Kinh tế vĩ mô Việt Nam và các chỉ số cập nhật

Chia sẻ bài viết này

Theo công bố mới nhất của Tổng cục Thống kê, 11 tháng đầu năm 2012 Ngân sách Nhà nước bội chi ước gần 154 nghìn tỉ. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 208 tỉ USD, trong đó xuất siêu 11 tháng ước đạt 14 triệu USD. So cùng kỳ năm 2011, Chỉ số Giá tiêu dùng bình quân 11 tháng năm 2012 tăng 9,43%, Chỉ số Sản xuất công nghiệp tăng 4,6%, Chỉ số Tồn kho của ngành chế biến, chế tạo tăng 20,9%...

Ảnh minh hoạ

Tài chính, đầu tư và xuất nhập khẩu

186.800 tỷ đồng là vốn đầu tư thực hiện từ nguồn Ngân sách Nhà nước trong 11 tháng đầu năm 2012, bằng 90% kế hoạch năm và tăng 8,1% so với cùng kỳ năm 2011. Trong đó, vốn trung ương quản lý đạt 46,3 nghìn tỷ đồng, bằng 91% kế hoạch năm và tăng 6,9% so với cùng kỳ năm trước.

12,2 tỷ USD là tổng đầu tư trực tiếp của nước ngoài tính từ đầu năm đến 20/11/2012, bằng 78,6% cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn đăng ký của 980 dự án được cấp phép mới đạt 7,3 tỷ USD, bằng 87,3% số dự án và bằng 60,4% số vốn cùng kỳ năm 2011.

593.400 tỷ đồng là ước tính Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/11/2012, bằng 80,1% dự toán năm, trong đó thu nội địa 380.200 tỷ đồng, bằng 76,9% tổng thu.

747.200 tỷ đồng là ước tính Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/11/2012, bằng 82,7% dự toán năm.

153.800 tỷ đồng là ước tính Bội chi Ngân sách từ đầu năm đến 15/11/2012.

2.117.900 tỷ đồng là ước tính Tổng mức Hàng hóa bán lẻ và Doanh thu Dịch vụ tiêu dùng 11 tháng đầu năm 2012, tăng 16,4% so với cùng kỳ năm 2011, nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng 6,4%.

104 tỷ USD là Kim ngạch hàng hóa Xuất khẩu 11 tháng đầu năm 2012, tăng 18,4% so với cùng kỳ năm 2011. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 38,4 tỷ USD, tăng 0,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 65,6 tỷ USD, tăng 31,8%. Tính chung 11 tháng đầu năm, Việt Nam xuất siêu 14 triệu USD, bằng 0,01% Tổng kim ngạch hàng hóa Xuất khẩu.

104 tỷ USD là con số gần đạt của Kim ngạch hàng hóa Nhập khẩu trong 11 tháng đầu năm 2012, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm 2011. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 49 tỷ USD, giảm 7,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 55 tỷ USD, tăng 24,3%.

Sản lượng công - nông nghiệp và dịch vụ

1.411.200 ha là diện tích lùa mùa đã thu hoạch trên cả nước tính đến trung tuần tháng 11/2012, bằng 99,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, các địa phương phía Bắc thu hoạch được 1.110.600 ha, bằng 101,1%; phía Nam thu hoạch được trên 300.600 ha, bằng 94,8%.

9,3 triệu tấn lúa là tổng sản lượng ước đạt từ vụ mùa 2012 trên cả nước. Trong đó, 5,8 triệu tấn là sản lượng lúa vụ mùa ước đạt trên toàn miền Bắc, tăng 36 nghìn tấn so với vụ mùa trước. Sản lượng lúa mùa của các tỉnh phía Nam ước đạt 3,5 triệu tấn, tăng 140 nghìn tấn so với cùng kỳ năm 2011.

5.333.800 tấn là sản lượng ước đạt của toàn ngành thủy sản trong 11 tháng đầu năm 2012, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2011. Trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 2.881.800 tấn, tăng 5,4%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 2.452.000 tấn, tăng 4,6%, riêng khai thác biển đạt 2.274.900 tấn, tăng 5,2%.

2.612 triệu lượt khách là con số ước đạt của ngành Vận tải hành khách trong 11 tháng đầu năm 2012, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm 2011.

865,9 triệu tấn là con số ước đạt của ngành Vận tải hàng hóa trong 11 tháng đầu năm 2012, tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước.

11,2 triệu là số Thuê bao Điện thoại phát triển mới trong 11 tháng đầu năm 2012, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó 16,5 nghìn thuê bao cố định, bằng 34,8% cùng kỳ; 11,1 triệu thuê bao di động, tăng 6,6%. Số thuê bao điện thoại cả nước tính đến cuối tháng 11/2012 ước đạt 135,9 triệu, tăng 3,1% so với cùng thời điểm năm trước, bao gồm 14,9 triệu thuê bao cố định, giảm 3% và 120,9 triệu thuê bao di động, tăng 3,9%.

4,4 triệu là số Thuê bao Internet ước tính trên cả nước tính đến cuối tháng 11/2012, tăng 8,6% so với cùng thời điểm năm trước. Tổng doanh thu thuần bưu chính, viễn thông 11 tháng ước tính đạt 159.200 tỷ đồng, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2011.

6.035.900 là số Lượt Khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt trong 11 tháng đầu năm 2012, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng đạt 3.600.400 lượt, tăng 9,4%; Đến vì công việc 1.058.400 lượt, tăng 17,1%; Thăm thân nhân đạt 1.048.400 lượt, tăng 15,5%.

Các chỉ số xu hướng

9,43% là mức tăng của Chỉ số Giá tiêu dùng bình quân 11 tháng đầu năm 2012 so với mức bình quân cùng kỳ năm 2011. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2012 tăng 7,08% so với cùng kỳ năm trước.

4,6% là mức tăng của Chỉ số sản xuất Công nghiệp trong 11 tháng đầu năm 2012 so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành công nghiệp có mức sản xuất 11 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm 2011 là: Đóng tàu và cấu kiện nổi tăng 141,9%; Thiết bị truyền thông tăng 50,4%; Phụ tùng và bộ phận phụ trợ tăng 37%; Đường tăng 18,9%; Linh kiện điện tử tăng 18,3%; Pin và ắc quy tăng 17,9%; Thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 15,3%; Truyền tải và phân phối điện tăng 12,4%; Chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa tăng 11,2%; Khai thác dầu thô tăng 11%; Bia tăng 10,3%; Phân bón và hợp chất nitơ tăng 10,2%.

3,3% là mức tăng Chỉ số Tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 10 tháng đầu năm 2012 so với cùng kỳ năm trước. Các ngành có Chỉ số Tiêu thụ tăng cao là: Đường tăng 107,7%; Môtô, xe máy tăng 37,9%; Thiết bị truyền thông tăng 31,8%; Chế biến và bảo quản thủy sản tăng 25,7%; Thức ăn gia súc, gia cầm tăng 21,9%; Cấu kiện kim loại tăng 12,2%; Mì ống, mì sợi tăng 6,8%; May mặc tăng 6,6%.

20,9% là mức tăng của Chỉ số Tồn kho tại thời điểm 01/11/2012 của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, so với cùng thời điểm năm trước, cao hơn 0,6 điểm phần trăm so với chỉ số tồn kho vào 01/10/2012. Nguyên nhân do có sự tăng trưởng đột biến sản xuất điện thoại di động cao cấp (Smartphone) là những sản phẩm đang ăn khách. Đồng thời, đây là thời điểm các doanh nghiệp tập trung sản xuất và dự trữ hàng hóa phục vụ Tết Nguyên đán. Một số ngành sản xuất có chỉ số tồn kho cao so với cùng thời điểm năm trước là: Thiết bị truyền thông tăng 425,1%; Phân bón và hợp chất nitơ tăng 96,5%; Môtô, xe máy tăng 95%; Bia tăng 57,6%; May mặc tăng 48,5%; Thuốc lá tăng 45%; Pin, ắc quy tăng 39,6%; Xe có động cơ tăng 35,7%; Xi măng tăng 33%; Giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy và bìa tăng 26,3%; Chế biến và bảo quản thuỷ sản tăng 24,9%; Mỹ phẩm, xà phòng và chất tẩy rửa tăng 21,7%.

Lập Xuân

Hồ Gươm gửi hôm Thứ Bảy, 01/12/2012
Bạn đánh giá bài viết này thế nào?

Athena - "Invictus": Một nhân cách, một cuộc đời

Lê Phú Khải - Kỷ niệm 225 năm Đại cách mạng Pháp 1789 (14-7-1789 – 14-7-2014) - Người ta lớn bởi vì anh quỳ xuống!

Trung Lập - Cam kết của chính phủ Việt Nam và cơ hội của các tổ chức phi chính phủ (NGO) sau UPR 2014

Nguyễn Trần Bạt - Nhân tài chính trị: Lời giải cho bài toán phát triển

Nguyễn Văn Tuấn - Để lại gì cho mai sau?


Hồ Gươm gửi lúc 18:42, 01/12/2012 - mã số 73705

Vốn cho doanh nghiệp dưới góc nhìn chuyên gia kinh tế

Ông Cao Sỹ Kiêm, ông Bùi Kiến Thành và ông Vũ Đình Ánh.

Một tháng nữa mới kết thúc năm 2012, nhưng đến giờ này dưới con mắt của cộng đồng doanh nghiệp thì đây là năm mà hoạt động kinh doanh của họ gặp nhiều khó khăn nhất. Nếu tình trạng khó khăn tiếp tục kéo dài, nhiều doanh nghiệp sẽ không thể trụ được lâu.

Vì vậy, những giải pháp giúp doanh nghiệp tiếp cận được các dòng vốn trên thị trường, đặc biệt là dòng vốn từ các nhà băng được xem là cần thiết để cộng đồng doanh nghiệp vượt qua khó khăn và từng bước phục hồi.

Cùng khắc phục để cùng tồn tại

(Ông Cao Sỹ Kiêm, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam)

Những khó khăn mà các doanh nghiệp đã và đang gặp phải là: vốn, thị trường... Điều này được thể hiện ở hai điểm quan trọng, đó là: thứ nhất, hàng hóa tồn kho vẫn ở mức cao trong khi dấu hiệu suy giảm vẫn rất chậm; thứ hai, quá trình xử lý nợ xấu diễn ra quá chậm cho nên đã gây ra những trở ngại lớn cho doanh nghiệp khi tiếp cận vốn vay.

Khó khăn trên tập trung ở hầu hết tất cả các loại hình doanh nghiệp. Tuy nhiên, doanh nghiệp nhỏ và vừa có những khó khăn đặc thù riêng so với các doanh nghiệp lớn hay các doanh nghiệp Nhà nước.

Với doanh nghiệp nhỏ và vừa thì khó khăn chủ yếu liên quan đến các vấn đề về thủ tục như: không vay được vốn do nợ xấu, nợ thuế nhiều do không tiêu thụ được hàng hóa dẫn đến không có khả năng trả nợ. Từ đó dẫn đến việc không tiếp cận được vốn ngân hàng.

Những khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải từ đầu năm đến nay có nguyên nhân đến từ việc nguồn vốn chưa được khơi thông, kể cả dòng vốn ngắn hạn và dài hạn, kể cả những dòng vốn ra của ngân hàng và vào của doanh nghiệp... vẫn còn hiện tượng ứ đọng.

Ngân hàng thừa vốn, khả năng thanh toán tốt nhưng doanh nghiệp không tiếp cận được nên dẫn đến dòng vốn chưa thông thoáng. Chừng nào chưa giải quyết được những vấn đề liên quan đến: nợ xấu, hàng tồn kho, thị trường bất động sản... thì dòng vốn khó mà khơi thông.

Để dòng vốn được khơi thông, về phía các ngân hàng thương mại, cần thực hiện chọn lựa khách hàng chính xác, đồng thời cũng có những điều chỉnh về mặt thủ tục đối với các doanh nghiệp có dự án tốt và có khả năng trả nợ. Cần phải hướng đến mục tiêu hai bên cùng khắc phục để cùng tồn tại.

Còn các doanh nghiệp cũng cần phải đánh giá lại mình xem đâu là điểm yếu, đâu là điểm mạnh, phải xây dựng chiến lược kinh doanh mới cho phù hợp với diễn biến thị trường... nhằm hướng đến đáp ứng được các điều kiện vay vốn mà ngân hàng thương mại đặt ra. Nếu chưa đáp ứng được các điều kiện đó, thì doanh nghiệp cũng cần phải có những cam kết về mặt thời gian hoàn thành để xây dựng lòng tin cho các ngân hàng.

Ngân hàng thừa vốn, khả năng thanh toán tốt nhưng doanh nghiệp không tiếp cận được nên dẫn đến dòng vốn chưa thông thoáng.

» Ông Cao Sỹ Kiêm

Bên cạnh đó, sự hỗ trợ của Nhà nước là không thể thiếu nhằm tạo ra môi trường thuận lợi trong kinh doanh. Khi doanh nghiệp có những yếu tố này (đủ tiêu chuẩn) thì ngân hàng mới dám cho vay.

Tuy nhiên, để tạo được hiệu quả cao thì các việc trên cần phải được thực hiện đồng thời, doanh nghiệp và ngân hàng đều phải hướng đến mục tiêu chung là giúp nhau vượt qua khó khăn. Có như vậy, dòng vốn trong nền kinh tế mới được khơi thông.

Bên cạnh đó, nếu những giải pháp đã được Quốc hội và Chính phủ đưa ra, cũng như những giải pháp để thực hiện kế hoạch trong năm 2013 được thực hiện nghiêm túc, được cụ thể hóa nhanh, điều hành có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ ngành, các bên có liên quan... có thể tình hình của doanh nghiệp trong năm 2013 sẽ ổn định dần và đến cuối năm 2013 sẽ khả quan hơn.

Trách nhiệm “chữa cháy” của ngân hàng trung ương

(Ông Bùi Kiến Thành, chuyên gia tài chính ngân hàng)

Từ đầu năm đến nay đã có hàng chục nghìn doanh nghiệp phá sản và hàng chục nghìn doanh nghiệp xin tạm hoãn nộp thuế, đó là chưa kể đến số lượng lớn doanh nghiệp tạm dừng hoạt động vì không có vốn.

Tôi đã nhiều lần kiến nghị, giải quyết thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, cung ứng đầy đủ lưu lượng tiền tệ cho nền kinh tế phát triển ổn định bền vững là nhiệm vụ và cũng là quyền hạn của ngân hàng trung ương.

Vì ngân hàng trung ương có nguồn tín dụng không phải trả lãi suất cho ai cả nên ngân hàng trung ương có thể cho ngân hàng thương mại vay với lãi suất thấp để ngân hàng thương mại có thể cho doanh nghiệp vay với lãi suất hợp lý.

Việc này tất cả các ngân hàng trung ương trên thế giới đều làm trong tình trạng thiếu thanh khoản trong hệ thống ngân hàng. Nếu ngân hàng thương mại không huy động được vốn với lãi suất thấp để cho doanh nghiệp vay với lãi suất hợp lý, thì lúc đó sự việc trở thành nhiệm vụ của ngân hàng trung ương phải giải quyết, chứ không thể nào để cho doanh nghiệp chết được.

Ví thử như hôm nay ngay giữa Hà Nội trên phố Tràng Tiền cháy 5-7 căn phố mà đơn vị phòng cháy chữa cháy không chịu bơm nước chữa lửa thì tình hình sẽ như thế nào? Còn hiện trên toàn quốc, hàng nghìn doanh nghiệp đang “cháy” vì thiếu nguồn tín dụng, các hiệp hội và VCCI đã nhiều lần báo động kêu cứu, mà Nhà nước vẫn chưa mở vòi bơm nước.

Rồi đây hàng vạn doanh nghiệp phải ngừng hoạt động, hàng triệu người lao động có nguy cơ mất việc. Trách nhiệm sẽ về ai? Chính vì vậy, giải quyết bài toán tín dụng cho cộng đồng doanh nghiệp cần phải có một mức lãi suất hợp lý.

Theo như cộng đồng doanh nghiệp, thì mức lãi suất hợp lý đó vào khoảng 10%/năm, còn đối với tôi thì mức lãi suất mà doanh nghiệp được vay là phải dưới 7%/năm. Doanh nghiệp Việt Nam đang phải cạnh tranh khốc liệt với doanh nghiệp các quốc gia khác, mà ở đó, chính sách tiền tệ không như ở nước ta.

Với lãi suất trên dưới 15%/năm doanh nghiệp Việt Nam sẽ cạnh tranh thế nào với doanh nghiệp các nước có lãi suất 4-5%. Nhưng kéo lãi suất cho vay xuống dưới 7%/năm bằng cách nào?

Nếu tôi là lãnh đạo ngân hàng trung ương, thì ngày mai lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại sẽ không quá 7%/năm. Bởi lẽ, nguồn vốn của ngân hàng trung ương là vô hạn định miễn là tôi quản lý thế nào để không xảy ra lạm phát.

Nếu tôi là lãnh đạo ngân hàng trung ương, thì ngày mai lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại sẽ không quá 7%/năm. Bởi lẽ, nguồn vốn của ngân hàng trung ương là vô hạn định miễn là tôi quản lý thế nào để không xảy ra lạm phát.

» Ông Bùi Kiến Thành

Hiện tại, tăng trưởng tín dụng vẫn đang ở mức thấp (cuối tháng 10 mới đạt 3,36%), trong khi chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm là 15-17%. Nếu có làm gì đi chăng nữa thì cũng không thể vượt quá hạn mức tín dụng này, do đó cũng sẽ không tác động đến lạm phát.

Trên cơ sở đó, ngân hàng trung ương thông qua các nghiệp vụ như: OMO, tái cấp vốn... thực hiện cho ngân hàng thương mại vay với lãi suất 3%/năm, kèm theo đó là chỉ đạo các ngân hàng cho doanh nghiệp vay theo dự án có hiệu quả, giải ngân theo tiến độ dự án, và cho vay theo lĩnh vực sản xuất kinh doanh ưu tiên...

Nếu doanh nghiệp đưa ra và bảo vệ được các luận chứng của mình về sự thành công của dự án, thì ngân hàng trung ương sẽ thực hiện bảo lãnh để doanh nghiệp vay được vốn. Nguồn vốn bảo lãnh này được hình thành từ nguồn lãi suất ngân hàng trung ương cho ngân hàng thương mại vay, ngân hàng trung ương sẽ thực hiện trích 2% trong tổng 3% lãi cho vay để thành lập quỹ bảo lãnh cho doanh nghiệp và doanh nghiệp có dự án tốt sẽ được bảo lãnh vay không cần thế chấp.

Trong trường hợp ngân hàng thương mại thực hiện cho vay theo đúng chỉ đạo mà doanh nghiệp không trả được nợ, thì khi đó ngân hàng trung ương sẽ lấy nguồn tiền từ quỹ bảo lãnh đó để trả cho các ngân hàng thương mại.

Nếu làm được điều này sẽ giúp kéo lãi suất huy động trên thị trường xuống, vì ngân hàng thương mại sẽ bớt bị áp lực trong nhu cầu huy động vốn. Tình trạng hỗn loạn trên thị trường vốn và lãi suất sẽ được khắc phục. Hoạt động kinh tế dần dần sẽ trở lại ổn định và các số vốn vay từ chương trình tín dụng đặc biệt này sẽ được hoàn trả cho ngân hàng trung ương.

Cân nhắc miễn giảm thuế mạnh hơn

(TS. Vũ Đình Ánh, chuyên gia kinh tế)

Khó khăn lớn nhất của cơ quan quản lý là phải tìm ra biện pháp hỗ trợ đúng nhóm đối tượng cần nhưng không gây tình trạng bất bình đẳng. Về phía doanh nghiệp, khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp hiện nay là giải quyết hàng tồn kho.

Như vậy, việc tăng tín dụng để bổ sung vốn không hẳn là giải quyết khó khăn cho tất cả doanh nghiệp. Trong khi đó, với những doanh nghiệp có lượng hàng tồn kho lớn, nếu doanh nghiệp bán được hàng thì việc tiếp cận nguồn vốn không còn khó khăn.

Để giải quyết hàng tồn kho, cần phân tích xem sự thích ứng của sản phẩm với nhu cầu của thị trường. Yếu tố thứ hai cần xem xét là giá bán hàng hóa. Doanh nghiệp xây dựng giá bán dựa trên các yếu tố đầu vào và lợi nhuận nhưng trong lúc dư cung, việc xem lại giá bán là cần thiết, thậm chí chấp nhận thua lỗ để bán hàng, lúc đó mới có tiền quay vòng vốn. Đặc biệt với những sản phẩm đang dư cung hoặc đã sắp hết chu kỳ sống, doanh nghiệp càng cần bán hàng để có vốn để ra được sản phẩm mới.

Bên cạnh các giải pháp tự thân, doanh nghiệp cũng cần các giải pháp hỗ trợ của Nhà nước. Các giải pháp gia hạn thuế đã được áp dụng nhưng thực chất không có tác dụng lớn. Về thuế giá trị gia tăng, đến nay, có trên 190.000 doanh nghiệp được gia hạn với 11.000 tỷ đồng.

Như vậy, mỗi doanh nghiệp chỉ được gia hạn chưa đến 60 triệu đồng. Liên quan đến gia hạn thuế thu nhập doanh nghiệp, khoảng 71.600 doanh nghiệp được gia hạn với 3.000 tỷ đồng. Ước tính, bình quân mỗi doanh nghiệp được gia hạn khoảng 42 triệu đồng. Thực chất, đây chỉ là số thuế tạm “treo”.

Trong khi đó, tính toán theo Nghị quyết 13, số khoản giảm thu là không đáng kể, chỉ chiếm 1,2% dự toán tổng thu ngân sách nhà nước cả năm 2012 và tổng giá trị thực tế doanh nghiệp được hưởng theo tính toán của Bộ Tài chính cũng rất nhỏ, tương đương 1% GDP dự tính - thấp xa so với qui mô xấp xỉ 10% GDP của gói kích thích kinh tế năm 2009.

Khó khăn lớn nhất của cơ quan quản lý là phải tìm ra biện pháp hỗ trợ đúng nhóm đối tượng cần nhưng không gây tình trạng bất bình đẳng.

» TS. Vũ Đình Ánh

Trong khi đó, giả sử tất cả các doanh nghiệp được Quốc hội cho miễn giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2012 thì trị giá khoản hỗ trợ này cũng chỉ gần 62 ngàn tỷ tính theo dự toán thu ngân sách nhà nước với giả định tăng trưởng kinh tế đạt 6,5% và lạm phát một con số.

Tương tự, nếu bổ sung giải pháp miễn giảm 50% thuế giá trị gia tăng năm 2012 tương đương hơn 115 ngàn tỷ đồng, hay miễn giảm 30% thuế giá trị gia tăng tương đương hơn 69 ngàn tỷ đồng theo dự toán.

Như vậy, việc bổ sung cách thức hỗ trợ với quy mô lớn hơn có thể được cân nhắc trong trường hợp những giải pháp theo Nghị quyết 13/NQ-CP chưa phát huy được hiệu quả như mong muốn. Nhà nước có thể hỗ trợ hiệu quả hơn bằng việc giảm thuế giá trị gia tăng để doanh nghiệp có thể giảm giá bán hàng hóa.

(Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam)

Theo VNeconomy.vn

Gửi phản hồi mới (xin gõ tiếng Việt có dấu và tuân thủ Nguyên tắc Dân Luận để được chấp nhận)

Bạn có thể bịa một địa chỉ email bất kỳ, ví dụ test@gmail.com. Thông tin này sẽ không xuất hiện công khai khi phản hồi được đăng.
  • Bạn có thể sử dụng các thẻ BBCode trong bài. Các địa chỉ URL sẽ được tự động chuyển thành liên kết.
  • Bạn có thể trích bài của người khác bằng thẻ [quote], ví dụ: [quote]Nội dung muốn trích dẫn[/quote]
  • Bạn có thể sử dụng những thẻ HTML sau: <a> <em> <strong> <ins> <b> <i> <u> <br> <cite> <code> <ul> <ol> <li> <dl> <dt> <dd> <h1> <h2> <h3> <h4> <h5> <table> <tbody> <td> <tr> <pre> <img> <div> <span> <object> <hr> <center> <font> <blockquote> <strike> <embed> <param> <del> <ins> <sub> <sup>
  • Bạn có thể chèn video vào bài viết bằng thẻ [video:địa_chỉ_url_của_video]
  • Cách dòng và cách đoạn sẽ được tự động chuyển thành xuống dòng.

Nhấn vào đây để biết thêm chi tiết về cách định dạng bài viết...

To prevent automated spam submissions leave this field empty.
CAPTCHA
Bạn bắt buộc phải trả lời câu hỏi kiểm tra dưới đây. Nó giúp chúng tôi nhằm lọc bỏ các nội dung spam do robot tự động thực hiện.
4 + 0 =
Giải bài toán đơn giản này và nhập kết quả vào ô phía trên. Ví dụ, nếu thấy 1+3, thì hãy nhập 4.

Suy ngẫm

Tôi không muốn trong nhà tôi có chữ ký của một kẻ đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân. Với tôi, đó là một điều rất tổn thương vì cảm giác mình bị xúc phạm.

— Nghệ sĩ Kim Chi

Mới Mới Mới

Thống kê truy cập

Hiện có 0 thành viên329 khách truy cập.


Kỷ lục: Có 4638 người ghé thăm vào 15-05-2014 lúc 09h47.

Độc giả Dân Luận từ đâu đến?

Locations of visitors to this page

Quỹ Dân Luận

ung-ho-dan-luan-3.png