2. Từ bauxit, người ta có thể tách alumina là nguyên liệu chính để luyện nhôm. Trữ lượng quặng bauxit trên thế giới có thể khai thác 30 tỷ tấn. Bauxit ở nước ta có 2 loại chủ yếu (1) Bauxit có nguồn gốc trầm tích phân bố tập trung ở miền Bắc và (2) Bauxit có nguồn gốc phong hóa laterite từ đá bazan tập trung ở Tây Nguyên và miền đông Nam bộ. Trữ lượng bauxite của Việt Nam được đánh giá khoảng 2,4 tỷ tấn quặng tinh, tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên (91,4%). Trong đó, Đăk Nông 1,44 tỷ tấn chiếm khoảng 2/3 trữ lượng của cả nước, Lâm Đồng 0,463 tỷ tấn, Gia Lai-Kon Tum 0,285 tỷ tấn.
Toàn tỉnh Đắc Nông có 13 mỏ bauxit với tổng trữ lượng quặng nguyên khai khoảng 3,4 tỷ tấn, gồm: Tuy Đức (0,536 tỷ tấn), Đak Song (0,112 tỷ tấn), Bù Bông (0,460 tỷ tấn), Đak Rụng (0,222 tỷ tấn), Quảng Tân (0,115 tỷ tấn), Đak Tôn (0,168 tỷ tấn), Đạo Nghĩa (0,391 tỷ tấn), Nhân Cơ (0,043 tỷ tấn), Gia Nghĩa (0,334 tỷ tấn), Đak Tik (0,086 tỷ tấn), Bắc Gia Nghĩa (0,309 tỷ tấn), “1-5” (0,284 tỷ tấn), Quảng Sơn (0,362 tỷ tấn). Chính vì vậy, Đắc Nông đã xác định ngành công nghiệp bauxit /nhôm sẽ là ngành mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Một điểm cần chú ý ở đây là hầu hết các mỏ quặng này chủ yếu nằm ở khu vực thuộc lưu vực sông Đồng Nai. Điều này có nghĩa là việc sử dụng nước trong khai thác quặng cũng như các tác động của việc khai thác quặng đến chất lượng nước có ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước của hệ thống sông Đồng Nai.
Theo “Phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bô-xít giai đoạn 2007 - 2015, có xét đến năm 2025” (Quyết định 167/2007/QĐ-TTg), giai đoạn 2007 - 2015, Đắc Nông dự kiến hình thành bốn tổ hợp công nghiệp bô-xít/nhôm gồm:

1. Nhà máy alumin Đắk Nông 1 (Công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ làm chủ đầu tư, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam chi phối): công suất nhà máy 0,3 triệu tấn/năm có xem xét mở rộng nâng công suất lên 0,6 triệu tấn/năm. Nguồn quặng bauxit khai thác từ mỏ Nhân Cơ và các mỏ lân cận. Địa điểm nhà máy tại khu vực Nhân Cơ, tỉnh Đắk Nông;

2. Dự án alumin Đắk Nông 2: công suất nhà máy alumin 1,5 - 2,0 triệu tấn/năm. Nguồn quặng bauxit khai thác từ mỏ “1/5” và các mỏ lân cận. Địa điểm nhà máy đặt tại Đắk Nông;

3. Nhà máy alumin Đắk Nông 3: công suất nhà máy 1,5 - 2,0 triệu tấn/năm. Nguồn quặng bauxit khai thác từ mỏ Gia Nghĩa và các mỏ lân cận. Địa điểm nhà máy đặt tại Đắk Nông;

4. Nhà máy alumin Đắk Nông 4: công suất nhà máy 1,5 - 2,0 triệu tấn/năm. Nguồn quặng bauxit khai thác từ mỏ Tuy Đức, Đắk Song và các mỏ lân cận. Địa điểm nhà máy đặt tại Đắk Nông.

Như vậy, tổng công suất sản xuất alumin trong giai đoạn 2007-2015 khoảng 6,6 triệu tấn, tương đương với tổng công suất khai thác quặng thô lên tới 50 - 90 triệu tấn bauxit/năm. Theo kế hoạch, trong những năm tới, Đăk Nông sẽ trở thành một “đại công trường” của ngành công nghiệp bauxit với diện tích khai thác quặng lên đến hàng trăm km2 rải khắp địa bàn 5/8 huyện. Đến giai đoạn 2016-2025, khi mở rộng quy mô các nhà máy này thì tổng công suất ước đạt 13,2 triệu tấn Alumin (ước khoảng 100-130 triệu tấn bauxit nguyên khai/năm). Hiện nay đã có 5 tập đoàn lớn đầu tư vốn vào dự án, gồm Chalco (Trung Quốc), BHP (Australia), Alcoal (Mỹ), Rusal (Nga) và Than khoáng sản Việt Nam (TKV).

Xét về mặt nhu cầu sử dụng nước, theo ước tính sơ bộ để sản xuất 1 tấn alumin thì cần khoảng 60m3 nước phục vụ cho việc rửa quặng và các công việc khác trong chế biến alumin thì tổng nhu cầu nước trong giai đoạn 2007-2015 ước khoảng 396 triệu m3/năm, trong giai đoạn 2016-2025 ước khoảng 792 triệu m3/năm. Nếu so sánh nhu cầu và tiềm năng nguồn nước trên địa bàn, tính theo lý thuyết về số lượng có đủ khả năng đáp ứng. Tuy nhiên, do sự phân bố lượng mưa không đồng đều theo không gian và thời gian, nên muốn chủ động được nguồn nước phục vụ cho khai thác bauxit, phải nghĩ đến biện pháp đầu tư xây dựng hệ thống các hồ chứa nhằm cân đối lại nguồn nước. Ngoài ra, do việc khai thác sử dụng nguồn nước này không được đề cập đến trong các nghiên cứu trước đây trong phân bổ, cân bằng nguồn nước toàn bộ hệ thống lưu vực sông, đặc biệt là vùng hạ lưu. Do đó, khi khai thác nguồn nước có quy mô lớn trên địa bàn này cần phải nghiên cứu xem xét lại cân bằng toàn bộ hệ thống lưu vực sông Đồng Nai nhằm xem xét đánh giá lại việc sử dụng nước của hệ thống.

Xin lưu ý, vấn đề không chỉ dừng lại ở số lượng nước cung cấp mà đặc biệt quan trọng là chất lượng nước do tác động của việc khai thác quặng bauxit. Theo quy trình khai thác quặng bauxit thì một lượng lớn các chất thải độc hại thải ra môi trường. Nếu lượng chất thải này không được xử lý một cách triệt để thì việc ô nhiễm nguồn nước ảnh hưởng rất lớn đến hạ lưu của lưu vực sông Đồng Nai. Khi đó, khái niệm về số lượng nước không còn ý nghĩa vì nguồn nước không còn sử dụng được nữa. Dưới đây, chỉ là những đánh giá sơ bộ có thể nhận biết được nhờ kinh nghiệm và các thông tin tư liệu sẵn có. Để đánh giá có tính định lượng cần tiếp tục nghiên cứu một cách bài bản, đầy đủ và khoa học hơn.

Các mặt tích cực và tiêu cực đối với vấn đề khai thác quặng bauxit

Bất kỳ một hoạt động phát triển nào của con người tác động vào tự nhiên cũng đều đưa đến 2 mặt lợi và hại. Vấn đề đặt ra là làm sao khai thác mặt có lợi được lớn nhất và hạn chế mặt tiêu cực đến thấp nhất.

Để đất nước duy trì tốc độ phát triển kinh tế, việc thu hút các nguồn vốn đầu tư kể cả đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có vai trò rất quan trọng. Theo dự báo do khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu nên năm 2009 nguồn FDI sẽ bị giảm nhưng ít ai ngờ ngay tháng đầu năm 2009 chỉ đạt 200 triệu đô la giảm 8,5 lần so với cùng thời kỳ năm 2008, chỉ bằng 18% so với mức vốn FDI đổ vào Việt Nam tháng 12 năm 2008. Việt Nam có 3 loại khoáng sản lớn là dầu thô, than và bauxít, trong đó, bauxit vẫn chủ yếu ở dạng tiềm năng. Nếu khai thác bauxit ở Tây Nguyên sẽ có những tác động tích cực giúp chúng ta chế biến nhôm kim loại phục vụ cho phát triển công nghiệp, tăng thêm nguồn thu nhập cho đất nước, tạo điều kiện để phát triển các ngành liên quan như ngành cơ khí chế tạo, sửa chữa và bảo dưỡng, phát triển điện, phát triển giao thông vv... Tuy nhiên, bên cạnh những mặt có lợi, nguy cơ tiềm ẩn có thể được khái quát như sau:

Để sản xuất nhôm phải qua ba công đoạn: Khai thác mỏ bauxit, tinh lọc bauxit thành ô xit nhôm (Alumina AlO3), rồi nấu chảy ô xít nhôm thành nhôm. Quá trình để hình thành 1 tấn nhôm, cần có 2 tấn alumina, 4 tấn quặng và thải ra môi trường 3 tấn bùn đỏ (red mud) chứa nhiều chất độc hại. Ngay các nước có nền công nghiệp tiến tiến và kinh nghiệm khai thác bauxit như Mỹ, Nhật, Nga, Úc, Nam Mỹ cũng chỉ biết xử lý bùn đỏ bằng cách chôn lấp.

1. Nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường không khí:

Trong quá trình khai thác một khối lượng lớn, các khí thải do quá trình đốt cháy nhiên liệu từ các động cơ của các thiết bị máy móc, từ nổ mìn khai thác quặng gây ra. Thành phần chính của các khí thải này gồm SO2, NO2,... Các loại khí này có khả năng kết hợp với hơi nước tạo ra các hạt mù axit hoặc hòa tan vào nước mưa làm giảm độ pH của nước, khi rơi xuống đất sẽ làm gia tăng khả năng hòa tan các kim loại trong đất, làm chai đất, phá hủy rễ cây, hạn chế khả năng đâm chồi, giảm năng suất cây trồng. Các khí này còn có khả năng gây kích ứng niêm mạc phổi, gây loét phế quản. Bên cạnh đó, một lượng bụi lớn thải ra môi trường không khí trong quá trình khai thác quặng. Đây là các loại khoáng vô cơ kim loại, silic, bụi plastic gây ra các loại bụi phổi ở động vật, lắng động trên lá cây làm giảm khả năng quang hợp của cây, làm giảm năng suất cây trồng. Ngoài ra, quá trình khai thác gây ra tiếng ồn và chúng thường gây nên các bệnh nghề nghiệp đối với công nhân có thời gian tiếp xúc dài trên 3 tháng về thính giác. Khi tiếng ồn vượt quá giới hạn cho phép nhiều lần có thể ảnh hưởng rất lớn đến hệ thần kinh, gây mất thăng bằng, chóng mặt.

2. Nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường nước:

Ảnh hưởng đến chế độ thủy văn: Một điều có thể thấy rõ là, khi khai thác quặng một diện tích lớn bề mặt bị khai thác làm thay đổi hẳn chế độ thảm thực vật ở bề mặt, độ dốc. Từ đó, sẽ dẫn đến chế độ thủy văn dòng chảy ở khu vực bị thay đổi theo hướng bất lợi như lũ sẽ sinh ra nhanh hơn dễ tạo ra lũ quét, nguy hiểm hơn, còn chế độ dòng chảy mùa khô lại ngày càng kiệt hơn.

Về số lượng: Trong quá trình khai thác, một lượng nước lớn sẽ được sử dụng. Việc khai thác sử dụng một lượng nước lớn này ảnh hưởng đến việc khai thác sử dụng của các hộ dùng nước khác. Ngoài ra, như đã nêu ở trên, việc sử dụng nước cho khai thác quặng bauxit không được tính toán cân bằng trong tất cả các nghiên cứu trước đây đối với lưu vực sông Đồng Nai do có quan niệm loại bỏ khả năng khai thác quặng bauxit khu vực này do tác động xấu gây ra từ nó đối với nguồn nước. Do vậy, khi đề cập đến việc sử dụng nước để khai thác bauxit cần phải cân bằng lại nguồn nước trên toàn lưu vực nhằm điều hòa, điều chỉnh nhu cầu của các hộ dùng nước liên quan (công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản, dân sinh, dòng chảy môi trường…) vì nguồn nước ở đây có tác động trực tiếp đến các hộ dùng nước ở phía hạ lưu.

Về chất lượng: Theo đánh giá của nhiều nghiên cứu, những nguồn có thể gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng nước mặt trong quá trình khai thác quặng bauxit chính là lượng nước chảy tràn từ các khu vực có hồ bùn đỏ, hồ oxalat và hồ chứa bùn thải từ công tác tuyển quặng. Bên cạnh đó, lượng chất thải, nước thải từ các hoạt động sinh hoạt của một lượng lớn công nhân thực hiện trên các công trường. Ngoài ra, việc khai thác bauxit, tác động của bãi thải còn ảnh hưởng lớn và lâu dài đến chất lượng nước ngầm do pha lỏng của bùn đỏ luôn chứa một lượng kiềm sút lớn và các chất độc hại.

Cần hiểu rằng trong các chất thải, thì chất thải độc hại là đáng sợ nhất. Ta chưa hiểu rõ hết được tác động về lâu dài và tương tác lẫn nhau. Đặc tính “lâu dài” thì ai cũng hiểu nhưng khó lường trước cho xác thực, làm sao ta biết chất thải từ bùn đỏ và quặng thải sẽ gây tác hại, và tác hại bao lâu? 20 năm hay 50 năm? Đặc tính “tương tác” thì càng mù mờ hơn nữa. Nếu lấy một mẫu nước thử nghiệm, ta thấy mỗi chất độc hại đều nằm dưới tiêu chuẩn cho phép thì đừng vội mừng. Có dăm bảy chất độc hại đều nằm dưới tiêu chuẩn cho phép thì còn tạm chấp nhận được. Có đến vài chục chất độc hại, mỗi chất tuy nằm dưới tiêu chuẩn cho phép nhưng lại tương tác với nhau gây hiệu ứng độc hại như thế nào thì ta không thể lường trước được. Ví dụ về sự tương tác, theo tiêu chuẩn thì chất A chỉ gây hại từ mức 1 mg/L trở lên, và chất B cũng thế. Như vậy, nếu một mẫu nước chứa 0,5 mg/L chất A và 0,5 mg/L chất B thì là vô hại chăng? Chưa chắc! Tiêu chuẩn trên chỉ xét từng trường hợp đơn lẻ của chất A và chất B chứ không tính đến sự hiện diện của cả hai chất. Khi hiện diện cùng nhau thì mức gây hại của một chất đặc thù có thể bắt đầu sớm hơn, ở hàm lượng nhỏ hơn.

3. Nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường đất và cảnh quan:

Vấn đề quan trọng là dự án sẽ làm xáo trộn lớp đất mặt, dẫn đến xói mòn, chuyển tải và bồi lắng phù sa. Nếu khai thác bauxit trên diện rộng mà không tái tạo lớp đất mặt ngay thì hậu quả sẽ lan ra trên diện rộng đến các con sông và lưu vực liên quan. Xin lưu ý, khả năng phục hồi hoàn thổ ở những vùng đất sau khi khai thác quặng ở Tây Nguyên gặp nhiều khó khăn do chịu nhiều tác động của mưa, lũ, địa hình đồi núi, và tác động của bùn đỏ.

Việc khai thác quặng cần chiếm dụng một diện tích lớn, do đó liên quan đến việc đền bù, giải tỏa. Việc khai thác quặng sẽ làm thay đổi cảnh quan nơi khai thác. Ngoài ra, việc khai thác cũng ảnh hưởng đến chất lượng đất. Nước thải và bùn thải trong khâu khai thác và tuyển quặng là khá lớn. Vấn đề ô nhiễm chính là của các bãi thải này là lượng nước bị chảy tràn trên bề mặt bãi thải kéo theo nhiều cặn sẽ làm ô nhiễm khu vực hạ lưu. Ngoài ra, vấn đề tác động bãi thải đến chất lượng nước ngầm do thấm vào nguồn nước này.

Một trong những vấn đề chính đối với việc khai thác quặng đó chính là phế thải bùn đỏ. Tác động môi trường lớn nhất của bùn đỏ là chiếm dụng diện tích lớn để làm bãi thải bùn. Hơn nữa, do kích thước của hạt bùn đỏ rất mịn (<0,05mm), độ kiềm cao, hàm lượng chất hữu cơ và chất dinh dưỡng cực thấp nên cây cối, thậm chí cỏ dại cũng rất khó sống nổi trên những bãi thải bùn đỏ đã ngừng hoạt động. Ngoài ra, do pha lỏng của bùn đỏ luôn chứa một lượng lớn kiềm vì thế có thể gây ô nhiễm đất và nguồn nước ngầm ở khu vực xung quanh bãi thải.

Việc lưu giữ một khối lượng khổng lồ bùn đỏ trên thượng nguồn sông Đồng Nai sẽ là một nguy cơ lớn bởi đây là vấn đề ngay cả trên thế giới cũng chưa có công nghệ nào xử lý được. Và sẽ là càng nguy hiểm khi sự cố xảy ra thì không chỉ ảnh hưởng ở vùng hạ lưu của khu vực khai khoáng mà nó sẽ ảnh hưởng đến hầu như toàn bộ vùng hạ lưu. Có nhà khoa học từng ví, bùn đỏ giống như “bom bẩn” treo lơ lửng trên đầu. Theo ước tính, để có được 1 tấn alumin thì thải ra môi trường 3 tấn bùn đỏ. Như vậy cứ mỗi năm trong giai đoạn 2007-2015 thực hiện theo quy hoạch phê duyệt thải môi trường là 6,6 triệu tấn x 3 tức khoảng 20 triệu tấn bùn đỏ. Quả là con số khổng lồ. Ngoài ra, bùn đỏ có liên quan đến các hoá chất như kiềm sút và có ảnh hưởng đến môi trường, nhất là mạch nước ngầm trong khu vực.

4. Nguy cơ ảnh hưởng đến tài nguyên sinh vật và hệ sinh thái:

Việc khai thác quặng sẽ ảnh hưởng đến tài nguyên sinh vật và hệ sinh thái trên cạn cũng như tài nguyên sinh vật và hệ sinh thái dưới nước. Tây Nguyên, có diện tích rừng phong phú, bao phủ vào loại lớn nhất ở nước ta, đóng vai trò quan trọng về điều hòa khí hậu bảo vệ môi trường sinh thái. Việc khai thác bauxit sẽ tác động lớn đến hệ sinh thái rừng Tây Nguyên.

5. Tác động về môi trường văn hoá:

Đây là một trong những vấn đề phức tạp, nhạy cảm đặc biệt là đối với khu vực này. Đắc Nông là một phần của địa bàn Tây Nguyên nơi nhiều đồng bào dân tộc sinh sống và phát triển. Bản thân của người dân ở đây là sống theo hình thức du canh, du cư, sống dựa vào nông nghiệp với tập quán, tập tục từ lâu đời nay. Cuộc sống của họ gắn với đất đai nơi họ sinh sống. Việc khai thác quặng, buộc họ phải di dời. Điều này cũng đồng nghĩa với việc thay đổi môi trường sống của một bộ phận dân cư, thay đổi sinh kế của người dân, đặc biệt là một bộ phận khá lớn đồng bào dân tộc sống phụ thuộc vào rừng, thay đổi hoạt động sản xuất của họ do mất đất chuyển sang nghề khác, thay đổi văn hóa cộng đồng của họ. Bên cạnh đó, cũng có nguy cơ làm mất đi một số di sản văn hóa, lịch sử, danh lam thắng cảnh, gắn với bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc bản địa, ảnh hưởng đến mối quan hệ của con người với thiên nhiên. Đây là nét văn hóa quan trọng trong cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số bởi họ luôn có niềm tin vào các thần rừng, thần núi, thần sông nơi họ đang sống. Vì thế, cho dù chúng ta thực hiện tái định cư sau khai khoáng, san lấp lại mặt bằng đưa họ về vùng đất cũ thì các giá trị cũng như niềm tin cũng mất đi ít nhiều, nếu không cẩn thận sẽ mất đi vĩnh viễn.

Việc khai khoáng bauxit cũng sẽ có những ảnh hưởng xấu tới an toàn sinh kế của người dân, làm thay đổi trật tự cuộc sống của họ. Quá trình tái định cư trong khai khoáng sẽ có ít nhiều ảnh hưởng đến quá trình phân hoá xã hội trong cộng đồng các dân tộc thiểu số. Những ngôi nhà được xây dựng từ tiền đền bù sẽ thay đổi hình dáng so với ngôi nhà truyền thống, cấu trúc cộng đồng từ đó cũng bị thay đổi. Các vấn đề về môi trường chúng ta có thể lấy lại, chúng ta có thể đền bù nhưng vấn đề về văn hoá, xã hội, một khi đã ra đi thì rất khó trở về.

Rõ ràng, yếu tố văn hoá vô cùng quan trọng và hết sức phức tạp, nó có thể mất đi một cách rất chậm, và có thể người ta không thể nhận thức ngay được. Vấn đề của chúng ta là phải gìn giữ được bản sắc văn hoá, các giá trị truyền thống xuyên suốt quá trình khai khoáng. Vấn đề này cần phải được nghiên cứu, xem xét đánh giá một cách đầy đủ để từ đó có những giải pháp thích hợp.

6. Tác động đối với môi trường xã hội:

Thực tế về tác động của ngành công nghiệp khai khoáng đối với vấn đề xã hội ở Việt Nam thời gian qua đã diễn ra hết sức phức tạp. Ví dụ điển hình là tình trạng than thổ phỉ ở Quảng Ninh, gây xáo trộn đời sống, xã hội. Về vấn đề tạo công ăn việc làm cho người dân bản địa tham gia vào các hoạt động khai khoáng liệu có khả thi? Muốn được làm việc tại các nhà máy, công trường thì người dân bản địa phải có trình độ nhất định và phải trải qua đào tạo chuyên ngành. Như vậy, vấn đề tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương không phải là vấn đề riêng của UBND và các ban ngành tỉnh Đắc Nông, mà còn là vấn đề của các nhà đầu tư. Các nhà đầu tư cần phải có trách nhiệm, cam kết và lộ trình đào tạo người dân khi có nhu cầu. Các xung đột xã hội trong quá trình khai khoáng có thể tiềm ẩn ở nhiều mức độ khác nhau giữa người dân địa phương và người nhập cư; giữa người dân với các công ty đầu tư, giữa người dân địa phương với nhau và cuối cùng nếu các nguy cơ trên đây không được giải quyết kịp thời có thể dẫn đến xung đột giữa người dân địa phương với chính quyền địa phương.

Một trong những vấn đề được nhiều người quan tâm khi giải phóng mặt bằng khai thác bauxit là việc tái định cư, đền bù đất đai. Đây là khó khăn nhức nhối nhất đối với các địa phương, nhất là đối với vùng rất nhạy cảm về chính trị xã hội như Tây Nguyên. Việc xử lý như thế nào đối với vấn đề sử dụng đất, sao cho có hiệu quả, nếu không sẽ có thể có những ảnh hưởng đến chính trị không chỉ tại địa bàn tỉnh và cả khu vực Tây Nguyên.

Nhiều luận cứ đưa ra về việc phát triển kinh tế - xã hội, bỏ quên một điểm cốt lõi: dự án phát triển có thể mang lại tác hại cho một bộ phận xã hội, một cộng đồng mà họ không được hưởng lợi gì từ dự án, lại hoàn toàn không được đền bù. Nông dân mất đất có tiền đền bù đã đành, nhưng tiền đền bù này có giúp họ mua được ở nơi khác, mảnh đất với diện tích và độ mầu mỡ tương đương hay không? Đa phần là không. Còn đất là còn cách kiếm sống tuy nhọc nhằn, tuy không sang giàu, nhưng chấp nhận được. Không còn đất, họ không thể chuyển nghề có hiệu quả, rồi dần dà tiền đền bù tiêu xài hết, họ và đám con cháu sẽ sống bằng cách nào? Rồi những sông rạch bị ô nhiễm đến nỗi không ai dám dùng nước, ruộng rẫy bị ô nhiễm, năng suất tụt giảm, thì chưa hề có tiền lệ để đền bù cho người dân Việt Nam.

7. Ảnh hưởng đến an ninh, quốc phòng

Có lẽ vì lý do “tế nhị” nào đó, nên rất ít người đề cập đến yếu tố người nước ngoài ở Tây Nguyên. Đầu năm 1975, Bộ Chính trị khi bàn về phương án giải phóng Miền Nam đã có chủ trương rất sáng suốt, đại ý “Ai chiếm được Tây Nguyên, người ấy sẽ làm chủ được miền Nam”. Nhờ đó, mới có trận đánh mở màn Buôn Mê Thuật làm khâu đột phá buộc địch phải tháo chạy khỏi Tây Nguyên, quân ta thừa thắng, thần tốc, tổng tiến công giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước. Ngay nay, không hiểu ai tham mưu cho những người có trách nhiệm quản lý đất nước lại có chủ trương “mở cửa” để người nước ngoài, nhất là người Trung Quốc nổi tiếng với công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường đến khai thác tài nguyên thiên nhiên ở Tây Nguyên với các hệ lụy khôn lường! Ngay cả việc tiêu thụ sản phẩm bauxit chủ yếu là xuất khẩu sang Trung Quốc, gặp trường hợp không vừa lòng vì lý do nào đó, chỉ cần bạn “hắt hơi, xổ mũi” cũng đưa ta vào thế “tiến thoái, lưỡng nan”!

Người dân Việt Nam, từ tâm khảm luôn trân trọng giá trị của tình hữu nghị, biết ơn sự giúp đỡ chí tình, hiệu quả của nhân dân Trung Quốc trong những năm tháng gian khó của cuộc chiến tranh thống nhất đất nước cũng như khi xây dựng tổ quốc. Nhưng người dân Việt Nam cũng khó quên vào lúc 5 giờ 25 phút, sáng ngày 17/2/1979, Trung Quốc nổ súng trên toàn tuyến biên giới Việt Nam từ Phong Thổ (Lai Châu) đến Móng Cái. Cuộc chiến xảy ra dù với bất cứ lý do nào cũng thật tàn khốc, nhiều hy sinh, mất mát. Mới đây, tôi nhận được thư của người bạn được tham dự khóa học bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh ở Quân khu I, kể lại: “Lạ một điều là từ đại tá chính ủy nhà trường đến đồng chí thượng tá giảng viên mà cũng phủ nhận hồi năm 1979 mình với Trung Quốc đánh nhau mà chỉ cho là “xung đột võ trang”. Điều trớ trêu là khi có đoàn đại biểu Trung Quốc đến thăm nhà trường thì phải cất hết những hiện vật truyền thống về cuộc chiến 1979 ở nhà truyền thống đi”!? Theo tôi, quá khứ, rất cần khép lại để thêm bạn, bớt thù nhưng sự thật lịch sử không được phép làm “méo mó” hoặc cố tính né tránh.

Những năm gần đây, Trung Quốc đẩy mạnh đầu tư và buôn bán với Việt Nam. Chúng ta luôn trân trọng và đánh giá cao thành tựu phát triển kinh tế của nước láng giềng khổng lồ nhưng cũng không quên bài học về tăng trưởng nóng mà hậu quả ô nhiễm môi trường và nguồn nước, gây thiệt hại hàng năm đến 200 tỷ đô la. Bởi vậy, phải luôn tỉnh táo, đánh giá, xem xét thận trọng, hiệu quả của các chương trình, dự án, đặc biệt là năng lực của các nhà đầu tư, nhà thầu của Trung Quốc.

Năm 2007, tôi viết thư gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phản ánh những yếu kém, bất cập về năng lực của nhà thầu Tianjin - Chec 3 của Trung Quốc thực hiện Dự án vệ sinh môi trường lưu vực kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè ở thành phố Hồ Chí Minh gây ra các tác hại cả về kinh tế lẫn xã hội. Thủ tướng đã quan tâm, chỉ đạo Bộ Kế hoạch Đầu tư thành lập ngay một đoàn Thanh tra vào TP.HCM xác minh các vấn đề trong nội dung bức thư (Một số tờ báo đã đưa tin vấn đề này). Đến ngày nay, càng chứng minh rõ các vấn đề đã cảnh báo trong lá thư gửi Thủ tướng là hoàn toàn chính xác.

8. Bài học kinh nghiệm

Gần đây, công luận phản ánh ý kiến của người dân hoan nghênh Chính phủ và chính quyền Hà Nội sau khi nghe ý kiến phản biện của các nhà khoa học và người dân đã cho dừng các dự án xây dựng nhà máy thép Posco ở vịnh Vân Phong; Dự án xây dựng trung tâm thương mại ở chợ âm phủ Hà Nội; Bộ Y tế dừng một số tiêu chuẩn sức khỏe trong cấp bằng lái xe. Tôi còn nhớ câu chuyện về việc lựa chọn phương án xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La cao, Sơn La thấp trước đây. Theo kể lại, sau khi nghe các cơ quan chức năng trình phương án, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải tổ chức họp, bỏ phiếu lựa chọn phương án. Trong số hơn 20 thành viên Chính phủ dự buổi họp hôm đó, hầu hết mọi người đều bỏ phiếu ủng hộ phương án Sơn La cao, chỉ có GS.TS Đặng Vũ Minh giám đốc Trung tâm Khoa học Công nghệ Quốc gia (Nay là Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam) bỏ phiếu cho phương án Sơn La thấp và Bộ trưởng Bộ giáo dục & Đào tạo Nguyễn Minh Hiển bỏ phiếu trắng. Sau đó, nhờ sự phản ứng mạnh mẽ của các nhà khoa học, đặc biệt là Hội Thủy lợi, Chính phủ đã xem xét lại và quyết định chọn phương án thủy điện Sơn La thấp và đang được xây dựng như ngày nay.

Chúng ta có quyền đặt ra câu hỏi đối về công tác quản lý đất nước “Vì sao một số chủ trương lớn, các chương trình, dự án với mục tiêu tốt đẹp là phát triển kinh tế cho đất nước nhưng khi ra quyết định lại thường gặp phải các phản ứng bất lợi từ người dân?”. Mỗi lần phải dừng dự án, không phải chỉ tổn thất, mất mát về kinh tế bởi vì “Mất tiền là mất ít, mất uy tín là mất nhiều nhưng mất lòng tin mới là mất tất cả”. Để đạt được sự đồng thuận cao trong xã hội, mỗi khi đề xuất các chủ trương, chính sách, phải rút kinh nghiệm từ những bài học trong quá khứ , lựa chọn, sử dụng những người tham mưu thực sự tài giỏi cả lý luận và thực tế, có bản lãnh, tâm huyết và những người ra quyết sách phải đủ cả TÂM và TẦM. Mọi chủ trương, chính sách có công khai, minh bạch, coi trọng công tác phản biện khoa học và phản biện xã hội thì mới đi vào cuộc sống và được lòng người.

Kết luận và kiến nghị:

Nguyên lý điều hành quản lý Nhà nước là trách nhiệm, quyền lợi và quyền hạn. Nếu quyền hạn lớn hơn trách nhiệm dễ sinh ra tham nhũng, quan liêu. Nếu quyền lợi không gắn với trách nhiệm sẽ mất hiệu lực. Tư duy “nhiệm kỳ” chính là nguyên nhân làm hạn chế TẦM NHÌN trong hoạch định chủ trương, chính sách của trung ương cũng như chính quyền địa phương.

Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển con người và sinh vật. Các nhà khoa học từ lâu đã cảnh báo Việt Nam đang phải đương đầu với các vấn đề về môi trường như nạn phá rừng, khai thác quá mức tài nguyên sinh học, tài nguyên đất xuống cấp, thiếu nguồn nước ngọt trong khi ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng, dân số tăng nhanh dẫn đến đói nghèo v.v... Cảnh báo trên, ít nhiều được một số người có trách nhiệm quan tâm nhưng do các nguyên nhân khách quan và chủ quan, các chủ trương chính sách và các biện pháp đưa ra không đáp ứng được yêu cầu làm cho chất lượng sống của người dân thực sự đã vào mức báo động đỏ. Đã đến lúc Việt Nam nên đặt lại mục tiêu phát triển cho đúng đắn hơn!

Từ trước đến giờ, mục tiêu chủ yếu vẫn là tăng GDP. Với mặt bằng kinh tế thấp thì việc này tạm chấp nhận được, vì mục đích cấp bách là đưa đất nước thoát nhanh ra khỏi cảnh đói nghèo. Nhưng một khi đã thoát nghèo, thậm chí một bộ phận xã hội đã giàu có thì ta càng cần phải nghiêm túc trong hành động, chứ không chỉ nói suông để bảo vệ môi trường.

Lúc trước, ta tạm chấp nhận hy sinh một con sông để một nhà máy xả nước thải chưa qua xử lý đổ ra sông này, mục đích giúp địa phương thu thêm thuế, GDP được tăng lên. Bây giờ, không thể làm thế nữa, và phải biết quý trọng nguồn nước (phải biết giữ gìn và bảo vệ nó). Kinh nghiệm đau thương đã xảy ra khá nhiều sông rạch ở ngoại thành TP. Hồ Chí Minh không còn thủy sản, dân không dám dùng nước dù là để tắm rửa, thậm chí tàu nước ngoài (Nhật Bản, Singapore) tẩy chay không vào sông Thị Vải vì sợ ô nhiễm làm hư hại vỏ tàu. Rõ ràng các trường hợp này, là lợi hoàn toàn bất cập hại, dù các nhà máy có tăng nguồn ngân sách cho ta bao nhiêu chăng nữa.

Lúc trước, ta tạm chấp nhận hy sinh một khoảnh môi trường, một cộng đồng nghèo khó để một công ty đặt nhà máy phá dỡ tàu biển với cùng mục đích giúp chính quyền có thêm thuế, GDP được tăng lên. Bây giờ phải nhất quyết chống lại ô nhiễm chất thải độc hại vốn rất tốn kém để xử lý, mà không xử lý thì hậu quả có thể kéo dài trong nhiều thế hệ. Cái giá cho tương lai như vậy là quá đắt.
Cần để cho nước ngoài biết rằng mặc dù nước ta chưa giàu có nhưng ta đã biết sống sạch. Để cho các nhà đầu tư hiểu rằng dù họ có hứa trích bao nhiêu tiền cho ngân sách, cho quỹ vì người nghèo, cho nhà tình thương thì vẫn không sao bù được những tổn hại lâu dài cho các thế hệ sau. Bây giờ, đất nước tuy còn có khó khăn nhất định nhưng cũng đùm bọc nhau được chứ không thể chấp nhận giải quyết khó khăn nhất thời để rồi về lâu dài làm bãi rác của quốc tế.

Bài học lớn nhất cho những người có trách nhiệm về quy hoạch chiến lược phát triển quốc gia là phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường. Trong giai đoạn phát triển, ta nên rà soát lại mà điều chỉnh các mục tiêu phát triển, đó là (1) vì tương lai, (2) vì đất nước nói chung, và (3) vì chất lượng cuộc sống của chính thế hệ hôm nay. Dù là tiếp tục triển khai dự án bauxit Tây Nguyên vì đó là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước hay phải dừng lại theo nhiều ý kiến phản biện để tìm hướng đi khác thì các công việc sau đây vẫn phải được tiến hành thực hiện :

- Rà soát, bổ sung chiến lược phát triển kinh tế xã hội Tây Nguyên để làm cơ sở cho quy hoạch phát triển của các ngành, không thể để tình trạng mạnh ai, nấy làm không có sự phối hợp đồng bộ.

- Đánh giá môi trường chiến lược cho Tây Nguyên theo quy định của Luật bảo vệ môi trường.

- Thực hiện đánh giá tác động môi trường (EIA) của dự án khai thác bauxit Tây Nguyên một cách bài bản, khoa học theo phương pháp luận của quốc tế chứ không phải chỉ là công cụ để “phụ họa” cho mọi chuyện đã rồi. Nếu cần thiết có thể sử dụng mô hình để mô phỏng lan truyền ô nhiễm do khai thác bauxit, mô hình luân chuyển phù sa bồi lắng tại các hồ chứa ở phía hạ lưu.

- Áp dụng phương pháp luận mới về phát triển kinh tế trên cơ sở phân tích mâu thuẫn và quyền lợi của các nhóm lợi ích (interest groups) khác nhau trong xã hội và tìm giải pháp để giải quyết mâu thuẫn về quyền lợi của các nhóm này. Chỉ khi nào giải quyết được mâu thuẫn về lợi ích giữa các nhóm thì mới có thể phát triển kinh tế xã hội cách toàn diện. Yếu kém nhất của các dự án ở Việt Nam là vấn đề “hậu kiểm” cho nên khi tính toán kinh tế phải bắt buộc nhà đầu tư tính đúng, tính đủ chi phí tái tạo lớp đất mặt. Kế tiếp, chuyển kinh phí này vào một tài khoản riêng, đặt dưới sự quản lý của cơ quan chức năng để đảm bảo tài khoản này được sử dụng đúng cho mục đích tái tạo lớp đất mặt và có cơ quan giám sát chặt chẽ việc thực thi.

- Tập đoàn Công nghiệp than khoáng sản Việt Nam và các nhà thầu phải rà soát, bổ sung và thực hiện đầy đủ hồ sơ tài liệu các giai đoạn khai thác bauxit theo các bước sau: (1) Preliminary exploration + ESIA (Desk Study) - Đây là giai đoạn nghiên cứu ban đầu, chủ yếu trên bàn giấy, kết hợp đánh giá sơ bộ tác động môi trường, xã hội. (2) Pre-Feasibility Assesment - Đánh giá tiền khả thi các nghiên cứu ở giai đoạn trước. (3) Exploration + ESIA (Field + Desk Study) - Bước này, nghiên cứu tương tự như bước 1 nhưng có đánh giá thực tế hơn thông qua khảo sát thực tế. (4) Feasibility Assessment - Giống như bước 2 nhưng tập trung vào các dự án đã lựa chọn. (5) Mining + Transportation - Khai thác mỏ và vận chuyển (6) Bauxit Processing - Quá trình khai thác, chế biến (7) Mine Closure – Đóng cửa mỏ (8) Bauxit Plant Closure - Đóng cửa nhà máy.

Nguồn nước ngọt, trong hệ thống sông Đồng Nai có ý nghĩa rất quan trọng trong toàn bộ lưu vực từ nước sinh hoạt đến phục vụ sản xuất, đặc biệt đối với sự phát triển của khu kinh tế trọng điểm mà TP.Hồ Chí Minh là trọng tâm. Khi phân tích đánh giá tác động của dự án khai thác bauxit Tây Nguyên cần quan tâm đúng mức đến vai trò của bài toán hệ thống.

Nói tóm lại: Thực tế đã chứng minh công cuộc Đổi mới kinh tế do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trong suốt mấy chục năm qua đã mang lại cho đất nước những biến đổi sâu sắc trên nhiều lĩnh vực. Cuộc sống ngày nay, trong một thế giới phẳng đòi hỏi phải có nhận thức mới về quản lý kinh tế là cơ sở để thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển sang trang sử mới.

Không hiểu sao lúc này, tôi lại ước ao, giá như ông Sáu Dân vẫn còn trên cõi đời này, chắc chắn ông sẽ lại suy ngẫm để tìm ra những đề xuất mới, sáng suốt, hợp lòng dân. Suy ngẫm, hồi tưởng, tôi lại nhớ về bài thơ của Việt Phương viết về cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt:

“Người có biết đời cần người đến thế
Đời cần người lúc này bao xiết kể
Người đừng đi, đừng đi, đừng đi…”

Bien-Tap gửi hôm Thứ Tư, 18/02/2009
Bạn đánh giá bài viết này thế nào?

Phạm Đình Trọng – Thời nghịch lí

Về luật sư Lê Công Định: Người Gây Khó Xử

Viện IDS: Khi trí thức… từ chức

Dân trí… không từ trên trời rơi xuống!

Hoàng Việt - Bàn về 1,5 tỷ đô la ODA Nhật Bản tài trợ cho Việt Nam


Mê Linh gửi lúc 07:43, 03/03/2009 - mã số 352

Thêm một nhà quân sự gửi thư cho chính phủ để phản đối dự án bô-xít Tây nguyên, mời các bác đọc...

Nguồn: Diễn Đàn

Kính gửi: Các đồng chí uỷ viên Bộ Chính Trị

Đồng kính gửi: Thủ Tướng và các Phó Thủ Tướng Chính Phủ

Kính thưa các đồng chí,

Lâu nay tôi không có thông tin, mãi đến gần đây được đọc thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và hàng trăm ý kiến không đồng tình của các nhà khoa học, cán bộ và người dân ở khắp Bắc - Trung - Nam, tôi mới biết ta đồng ý cho Trung Quốc khai thác bauxit ở Tây Nguyên.

Nguy hiểm quá! Tôi cũng thấy những nguy hại như mọi người đã phát biểu: tàn phá môi trường sinh thái, xâm hại rừng nguyên sinh, nguy hại cho đời sống của đồng bào dân tộc người Thượng, lưu độc cho các dòng sông phát nguyên hoặc chảy qua Tây Nguyên, ảnh hưởng rất xấu cho đời sống của người dân Nam Bộ sống dọc hai bờ sông Đồng Nai, có thể ảnh hưởng đến các công trình thuỷ điện phía Nam.

Điều đáng lo hơn cả là an ninh quốc gia. Chúng ta đều biết Trung Quốc xây dựng căn cứ hải quân hùng mạnh ở Tam Á đảo Hải Nam, nói thẳng ra là không phải để chống kẻ thù xâm lược nào, mà là đe doạ Việt Nam và sẵn sàng chờ thời cơ thôn tính nốt Trường Sa của chúng ta, sau khi đã nhanh tay chiếm Hoàng Sa từ tay Chính quyền Sài Gòn.

Nay lại để Trung Quốc khai thác bauxit ở Tây Nguyên thì sẽ có năm, bảy nghìn hoặc một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ hình thành một "thị trấn Trung Hoa", một "căn cứ quân sự" trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta (vũ khí đưa vào thì không khó gì). Phía Bắc nước ta, trên biển có căn cứ hải quân hùng mạnh, phía Tây Nam nước ta có căn cứ lục quân trang bị đầy đủ thì độc lập, chủ quyền mà chúng ta đã phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng cùng xương máu sẽ như thế nào?!

Về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chúng ta có đầy đủ căn cứ lịch sử và pháp lý, còn Trung Quốc thì không. Vậy mà báo chí Trung Quốc dựng ra chứng cứ, luôn công khai xí hai quần đảo đó là của họ. Quốc vụ viện Trung Quốc (chính phủ) công khai công bố quyết định lập huyện Tam Sa. Trung Quốc có nhiều hành động rất công khai mà lại dỗ chúng ta im lặng không đưa vấn đề ra công khai, thật là vô lý. Chúng ta muốn sống hoà bình hữu nghị với Trung Quốc, tôi cũng muốn thế. Nhưng hữu nghị cũng phải đấu tranh thích hợp để bảo vệ lợi ích chính đáng của Tổ Quốc ta. Nếu lãnh đạo chưa tiện lên tiếng công khai thì cứ để báo chí, các nhà khoa học lịch sử đưa ra chứng lý, cứ để cho quần chúng biểu tình hoà bình, phản đối khi lãnh thổ Quốc gia bị xâm phạm, không nên dập đi tinh thần yêu nước của họ.

Đành rằng các đồng chí có quyền, muốn làm gì cũng được, quyết định thế nào cũng được, nhưng cũng nên quan tâm dư luận, lắng nghe những lời phân tích lợi, hại, phải, trái mà suy nghĩ cân nhắc. Từ xưa đến nay, ở triều đại nào cũng vậy, chủ trương, chính sách ích quốc, lợi dân thì được dân ủng hộ, chủ trương chính sách sai trái tổn quốc, hại dân thì dân oán. Dân oán, mất lòng tin thì khó yên ổn và thịnh vượng được. "Quan nhất thời, dân vạn đại", "vua cũng nhất thời, dân vạn đại".

Thưa các đồng chí,

Trên đây là những lời nói thẳng, tâm huyết của một đảng viên già 70 tuổi Đảng, đã gần đất xa trời, mong được các đồng chí xem xét.

Kính chào,

Nguyễn Trọng Vĩnh

Số nhà 23, Ngõ 5, Phố Hoàng Tích Trí,
Phường Kim Liên, Quận Đống Đa,
Hà Nội

Mê Linh gửi lúc 04:12, 18/02/2009 - mã số 216

Cảm ơn bác Bien-Tap đã mang về một bài thật hay. Đây là bài đầu tiên bởi một tác giả trong nước đã đề cập đến những nguy cơ về an ninh quốc phòng của dự án bô-xít Tây nguyên một cách thẳng thắn và chi tiết nhất. Những bài trước chỉ dám nói xa nói gần. Mong sao càng ngày càng có nhiều nhà chuyên môn và trí thức trong nước mạnh dạn lên tiếng về vấn đề này.

Gửi phản hồi mới (xin gõ tiếng Việt có dấu và tuân thủ Nguyên tắc Dân Luận để được chấp nhận)

Bạn có thể bịa một địa chỉ email bất kỳ, ví dụ test@gmail.com. Thông tin này sẽ không xuất hiện công khai khi phản hồi được đăng.
  • Bạn có thể sử dụng các thẻ BBCode trong bài. Các địa chỉ URL sẽ được tự động chuyển thành liên kết.
  • Bạn có thể trích bài của người khác bằng thẻ [quote], ví dụ: [quote]Nội dung muốn trích dẫn[/quote]
  • Bạn có thể sử dụng những thẻ HTML sau: <a> <em> <strong> <ins> <b> <i> <u> <br> <cite> <code> <ul> <ol> <li> <dl> <dt> <dd> <h1> <h2> <h3> <h4> <h5> <table> <tbody> <td> <tr> <pre> <img> <div> <span> <object> <hr> <center> <font> <blockquote> <strike> <embed> <param> <del> <ins> <sub> <sup>
  • Bạn có thể chèn video vào bài viết bằng thẻ [video:địa_chỉ_url_của_video]
  • Cách dòng và cách đoạn sẽ được tự động chuyển thành xuống dòng.

Nhấn vào đây để biết thêm chi tiết về cách định dạng bài viết...

To prevent automated spam submissions leave this field empty.
CAPTCHA
Bạn bắt buộc phải trả lời câu hỏi kiểm tra dưới đây. Nó giúp chúng tôi nhằm lọc bỏ các nội dung spam do robot tự động thực hiện.
1 + 0 =
Giải bài toán đơn giản này và nhập kết quả vào ô phía trên. Ví dụ, nếu thấy 1+3, thì hãy nhập 4.

Suy ngẫm

Tôi có thể không đồng ý những điều anh nói, nhưng tôi có thể chết để bảo vệ quyền anh được nói những điều đó!

— Voltaire

Mới Mới Mới

Từ khóa trong bài viết

Thống kê truy cập

Hiện có 2 thành viên722 khách truy cập.

Thành viên online

Tâm Như, HTNguyen-2014

Kỷ lục: Có 4638 người ghé thăm vào 15-05-2014 lúc 09h47.

Độc giả Dân Luận từ đâu đến?

Locations of visitors to this page

Quỹ Dân Luận

ung-ho-dan-luan-3.png