Dân tộc biết xấu hổ

Chia sẻ bài viết này

Một dân tộc không biết xấu hổ về mình thì chẳng thể khiến mọi người tôn trọng.

Admin gửi hôm Chủ Nhật, 01/08/2010
Bạn đánh giá bài viết này thế nào?

La France (khách viếng thăm) gửi lúc 14:33, 16/04/2013 - mã số 84432
ntb viết:
Giết một người là tội phạm. Giết ngàn người thì CÓ THỂ sẽ được coi là anh hùng dân tộc. Như người Pháp tôn thờ Napoleon, kẻ đã gây ra cái chết cho hơn 6 triệu người châu Âu.

...

Tôi chưa từng thấy dân tộc Pháp tỏ ra xấu hổ vì ăn cắp tài sản của các dân tộc thuộc địa trước đây và bán thuộc địa hiện nay.

...

Nếu muốn gia nhập thế giới "văn minh" như bạn gì đó bàn về chuyện bỏ ăn thịt chó, thì người Việt như một tập thể cần phải học được cách ăn cắp tinh vi hơn của người phương Tây để làm giàu cho đất nước.

Muốn vậy chúng ta cần phải mạnh mẽ hơn, tự tin và tự tôn hơn, để bên ngoài thì học theo thói đạo đức giả của người phương Tây mà tỏ ra tôn trọng dân chủ và nhân quyền, nhưng bên trong phải chuẩn bị sức mạnh kinh tế và quân sự để nếu các dân tộc yếu hơn hở ra cái gì là ta phải đớp ngay.

Ông (bà) ntb trước hết nên học tinh thần khoa học thận trọng và ham hiểu biết của người phương tây đi cái đã rồi mới nên phát biểu, không là cứ toàn khuyến cáo những thứ nhảm nhí cho đồng bào mình.

Trước hết, nói để ông biết là người Pháp không tôn thờ Napoleon. Đối với họ, Napoleon là một nhân vật lịch sử quan trọng nhưng controversial, công tội phức tạp, giới lịch sử có những đánh giá về nhân vật này hết sức trái ngược nhau. Vì không có được sự đồng thuận trong đánh giá của dân tộc nên ở Paris không có bất cứ một đường phố, một địa điểm nào mang tên Napoleon cả. Hiện nay có một hội ủng hộ Napoleon đang đòi "sửa chữa sự bất công này" (xem ở đây: http://www.napoleonicsociety.com/french/NapoleonEtParis.htm ), đòi đặt tên Napoleon cho một vài địa điểm ở Paris, nhưng hiện tại đó cũng chỉ là một ý kiến chưa được ủng hộ nhiều ở Pháp.

Về chuyện ông (bà) cho rằng dân tộc Pháp chưa từng tỏ ra xấu hổ vì ăn cắp tài sản của các dân tộc thuộc địa thì tôi xin cung cấp thông tin để ông bà biết rằng, ngay từ thế kỷ 19, ở nước Pháp đã có những ý kiến mạnh mẽ lên án chế độ thuộc địa, xuất phát từ những nhân vật rất quan trọng. Điển hình là Georges Clemenceau, thượng nghị sĩ và thủ tướng Pháp (từ 1906 đến 1909), đã phát biểu tại Thượng nghị viện Pháp vào tháng 7/1885 thế này:

"Không, không có cái quyền nào của các dân tộc thượng đẳng được chống lại các dân tộc bị coi là hạ đẳng... Chúng ta đừng cố che đậy bạo lực bằng cách dùng tên gọi đạo đức giả là khai hóa văn minh... Cuộc chinh phục mà các ngài yêu cầu tiến hành chỉ là sự lạm dụng thuần túy sức mạnh của nền văn minh khoa học đối với những nền văn minh thô sơ, để chiếm đoạt con người, tra tấn họ, lấy toàn bộ sức lực của họ để làm lợi cho kẻ tự nhận là đi khai hóa văn minh... Nói về khai hóa văn minh như thế này tức là gắn bạo lực với đạo đức giả." (http://www.lecanardrépublicain.net/spip.php?article31)

Quan điểm trên của Clemenceau thời bấy giờ không giành được sự ủng hộ của giới quyền lực ở Pháp, nhưng đến nay đã được trang trọng in trong sách giáo khoa lịch sử của học sinh trung học Pháp, để học sinh Pháp được biết rằng thời kỳ đi khai thác thuộc địa là một trang sai lầm trong lịch sử Pháp.

Thạt đáng sợ cái thói quen ở một số người Việt, không biết gì nhưng cứ ngồi một chỗ tự an ủi rằng bọn khác cũng xấu lắm nên ta có quyền được xấu. Hy vọng đây chỉ là hiện tượng không phổ biến ở người VN.

ntb (khách viếng thăm) gửi lúc 08:41, 16/04/2013 - mã số 84417

Giết một người là tội phạm. Giết ngàn người thì CÓ THỂ sẽ được coi là anh hùng dân tộc. Như người Pháp tôn thờ Napoleon, kẻ đã gây ra cái chết cho hơn 6 triệu người châu Âu.

Ăn cắp một đôi giày thì bị đối xử như tội phạm, phải chịu xấu hổ. Ăn cắp những mỏ tài nguyên của cả châu Phi thì sẽ ... trở thành một dân tộc văn minh.

Tôi chưa từng thấy dân tộc Pháp tỏ ra xấu hổ vì ăn cắp tài sản của các dân tộc thuộc địa trước đây và bán thuộc địa hiện nay.

Tôi cũng chưa từng thấy người Mỹ nào tỏ ra xấu hổ vì họ vẫn đang tiếp tục ăn cắp dầu hỏa ở Trung Đông bằng cách nuôi dưỡng các chế độ độc tài thân thiện và trừng phạt những chế độ bướng bỉnh nhân danh dân chủ.

Nếu muốn gia nhập thế giới "văn minh" như bạn gì đó bàn về chuyện bỏ ăn thịt chó, thì người Việt như một tập thể cần phải học được cách ăn cắp tinh vi hơn của người phương Tây để làm giàu cho đất nước.

Muốn vậy chúng ta cần phải mạnh mẽ hơn, tự tin và tự tôn hơn, để bên ngoài thì học theo thói đạo đức giả của người phương Tây mà tỏ ra tôn trọng dân chủ và nhân quyền, nhưng bên trong phải chuẩn bị sức mạnh kinh tế và quân sự để nếu các dân tộc yếu hơn hở ra cái gì là ta phải đớp ngay.

Cái hay của người phương Tây là họ khuyến khích các tập đoàn tài phiệt - công nghiệp tích cực đi ăn cắp và ăn cướp ở khắp nơi trên thế giới, nhưng trong nội bộ họ thì lại tuyệt đối cấm ăn cắp của nhau bằng tinh thần thượng tôn pháp luật.

Người Việt chúng ta hiện tại thì lại kém cái khoản ăn cắp ăn cướp của người khác mà chỉ giỏi ăn thịt lẫn nhau. Đó là cái dở cần phải bỏ mới khá được.

rimo gửi lúc 10:51, 06/08/2010 - mã số 19431

Sự xấu hổ đang ngủ quên, thật ư ?

A SÁNG

1. Chuyện ngày xưa

Thời đi học ở trường Dân tộc nội trú, tôi có đứa bạn tên là Du – Nông Văn Du, dân tộc Tày, nhà nó cách thị xã Cao Bằng chừng 100 km. Tôi nhớ mãi cái hôm nó đến nhập học cùng bọn tôi. Nó mặc bộ quần áo cũ mèm, đi đôi dép nhựa Tiền phong vá chằng vá đụp. Và đặc biệt nhất là cái “hòm” đựng quần áo của nó. Sở dĩ được gọi là hòm vì nó đựng quần áo, đó thực chất là cái thùng người ta dùng để đựng xà phòng – loại xà phòng 72% của thời bao cấp. Những bộ quần áo nhàu nát được vón lại rồi nhét vào cái thùng gỗ được đóng thưa thớt ấy. Điều đặc biệt ở cái hòm đó không phải là quần áo nhàu nát, cũng không phải ở sự sơ sài đến thảm hại mà trong đó lộ ra bộ tiểu thuyết Thủy Hử nổi tiếng. Nó bảo, đó là món quà quý nhất của pa nó tặng trước khi lên đường đi học xa.
Đêm nào nó cũng chong đèn đọc sách, những đoạn gay cấn vẫn đọc to lên để cả phòng cùng nghe. Tính nó vui vẻ, hoạt bát, thích văn chương, nhường nhịn bạn bè…, nói chung nó là thằng bạn dễ chịu. Hồi ấy chúng tôi học nội trú nên được bao cấp hoàn toàn: một năm hai bộ quần áo, cơm ăn hai bữa, sách vở phát không… Tuy thế nhưng vẫn đói – cái đói chung của học sinh thời đó. Hàng tuần tôi vẫn phải đạp xe hơn 60 km về nhà để lấy thêm đồ ăn. Tôi nhớ, thằng Du chẳng bao giờ về cuối tuần. Nó bảo nhà xa, không có xe đạp, mới lại về cũng chẳng có cái gì để xin, ở lại đọc truyện còn hơn. Cứ cuối tuần nó lên thư viện đọc sách và nhịn đói.

Có lần tôi thấy dưới gầm giường nó toàn khoai lang sống, nó bảo thỉnh thoảng mẹ gửi khoai lang từ nhà ra để ăn thay bữa sáng. Và cứ thể hai năm liền, tôi thấy buổi sáng nó ăn khoai, cuối tuần lên thư viện đọc sách cho đỡ đói. Trong phòng chúng tôi có đầy đủ các bạn của nhiều dân tộc khác nhau. Cũng có nhiều người con gia đình khá giả. Trong đó có một cậu bạn thuộc dạng phong lưu nhất vì có đôi giày Tây. Đó là đôi giày da màu nâu, khóa mạ kền bóng loáng. Buổi sáng cậu ta thường lấy khăn lau cẩn thận mới xỏ vào chân và bao giờ cũng lượn một vòng ngắm nghía đôi giày của mình. Còn bọn tôi thì cứ trố mắt nhìn vì đôi giày đẹp quá. Phải, đó là đôi giày Tây đầu tiên tôi được nhìn thấy, còn trước kia thỉnh thoảng có bộ đội về làng chiếu phim mới thấy người ta đi giày da thế nào

Cậu bạn phong lưu ấy, ngoài đôi giày sang trọng kia còn nhiều đồ đạc đắt tiền khác mà bọn tôi và thằng Du chẳng bao giờ dám mơ. Vì thích đôi giầy quá, cứ mỗi lần cậu bạn đi vắng, tôi và thằng Du thường mang ra ướm thử, đi lại ngắm nghía, cười với nhau. Không ai nói ra, nhưng cả tôi và thằng Du đều mơ có một đôi giày như thế. Chỉ có điều cái hành động ướm trộm đôi giày kia làm cậu bạn phong lưu khó chịu. Thế rồi cậu ta cẩn thận cất vào hòm khóa lại mỗi khi không dùng đến.

Rồi cho đến một hôm, cậu ta kêu đã mất đôi giày quý báu ấy, cả phòng nháo nhác, ngơ ngác và sợ hãi nữa. Cậu bạn phong lưu cấp tốc báo cáo cô giáo chủ nhiệm, và một cuộc “điều trần” diễn ra ngay cái phòng ký túc chật hẹp. Cô giáo quắc mắt, dọa nạt, trách móc, dạy đạo đức một hồi rồi ra một quyết định quan trọng: khám hòm từng người một. Quả thực, lúc đó chúng tôi không biết trị giá đôi giày kia là bao nhiêu, sự quan trọng của nó như thế nào, nhưng cứ nhìn thái độ của cô giáo chủ nhiệm thì sợ không còn hồn vía. Tính tôi hay tưởng tượng, nhỡ mở hòm mình ra mà đôi giày bóng lộn ấy nằm ở trong thì chết. Cứ nghĩ thế mà chân tay đã bủn rủn. Lại thêm cái cậu bạn phong lưu ấy nói rằng, thỉnh thoảng vẫn thấy bạn A Sáng và bạn Du xỏ trộm thì cái sợ lại càng tăng lên gấp bội. Mọi đôi mắt nghi vấn đều đổ dồn vào tôi và Du.

Rồi cô giáo ra lệnh: “A Sáng mở hòm ra!”, tôi như người mất hồn, hai tai ù đặc, lập cập mở cái hòm tôn hoa mà mẹ tôi mua lúc nhập học. Mọi thứ: sách vở, quần áo, đồ đạc được bới tung – không có đôi giày nào – tôi thở phào nhẹ nhõm. Đến lượt cái “hòm” của thằng Du, nó òa khóc và tự mở hòm - đôi giày Tây bóng lộn với cái khóa mạ kền ấy xuất hiện. Thằng Du đã lấy đôi giày ấy, nó rũ xuống, mếu máo xin lỗi mọi người, xin lỗi cậu bạn phong lưu – nó khóc tức tưởi. Tôi nhớ mãi nó mếu máo trả lời cô giáo khi cô hỏi: tại sao cậu ăn cắp giầy của bạn? Nó bảo: Thưa cô em thích quá ạ!

Đương nhiên, nó phải viết bảng kiểm điểm, đọc trước lớp. Buổi sáng hôm đó, cả lớp im phắc, thằng Du run run đọc bảng kiểm điểm. Tưởng chuyện chỉ dừng ở mức giải quyết “nội bộ” thế thôi. Nhưng cái bảng kiểm điểm đó, theo yêu cầu của cô giáo chủ nhiệm phải được đọc ở sáng thứ hai (chào cờ) trước toàn trường. Cái lý lẽ của cô giáo, để làm gương cho những ai ăn cắp đồ của bạn. Cái buổi sáng thứ hai chào cờ tồi tệ ấy, thằng Du như một tên tội phạm, run run đọc lại bản kiểm điểm, nó gần như ngã khuỵu khi đọc đến câu cuối cùng: “…Em xin hứa với toàn trường lần sau sẽ không ăn cắp giày của bạn K nữa”. Nó đứng ngơ ngác hết nhìn cô giáo, rồi lại nhìn các bạn.

Một buổi chiều, đang đá bóng ở sân trường, tôi thấy thằng Du vác cái “hòm” thất thểu đi từ ký túc xuống. Tôi có chạy theo hỏi, nó bảo: “…Tao về thôi, không học nữa, xấu hổ lắm…”. Nó khóc, nước mắt lã chã, nó muốn nói gì đó với tôi nhưng không nên lời. Mãi rồi nó cũng quay lại nói: “Dưới gầm giường tao còn nhiều khoai lang lắm, mày lấy mà ăn…”. Thế rồi nó đi, cái tội ăn cắp đôi giày không đến mức phải đuổi học, nhưng nó tự bỏ học với một lý do rất đơn giản: xấu hổ lắm!

Bây giờ ngẫm lại chuyện này, trong tôi lại dâng lên nỗi buồn. Có một cái gì đó không ổn và rất sai ở người lớn. Thú thật, xưa kia cứ mỗi lần tôi nhìn thấy cậu bạn phong lưu đi đôi giày Tây sáng bóng, tôi đã khát thèm, đã mơ mình cũng có một đôi giày như thế. Cũng đôi lần, trong đầu tôi lóe lên cái ý định trộm đôi giày ấy. Thằng Du đã nói thật, quả đúng vì thích quá mà thôi. Hồi ấy những đứa trẻ như tôi và Du không thể có ý định trộm đôi giày của bạn để bán lấy tiền tiêu xài. Chúng tôi chưa biết làm điều đó. Vật chất không thể quyến rũ chúng tôi, nhưng vẻ đẹp lạ lẫm của đôi giày kia lại khác. Và thằng Du đã không thắng được sự quyến rũ của đôi giày – sản phẩm văn minh mà thời đó ở miền núi nó thật lạ lùng, chỉ có những đứa trẻ như chúng tôi và sống ở thời đó mới hiểu rõ sự quyến rũ của nó.
Cách chiếm đoạt đó được gọi là ăn trộm, nó có lỗi và đã nhận lỗi rất thật thà rằng, vì em thích quá ạ! Đây là điểm quan trọng, cũng nói lên nguyên nhân của hành vi ăn trộm đó. Nhưng sự sai lầm là của người lớn – cụ thể là cô giáo chủ nhiệm tôi. Việc bắt một cậu bé quê mùa, đầy tự ti như nó đọc một bảng kiểm điểm trước cả lớp đã gần như hạ gục nó. Nhưng còn phải đứng trước toàn trường để đọc tiếp cái bản “cáo trạng” dở hơi ấy là cả một sự “tra tấn” quá đáng! Không đến nỗi phải như thế! Nó đã nói thật, thích thật, lấy đôi giày ấy thật và nó đã thú nhận! Không cần thiết phải như thế!
Và hậu quả của việc đó: nó bỏ học! Nó cũng đã nói thật với tôi: xấu hổ quá! Ừ, quả đúng vì không thể vượt qua được mặc cảm là một kẻ ăn trộm, hay đúng hơn nó đã không thể vượt qua buổi “tra tấn” kia mà phải ra đi. Tâm hồn nó bị tổn thương, và lòng tự trọng ít ỏi trong tâm hồn nó thôi thúc việc rời bỏ ngôi trường này. Cũng có nghĩa cơ hội hiếm hoi được học tập của nó đã kết thúc vì một việc rất nhỏ. Nhưng ít ra nó còn có lòng tự trọng vì nó bảo: xấu hổ lắm!

Sau này, có lần đi công tác tôi có nhìn thấy Du ở một phiên chợ. Tôi gọi rất to, nhưng nó đã lỉnh đi, nó cúi mặt đi rất nhanh như không muốn gặp tôi, dù câu chuyện về đôi giày Tây đã xảy ra gần 10 năm. Sự mặc cảm vẫn đeo đẳng nó, đặc biệt khi nhìn thấy tôi, Du đã không muốn gặp cũng vì hai từ: xấu hổ, mà người miền núi thường dùng. Tôi chỉ biết, bây giờ Du sống bằng nghề xẻ gỗ trên rừng, cứ đến phiên chợ lại thồ xuống bán. Tôi nghĩ, cuộc đời nó sẽ khác nếu trong cái vụ trộm giày ấy, những người lớn biết cách cư xử. Nó là một người thông minh, ham đọc sách, có khát vọng học tập. Và dứt khoát nó không phải là người ăn trộm vặt, chuyện đôi giày ấy chỉ một lần duy nhất, không phải riêng nó, cả tôi và nhiều cậu bạn khác khi nhắc lại chuyện này đều thú nhận đã rất muốn lấy đôi giày ấy. Và tất cả đều cùng một suy nghĩ rất trẻ con: thích quá. Chỉ có Du là người không kiềm chế được, hoặc có cơ hội khi cậu bạn phong lưu ấy sơ hở. Cái hòm của cậu ấy lúc nào cũng khóa chặt cơ mà. Hơn nữa khi mở hòm cậu phong lưu ấy ra có một số tiền khá lớn ở đó. Du đã không dám lấy tiền, chỉ lấy đôi giày Tây, điều đó nói lên tất cả. Nó không phải một tên ăn trộm!

2- Chuyện bây giờ kể ra xấu hổ lắm…

Thỉnh thoảng tôi vẫn tự hỏi: bây giờ con người ta còn biết xấu hổ không nhỉ? Một câu hỏi khá ngớ ngẩn ở nơi phố phường này. Tôi làm nghề báo, nên tiếp xúc với rất nhiều người. Từ trí thức cho đến lưu manh, từ lãnh đạo cho đến người bình thường… Chỉ có điều hình như tôi thấy cái lòng tự trọng, hay còn gọi một cách dân dã là biết xấu hổ ấy, không còn nhiều.
Có vị được gọi là trí thức vì có đầy đủ bằng cấp, học hành rất công phu nhưng chẳng bao giờ thấy anh ta làm việc gì ngoài việc ông ổng chửi thiên hạ. Anh ta luôn cho rằng mình là người tài nhưng không được trọng dụng, những kẻ ngu si đã giành mất cơ hội cống hiến của anh ta. Nhắc đến công việc là anh ta nhăn mặt tỏ vẻ khinh bỉ đồng nghiệp theo kiểu: cái thằng kia, đứa kia, con kia dốt lắm, nó chỉ giỏi nịnh sếp có biết làm gì đâu… Sống với một lũ như thế thử hỏi tôi làm việc sao được, tôi khinh bỉ họ v.v…

Cũng có lần tôi ngây thơ hỏi anh ta rằng, chán thế, coi thường họ thế anh còn làm việc với họ làm gì? Bỏ đi làm chỗ khác có phải đỡ mệt hơn không? Anh ta nhếch mép cười cười mà rằng, việc gì phải đi, cứ ở lại xem chúng nó làm trò… Đúng là cao thủ, sự ngụy biện này thật sự quá cao thủ - nó trơ như tảng đá dưới lòng suối! Nói là thế, mắng là thế, khinh bỉ là thế nhưng lương thì tháng nào anh ta cũng lĩnh, bất cứ chế độ nào anh ta cũng không bỏ qua, miệng la mắng coi thường nhưng tay không quên vơ vật chất, ấy vậy mà vẫn cứ mắng, vẫn cứ coi thường và khinh bỉ. Kiểu đó rất thường gặp ở những tay tự coi là trí thức và có đầu óc trên cả thiên hạ.

Một kiểu thường gặp nữa là kiểu nịnh trước, chửi sau. Khi gặp một vị lãnh đạo, hoặc người có uy tín nào đó anh vẫn xun xoe nịnh nọt, tâng bốc ngất trời, dành những mỹ từ để làm mát mặt người đó. Nếu một lần nghe anh ta “ngoại giao” kiểu đó thì thật sự cứ tưởng lòng tôn kính của anh ta dành cho người trước mặt là tuyệt đối. Nhưng khi người đó vừa đi, lập tức anh ta bĩu môi, xì ra một chàng những từ khinh miệt, coi thường, theo kiểu: cái tay đó mèo mù vớ phải cá rán, nông dân khôn lỏi bỏ ruộng đồng lên buôn bán ở hè phố… biết cái cóc khô gì… số nó đỏ nên có lộc trời ban chứ ngu lắm! Cứ thế anh ta mắng, đay nghiến, chì chiết, chửi rủa, coi thường, bêu xấu… như không đáng một xu.
Thực sự khi chứng kiến cảnh này tôi đã trố mắt kinh ngạc và tự hỏi tại sao người ta có thể hành xử như thế nhỉ!? Những lời nói cùng từ một cái miệng, được cái lưỡi dẻo quẹo ấy đưa ra, từ cái thanh quản trơn tru ấy đẩy lên thế mà trước đang nở hoa rực rỡ, lập tức ngay sau đó là rác, là phân là tất cả những gì bẩn thỉu nhất được xổ ra. Kỳ lạ thật! Có người nói rằng, cuộc đời là một sân khấu lớn, cứ thế mà diễn. Tôi lại nhớ đến câu nói của đạo diễn Doãn Hoàng Giang: đời diễn giỏi, sao sân khấu diễn tồi thế!? Điều này đúng trăm phần trăm. Cũng đơn giản thôi vì cái dây thần kinh xấu hổ của họ bị đứt hoặc thoái hóa hết rồi. Nói cho đúng hơn, lòng tự trọng của cá nhân ấy đã không còn, hoặc chẳng bao giờ tồn tại.

Lại có vị nữ diễn viên trẻ, mới nứt mắt vào làng nghệ thuật đã xì – căng – đan ầm ĩ. Ngoài đời người ta bàn tán, truyền tụng nhau chưa hết nóng. Nếu là người biết tự trọng, còn chút thần kinh xấu hổ có lẽ phải “ẩn” thật lâu mới dám ló mặt ra trước thiên hạ. Đằng này ra đường, vào quán cà phê cứ như không, có ai đó nhìn mình vì tò mò thì trợn mắt mắng ngay: xem trên mạng chưa chán hay sao mà còn nhìn!? Làm cho cái vị hay tò mò ấy còn đỏ mặt xấu hổ hơn cái vụ ầm ĩ nọ. Đúng là không còn biết xấu hổ, chẳng sợ ai, cũng mất luôn sự tự trọng. Họ sống theo kiểu: không điếc, không sợ - việc ta, ta cứ làm.
Còn một kiểu nữa cũng trơ mặt không kém. Họ có tội, bị luật pháp xử hẳn hoi, đi tù hẳn hoi, hoặc bị thải hồi hẳn hoi. Nhưng lúc nào họ cũng cười, nhếch mép cười và hình như họ chẳng bao giờ hối hận về cái tội của mình. Tôi đã từng chứng kiến một vị bị kết tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa, bị kết án ba năm tù giam. Trước khi nhận lệnh thi hành án, anh ta vẫn lang thang ngoài phố, uống bia tán phét với mọi người như không có gì xảy ra. Thế rồi, nếu ai có hỏi đến cái chuyện nhạy cảm đó anh ta phì cười: ừ thì cứ đi tù một thời gian, chạy chọt, lo lót cho tốt thì lại ra ngay ấy mà, có gì đâu mà phải lo, có tiền thì sợ gì… Khuôn mặt điển trai của anh ta vẫn tươi như hoa, có vẻ như thách thức với tất cả. Anh ta còn bảo, tôi “hi sinh” cho chúng nó ấy chứ, nếu khai ra hết thì một lũ đi theo, bây giờ nhiều thằng nhìn thấy tôi sợ chết khiếp… Rồi anh ta ngửa cổ tu một ngụm bia đánh ực một cái khà ra vẻ khoan khoái.

Thực lòng tôi không muốn kể tiếp vì những chuyện này kể ra xấu hổ lắm. Con người ta khác đi quá nhiều, biến tướng thật nhiều! Có lẽ lối tư duy biết tự trọng, biết xấu hổ không còn nữa, hoặc lạc hậu mất rồi. Người ta “tự tin” tuyệt đối! Hết sức “tự tin” đến nỗi chẳng còn gì để sợ, kể cả tù đày, đừng nghĩ đến lương tâm hoặc sự hối hận nào đó. Tất cả những quy chuẩn của đạo đức, của văn hóa mà ngàn đời nay vun đắp hình như không còn tác dụng. Hình như ai cứ muốn sống trong những quy chuẩn đạo đức ấy lại trở nên lạc hậu và ngờ nghệch trước thiên hạ thì phải.

Và tôi lại nhớ đến thằng Du – bạn tôi – cái thằng chỉ vì biết xấu hổ ấy bây giờ sống bằng nghề xẻ gỗ. Hình ảnh nó thất thểu vác cái “hòm” đi từ ký túc xá vẫn ám ảnh tôi. Nó là một đứa dại dột khi tự kết thúc niềm khát khao học tập của mình, nhưng ở chừng mực nào đó, nó rất sòng phẳng với chính lương tâm nó. Một cậu bé quê mùa, rừng rú đã không tự tha thứ cho mình chỉ vì một hành động dại dột. Nhưng đó chỉ là câu chuyện của ngày xưa – cái ngày xưa xa tắp ở mãi miền rừng quê tôi. Còn bây giờ, khác lắm rồi Du ơi! Việc đánh cắp một đôi giày thật quan trọng với bạn, nhưng chẳng quan trọng với người đời. Vì người ta còn tự bán cả lương tâm mình cơ mà!

http://lethieunhon.com/read.php/4335.htm

dối trá gửi lúc 09:08, 06/08/2010 - mã số 19429

Đạo đức kinh doanh của thị dân Nhật Bản

PGS – TS Đoàn Lê Giang, Trưởng khoa Văn học và Ngôn ngữ ĐH KHXH-NV TPHCM

Người ta hay nói đến nhiều thứ “đạo” ở Nhật Bản: Thần đạo, Võ sĩ đạo, Kiếm đạo, Hoa đạo, Trà đạo…, nhưng ít ai nghe nói đến Đinh nhân đạo. Đinh nhân đạo là đạo của thị dân, là đạo đức kinh doanh vì nước. Đây là một trong những động lực đưa Nhật Bản trở thành một quốc gia hùng cường.

Hình thành tầng lớp thị dân

Ở Nhật Bản, ranh giới giữa thành thị với nông thôn bắt đầu hình thành từ thế kỷ 13. Đến thế kỷ 14-15, do nhu cầu mua bán, hoạt động thương mại xung quanh các cửa biển, cửa sông phát triển, dần dần biến những nơi này thành các thị trấn sầm uất. Xung quanh chùa chiền là nơi thị tứ. Xung quanh thành quách của lãnh chúa cũng có nhiều hoạt động thương mại và dịch vụ, biến thành trung tâm thương mại, tiểu thủ công nghiệp cùng với chức năng chính trị, văn hóa vốn có của nó.

Thời Edo (thế kỷ 17-19), Mạc phủ chia nhỏ đất nước ra thành 300 lãnh địa để cho các chúa đại danh cai quản, làm cho số lượng thị trấn rải đều ra khắp Nhật Bản. Mạc phủ lại buộc các lãnh chúa đại danh hàng năm cứ 6 tháng một lần phải cùng đoàn tùy tùng rời khỏi lãnh địa, lên sống ở nhà riêng tại Edo để chịu sự chỉ huy của tướng quân, khiến cho đường giao thông và thương mại nội địa rất phát triển. Việc buôn bán với nước ngoài đã kích thích kinh tế phát triển cao. Tất cả những điều đó làm cho số lượng và quy mô các thị trấn, thành phố tăng lên rất nhanh chóng, tầng lớp thị dân cũng trở nên đông đảo, dần dần trở thành một giai tầng độc lập..

Thời bấy giờ Nhật Bản có 3 “thủ đô” Kyoto là thủ đô văn hóa, Edo là thủ đô chính trị, còn Osaka là thủ đô kinh tế. Thương nhân Osaka giàu có tới mức họ trở thành chủ nợ của các võ sĩ, các lãnh chúa, thậm chí của cả tướng quân nữa. Nhiều lãnh chúa cất nhà ở Osaka để được hưởng thụ cuộc sống phồn hoa nơi đây, họ thường xuyên phải vay tiền các thương nhân để tiêu xài hoang phí, sau đó về lãnh địa thu tô thuế đem lên trả được nợ. Có những năm mất mùa họ không trả được nợ, bị xiết tài sản, phải bán cả nhà để trả nợ.

Đạo đức kinh doanh

Từ cuối thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ thứ 18 (thuộc niên hiệu Nguyên Lộc 1688- 1704 đến Hưởng Bảo 1716-1735) là thời kỳ phồn thịnh của các đô thị Nhật Bản, trong đó Osaka và Hakata là phồn thịnh nhất. Lúc bấy giờ trong các đô thị bắt đầu nổi lên khuynh hướng yêu cầu người thị dân phải có vị trí xã hội cao hơn và vì thế trách nhiệm đạo đức, xã hội - nói theo từ đương thời là đạo, nghĩa cũng cao hơn. Người khởi xướng học thuyết đó là Ishida Baigan. Ishida Baigan (1685-1744) sống vào giữa thời Edo, là nhà tư tưởng mở đầu cho phái Tâm học Thạch Môn (Sekimon). Sinh ra và lớn lên ở thành thị, nhà nghèo, ông tự kiếm sống và học tập, khởi đầu theo Chu Tử học phái, rồi chuyển sang Tâm học của Vương Dương Minh, đồng thời cũng có tham bác thêm thiền học. Từ đó mở lớp thuyết giảng Tâm học và Đinh nhân đạo ở Kyoto, khẳng định vai trò của thương nhân đối với cộng đồng xã hội.

Lúc bấy giờ Mạc phủ thực thi chính sách "dĩ nông vi bản" (lấy nông nghiệp làm gốc), "cố định thành phần" (ai sinh ra thuộc thành phần nào thì đời đời thuộc về thành phần ấy, không được thay đổi). Tất cả những điều ấy đã đi ngược lại xu hướng tự do kinh doanh và kìm hãm sự phát triển của cá nhân và đô thị. Quan niệm chính thống ấy của Mạc phủ được thể hiện qua các bài luận: Nông bản thương mạt luận (Bàn về chuyện nông nghiệp là gốc, thương nghiệp là ngọn), Thương nhân vô dụng luận (Bàn về việc vô dụng của thương nhân)...

Coi trọng thương nhân

Ishida Baigan đứng trên tập trường Tâm học, kết hợp với một số học thuyết khác, đưa ra thuyết Đinh nhân đạo - đạo của người thị dân. Ông cho rằng cấu trúc xã hôi với 4 thành phần: sĩ, nông, công, thương đã có từ xưa, trong đó mỗi giai tầng có một vai trò của nó, không thể thiếu được thành phần nào. Cả 4 giai tầng ấy đều sống trên đất của quân vương, phục vụ quân vương, nên đều được hưởng ân trạch của quân vương. Ông dùng lại ý của Mạnh Tử, để khẳng định rằng thị dân cũng bình đẳng như các giai tầng khác: "Sĩ là bề tôi trong triều, nông là bề tôi nơi đồng ruộng, công thương là bề tôi nơi thị tứ" (Sĩ giả, thần hạ tại triều; nông giả, thần hạ tại thảo mãng; công thương giả, thần hạ tại thị tứ dã). Vì cùng là bề tôi, nên vũ sĩ được hưởng niên bổng của quân vương, nông dân được hưởng thóc lúa, thì thương nhân được hưởng lời lãi - tất cả đều là bổng lộc vua ban.

Từ chỗ khẳng định vị trí của người thị dân, Baigan đã đưa ra “đạo” - tức là chuẩn mực đạo đức của giai tầng này. Ông cho rằng: Các giai tầng khác nhau đều phải tự hạn chế dục vọng và hành xử theo đạo để giữ giá trị giai tầng của mình: Sĩ có trách nhiệm khai phóng tư tưởng và cầm giữ cương thường, nông dân có bổn phận cần cù nơi đồng ruộng để cung cấp lương thực, thì người thị dân cũng phải hành xử theo đạo. Đạo của người thị dân thể hiện thành 3 đức (tiết kiệm trong việc sử dụng tài nguyên quốc gia; tiết kiệm trong chi tiêu cho bản thân; cần cù, sáng tạo) và 2 nghĩa (chính trong kinh doanh sản xuất; trực trong giao dịch thương mại). Về luân lý, nên tránh tửu, sắc, cờ bạc để dành thì giờ và tiền bạc cho sáng tạo và kinh doanh. Luân lý ấy không cấm việc thưởng thức xướng ca, nhưng không được sa vào trác táng. Khi Ishida Baigan mất đi, hai học trò của ông là Teshima Toan (1718-1786) và Nakazawa Dôji (1725-1803) vẫn tiếp tục con đường của thầy cổ xúy cho Đinh nhân đạo.

Nước Nhật Bản từ chỗ thua kém phương Tây, đến chỗ đuổi kịp và vượt phương Tây, trở thành một quốc gia hùng cường vào bậc nhất thế giới. Chuyện ấy không phải một vài chục năm cố gắng mà được, mà đã có nền tảng của nó nhiều thế kỷ trước, từ thái độ coi trọng thương nhân và bồi đắp cho thương nhân đạo đức kinh doanh: kinh doanh không phải chỉ là làm giàu cho gia đình và bản thân, kinh doanh là phải vì lợi ích của cộng đồng và của đất nước.

http://www.doanhnhan360.com/Desktop.aspx/Lanh-dao-360/Van-hoa-360/Dao_duc_kinh_doanh_cua_thi_dan_Nhat_Ban/

mình ên gửi lúc 05:47, 06/08/2010 - mã số 19427
Trích dẫn:
http://danluan.org/node/5648
- Hành pháp với Tổng thống do dân bầu, nhiệm kỳ 4 năm. Mỗi Tổng thống không bị giới hạn số nhiệm kỳ nhưng chúng phải cách nhau, không dược phép liên tục. Hai Phó Tổng thống và các Bộ trưởng do Tổng thống chỉ định. Tất cả cấu thành Hội đồng chính phủ với nhiều quyền hành.

Việt Nam ta có hiện tượng nhiều nhà lãnh đạo khi về hưu mới nhìn lại quãng thời gian tại chức của mình và phản biện (vì xấu hổ?) về đường lối của chính quyền và đảng mà mình đã tham gia, cho rằng như thế là sai, cần phải cải tổ.

Nếu nhiệm kỳ của các nhà lãnh đạo VN bị hạn chế như trong đoạn trích thì chắc sẽ mang lại nhiều điểm tích cực. Sau một nhiệm kỳ các vị ấy có thời gian ngẫm nghĩ lại những cái đúng/sai và nếu còn sức lực và tâm huyết sẽ tiếp tục sự nghiệp bằng cách sửa sai trong nhiệm kỳ kế đến.

small gửi lúc 13:51, 02/08/2010 - mã số 19323

Chỉ một lần thất hứa với dân, Thủ tướng Nhật đã tự nguyện từ chức. Chỉ một lần trình đề án không được Quốc hội thông qua Thủ tướng Hàn Quốc tự nguyện từ chức. Điều gì làm cho những con người ấy hành động như vậy? Đó là lòng tự trọng hay có thể hiểu là họ vì dân vì nước thật sự, không thể bám lấy chiếc ghế quyền lực khi thất hứa với dân. Đạo đức và sự liêm chính của các ông ấy thật đáng được nể trọng không chỉ đối với nhân dân hai nước Nhật Hàn mà còn đối với người dân nhiều nước trên thế giới.

Thật mỉa mai thay cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của Việt Nam. Một người không biết xấu hổ là gì khi đã thất hứa với dân, vẫn chễm chệ cố bám lấychiếc ghế quyền lực. Chưa bàn đến năng lực của một “cử nhân luật tại chức” của ông, mà những sai phạm trong điều hành chính phủ quá nhiều của ông cũng đã quá đủ để phế truất cái ghế Thủ tướng của ông đi rồi. Đọc bài viết tâm huyết của lão thành cách mạng Nguyễn Văn Bé dưới đây để thấy cái sự “cái gì cũng biết tuốt, chỉ XẤU HỔ là không biết ” của ông Thủ tướng “Đáng mến” của Việt Nam chúng ta.

http://tradervn.wordpress.com/2010/07/15/nguy%E1%BB%85n-t%E1%BA%A5n-dung-khong-bi%E1%BA%BFt-x%E1%BA%A5u-h%E1%BB%95/

binhdang gửi lúc 17:28, 01/08/2010 - mã số 19290

Cần giáo dục về sự xấu hổ

Nguyễn Hưng Quốc

Từ năm 1945, đặc biệt từ năm 1954, người Việt Nam, nhất là ở miền Bắc và sau đó, từ năm 1975, trong cả nước, không ngớt được/bị giáo dục về lòng tự hào. Tự hào về bốn hay năm ngàn năm văn hiến. Tự hào về tài đánh giặc, hết giặc Tống đến giặc Minh, giặc Thanh, giặc Chiêm, rồi cuối cùng, giặc Pháp và giặc Mỹ.

Ngoài ra, người Việt Nam còn tự hào về tài trí của mình, bao gồm cả tài văn chương, với những tên tuổi có thể làm lu mờ truyền thống lừng lẫy của thời Tiền Hán và Thịnh Đường bên Trung Quốc.

Tự hào. Lúc nào cũng tự hào. Sách viết về đất nước và con người Việt Nam lúc nào cũng ánh lên vẻ sự tự hào. Có những điều tự hào có thực và cũng có không ít những điều chỉ do tưởng tượng.

Câu nói “ra ngõ gặp anh hùng” hay “nhiều người ngoại quốc mơ ước sáng ngủ dậy thấy mình là người Việt Nam” được lặp lại lặp lại từ học đường đến các phương tiện truyền thông đại chúng.

Tuy nhiên, theo tôi, đã đến lúc nên có chính sách giáo dục người Việt Nam về lòng xấu hổ.

Thật ra, nói “theo tôi” là một cách nói hơi cường điệu. Rõ ràng, tôi không phải là người đầu tiên và càng không phải là người duy nhất nói lên điều đó.

Trước, từ giữa thập niên 1980, đạo diễn Trần Văn Thủy đã nhấn mạnh vào nhu cầu giáo dục lòng xấu hổ. Trong cuốn phim tài liệu Chuyện tử tế nổi tiếng, Trần Văn Thủy đã so sánh việc giáo dục tại Nhật và tại Việt Nam: Trong khi ở Nhật, một quốc gia tiến bộ và giàu mạnh nhất châu Á, trẻ em luôn được giáo dục là đất nước của họ rất nghèo tài nguyên và bị thua trận một cách nhục nhã, thì tại Việt Nam, một quốc gia thuộc loại lạc hậu và nghèo đói nhất trên thế giới, trẻ em lại luôn được giáo dục một cách đầy tự hào: tài nguyên thì giàu có, lịch sử thì trực rỡ, con người thì anh hùng, tài trí thì vô song, v.v…

Cũng trong thập niên 1980, sau Chuyện tử tế một tí, trong bài “Nhìn từ xa… Tổ quốc”, nhà thơ Nguyễn Duy cũng nói đến hiện tượng “bội thực tự hào”, hơn nữa, “ngộ độc tự hào” của người Việt Nam.

Ông chỉ ra những điều nghịch lý: “xứ sở thông minh / sao thật lắm trẻ con thất học”, “xứ sở thật thà sao thật lắm thứ điếm”, “xứ sở cần cù / sao thật lắm Lãn Ông”, “xứ sở bao dung / sao thật lắm thần dân lìa xứ”, “xứ sở kỷ cương / sao thật lắm vua / vua mánh - vua lừa - vua chôm - vua chỉa / vua không ngai - vua choai choai - vua nhỏ”. Nhưng trên tất cả là nghịch lý: Trong tuyên truyền, lúc nào cũng “hát đồng ca”: “Ta là ta mà ta vẫn mê ta”, trong khi đó, trên thực tế, ai cũng biết: “Thần tượng giả xèo xèo phi hành mỡ / ợ lên thum thủm cả tim gan”.

Tuy nhiên, xin lưu ý: Trần Văn Thuỷ và Nguyễn Duy không phải là những người đầu tiên phê phán bệnh tự hào và đặt vấn đề về nhu cầu giáo dục lòng xấu hổ.

Ngay từ đầu thế kỷ 20, các nhà nho cấp tiến đã nhận ra được điều đó. Trong các tác phẩm của mình, cả Phan Chu Trinh lẫn Phan Bội Châu đều nhiều lần nhấn mạnh đến cái ngu và cái hèn của người Việt Nam. Hãy thử đọc lại đoạn văn này của Phan Chu Trinh:

“Nhân dân nước Nam bây giờ, ngu xuẩn như trâu như ngựa, tha hồ cho người ràng trói, cho người đánh đập, có miệng mà không dám kêu, gần chết mà không dám than thở.” (Trích theo Đặng Thai Mai, Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ 20, nxb Văn Học, Hà Nội, 1974, tr. 85).

Việt Nam hiện nay là một quốc gia độc lập. Tuy nhiên, trên rất nhiều phương diện, so với mặt bằng chung của thế giới cũng như so với chính tiềm năng và tiềm lực mà chúng ta có, có rất nhiều điều khiến chúng ta phải xấu hổ.

Cần xấu hổ về trình độ phát triển của Việt Nam hiện nay vốn rất thấp không những so với thế giới mà còn so với cả các quốc gia láng giềng của chúng ta ở châu Á.

Cần xấu hổ về khoảng cách giàu nghèo phi lý và bất nhẫn giữa thành thị và nông thôn, giữa cán bộ và người lao động bình thường không có quyền thế và thân thế.

Cần xấu hổ về tinh thần vô kỷ luật, thậm chí, rất kém văn hoá nhan nhản khắp nơi, từ công tư sở đến ngoài đường phố, từ cách làm việc đến cách đi lại.

Cần xấu hổ về sự hoành hành của nạn tham nhũng ở mọi cấp.

Cần xấu hổ về những cách hành xử của nhà cầm quyền: nhu nhược đối với nước ngoài, đặc biệt với Trung Quốc, nhưng lại độc tài và tàn bạo ngay với những người tha thiết nhất đối với chủ quyền và sự toàn vẹn của Việt Nam.

Theo tôi, không chừng xấu hổ nên được xem là một đức hạnh cần thiết nhất hiện nay.

Trong chừng mực nào đó, có thể nói, người Việt Nam hiện nay nên được chia thành hai loại: Loại biết xấu hổ và loại không biết xấu hổ.

Giận thay, chính những kẻ không biết xấu hổ ấy lại đang không ngừng rao giảng chân lý, công lý và đạo lý.

http://www1.voanews.com/vietnamese/news/a-19-2009-08-25-voa15-81512337.html

Gửi phản hồi mới (xin gõ tiếng Việt có dấu và tuân thủ Nguyên tắc Dân Luận để được chấp nhận)

Bạn có thể bịa một địa chỉ email bất kỳ, ví dụ test@gmail.com. Thông tin này sẽ không xuất hiện công khai khi phản hồi được đăng.
  • Bạn có thể sử dụng các thẻ BBCode trong bài. Các địa chỉ URL sẽ được tự động chuyển thành liên kết.
  • Bạn có thể trích bài của người khác bằng thẻ [quote], ví dụ: [quote]Nội dung muốn trích dẫn[/quote]
  • Bạn có thể sử dụng những thẻ HTML sau: <a> <em> <strong> <ins> <b> <i> <u> <br> <cite> <code> <ul> <ol> <li> <dl> <dt> <dd> <h1> <h2> <h3> <h4> <h5> <table> <tbody> <td> <tr> <pre> <img> <div> <span> <object> <hr> <center> <font> <blockquote> <strike> <embed> <param> <del> <ins> <sub> <sup>
  • Bạn có thể chèn video vào bài viết bằng thẻ [video:địa_chỉ_url_của_video]
  • Cách dòng và cách đoạn sẽ được tự động chuyển thành xuống dòng.

Nhấn vào đây để biết thêm chi tiết về cách định dạng bài viết...

To prevent automated spam submissions leave this field empty.
CAPTCHA
Bạn bắt buộc phải trả lời câu hỏi kiểm tra dưới đây. Nó giúp chúng tôi nhằm lọc bỏ các nội dung spam do robot tự động thực hiện.
2 + 11 =
Giải bài toán đơn giản này và nhập kết quả vào ô phía trên. Ví dụ, nếu thấy 1+3, thì hãy nhập 4.

Suy ngẫm

Những người tìm mọi cách cản trở diễn biến hòa bình, khiến nó không thể xảy ra, sẽ làm cách mạng bạo lực trở thành điều không thể tránh khỏi.

— John F. Kennedy

Mới Mới Mới

Từ khóa trong bài viết

Thống kê truy cập

Hiện có 2 thành viên256 khách truy cập.

Thành viên online

Admin, Tâm Như

Kỷ lục: Có 4638 người ghé thăm vào 15-05-2014 lúc 09h47.

Độc giả Dân Luận từ đâu đến?

Locations of visitors to this page

Quỹ Dân Luận

ung-ho-dan-luan-3.png