Sự quay cóp Chaebol tai hại

Chia sẻ bài viết này

Nhật Bình

Gửi cho BBCVietnamese.com từ London


Những doanh nghiệp Nhà nước được nâng đỡ với mục tiêu trở thành những 'quả đấm thép', đóng vai trò đầu tàu cho nền kinh tế như những Chaebol của Nam Hàn.

Những tập đoàn Nhà nước đã và đang là gánh nặng lên nền kinh tế, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiềm năng phát triển của Việt Nam

Những doanh nghiệp này được giới phân tích đánh giá là xuất nguồn từ ý tưởng 'Chaebol' của Nam Hàn, mô hình đã đưa nước này lên vị trí cường quốc thế giới, nổi tiếng với các mặt hàng sản xuất công nghiệp nặng.

Chaebol là tên gọi chung của các tập đoàn hùng mạnh từ thập niên 1960 mà chính quyền của cố Tổng thống Nam Hàn Park-Chung-Hee đã chọn để làm những 'quả đấm thép' trong các chiến lược 5 năm phát triển kinh tế của nước này.

Dưới sự hỗ trợ, hợp tác của chính phủ trong đó có cung cấp vốn vay ưu đãi thông qua ngân hàng, ưu đãi thuế, bảo lãnh chi trả nợ, các Chaebol đã phát triển nhanh chóng và ra sức chiếm lĩnh thị trường thế giới.

Các Chaebol hàng đầu của Nam Hàn được biết đến rộng rãi cho đến ngày nay gồm có LG, Samsung, Hyundai.

Sự quay cóp tai hại

Những sự khác biệt cơ bản đã khiến mô hình Tập đoàn Nhà nước trở nên thất bại, gây hậu quả nghiêm trọng khi lấy ý tưởng từ Chaebol.

Bản thân các Chaebol như Samsung, LG đã là những tập đoàn tư nhân hùng mạnh trước khi được hỗ trợ qua hệ thống ngân hàng, được ban cơ chế độc quyền.

Khác với các Chaebol của Nam Hàn, tập đoàn Nhà nước của Việt Nam trực thuộc Nhà nước, không ra đời qua quá trình tích tụ vốn mà từ những quyết định hành chính với 'hy vọng' sẽ thành công.


Tăng trưởng tín dụng Việt Nam.(Nguồn IMF)

Các tập đoàn lớn của Nhà nước lũng đoạn những lĩnh vực chính trong đó có dầu khí (PetroVN), điện (EVN), đóng tàu (Vinashin), xăng dầu (Petrolimex) và các tập đoàn khác. Ngoài ra còn có 96 tổng công ty Nhà nước với hàng ngàn các công ty con.

Những lãnh đạo được bổ nhiệm cho các doanh nghiệp này là công chức Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ tuân theo chỉ đạo của Chính phủ về việc phát triển ngành, khác với Chaebol, chủ yếu được điều hành bởi thành viên trong gia đình.

Điều đảm bảo cho thành công giai đoạn đầu của mỗi Chaebol trong quá khứ, đó là sự vắng mặt của yếu tố cạnh tranh từ các đối thủ quốc tế. Điều này không còn hợp lý với bối cảnh tân thời khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Trong khối WTO, doanh nghiệp nào cũng phải tồn tại trong môi trường cạnh tranh gay gắt, dù đó là tập đoàn Nhà nước, tư doanh hay FDI và doanh nghiệp nào yếu kém sẽ phải chịu thất bại. Tuy nhiên các doanh nghiệp Nhà nước lại được xem như là 'quá lớn để thất bại' (too big to fail) giống như các Chaebol và vì vậy, Chính phủ Việt Nam đã trả những cái giá đắt để giữ các doanh nghiệp này không bị phá sản.

Mục tiêu hàng đầu của các Chaebol, đó là tập trung vào xuất khẩu nhằm chiếm lĩnh các thị trường mới, đưa trọng tâm nền kinh tế từ công nghiệp nhẹ sang công nghiệp nặng, đồng thời thay thế nhập khẩu.

Bằng chứng là đến cuối thời điểm 1980, các Chaebol của Hàn Quốc đã nổi tiếng trên thị trường thế giới về lĩnh vực sản xuất, thương mại cũng như công nghiệp nặng. Đến những năm 90, chỉ riêng 5 Chaebol lớn nhất (Samsung, Hyundai, LG, Daewoo, SK) đã đóng góp đến 50% GDP Nam Hàn.

Trái với Chaebol, các tập đoàn Nhà nước luôn tỏ ra hết sức yếu kém trong việc học cách xuất khẩu để cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Không những thế, việc các doanh nghiệp Nhà nước nhập khẩu quá nhiều, trong đó chủ yếu là sắt và các vật liệu xây dựng khác còn đẩy cán cân thương mại sang hướng nhập siêu.

Các yếu tố trên kết hợp đưa đến thực trạng của nền kinh tế Việt Nam hiện tại: Những doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh yếu kém nhưng lại lũng đoạn, chi phối nền kinh tế nội địa.

Sai lầm của Chaebol

Việc thực hiện sẽ rất khó khăn gian khổ vì hiện nay đã hình thành một tầng lớp đặc quyền, đặc lợi, cản trở mọi cải cách cần thiết nhân danh ổn định chính trị - xã hội

» Kinh tế gia Lê Đăng Doanh

Bản thân chính phủ Nam Hàn cũng đã thừa nhận những bất cập trong mô hình Chaebol của mình, nhất là sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 mà mô hình này gây ra.

Mối quan hệ gần gũi giữa các lãnh đạo Chaebol với chính phủ đã khiến hệ thống giám sát ngày càng trở nên lỏng lẻo, dẫn đến sự cho vay tràn lan, bao gồm cả khoản vay cho các dự án lợi nhuận kém.

Các Chaebol cũng liên tiếp bành trướng sang nhiều lĩnh vực thay vì tập trung vào những lĩnh vực chính, khiến nhân lực, vốn và cả sự quản lý bị dàn trải, dẫn đến thiệt hại lớn ở những ngành thiếu kinh nghiệm.

Tỷ lệ dư nợ của 30 Chaebol lớn nhất Nam Hàn lên đến 400% tổng giá trị vốn sở hữu trong những năm 90 đã biến các tập đoàn này thành gánh nặng của kinh tế Nam Hàn.

Sự tập trung vốn vào các Chaebol cũng đã cho các tập đoàn này đủ quyền lực để gây sức ép với nhà cầm quyền, đặt tầm ảnh hưởng lên các chính sách kinh tế, xã hội nhằm phục vụ cho các nhóm lợi ích.

Sau năm 1997, Nam Hàn đã phải tiến hành những cải cách triệt để đối với các Chaebol, trong đó xác định tỷ lệ vay nợ trên vốn sở hữu, cấm sở hữu công ty tài chính phi ngân hàng, minh bạch hóa quản lý, tập trung vào ngành nghề chính, quy trách nhiệm cá nhân cho các lãnh đạo Chaebol trong việc lãnh đạo tập đoàn, khống chế đầu tư vào công ty thành viên và trừng phạt các hình thức hối lộ.

Lặp lại vết xe đổ


Đầu tư vào Doanh nghiệp Nhà nước so với các khu vực khác. (Nguồn: IMF)

Việt Nam vẫn phạm phải hầu hết những sai lầm lớn của Chaebol mặc dù đã có một thời gian dài chứng kiến những bất cập của mô hình này trước khi đưa ra mô hình Tập đoàn Nhà nước từ năm 2005.

Các doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam vẫn được hỗ trợ vô tội vạ, dù hầu hết đều kinh doanh kém hiệu quả.

Báo cáo lãnh sự quán Anh tại Hà Nội hồi tháng Sáu năm nay cho thấy khoảng cách năng suất lao động của các doanh nghiệp Nhà nước so với cả khu vực doanh nghiệp nói chung tăng ngày càng lớn qua thời gian, từ 1:4 năm 2000 đến 1:8 năm 2008.

Trong năm 2011, 80% lợi nhuận của các doanh nghiệp Nhà nước chỉ tập trung vào vỏn vẹn bốn tập đoàn kinh doanh các lĩnh vực dầu khí, viễn thông, khoáng sản và cao su, chỉ một số ít trong số 1300 doanh nghiệp còn lại thực sự có lời.

Trong khi đó, hỗ trợ của Chính phủ cho các doanh nghiệp Nhà nước trong những năm qua không những giảm đi, mà còn có xu hướng tăng lên.

Báo cáo của Sứ quán Anh tại Hà Nội cho thấy Chính phủ Việt Nam dồn 68% vốn, 55% tài sản cố định, 45% tín dụng ngân hàng vào các doanh nghiệp Nhà nước cũng như ban cơ chế độc quyền trong hoạt động, chỉ báo cáo trực tiếp lên Thủ tướng.

Rõ ràng có sự đầu tư không dựa theo hiệu quả kinh doanh khi thống kê của IMF trong năm 2012 cho thấy các doanh nghiệp Nhà nước chỉ đóng góp khoảng 26% cho GDP trong khoảng thời gian 2006-2010, so với 43% đóng góp từ doanh nghiệp tư doanh.

Chính các Doanh nghiệp Nhà nước gây nên tình trạng nhập siêu

» Kinh tế gia Nguyễn Quang A

Việc Chính phủ cho phép các tập đoàn Nhà nước đầu tư đa ngành trong phương hướng phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010, kèm theo việc bơm tín dụng rẻ tràn lan vào các Doanh nghiệp nhà nước khiến các doanh nghiệp này bành trướng, mở rộng sang cách ngành vốn thiếu kinh nghiệm.

Điều này không những làm thất thoát vốn, phát sinh những khoản nợ, nợ xấu khổng lồ mà còn ảnh hưởng đến độ tín nhiệm chung của doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời gây e ngại cho giới đầu tư nước ngoài.

Trong lúc đó, sự ưu ái mà Nhà nước dành cho các doanh nghiệp Nhà nước đã tạo ra các nhóm lợi ích đủ mạnh để chống lại cải cách, bản báo cáo của Sứ quán Anh nhận xét.

Kinh tế gia Lê Đăng Doanh từ Hà Nội cũng có chung một ý kiến khi nhận xét về cải cách trong Bản báo cáo kinh tế Vĩ mô 2012: "Việc thực hiện sẽ rất khó khăn gian khổ vì hiện nay đã hình thành một tầng lớp đặc quyền, đặc lợi, cản trở mọi cải cách cần thiết nhân danh ổn định chính trị - xã hội".

Gánh nặng kinh tế


Habubank là một trong những ngân hàng thương mại phải gánh chịu hậu quả vì cho Doanh nghiệp Nhà nước vay

Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, tổng dư nợ cho vay doanh nghiệp Nhà nước trong năm 2011 là khoảng 416.000 tỷ đồng, tương đương 17% tổng dư nợ tín dụng.

Báo cáo của Sứ quán Anh nhận xét, các doanh nghiệp Nhà nước tạo nên sự thiếu cân bằng trên thị trường tín dụng; các ngân hàng thương mại thường cho doanh nghiệp Nhà nước vay nhiều hơn các công ty tư doanh vừa và nhỏ có hoạt động kinh doanh tốt, dưới sự ảnh hưởng chính trị cũng như bảo lãnh của Nhà nước.

Ông Deepak Mishra, kinh tế trưởng Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cho rằng hiện các doanh nghiệp Nhà nước chiếm 60% tín dụng từ các tổ chức tín dụng cũng như các ngân hàng, đồng thời mức nợ của các doanh nghiệp này chiếm tới 70% nợ xấu của các ngân hàng.

Chính các ngân hàng cho doanh nghiệp Nhà nước vay đã phải hứng chịu hậu quả nặng nề nhất. Trường hợp Ngân hàng Habubank đã phải chịu đóng cửa, sát nhập với Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn-Hà Nội vì không gánh nổi khối nợ xấu vì cho Vinashin vay là một ví dụ.

Hiện tại, Chính phủ Việt Nam đã tuyên bố sẽ tiến hành những cải cách mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp Nhà nước trong khuôn khổ 2013-2015.

Tuy nhiên, các chính sách này vẫn bị cho là quá 'chung chung' vì chỉ tập trung vào sự tư hữu hóa một phần, đồng thời cũng không có kế hoạch cụ thể làm sao để giảm số doanh nghiệp Nhà nước xuống còn 650 cho đến năm 2015, đặc biệt các ngành chính như dầu khí, gas và khoáng sản được đánh giá là khó có khả năng được tư hữu hóa.

Các thông số của doanh nghiệp Nhà nước trình lên Quốc Hội cũng mang tính tổng thể, không giúp ích gì trong việc nghiên cứu cụ thể, theo đánh giá của báo cáo từ Sứ quán Anh.

Bản báo cáo này cũng đánh giá chỉ tiêu giảm chi phí của các doanh nghiệp Nhà nước xuống 5-10% trong năm 2012 là 'hời hợt' vì không có hệ thống quản lý tập đoàn tiên tiến cũng như không có quy định giám sát và đánh giá hiệu quả của các doanh nghiệp này.

Sai lầm trong tư duy khiến Việt Nam sẽ còn phải gánh chịu hậu quả nhiều năm nữa.

Giáo sư Kenichi Ohno, Viện nghiên cứu kinh tế Nhật Bản nhận xét nếu được đẩy mạnh, cần có thời gian ít nhất là 20-30 năm để doanh nghiệp tư doanh cũng như FDI đủ lớn, đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.

Điều này sẽ đưa các doanh nghiệp quốc doanh về chiếm một vai trò nhỏ trong nền kinh tế (5-10%), tránh xáo động, không chỉ với các khu vực khác vốn chưa sẵn sàng để thế chỗ doanh nghiệp Nhà nước mà còn với lực lượng lao động đông đảo trong nước vẫn đang làm việc cho các doanh nghiệp này.

Bài viết nêu quan điểm riêng của tác giả, đang sống tại London, Anh quốc.

Hồ Gươm gửi hôm Thứ Bảy, 22/09/2012
Bạn đánh giá bài viết này thế nào?
Phan Bội Châu

Nguyễn Đình Chú - Về Phan Bội Châu Tiên Sinh: Mấy vấn đề xin được bàn lại...

Táo Quân báo cáo

Sea Free - Sớ Táo Quân 2010

Mai Thái Lĩnh – Hai chữ “dân quyền”

GS Nguyễn Đăng Hưng - Về đề án đưa phòng chống tham nhũng vào trường học

Nguyễn Lương Hải Khôi - Xây danh dự cho dân tộc Việt


Khách cũ ( vẫn Như Cũ ) (khách viếng thăm) gửi lúc 08:09, 22/09/2012 - mã số 68278
Tên tác giả viết:
Giáo sư Kenichi Ohno, Viện nghiên cứu kinh tế Nhật Bản nhận xét nếu được đẩy mạnh, cần có thời gian ít nhất là 20-30 năm để doanh nghiệp tư doanh cũng như FDI đủ lớn, đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.

Điều này sẽ đưa các doanh nghiệp quốc doanh về chiếm một vai trò nhỏ trong nền kinh tế (5-10%), tránh xáo động, không chỉ với các khu vực khác vốn chưa sẵn sàng để thế chỗ doanh nghiệp Nhà nước mà còn với lực lượng lao động đông đảo trong nước vẫn đang làm việc cho các doanh nghiệp này.

Đây là 1 đánh giá chính xác !

Bỏ mấy quả đấm túi có dễ dàng tró ? Và một trong những điều cần thiết là doanh nghiệp nào trong nước có đủ năng lực thay thế ?

Chã nhẽ lại bán tất !! cho bọn tư bẩn nước ngoài đấu thầu tất !? . Thế thì bọn vịt con còn cái tró gì để thừa kế ?

20 năm . Đủ kết thúc một đời người .

Hồ Gươm gửi lúc 00:57, 22/09/2012 - mã số 68256

Lời giải cho bài toán nợ xấu

LÊ TRÀ

21/09/2012 11:01 (GMT+7)

Xem xét nợ xấu dưới góc độ sự sinh tồn của các ngân hàng, TS.Quách Mạnh Hào - Phó tổng giám đốc Công ty Chứng khoán MB nêu quan điểm: “Chẳng có lý do để cứu các ngân hàng. Khi ngân hàng gặp rủi ro do lựa chọn đối nghịch hay đạo đức thì phát sinh nợ xấu là lỗi của ngân hàng”.

Để doanh nghiệp và ngân hàng tự xử lý nợ xấu theo quy luật sinh tồn của kinh tế thị trường hay phải thông qua một định chế tài chính được Nhà nước hỗ trợ vốn? Chưa giải pháp nào được đánh giá là hiệu quả, bởi lẽ, thực trạng nợ nần hiện nay vẫn còn nhiều “góc khuất” đáng ngại.

Lần lượt những số liệu nợ xấu khác biệt được nhiều tổ chức, đơn vị công bố trong thời gian qua khiến giới phân tích cũng “tù mù” thông tin. PGS.TS. Nguyễn Thị Mùi, Trường Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực VietinBank cho rằng, sự khác biệt lớn này là do việc phân loại nợ xấu ở Việt Nam dựa vào Tiêu chuẩn kế toán Việt Nam (VAS) trong khi các tổ chức quốc tế sử dụng Tiêu chuẩn kế toán quốc tế (IAS) để phân loại nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam.

Để lâu không mất đi mà chỉ xấu đi

Bà Mùi cũng khẳng định, không phải 100% nợ xấu doanh nghiệp là của ngân hàng hay 100% nợ xấu ngân hàng là của doanh nghiệp, mà đa phần nợ xấu ngân hàng là của doanh nghiệp, đặc biệt khi các ngân hàng và doanh nghiệp có mối quan hệ mật thiết, phụ thuộc lẫn nhau do sở hữu chéo khiến nguồn lực dễ bị phân bổ sai lệch, bất hợp lý, nợ xấu tăng lên là tất yếu.

Trong khi đó, chuyên gia kinh tế Dương Thu Hương cho rằng số lượng nợ xấu không cố định, nếu các doanh nghiệp gặp khó khăn nợ xấu chắc chắn tăng. Nhất là các khoản đang hoãn, giãn, đảo nợ, nếu không giải quyết được. Nợ xấu tồn tại từ lâu nhưng cho đến nay mới quan tâm đến, không nên hốt hoảng bởi thực tế có lúc nợ xấu còn hơn hiện nay.

Theo bà Hương, vấn đề trước mắt là cần xác định rõ nợ xấu thực chất bao nhiêu, trước khi tìm phương hướng giải quyết. Cụ thể hơn, cần xác định tiêu chí nợ xấu là nợ đến giai đoạn trả nợ không trả được, nhưng không kể đến hoãn nợ, giãn nợ, đảo nợ... vẫn đang tiềm ẩn trở thành nợ xấu. “Để tính toán cần tính cả dư nợ của hoãn nợ, giãn nợ, đảo nợ, nếu chỉ mỗi con số nợ tới hạn không trả được thì không được”, bà Hương khẳng định.

Trong khi số liệu và cơ cấu nợ xấu còn khoảng cách giữa các đơn vị công bố, quan điểm xử lý vấn đề này cũng có nhiều điểm tranh cãi. Theo ông Trương Đình Tuyển - thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia - các tổ chức tín dụng phải lập cho đủ quỹ dự phòng rủi ro, nếu trước đây chưa lập đủ thì nay phải truy lại và phải dùng quỹ này để xử lý nợ xấu.

Ông Tuyển cũng nếu quan điểm các ngân hàng nào xử lý được nợ xấu thì cứ làm, nhưng nếu trông chờ vào các ngân hàng và công ty mua bán nợ của Bộ Tài chính (DATC) thì quá trình xử lý càng lâu.

“Nợ xấu để lâu không mất đi mà chỉ xấu đi. Do đó, dứt khoát phải thành lập một định chế xử lý nợ xấu quốc gia”, ông Tuyển nói. Vị chuyên gia này cho rằng Nhà nước cũng phải có quy định mức chiết khấu khi mua bán nợ xấu đối với từng nhóm nợ. Đây là quy định bắt buộc. Trong điều kiện ấy, cho phép tổ chức tín dụng và công ty thỏa thuận nhưng cho thời gian thỏa thuận tối đa hoặc áp dụng quy định về mức chiết khấu.

Đồng tình với quan điểm xử lý nợ xấu phải bắt đầu từ các chủ thể có liên quan trực tiếp đến món nợ, TS. Vũ Nhữ Thăng, Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng việc giao cho các công ty mua bán nợ của ngân hàng thương mại xử lý trước cũng là hợp lý bởi các công ty này hoàn toàn chủ động và hiểu rõ về khoản nợ của mình.

Tuy vậy, ông Thăng cũng phân tích, dù đã có hơn 20 công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của ngân hàng (AMC) nhưng vai trò của các công ty này rất mờ nhạt. Việc ngân hàng mua lại nợ của nhau tức là nợ xấu chạy vòng vo từ ngân hàng này sang ngân hàng khác.

“Điều này không khác việc chuyển nợ từ “túi phải” sang “túi trái”, làm méo mó khoản nợ”, ông Thăng nhấn mạnh.

Có nên cứu các ngân hàng?

Khác với cách tiếp cận trên, xem xét nợ xấu dưới góc độ sự sinh tồn của các ngân hàng, TS.Quách Mạnh Hào - Phó tổng giám đốc Công ty Chứng khoán MB nêu quan điểm: “Chẳng có lý do để cứu các ngân hàng. Khi ngân hàng gặp rủi ro do lựa chọn đối nghịch hay đạo đức thì phát sinh nợ xấu là lỗi của ngân hàng”.

Theo phân tích của ông Hào, khi cứu, giải quyết nợ xấu thì chúng ta có hình dung rằng bây giờ hoạt động ngân hàng đang diễn ra thế nào? Rất nhiều ngân hàng hiện nay chẳng khác mấy so với mô hình “ponzi - dùng tiền người này trả người khác”. Nhiều ngân hàng nhỏ đầu tư vào những dự án dài hạn bằng tiền ngắn hạn. Họ sa lầy vào đó thì các khoản đầu tư này trở thành nợ xấu. Và trong thời gian dài họ huy động lãi suất cao.

“Về bản chất tài sản sinh lời của họ không có. Với cách tiếp cận như vậy thì nên cứu hay không?”, ông Hào đặt câu hỏi.

Một điểm quan trọng được ông Hào nhấn mạnh là trong bối cảnh các ngân hàng đang có xu hướng tiến tới mô hình ponzi thì chúng lại được sự bảo lãnh rất lớn của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước là không để ngân hàng nào phá sản.

Nhìn ở khía cạnh khác, ông Hào cho rằng không nên e ngại việc người dân gửi tiền vào những ngân hàng có rủi ro nên khi mất tiền sẽ gây ra những bất ổn xã hội.

“Người dân quyết định gửi tiền vào những ngân hàng rủi ro để được nhận lãi suất cao. Rõ ràng là họ chấp nhận rủi ro rồi. Cho nên, chúng ta không thể bảo lãnh hành vi gửi tiền vào ngân hàng rủi ro cao, được hưởng lãi suất cao và bây giờ anh lại chắc chắn là không mất tiền. Như vậy là chúng ta đang khuyến khích cho những rủi ro trong nền kinh tế”, ông Hào nhấn mạnh.

Nguồn: VNeconomy.vn

Hồ Gươm gửi lúc 00:53, 22/09/2012 - mã số 68255

PVF: "Việc xử lý nợ tại Vinalines, Vinashin không ảnh hưởng trọng yếu đến kết quả kinh doanh"

Văn bản giải trình tiếp tục cho biết công ty đang tiếp tục làm việc với Vinalines, Vinashin và các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền để thu hồi nợ và tin sẽ thực hiện được.

Ngày 19/9/2012, Tổng Công ty Tài Chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVF) đã gửi văn bản giải trình về các vấn đề được kiểm toán lưu ý trong báo cáo soát xét bán niên 2012.

Tại báo cáo bán niên có soát xét của PVF, kiểm toán lưu ý về khoản PVF đã cho Vinashin và Vinalines vay. Tổng dư nợ tại thời điểm 30/6/2012 của PVF đối với 2 đối tượng này là 2.755,98 tỷ đồng (đã quy đổi các khoản vay bằng ngoại tệ). Công ty đã thực hiện chỉ đạo của cơ quan quản lý Nhà nước về xem xét khoanh nợ, cơ cấu lại các khoản nợ của Vinashin và Vinalines, giữ nguyên trạng thái nợ hiện tại (đối với Vinashin từ 2009 và Vinalines từ 2011) và chưa trích lập dự phòng bổ sung với một số công ty thuộc Vinalines và Vinashin.

Cũng như báo cáo soát xét bán niên, văn bản giải trình tiếp tục cho biết công ty đang tiếp tục làm việc với Vinalines, Vinashin và các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền để thu hồi nợ. PVF tin tưởng rằng việc thu hồi nợ và xử lý nợ tại Vinalines và Vinashin sẽ thực hiện được và không ảnh hưởng trọng yếu tới tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của PVF.

Theo báo cáo soát xét, 6 tháng đầu năm 2012 PVF lãi 154,35 tỷ đồng, giảm 8,97 tỷ đồng so với báo cáo trước soát xét.

Nguyên nhân chênh lệch là chênh lệch báo cáo trước và sau soát xét của PSI – công ty con của PVF. Báo cáo trước soát xét của PVF sử dụng số liệu chưa soát xét của PSI, trong đó chưa trích lập dự phòng bổ sung đối với các cổ phiếu OTC mà PSI đầu tư. Báo cáo sau soát xét đã trích lập bổ sung khoản dự phòng này dẫn đến việc tăng chi phí và giảm lợi nhuận hợp nhất.

Minh Thư

Theo TTVN/HSX

Nguồn: Cafef.vn

Gửi phản hồi mới (xin gõ tiếng Việt có dấu và tuân thủ Nguyên tắc Dân Luận để được chấp nhận)

Bạn có thể bịa một địa chỉ email bất kỳ, ví dụ test@gmail.com. Thông tin này sẽ không xuất hiện công khai khi phản hồi được đăng.
  • Use special [news] tag to display title, source and url of news.
  • Bạn có thể sử dụng các thẻ BBCode trong bài. Các địa chỉ URL sẽ được tự động chuyển thành liên kết.
  • Bạn có thể trích bài của người khác bằng thẻ [quote], ví dụ: [quote]Nội dung muốn trích dẫn[/quote]
  • Bạn có thể sử dụng những thẻ HTML sau: <a> <em> <strong> <ins> <b> <i> <u> <br> <cite> <code> <ul> <ol> <li> <dl> <dt> <dd> <h1> <h2> <h3> <h4> <h5> <table> <tbody> <td> <tr> <pre> <img> <div> <span> <object> <hr> <center> <font> <blockquote> <strike> <embed> <param> <del> <ins> <sub> <sup>
  • Bạn có thể chèn video vào bài viết bằng thẻ [video:địa_chỉ_url_của_video]
  • Cách dòng và cách đoạn sẽ được tự động chuyển thành xuống dòng.
  • Web page addresses and e-mail addresses turn into links automatically.

Nhấn vào đây để biết thêm chi tiết về cách định dạng bài viết...

To prevent automated spam submissions leave this field empty.
CAPTCHA
Bạn bắt buộc phải trả lời câu hỏi kiểm tra dưới đây. Nó giúp chúng tôi nhằm lọc bỏ các nội dung spam do robot tự động thực hiện.
5 + 8 =
Giải bài toán đơn giản này và nhập kết quả vào ô phía trên. Ví dụ, nếu thấy 1+3, thì hãy nhập 4.

Suy ngẫm

Anh cho mỗi người một cơ hội giống nhau nhưng mỗi người nhận được cơ hội một cách khác nhau. Thế giới có bình đẳng về cơ hội thì cơ hội cũng không được nhận thức một cách bình đẳng và do đó thế giới không phẳng được.

— Joseph. E. Stiglitz - Giải thưởng Nobel kinh tế năm 2001

Mới Mới Mới

Từ khóa trong bài viết

Thống kê truy cập

Hiện có 3 thành viên614 khách truy cập.

Thành viên online

Mắt Bão, Đa Nguyên, noileo@danluan

Kỷ lục: Có 4638 người ghé thăm vào 15-05-2014 lúc 09h47.

Độc giả Dân Luận từ đâu đến?

Locations of visitors to this page

Quỹ Dân Luận

ung-ho-dan-luan-3.png